Ngày Vu Lan Báo Hiếu

06/08/201406:17(Xem: 19470)
Ngày Vu Lan Báo Hiếu

Me-7

Ngày Vu Lan Báo Hiếu

Thoại Hoa

 

Mỗi người chúng ta được ở trên quả đất này là nhờ công sanh ra và công dưỡng dục của cha mẹ.

Trong dân gian VN có những câu ca dao bất hủ như:

Công Cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra,

Một lòng thờ Mẹ kính Cha,

Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con...

 

Từ xa xưa, từ thời tổ tiên cho đến ngày hôm nay, từ chốn quê đến thành thị, bổn phận làm con là phải biết yêu thương, kính hiếu cha mẹ.

Từ tạo thiên lập địa, chúng ta đã thấy Dương Âm tức là Trời Đất, người Cha tức Dương và người Mẹ tức Âm, chẳng khác nào ban ngày và ban đêm, nếu không có “Mẹ sanh, Cha dưỡng ” thì chúng ta không có ở cõi đời này.

Ca dao VN cũng có câu:

Có Cha, có Mẹ thì hơn,

Không Cha, không Mẹ như đờn đứt dây.

 

Câu ca dao này nhắc nhở chúng ta rằng, khi chúng ta được sanh ra cõi đời, mà mất cha lẫn mẹ thì khốn khổ vô cùng. Kể từ cấn thai cho đến ngày sanh nở, người mẹ phải mang nặng cái bào thai suốt chín tháng. Trong chín tháng cưu mang, sức khoẻ của người Mẹ càng ngày tiều tụy, vì ăn uống khó khăn, nôn ụa, rồi ngày tháng trôi qua, đến ngày nở nhụy khai hoa, phải đẻ đau, qua nụ cưòi...lẩn nước mắt. Người Cha, tuy không mang nặng đẻ đau như người mẹ, nhưng luôn luôn ở bên cạnh để nâng đở tinh thần và chia xẻ đớn đau với người mẹ. Ai nấy cũng vui mừng khi thấy việc sanh đẻ được suông sẻ, tốt đẹp, “Mẹ tròn Con vuông”. Đôi khi cũng nguy hiểm đến tánh mạng người mẹ nếu sanh đẻ gặp sự khó khăn.

Khi con lọt lòng mẹ, cha liền đỡ đần mẹ, cha giúp mẹ lo cho con từ tấm tả, từ manh quần tấm áo, pha từng bình sữa, giặt giũ khi mẹ còn yếu sức sau khi sanh nở. Công Cha như vậy đó, công Mẹ như thế nào? Mẹ lúc nào cũng cận kề bên con, nhìn con trìu mến với bầu sữa mẹ, con đang bú ngon lành mỗi khi con khát sữa, trong suốt ba năm nhũ bộ. Mỗi lần con mọc răng, ngứa nướu, con cắn vú mẹ, đau điếng, nhưng mẹ cam chịu đau, mừng thầm và mắng yêu, hôn phớt nhẹ trên tráng con: “Con tôi đã mọc răng sữa rồi, mẹ sẽ mớm cơm cho con ăn” Phương pháp nuôi con khi xưa thì khi con được vài tháng, thì mẹ bắt đầu nấu cháo hoặc nhai cơm cho nhuyễn với chút rau, cá hay thịt, rồi mớm cơm vào miệng cho con ăn. Nước miếng của mẹ hoà cùng với thức ăn biến đổi thành một chất sinh hóa, cho dễ tiêu. Phương pháp xưa không hạp vệ sinh theo đời nay, nhưng nó đượm cả tình thương của mẹ dành cho đứa con. Nhìn cảnh này chẳng khác nào chim mẹ đang nuôi chim con vậy! Tấm tranh tuyệt vời không bút mực nào tả hết được! Công lao của mẹ nuôi con như trên, được dân gian truyền khẩu qua ca dao:

Con mẹ, có thương mẹ thay,

Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau.

Cha mẹ sanh thành tạo hoá,

Nhai cơm, lựa cá, nhai cá lựa xương.

Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,

Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày.

Hay là:

Đố ai đếm được vì sao,

Đố ai đếm được công lao mẫu từ.

 

Mẹ lo cho con từ miếng ăn, giấc ngủ, lo lắng khi con mọc răng, ấm đầu... Đêm, mẹ dành nơi khô ráo cho con nằm ngủ:

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.”
Rồi ngày tháng trôi qua, con biết cười, biết lật, biết bò, biết ngồi, biết đi chập chững... hoà với tiếng cười mừng rở của cha mẹ khi thấy mỗi ngày con tiến bộ. Khi con đi học trường mẫu giáo, cha mẹ lo lắng đưa đón con đúng giờ, thật đúng với tục ngữ “ Cha đưa, Mẹ đón”. Tối thì dạy học cho con đánh vần, tập viết, tập đếm...

