Kim Cổ Sắt Son

25/06/201114:44(Xem: 13833)
Kim Cổ Sắt Son

vulan_mevacon

Xin ngắt một cành hoa

Dâng lên công đức Mẹ

Xin ngắt một cành hoa

Dâng lên công đức Cha

Nhớ thương cửa cửa nhà nhà

Non non nước nước gia gia hữu tình

Ta đi trên nước non mình

Ta về đồng nội in hình núi sông

Dư đồ một dãi cong cong

Uốn theo chữ “S” Tiên Rồng Việt Nam

Xin ngắt một cành hoa

Tôn thờ công đức Mẹ

Xin ngắt một cành hoa

Phụng cúng công đức Cha

Nước non non nước của ta

Tiếng Quốc sông núi tiếng Gia cửa nhà

Ngàn năm Văn Hiến tinh ba

Rồng Tiên mở hội hoan ca kiêu hùng

Đất này là đất nước chung

Nước này là của giống dòng Việt Nam

Vàng son chạm sắt lên chàm

Ngoại thực sạch bóng ngoại xâm tiêu đời

Hỡi người Việt Nam ta ơi

Nhất hô bá ứng vạn lời tuyên ngôn

Đông Tây Nam Bắc đừng hòng

Tan hoang khiếp vía kinh hồn biết chưa

Xin ngắt một cành hoa

Đáp đền ơn Mẫu Tử

Xin ngắt một cành hoa

Nhớ nghĩa đức Phụ Thân

Nếu cần, đánh đổ phù vân

Nếu cần, quét sạch phong trần bụi bay

Nói cho biết đó biết đây

Đừng gieo ách họa đừng bày tai ương

Việt Nam dũng khí đường đường

Trọng nghĩa thì sống, dở tuồng ra tro

Xâm lăng, xâm thực chật mồ

Hống hách, bạo ngược, xương khô chất chồng

Này này, ta bảo nhớ không

Lật trang sử cũ thoát tròng nhớ nghe

Này này, ta bảo đừng mê

Đựng vào biết mặt, chui về nhà ma

Việt Nam Dân Tộc của ta

Nhứt ngôn ký xuất thiên la rợn hồn

Xưa nay vẫn thế không sờn

Cổ kim không đổi sắt son Tiên Rồng

Đó là núi núi sông sông

Định ban tọa thị giống dòng Việt Nam.

Tháng 6 – 2011

TNTMặc Giang

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/10/2016(Xem: 15156)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 18280)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 14059)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 11551)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
07/10/2016(Xem: 13422)
Mười tám năm - Hoa Vô Ưu - Vườn xưa lấp lánh cánh hoa tâm - Mười tám năm Kẻ còn người mất - Hương Vô Ưu - Thơm ngát cõi vô thường
06/10/2016(Xem: 13995)
Cái chết từ từ sẽ đến Lo chi cho lắm cực thân Thảnh thơi nhẫn tu mà sống Có gì ta phải rối răm .
03/10/2016(Xem: 14494)
Ta đứng giữa rừng thu hắt hiu Sợi thu vàng vọt rớt trong chiều Hoàng hôn phủ gót chân hoang dã Nghe nàng thu chết giữa cô liêu
03/10/2016(Xem: 16029)
Đời người trong hơi thở Ra vào từng phút giây Thở ra mà không lại Là vĩnh biệt từ đây .
01/10/2016(Xem: 13185)
Ngồi thuyền Bát Nhã ngắm trăng Bát cơm Hương Tích trăm năm vẫn về Tào Khê trà uống bên lề Lăng Già sáng tỏ tứ bề không gian
29/09/2016(Xem: 14785)
Người về giữa chốn phù vân. Sông Hàn ngấn lệ khôn ngần tiếc thương. Người về chung cuộc vô thường. Không còn mưa nắng khói sương Bà Nà. Người về tiếng khóc vang xa. Là kinh động giữa ta bà khói mây.