Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chùa Hương (thơ)

18/07/201108:17(Xem: 2802)
Chùa Hương (thơ)
chuahuonglehoi_1
Chùa Hương

* Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa.


Hôm nay đi Chùa Hương,

Hoa cỏ mờ hơi sương.
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao,

Em đeo giải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới,
Tay cầm nón quai thao.

Me cười: "Thầy nó trông!

Chân đi đôi giép cong,
Con tôi xinh xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?"

Em tuy mới mười lăm

Mà đã lắm người thăm,
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen tươi như trăng rằm.

Nhưng em chưa lấy ai,

Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm!
(Ý đợi người tài trai).

Em đi cùng với me.

Me em ngồi cáng tre,
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.

Thầy me ra đi đò,

Thuyền mấp mênh bên bờ.
Em nhìn sông nước chẩy
Đưa cánh buồm lô nhô.

Mơ xa lại nghĩ gần,

Đời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước,
Em thấy một văn nhân.

Người đâu thanh lạ thường!

Tướng mạo trông phi thường.
Lưng cao dài, trán rộng.
Hỏi ai nhìn không thương?

Chàng ngồi bên me em,

Me hỏi chuyện làm quen:
"Thưa thầy đi chùa ạ?
Thuyền đông, trời ôi, chen!"

Chàng thưa: "Vâng thuyền đông!"

Rồi ngắm trời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.

Dòng sông nước đục lờ.

Ngâm nga chàng đọc thơ.
Thầy khen: "Hay! Hay quá!"
Em nghe rồi ngẩn ngơ.

Thuyền đi. Bến Đục qua.

Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói:
"Nam vô AĐi Đà!"

Réo rắt suối đưa quanh.

Ven bờ, ngọn núi xanh,
Nhịp cầu xa nho nhỏ.
Cảnh đẹp gần như tranh.

Sau núi Oản, Gà, Xôi,

Bao nhiêu con khỉ ngồi.
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây.

(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.

Em đi, chàng theo sau.

Em không dám đi mau,
Ngại chàng chê hấp tấp,
Số gian nan không giầu.

Thầy me đến điện thờ,

Trầm hương khói tỏa mờ.
Hương như là sao lạc,
Lớp sóng người lô nhô.

Chen vào thật lắm công.

Thầy me em lễ xong,
Quay về nhà ngang bảo:
"Mai mới vào chùa trong."

Chàng hai má đỏ hồng

Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu:
"Mai ta vào chùa trong!"

Đêm hôm ấy em mừng.

Mùi trầm hương bay lừng.
Em nằm nghe tiếng mõ,
Rồi chim kêu trong rừng.

Em mơ, em yêu đời!

Mơ nhiều... Viết thế thôi!
Kẻo ai mà xem thấy,
Nhìn em đến nực cười!

Em chưa tỉnh giấc nồng,

Mây núi đã pha hồng.
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong.

Đường mây đá cheo veo,

Hoa đỏ, tím, vàng leo.
Vì thương me quá mệt,
Săn sóc chàng đi theo.

Me bảo: "Đường còn lâu,

Cứ vừa đi ta cầu
Quan-Thế-Âm bồ-tát
Là tha hồ đi mau!"

Em ư? Em không cầu,

Đường vẫn thấy đi mau.
Chàng cũng cho như thế.
(Ra ta hợp tâm đầu).

Khi qua chùa Giải-oan,

Trông thấy bức tường ngang,
Chàng đưa tay lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.

Tấm tắc thầy khen: "Hay!

Chữ đẹp như rồng bay."
(Bài thơ này em nhớ,
Nên chả chép vào đây).

Ô! Chùa trong đây rồi!

Động thắm bóng xanh ngời.
Gấm thêu trần thạch nhũ,
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.

Me vui mừng hả hê:

"Tặc! Con đường mà ghê!"
Thầy kêu: "Mau lên nhé!
Chiều hôm nay ta về."

Em nghe bỗng rụng rời

Nhìn ai luống nghẹn lời!
Giờ vui đời có vậy,
Thoảng ngày vui qua rồi!

Làn gió thổi hây hây,

Em nghe tà áo bay,
Em tìm hơi chàng thở.
Chàng ôi, chàng có hay?

