Mẹ Hiền Quan Âm (thơ)

19/03/201406:43(Xem: 28147)
Mẹ Hiền Quan Âm (thơ)

Quan Am Bo Tat Quang Duc

Mẹ Hiền Nam Hải Quan Âm

Xót thương sanh chúng giáng lâm tại trần

Ngai vàng Mẹ cũng chẳng cần

Đi tu theo Phật cứu lần chúng sanh

Hôm nay mừng Mẹ đản sanh

Con hiền quỳ xuống lòng thành kính dâng

Kính dâng Mẹ nén hương tâm

Tạ ơn Đức Mẹ cứu dân an lành

Ngao du tứ hải độ sanh

Hồng danh tên Mẹ chúng sanh ghi lòng

Mười hai đại nguyện độ dân

Cứu người lâm nạn lòng thành khấn xin

Ai ai có một niềm tin

Hồng danh Mẹ niệm ứng linh thoát nàn

Thành tâm bái tạ Mẹ ban

Cho con trí tuệ trần gian giúp đời

Nhớ ơn Đức Mẹ độ đời

Con nguyền theo Mẹ đời đời không xa

Giúp con đắc đạo ta-bà

Nương theo gót Mẹ ta-bà giúp dân

Nhớ lời Mẹ dặn ân cần

Thuyền từ vững lái cứu dân thoát nàn

Cám ơn lời Mẹ bảo ban

Lộc Mẹ ban tặng suốt đời con mang.

**********

Mẹ Hiển Nam Hải Quán Âm

Xin Mẹ xuống điển độ con tu hành

Độ con sớm trọn nguyện lành

Theo chân gót mẹ tu hành độ dân

Trần gian đau khổ vô ngần

Chúng dân chết đắm sóng thần họa tai

Động đất lửa cháy thiên tai

Gió lốc cuồng bão thiên tai khắp cùng

Đao binh lửa đạn điên khùng

Nay hăm mai dọa bom cùng tử nguyên

Đạo tràng cũng chẳng bình yên

Chúng dân đạo phái phân chia chẳng hiền

Thù nhau oán ghét nổi điên

Đâu còn biết nhớ lời khuyên Cha lành

Bê-đê lãi cái hoành hành

Nào đòi dân chủ đẳng bình cưới nhau

Trần gian muôn cảnh lòng đau

Mẹ ơi xin độ nguyện con mau thành

Con xin tinh tấn tu hành

Góp sức góp lực tu hành giúp dân

Cho con báo đáp trọng ân

Mẹ hiền đức độ ban con ơn lành
NamMô Đại-Từ Đại-Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ-Tát – Ma Ha Tát.

Viết tại Melbourne nhân Lễ Vía Bồ Tát Quan Âm

Ngày 19-2-Giáp Ngọ (2014)
Đệ tử Hiền Hỷ Mai Tuệ Trinh


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/07/2010(Xem: 26393)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 53588)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 17790)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 13071)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 20100)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 15359)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 20110)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.
01/10/2007(Xem: 21224)
214 Bộ Chữ Hán (soạn theo âm vận dễ thuộc lòng)
20/10/2003(Xem: 44187)
Tình cờ tôi được cầm quyển Việt Nam Thi Sử Hùng Ca của Mặc Giang do một người bạn trao tay, tôi cảm thấy hạnh phúc - hạnh phúc của sự đồng cảm tự tình dân tộc, vì ở thời buổi này vẫn còn có những người thiết tha với sự hưng vong của đất nước. Chính vì vậy tôi không ngại ngùng gì khi giới thiệu nhà thơ Mặc Giang với tác phẩm Việt Nam Thi Sử Hùng Ca. Mặc Giang là một nhà thơ tư duy sâu sắc, một nhà thơ của thời đại với những thao thức về thân phận con người, những trăn trở về vận mệnh dân tộc, . . . Tất cả đã được Mặc Giang thể hiện trong Việt Nam Thi Sử Hùng Ca trong sáng và xúc tích, tràn đầy lòng tự hào dân tộc khi được mang cái gène “Con Rồng Cháu Tiên” luân lưu trong huyết quản.