Gặp Lại Chính Mình (thơ)

22/11/201419:49(Xem: 14622)
Gặp Lại Chính Mình (thơ)

lotus-21a
Gặp Lại Chính Mình

 

Gặp lại mình giữa tâm vô ngôn

Dừng bước lang thang – bặt tâm hành

Quên thuở vô minh theo huyễn ngã

(Cái “tôi” hư ảo cõi phù  vân)

 

Quán tâm: vọng tưởng hóa chân như

Tuệ giác chiếu soi vạn nẻo đời

Hòa ánh Tâm Kinh vào tục lụy

Truyền đăng tục diệm chốn luân hồi (*)

 

Gặp lại mình giữa lúc định tâm

Im bặt nói năng tận đáy lòng

Giải thoát bao si mê chấp thủ

(Cái “tôi” mộng mị cõi vô thường)

 

Quán vọng tâm: hiện tiền chân ngã

Tịch lặng vầng trăng – sáng cửa thiền

Tri ngộ Tâm Không là diệu hữu

Tịnh độ khơi nguồn giữa đảo điên

 

Gặp lại chính mình – thôi quẩn quanh

Thôi lang thang cỏ nội mây ngàn

Gương đối gương: bổn lai diện mục… (**)

Kính chào thánh thót tiếng chim xuân!

---

Kính mời đọc thêm:

 

Thơ Thiền & Ý Kinh

Đọc bài thơ Hữu Không của Thiền sư Từ Đạo Hạnh:

“Tác hữu trần sa hữu,

Vi không nhất thiết không.

Hữu không như thủy nguyệt,

Vật trước hữu không không”. (***)

Thơ thiền thì khế hợp ý kinh. Tôi xin nêu vài ý kinh.

-“Tác hữu trần sa hữu”: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.

-“Vi không nhất thiết không”: “Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức… (đến) vô trí diệc vô đắc”.

-“Hữu không như thủy nguyệt”: “Dĩ vô sở đắc cố”. (Không thể nắm bắt được thủy nguyệt).

-Câu cuối cùng, tôi mạn phép thêm cái dấu “:” và viết hoa chữ “Không” cuối bài.

“Vật trước hữu không: Không”: “Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt hiện tiền”. (Tịch Diệt hiện tiền: Tâm Không hiện tiền, Tánh Không hiện tiền).

------------

 

Ghi chú:

(*): Truyền đăng tục diệm: truyền đèn tiếp lửa.

(**): Bổn lai diện mục: Mặt mũi xưa nay; khuôn mặt nghìn đời.

(***):“Có thì có tự may may,

Không thì cả thế gian này cũng không.

Kìa xem bóng nguyệt lòng sông,

Ai hay không có, có không là gì!”

(Phan Kế Bính dịch). 

                                                            

                                                   Tuệ Thiền Lê Bá Bôn

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/10/2016(Xem: 14495)
Sống chuyên tu Phật Giàu có như ai Hạnh phúc không cần Nghĩ đến ngày mai .
19/10/2016(Xem: 27487)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
18/10/2016(Xem: 12648)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 11540)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 12685)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 12045)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 13612)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 11410)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14975)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17523)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.