Thơ Tứ Tuyệt

09/04/201407:35(Xem: 15714)
Thơ Tứ Tuyệt


view_2

THƠ TỨ TUYỆT

1.

Có Xuân nào,

Không mai vàng trước ngõ

Không câu đối giao mùa,

Tỉnh thức – Xuân từ đó…

Giọt sương trong – Phật Thừa !

2.-

Có Hạ nào,

Không ửng trời lựu đỏ

Không gió rát bên thềm

Nhặt chút tình hoa cỏ,

Tan nỗi sầu cô miên.

3.-

Có Thu nào,

Không cánh chim vởi vợi

Không mây trắng qua thềm

Tình sen thu khẻ gọi

Vầng trăng mẹ diệu huyền.

4.-

Có Đông nào,

Không đất trời trở dạ

Không giá buốt đêm thâu

Mắt đời rưng lệ đá,

Giọt tinh sương nhiệm mầu.

5.-

Có loài hoa

Nở bên trời cát bụi

Nở bên trời gió sương

Tháng ngày như lầm lũi

Như hoa cỏ đưa hương.

6.-

Có mùi hương

Dù mãi ngàn năm nữa

Dâng đời bao ý thơm

Từng giọt cam lồ - sữa

Tịnh hóa một tâm hồn.

7.-

Có cuộc tình

Giữa ngàn phương ảo hóa

Vi diệu lời bình yên

Mây trắng về muôn ngã

Thắp sáng trời Hoa Nghiêm.

8.-

Có con sông,

Tháng ngày xuôi dòng chảy

Chở bao nỗi đời đau

Âm thầm trôi đi mãi

Từ vạn thuở xưa sau.

Chở bao mùa sương gió

Về bên trời viễn phương

Để ngàn mây từ đó

Vỗ khúc đoạn vô thường.

 

 

10.

CHIM VỀ

Lảnh lót bên dòng trong

Phơi cánh nắng mai hồng

Hỏi chim, rằng: có biết ?

Tình mây trắng hư không.

 

11.

CON THUYỀN

Con thuyền nào

Ngàn phương về bến đổ

Ngừng nhịp sóng thời gian

Vầng trăng tròn gương cổ

Mưa gió tạnh tràng giang.

 

12.

 

HẠT BỤI

Hạt bụi nào

Ngàn năm bên lối nhỏ

Trút niềm đau muộn phiền.

Ngàn năm mang hơi thở

Dìu vợi trời tam thiên.

 

13.

GIỌT SƯƠNG

Góp hương rừng núi biếc

Trong ngần gương thủy tinh

Giọt thơm miền sinh diệt

Giữa muôn trùng tử sinh.

 

 

14.

HẠT PHÙ SA

Đổ xuôi miền du mộng

Cho sắc màu cỏ hoa

Muôn bến đời gió lộng

Bồi bải khắp trời xa.

 

15.

CHIẾC LÁ

Khi già hương tư tưởng

Đã gội sắc hương rừng

Một thoáng xanh muôn hướng

Chiều lên về cội nguồn.

 

16.

VẦNG MÂY

Vầng mây nào

Từ hằng sa pháp giới

Chở vô lượng hào quang

Vô lượng thời gian tới

Từng sát na Niết Bàn.

 

17.

THANH ÂM

Thanh âm nào

Mười cõi mây tụ lại

Vi diệu trời Quang Âm

Diệu tâm từ địa đại

Nghe mười phương thậm thâm.

 

 

 

MẶC PHƯƠNG TỬ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/10/2016(Xem: 23838)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
18/10/2016(Xem: 12008)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 10772)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 11894)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11328)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12918)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10411)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14340)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17212)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12594)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây