Phong Kiều Dạ Bạc

13/10/201016:05(Xem: 11473)
Phong Kiều Dạ Bạc
Phong Kiều Dạ Bạc
Nguyên tác: Trương Kế
http://xa2.xanga.com/b748204a697334980954/b4398142.jpg

楓橋夜泊

張繼

月落烏啼霜滿天, 江楓漁火對愁眠。

姑蘇城外寒山寺, 夜半鐘聲到客船。


Phong Kiều dạ bạc

Nguyệt lạc Ô Đề sương mãn thiên
Giang phong, ngư hoả đối Sầu Miên
Cô Tô thành ngoại Hàn-San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bài dịch của Tản Đà

Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Bản dịch của Đông A

Cảm tác đêm đông

Nào có chuông đâu tỉnh giấc sầu
Trời sương tiếng quạ lạnh đêm thâu
Mơ mơ trăng lạc Phong Kiều bến
Chỉ thấy mây đen phủ kín đầu.

Bản dịch của Ngô Tất Tố

Quạ kêu, sương tỏa trăng lui
Đèn chài vây bến đối người nằm khô
Chùa đâu trên núi Cô-Tô
Tiếng chuông đưa đến bến đò canh khuya.

Bản dịch của Bùi-Khánh-Đản

*Trăng lặn sương mờ nghe tiếng quạ
Lửa chài cây ánh giấc chưa yên
Cô-Tô bên mái Hàn-Sơn tự
Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền.

Bản dịch của Trần-Trọng-San

Quạ kêu, trăng lẩn sương trời
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài bến phong
Đêm Cô-Tô vẳng tiếng chuông
Chùa Hàn-Sơn đến thuyền sông Phong-Kiều.

Chú thích:

Sau năm 1946, cụ Trần Trọng Kim đã qua Trung Quốc một thời giạn Có lẽ cụ đã đi qua chùa Hàn San trên đường đến Thượng Hải, và đã bực dọc vì thấy cảnh thật không phù hợp với cảnh trong tưởng tượng Tuy nhiên cụ vẫn cảm âm điệu bài này mà dịch theo thể lục bát :

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn

Bản dịch của Nguyễn phước Hâu

Quạ kêu , trăng lặn , sương đầy trời
Buồn lặng hàng phong đối lửa chài .
Từ ngoại thành Tô , chùa Núi Lạnh ,
Nửa đêm , chuông điểm vọng thuyền ai .

-- Bản dịch của Phụng Hà --

-Bài 1 :

Trăng tà, tiếng quạ xé màn sương ,
Ánh lửa, hàng phong giục khách buồn .
Dưới thành Cô Tô, chùa Hàn vắng ,
Đêm muộn thuyền ai thoảng tiếng chuông .

-Bài 2 :

Trăng tà sương phủ quạ kêu ,
Hàng phong ánh lửa như khêu mối buồn .
Thành Tô, bến vắng thuyền buông ,
Nửa đêm vọng đến tiếng chuông chùa Hàn .

-- Bản dịch của SongNguyễn HànTú --

Trời mù sương, quạ kêu vang, trăng lặn
Đèn chài mờ, phong đứng, giấc không yên
Ngoại Cô Thành chùa Hàn phủ sương đêm
Chuông khuya vọng âm vang thuyền viễn khách

-- Bản dịch của NguyễnTâmHàn --

Mờ sương, quạ rúc tàn trăng
Lửa chài, phong đứng, cõi lòng chẳng an
Ngoại Cô-tô, bóng Hàn san
Nửa khuya chuông vọng âm vang khách thuyền

-- Bản dịch của Nguyễn Minh --

Trăng đã lặn, quạ kêu, sương mờ khắp
Phong ven sông, lửa bến, ngũ lơ mơ
Chùa Hàn San nơi thành ngoại Cô Tô
Nửa đêm tiếng chuông ngân sang thuyền khách .

-- Bản dịch của Nguyễn Văn Khuê --

Trăng lặn, quạ kêu, trời phủ sương ,
Lửa chài cây bến, giấc sầu vương .
Chùa Hàn ngoài ải Cô Tô vắng ,
Thuyền khách đêm khuya vẳng tiếng chuông.

-- Bản dịch khuyết danh--

Trời sương, trăng lặn, quạ kêu luôn ,
Ngủ đối cầu phong lửa cá buồn .
Thuyền đậu thành Tô chùa núi lạnh ,
Nửa đêm chuông nện tiếng bong bong .

-- Bản dịch của Phụng Hà --

Quạ kêu sương toả, trăng xế nghiêng,
Lửa chài cây bến, giấc cô miên.
Dưới Cô Tô, chùa Hàn Sơn vắng ,
Đêm muộn chuông xa vọng đến thuyền .

-- Bản dịch của Phụng Hà --

Quạ kêu, trăng lặn đẫm sương đêm,
Hàng phong ánh lửa, khách buồn tênh.
Thuyền đậu Cô Tô, chùa Hàn vắng ,
Đêm muộn ai nghe tiếng chuông rền .

