Lục Thức (thơ)

07/10/201405:20(Xem: 13300)
Lục Thức (thơ)
Phat Thich Ca-2a

LỤC THỨC
 
 
·       Nhãn thức
 
    Tuyệt trần hoa nở chào đêm
    Vườn sau ứ rác nhũn mềm nhớp nhơ
    Trăng soi ma mị mập mờ
    Triêu dương tôi đón vần thơ nắng hiền.
 
 
·       Nhĩ thức
 
Đàn tôi rung nhịp rộn ràng
Tiếng xưa hồi vọng ngút ngàn mây reo
Huyền cầm da diết phiêu phiêu
Lưng chừng bặt nín, tiếng mèo gọi con!
 
 
·        Tỷ thức
 
Sương mai còn đọng hương lài
Rau răm nồng đợi đoái hoài ngắt thơm
Bếp còn vương vấn đậu tương
Bưng lên hương ngát bát cơm lót lòng.
 
 
·       Thiệt thức
 
Cắn đôi hạt muối hạt vừng
Chia nhau bùi ngọt phố phường rong chơi
Đắng cay người hãy nhấp môi
Để tôi cạn chén lệ rơi một mình.
 
 
·        Thân thức
 
Se sua che giấu hình hài
Cánh chuồn phận mỏng chạm hoài xót đau
Bước còn lêu lổng trước sau
Dòng trôi lạnh buốt, vực sâu ấm tình.
 
 
·       Ý thức
 
Về thôi, đi mãi cũng về
Bên ni bát nháo, bên tê điêu tàn
Dưới chân an lạc thiên đàng
Nong nia rây sẩy dát vàng tâm tư.
 
 
Tâm Không Vĩnh Hữu
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/10/2016(Xem: 10962)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12537)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 9967)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14295)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17134)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12191)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 9784)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
07/10/2016(Xem: 12442)
Mười tám năm - Hoa Vô Ưu - Vườn xưa lấp lánh cánh hoa tâm - Mười tám năm Kẻ còn người mất - Hương Vô Ưu - Thơm ngát cõi vô thường
06/10/2016(Xem: 11093)
Cái chết từ từ sẽ đến Lo chi cho lắm cực thân Thảnh thơi nhẫn tu mà sống Có gì ta phải rối răm .
03/10/2016(Xem: 12788)
Ta đứng giữa rừng thu hắt hiu Sợi thu vàng vọt rớt trong chiều Hoàng hôn phủ gót chân hoang dã Nghe nàng thu chết giữa cô liêu