Văn tế thập loại chúng sinh

19/09/201007:54(Xem: 25342)
Văn tế thập loại chúng sinh

Tieu_Dien




Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt, 
Toát hơi may lạnh buốt xương khô, 
Não người thay buổi chiều thu, 
Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng. 

5. Đường bạch dương bóng chiều man mác, 
Ngọn đường lê lác đác sương sa, 
Lòng nào là chẳng thiết tha, 
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm. 

Trong trường dạ tối tăm trời đất, 
10. Có khôn thiêng phảng phất u minh, 
Thương thay thập loại chúng sinh, 
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người. 

Hương khói đã không nơi nương tựa, 
Hồn mồ côi lần lữa đêm đen, 
15. Còn chi ai quí ai hèn, 
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu? 

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát 
Nước tịnh bình rưới hạt dương chi 
Muôn nhờ đức Phật từ bi, 
20. Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương. 

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh, 
Chí những lăm cướp gánh non sông, 
Nói chi những buổi tranh hùng 
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau. 

25. Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở 
Khôn đem mình làm đứa thất phu, 
Lớn sang giàu nặng oán thù, 
Máu tươi lai láng, xương khô rã rời. 

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc, 
30. Quỷ không đầu than khóc đêm mưa 
Cho hay thành bại là cơ 
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan! 

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ, 
Những cậy mình cung quế Hằng Nga, 
35. Một phen thay đổi sơn hà, 
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu? 

Trên lầu cao dưới cầu nước chảy 
Phận đã đành trâm gãy bình rơi, 
Khi sao đông đúc vui cười, 
40. Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương. 

Đau đớn nhẽ không hương không khói, 
Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim. 
Thương thay chân yếu tay mềm 
Càng năm càng héo, một đêm một rầu. 

45. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng, 
Ngọn bút son thác sống ở tay, 
Kinh luân găm một túi đầy, 
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu. 

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm, 
50. Trăm loài ma mồ nấm chung quanh, 
Nghìn vàng khôn đổi được mình 
Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu? 

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước 
Biết lấy ai bát nước nén nhang? 
55. Cô hồn thất thểu dọc ngang, 
Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh. 

Kìa những kẻ bài binh bố trận 
Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung. 
Gió mưa sấm sét đùng đùng, 
60. Dãi thây trăm họ nên công một người. 

Khi thất thế tên rơi đạn lạc, 

Bãi sa trường thịt nát máu rơi, 
Bơ vơ góc bể chân trời, 
Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao? 

65. Trời thăm thẳm mưa gào gió thét, 
Khí âm huyền mờ mịt trước sau, 
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu, 
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường? 

Cũng có kẻ tính đường trí phú, 
70. Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn, 
Ruột rà không kẻ chí thân 
Dẫu làm nên để dành phần cho ai? 

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ, 
Của phù du dẫu có như không, 
75. Sống thời tiền chảy bạc ròng, 
Thác không đem được một đồng nào đi. 

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm 
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm 
Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm, 
80. Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu? 

Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý 
Dấn mình vào thành thị lân la, 
Mấy thu lìa cửa lìa nhà, 
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân? 

85. Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng, 
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng, 
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng, 
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng. 

Bóng phần tử xa chừng hương khúc 
90. Bãi tha ma kẻ dọc người ngang, 
Cô hồn nhờ gửi tha phương, 
Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng. 

Cũng có kẻ vào sông ra bể, 
Cánh buồm mây chạy xế gió đông 
95. Gặp cơn giông tố giữa dòng, 
Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê. 

Cũng có kẻ đi về buôn bán, 
Đòn gánh tre chín dạn hai vai, 
Gặp cơn mưa nắng giữa trời, 
100. Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao? 

Cũng có kẻ mắc vào khoá lính, 
Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan, 
Nước khe cơm ống gian nan, 
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời. 

105. Buổi chiến trận mạng người như rác, 
Phận đã đành đạn lạc tên rơi. 
Lập loè ngọn lửa ma trơi, 
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương. 

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp, 
110. Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa, 
Ngẩn ngơ khi trở về già, 
Đâu chồng con tá biết là cậy ai? 

Sống đã chịu một đời phiền não 
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa, 
115. Đau đớn thay phận đàn bà, 
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu? 

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất, 
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi, 
Thương thay cũng một kiếp người, 
120. Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan! 

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc 
Gửi mình vào chiếu rách một manh. 
Nắm xương chôn rấp góc thành, 
Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi? 

125. Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé, 
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha. 
Lấy ai bồng bế vào ra, 
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng. 

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối, 
130. Cũng có người sẩy cối sa cây, 
Có người leo giếng đứt dây, 
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành. 

Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái 
Người thì sa nanh sói ngà voi, 
135. Có người hay đẻ không nuôi, 
Có người sa sẩy, có người khốn thương. 

Gặp phải lúc đi đường lỡ bước 
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau 
Mỗi người một nghiệp khác nhau 
140. Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ? 

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi, 
Hoặc là nương ngọn suối chân mây, 
Hoặc là bụi cỏ bóng cây, 
Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ. 

145. Hoặc là nương thần từ, Phật tự 
Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông 
Hoặc là trong quãng đồng không, 
Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre. 

Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết, 
150. Gan héo khô dạ rét căm căm, 
Dãi dầu trong mấy mươi năm, 
Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương. 

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn, 
Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra, 
155. Lôi thôi bồng trẻ dắt già, 
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh. 

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ, 
Phóng hào quang cứu khổ độ u, 
Rắp hoà tứ hải quần chu, 
160. Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không. 

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại, 
Chuyển pháp luân tam giới thập phương, 
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương, 
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh. 

165. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh, 
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao, 
Mười loài là những loài nào? 
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh. 

Kiếp phù sinh như hình bào ảnh, 
170. Có chữ rằng: "Vạn cảnh giai không" 
Ai ơi lấy Phật làm lòng, 
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi. 

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo, 
Của có chi bát cháo nén nhang, 
175. Gọi là manh áo thoi vàng, 
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên. 

Ai đến đây dưới trên ngồi lại, 
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu. 
Phép thiêng biến ít thành nhiều, 
180. Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh. 

Phật hữu tình từ bi phổ độ 
Chớ ngại rằng có có không không. 
Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng 
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/2026(Xem: 1340)
Tôi có thói quen, sau khi tụng kinh buổi sáng xong, thường ngồi uống một ly trà trước khi dùng điểm tâm. Vừa uống trà, tôi vừa lướt qua trang Thắng Hoan Thi Tập và tình cờ đọc được bài thơ Thiền Trà của Hòa thượng. Tôi cảm thấy thú vị và bỗng dưng nhớ Hòa thượng. Tôi nhớ không phải vì sự bịn rịn của thế gian, mà nhớ cái đức, cái tài và cái tính hào sảng của Ngài.
04/02/2026(Xem: 1398)
Hôm nay Tháng Chạp hăm ba Táo quân khắp chốn gần xa về chầu Bớ khanh Bắc Đẩu Nam Tào Mau mau mở máy bắt đầu online Táo Quân dưới đó là ai Trẫm đây miễn lễ, trình ngay phương nào ? Trong năm Ất Tỵ ra sao Mà ta bị réo điên đầu điếc tai.
02/02/2026(Xem: 2738)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 2701)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 2280)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1962)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2490)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1730)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1690)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1658)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.