Im lặng không phải là hèn Im lặng là để luyện rèn thân tâm Im lặng không phải là câm Im lặng là để âm thầm niệm kinh
Im lặng không phải đứng nhìn
Im lặng là biết quán mình tịnh tu Im lặng không phải là ngu Im lặng không oán không thù thảnh thơi Im lặng nhìn đất nhìn trời Im lặng miệng nở nụ cười Chân Như.
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng.
Chào ngày mới
Chào nhau ngày mới nắng vàng
Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ
Chào nhau ngày mới bài thơ
Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du:
Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du
Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1]
Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long
Khái niệm lịch sử của Thăng Long
Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay.
Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.