Công cha đối với con vô bờ bến như mẹ vậy vì cha mẹ mong muốn con sẽ thành người, hữu dụng với họ hàng, gia đình cũng như người ngoài. Lắm lúc cha phải lớn tiếng, la hét cho con sợ tuân lời, bởi vì chỉ có cha, con mới sợ đòn, chịu nghe lời dạy dỗ hơn mẹ, câu tục ngữ thường nói:

Mẹ đánh một trăm (*)

Không bằng cha hăm một tiếng.

 

(*) một trăm ở đây muốn ám chỉ nói 100 roi!

Hay câu:

Thương con cho roi cho vọt,

Ghét con cho ngọt cho bùi.

 

Tình thương của cha mẹ dành cho con thật bao la, vô bờ bến, mong mênh...như trời, như biễn cho đến ngày cha mẹ nhẹ bước về cõi Tây phương.

Khi con lớn khôn, công thành danh toại, cha mẹ còn lo dựng vợ gả chồng, rồi chưa hết đâu, có khi còn phải cực khổ với đàn cháu nhỏ, cháu nội, cháu ngoại nữa chứ!

Xét cho kỹ, công lao của cha mẹ đều ngang nhau, cho nên có câu ca dao:

Biết lấy chi đền đáp khó khăn,

Hai đứa mình lên non lấy đá xây lăng phụng thờ.

 

Nhân mùa Vu Lan báo hiếu, bổn phận làm con, không những kính hiếu dành riêng cho mẹ bằng một cánh hoa hồng hay hoa trắng, mà phải lẫn kính nhớ đến cha nữa. Bởi vì đừng quên:

Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ

Hay là:
Con có mẹ như măng ấp bẹ

hoặc là:
Con có cha như nhà có nóc

hay là:

Còn cha gót đỏ như son,

Đến khi cha chết, gót con đen sì.

 

Hiện tại có nhiều chùa tổ chức lễ Vu Lan một cách công bằng cho cha mẹ, nghĩa là một đoá hoa hồng cho ai diễm phúc còn mẹ, hay cánh hoa trắng cài lên áo người vô phúc không còn mẹ, còn đối với cha một chiếc nơ màu xanh cho những người nào còn cha hay chiếc nơ trắng cho ai đã mất cha. Đây là một hành động công bằng cho cha lẫn mẹ vào mùa Vu Lan Báo Hiếu, để các con tạ ơn sanh thành dưỡng dục sâu dầy của cha mẹ, nếu cha mẹ còn tại thế. Còn người nào khi cha mẹ đã khuất bóng, thì người con phải có bổn phận lo mồ mả, cung kính nhờ Chư Tăng Ni cúng kiến để tụng kinh nguyện cầu cho hương linh cha mẹ sớm được vãng sanh về cảnh Tịnh Độ.

Về Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca thường đề cặp đến chữ hiếu. Chữ hiếu, một pháp hạnh được đứng hàng đầu trong các kinh. Như kinh Vu Lan, Đức Phật mô tả nghiệp báo của mẹ Ngài Mục Kiền Liên là bà Thanh Đề. Mặc dù Ngài Mục Kiền Liên đã chứng được thần thông, thấy suốt ba cõi, đi xuống tận âm tỳ, nhưng than ôi, Ngài cũng không thể tự mình cứu mẹ, mà phải nhờ sức đầy nghị lực của Chư Tăng sau ba tháng nhập hạ, chú nguyện cầu siêu, nhân ngày lễ Vu Lan Tự Tứ.