-- Bản dịch của NguyễnTâmHàn --

Giữa trăng lặn
tiếng quạ vang
trời sương giăng dầy đặc
Phong im lìm
Đèn lóa
Giấc không yên
Ngọai Cô Thành chùa Hàn phủ sương đêm
Âm chuông vọng nửa khuya vang thuyền khách

-- Bản dịch của Nguyễn Thành Ân --

Quạ kêu trăng lẫn khói màu
Hàng phong, lửa bến giấc sầu còn vương
Cô Tô khách đỗ đêm trường
Hàn Sơn chuông vẳng đến thuyền nửa đêm .


--English Version--

A NIGHT-MOORING NEAR MAPLE BRIDGE

While I watch the moon go down, a crow caws through the frost;
Under the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch;
And I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain,
Ringing for me, here in my boat, the midnight bell.

---- Another English version ----

Moon sets, crows cry and frost fills all the sky;
By maples and boat lights, I sleepless lie.
Outside Suzhou Hanshan Temple is in sight;
Its ringing bells reach my boat at midnight.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/01/2016(Xem: 12734)
Phải chi mây đã ngừng bay Phải chi gió chỉ nhẹ lay bên thềm Phải chi nắng hỡi đừng lên Phải chi nỗi nhớ đành quên một lần
12/01/2016(Xem: 13864)
Tuyết rơi trắng ngập sân chùa Hồi chuông theo gió đong đưa gợi thiền Tâm bất vọng quán nhân duyên Trần gian một chuỗi ưu phiền không tên Bạc đầu còn giấc ngủ quên Dẫu mai thức dậy cũng miền chiêm bao Thả neo đời giữa lao xao Để cho tĩnh lặng đi vào cõi chân
12/01/2016(Xem: 15713)
Trang Nhà Quảng Đức chúc xuân Đạo tràng Tu viện một lòng hướng quê “Dê” đi năm “khỉ” lại về “Tâm Viên Ý Mã” nguyện thề phải tu Là “khỉ” tâm rất lu bu Lăng xăng chạy nhảy oán thù tạo gieo
11/01/2016(Xem: 17301)
Tiền thân Đức Phật một thời Từng là chú khỉ sống nơi khu rừng Thân hình to lớn hào hùng Xiết bao mạnh mẽ, vô cùng thông minh, Nhân từ nổi tiếng rừng xanh Giúp người hoạn nạn tâm thành chứa chan. Một ngày rực rỡ ánh vàng Nắng trời tỏa ấm, gió ngàn vờn quanh
09/01/2016(Xem: 20604)
Thiên nhân hỏi: - Thanh kiếm nào sắc bén nhất? Chất độc nào tàn hại nhất? Ngọn lửa nào dữ dội nhất? Bóng đêm nào đen tối nhất? - Đức Phật trả lời: Lời nói trong lúc giận dữ là thanh kiếm sắc bén nhất, dục vọng là chất độc tàn hại nhất, đam mê là ngọn lửa dữ dội nhất, vô minh là bóng đêm đen tối nhất.
09/01/2016(Xem: 11684)
Theo “ngũ dục” (1) sẽ làm mờ chân tánh Khiến bao người phải lụy hại thân tâm Áng mây che tâm trí lắm mê lầm Bao kẻ chết cũng bởi vì ngũ dục: Vàng ngọc của tiền “tài” luôn thôi thúc Biết bao người ham muốn phải chạy theo Tưởng đâu rằng có nó sẽ hết nghèo
09/01/2016(Xem: 11781)
Xưa kia ở chốn núi rừng Có đàn khỉ nọ khoảng chừng năm trăm Họp bầy nô rỡn quanh năm, Một hôm khỉ rủ nhau thăm bìa rừng Có cây cổ thụ nhiều tầng Mọc bên bờ giếng sáng ngần ánh trăng. Giếng sâu. Dưới đáy nước trong Trăng tròn in bóng bềnh bồng nổi trôi Khỉ kêu: "Thôi chết! Nguy rồi! Mặt trăng rơi xuống giếng khơi đây này
07/01/2016(Xem: 11749)
Lập Tịnh Xá: Khai truyền mối đạo Cho chúng sanh nương náu tu hành Dắt người đến chỗ thiện lành Trau tâm dồi trí để thành hiền nhân. Lập Tịnh Xá: Xây nền đạo đức Cho chúng sanh tiến bước lên đường Về miền Cực Lạc Tây Phương Là nơi cảnh Phật Niết Bàn an vui.
05/01/2016(Xem: 18004)
Dòng tộc Họ Hồ tại Việt Nam Được khai sinh từ một người duy nhất Đã hơn một ngàn năm Xuất phát tại Hương Bào Đột Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An Vào thời đại Nhà Ngô - Nhà Đinh Đại Cồ Việt Ngài chính là Đức Nguyên Tổ Hồ Hưng Dật Ngài mang họ Hồ, một tộc họ Bách Việt Văn võ tuyệt siêu, học vị trạng nguyên
02/01/2016(Xem: 42270)
Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308,) là vị vua thứ 3 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3. Trần Nhân Tông cũng là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu ĐàHoàng Giác Điều Ngự. (Tham khảo từ trang Web. Vikipedia.org VN.)