Đường đây kia lên trời,

Ta bước tựa vai cười.
Yêu nhau, yêu nhau mãi!
Đi, ta đi, chàng ôi!

Ngun ngút khói hương vàng

Say trong giấc mơ màng,
Em cầu xin Trời, Phật
Sao cho em lấy chàng.

[ 6-1934]

Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938)

Thi sĩ sinh ngày thứ bảy, 12 tháng 12 năm 1914 (nhằm ngày 25-10 năm Giáp Dần) tại Hà Nội. Là con trai thứ của văn hào Nguyễn Văn Vĩnh và là em của nhà thơ Nguyễn Giang. Ông theo học trường trung học Albert Sarraut. Sau khi đậu tú tài ông học luật trong một thời gian cùng với thi sĩ Phạm Huy Thông. Vào 7 giờ sáng ngày 19-11-1938 (nhằm ngày 28-9 năm Nhâm Dần) ông qua đời tại bệnh viện ở Hà Nội vì bệnh thương hàn, hưởng thọ 24 tuổi.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/05/201321:10(Xem: 2760)
Nhớ lại 50 năm trước: Đêm trăng tròn hoa ngát chín tầng mây, niềm vui chưa kịp nở Ngày Phật Đản hương bay ngàn cõi mộng, cảnh thảm đã hiện bày: Nào ngờ đâu thường kỳ vía Phật, lệnh chánh quyền triệt hạ Phật Giáo kỳ Xôn xao bừng dậy thấu đất trời, nổi lòng đau khôn tả cùng non nước.
08/03/201222:22(Xem: 4333)
Đôi khi rất đơn giản, Ta nghĩ sống làm người, Chết là coi như hết. Ngắn ngủi một cuộc đời. Vì thế ta sống vội, Chỉ biết ngày hôm nay, Không lo, không chuẩn bị Cho thế giới sau này. Không sợ luật Nhân Quả, Không biết vòng Luân Hồi, Ta buông xuôi, sống thả, Kiểu bèo dạt mây trôi. Không một lần tự hỏi, Không vương vấn trong đầu: Chúng ta từ đâu đến, Và chết sẽ về đâu?
18/10/201619:41(Xem: 2390)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
06/06/201707:13(Xem: 2675)
Việt Nam mưa nắng hai mùa Chiều về nhớ tiếng chuông chùa vọng vang Bao năm chinh chiến điêu tàn Lá xanh rụng trước lá vàng tiễn đưa .
01/08/201408:45(Xem: 6269)
Trùng trùng muôn sự vật Như chớp loé sương rơi Vỡ tan tành bọt nước Mong manh huyễn mộng đời
03/05/201201:21(Xem: 5512)
Ta lặng ngó nàng thơ vồn vã bước Lên đồi mây gối mộng ước sơn hà Ngày hun hút hiu buồn đành khép lại
15/10/201408:19(Xem: 5435)
Vang Vọng Nguồn Thương (tập thơ)
27/12/201506:26(Xem: 3999)
Có chàng lãng tử lưu lạc giang hồ từ thuở thiếu thời, bỗng một hôm nghe hung tin người cha già rời bỏ trần gian, lòng bồi hồi nhớ đến lời dặn dò năm xưa của cha, lời rằng, “Dù vui, buồn giữ mãi cái tâm trong.” Chàng lãng tử đó là nhà thơ Nguyễn Hoàng Lãng Du, một trong mười nhà thơ -- gồm Bạch Xuân Phẻ, Hàn Long Ẩn, Huyền, Nguyên Lương, Nguyễn Hoàng Lãng Du, Nguyễn Phúc Sông Hương, Nguyễn Thanh Huy, Phan Thanh Cương, Trần Kiêm Đoàn, và Tuệ Lạc -- có mặt trong tuyển tập thơ Tâm Trong vừa mới được nhà sách lớn nhất thế giới Amazon phát hành vào trung tuần tháng 12 năm 2015.
07/10/201622:11(Xem: 2733)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
01/05/201721:04(Xem: 2404)
Vấp chân, trợt giữa chợ chiều Nhìn trời mà ngắm cánh diều nghiêng chao Buồn cười nên chẳng hư hao Chỉ đau thân xác ngã nhào vô duyên