Noi gương ngài Mục Kiền Liên, đến ngày lễ Vu Lan, Phật tử thập phương tựu về chùa, để sám hối, tụng kinh để cầu an cho cha mẹ hiện tiền và cầu siêu cho cha mẹ quá vãng. Đấy là bổn phận của người con đối với cha mẹ, đúng với nghĩa Vu Lan Báo Hiếu.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/09/2010(Xem: 12934)
Phù Sinh Nhiễm Thể Ca, TNT Mặc Giang
06/09/2010(Xem: 15703)
Mùa hạ mà hơi lạnh xông ướp cả gian phòng. Tắt điện, thắp lên ngọn bạch lạp cắm vào một quả thông, nhựa sống vẫn còn mơn man đâu đây, nồng nàn. Mấy mươi năm hiên ngang sừng sững, một cơn bão thổi qua, thông bật gốc ngã quỵ, vương vãi xác xơ. Có gì tồn tại mãi đâu! Rồi tất cả, cũng bị thiêu rụi như ngọn bạch lạp đang cháy dỡ…
06/09/2010(Xem: 19749)
Được sinh ra, lớn lên, đi vào trường học, đi vào trường đời, rồi dong ruổi muôn phương, và dù có ra sao, Quê Hương vẫn Còn Đó ! Từ thuở phôi sinh xuất hiện Lạc Hồng, Hùng Vương - Văn Lang, xuyên qua chiều dài lịch sử, cấu thành mảnh dư đồ Chữ S, với Bắc Nam Trung gấm vóc, với núi non hùng vĩ, biển rộng sông dài, với những tên gọi thân yêu Huế - Sài Gòn - Hà Nội, với từng thời kỳ dù có qua đi, không gian dù có biến đổi, và dù cho vật đổi sao dời, Quê Hương vẫn Còn Đó !
06/09/2010(Xem: 18466)
Người phương tây thường nói “trẻ ước mơ, già hoài niệm”, nhưng sau khi đọc xong tập thơ Hành Trình Quê Mẹ, tôi thấy tác giả, một nhà thơ ở tuổi tri thiên mạng, nhưng lại luôn ghi lòng tạc dạ, nâng niu trân trọng các giá trị được tài bồi bởi tiền nhân; tác giả còn hoài bảo, mơ vọng một hướng sống thiết thực cho người Việt Nam nói chung. Với Mặc Giang, hoài niệm và ước mơ nào có hạn cuộc bởi tuổi tác. Hoài niệm và ước mơ ấy đã trở thành chất liệu tài bồi cho dòng thơ với chủ đề Hành Trình Quê Mẹ tuôn chảy không mỏi mệt, để nguồn thơ của thi nhân vốn nhào nặn từ cuộc sống, trở lại phụng sự cuộc sống ấy, trở thành niềm tự hào kiêu hãnh của trào lưu thi ca hiện đại.
06/09/2010(Xem: 20850)
Qua năm mươi năm, tiếp bước tiền nhân tôi trót vào con đường khảo cứu lịch sử văn học dân tộc. Tôi đã đọc rất nhiều thơ và cũng làm được một số việc cho các thế hệ thơ ca. Nhưng khi may mắn được đọc tập thơ Quê Hương Nguồn Cội (và khoảng 650 bài khác nữa) của nhà thơ Mặc Giang, một tập thơ chan chứa tình quê hương dân tộc, với tâm hồn bao la, sâu rộng bằng trái tim và dòng máu của người Việt Nam, tập thơ đã làm cho tôi hòa đồng trong tác phẩm không còn phân biệt được tâm tư và cảm giác của mình và chỉ còn là một con tim, một dòng máu chung của dân tộc trộn lẫn vào sự cấu tạo chung trải qua mấy ngàn năm lịch sử của núi sông.
06/09/2010(Xem: 16156)
Nhịp Bước Đăng Trình, TNT Mặc Giang
01/09/2010(Xem: 21138)
Theo dòng diễn tiến của những cuộc du hóa qua những quốc gia trên thế giới, giàu và nghèo, Đông và Tây, chúng tôi đã từng thấy con người say sưa với niềm vuisướng, và những con người khổ đau. Sự phát triển của khoa học kỷ thuật dường như có đạt được thêm một ít đường nét, một số cải tiến; phát triển thườngcó nghĩa thêm ít nhiều những tòa nhà ở thành thị.
31/08/2010(Xem: 15726)
Em có về cồn phượng là tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Hoàng Ngọc Hiển.(Tên thật Trần Ngọc Hiển) Sinh năm 1942 tại Phú Lý, Hà Nam. Di cư vào Sài Gòn năm 1954. Cựu học sinh Chu Văn An. Sinh viên Luật khoa (dở dang). Sinh viên ban Triết Tây, Đại học Văn Khoa (cũng dở dang). Tốt nghiệp khả năng Sư Phạm Trung Cấp, ban Văn Chương. Giáo sư văn chương các trường trung học Côn Sơn, Ngô Quyền, Minh Đức, Trí Đức Sài Gòn và Kỷ Thuật Biên Hòa.
30/08/2010(Xem: 16022)
Nửa đời người tôi hiểu được Vô thường - ấy lẽ thường nhiên Và ta chỉ là chiếc lá Trong rừng nhân loại vô biên..
28/08/2010(Xem: 14604)
Chén cơm trong chốn lao tù, Con xin cúng Phật con tu quá đường ! Thế gian huyết hận đau thương ! Nghẹn nào lệ nhỏ vô phương kêu gào !.