Tôn thờ Mẹ yêu (thơ)

10/09/201404:57(Xem: 14726)
Tôn thờ Mẹ yêu (thơ)



me-con-02Tôn thờ Mẹ yêu

 
Đời người, dù hết trăm năm
Trong con, Mẹ vẫn trăng rằm thiên thu
Đời người, trả lại phù du
Trong con, Mẹ vẫn Mẫu Từ dấu yêu
Vai này cõng Mẹ nâng niu
Vai kia cõng Mẹ chắt chiu yếu già
Dẫu rằng cát bụi Ta Bà
Mượn thân hư ảo trong nhà trần gian
Nhưng Mẹ hơn bạc hơn vàng
Hơn non biển rộng, hơn ngàn minh châu
Mẹ là một cõi nhiệm mầu
Không gì so sánh cơ cầu Mẹ ơi
Từ khi con khóc chào đời
Đến nay lặng khóc hết lời Mẹ thương
Nhìn trông bóng Mẹ mờ sương
Hương thờ quyện khói vương vương nghĩa tình
Công ơn của Mẹ quang minh
Công đức của Mẹ lung linh đất trời
Mẹ đi, bóng ngã lưng đồi
Con về, thầm đếm cút côi xế chiều
Mẹ đi, từ tạ yêu kiều
Con về, thắp đốm quạnh hiu xa mờ
Nhiều đêm gọi Mẹ trong mơ
Ngàn năm con vẫn tôn thờ Mẹ yêu.
 
09-9-2014
Xin viết thêm một bài về Mẹ.
TNT Mặc Giang
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/05/2012(Xem: 16404)
Khi bước chân con không còn chập chững, Gánh nước mỗi ngày mẹ như thấy nặng hơn... Nguyễn Trung Kiên
12/05/2012(Xem: 14550)
Kỷ Niệm Khóa Tu Mùa Xuân Năm 2012 Tại Chùa Hải Đức Florida - Thơ: Châu Ngọc - Lê Hoa Nhụy
03/05/2012(Xem: 16309)
Ta lặng ngó nàng thơ vồn vã bước Lên đồi mây gối mộng ước sơn hà Ngày hun hút hiu buồn đành khép lại
03/05/2012(Xem: 17820)
Nghĩ về thân thể thì đừng mong không bệnh khổ, không bệnh khổ thì dục vọng dễ sanh.
03/05/2012(Xem: 16558)
Ta đi tìm bạn phương nào Nhòa đôi tròng mắt, lao đao thân gầy Xuôi về Đông lại lên Tây...
03/05/2012(Xem: 17972)
Cứu xét Tâm Tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.
03/05/2012(Xem: 14745)
Những dấu buồn cất giữ đã bao năm Nay nói hộ nhau nghe bằng biểu tượng Đáy mắt mẹ, khoảng đắng cay còn đọng
02/05/2012(Xem: 20138)
Xin xót thương những linh hồn ngạ quỷ Đừng sát sinh, đừng giỗ tiệc đua đòi Mình hưởng thụ, nhưng họ thêm đau khổ
28/04/2012(Xem: 15717)
Trần gian cung phụng Đản sanh Mỗi Tâm mỗi Bụt viên thành truyện xưa Quản chi tạt gió xan mưa...
26/04/2012(Xem: 16709)
Bài này khuyết danh và có niên đại khoảng năm 1950, HT Thích Như Điển đã đọc cho Hạnh Tuệ chép lại để lưu truyền.