Trí nhớ của A Nan Đà

09/08/201100:14(Xem: 15229)
Trí nhớ của A Nan Đà


Ton gia A Nan


TRÍ NHỚ CỦA A NAN ĐÀ


Hồi ấy ở Xá Vệ,
Trong vườn cây Kỳ Đà,
Chúng tôi cùng tá túc
Với Đức Phật Thích Ca.

Các chư tăng, đệ tử
Thường cho tôi là người
Có trí nhớ rất tốt,
Nên ngợi khen hết lời.

Họ bèn hỏi Đức Phật,
Kiếp trước tôi làm gì
Mà giờ thông minh thế,
Uyên bác chẳng ai bì.

Đức Phật kể câu chuyện,
Rằng ngày xưa, lâu rồi
Có một nhà sư nọ
Nuôi chú tiểu không tồi.

Nhưng ông này nghiêm khắc,
Bắt tụng kinh hàng ngày
Đúng giờ, đúng thời lượng,
Không, sẽ bị ông rầy.

Cái khó là chú tiểu
Phải khất thực hàng ngày.
Có hôm được, về sớm.
Cũng có hôm trắng tay.

Nên nhiều hôm chú đói, 
Vì phải về đúng giờ.
Không về sẽ bị mắng,
Chú khóc, buồn ủ ê.

Lần nọ, một trưởng giả
Hỏi chú có chuyện gì
Mà buồn rầu, phải khóc.
Ta sẽ giúp, nói đi.

Chú đem chuyện ấy nói.
Ông bảo chú thế này:
“Tụng kinh phải đúng lúc.
Ta giúp chú - từ nay

Không phải lo ăn uống,
Để lo việc tụng kinh
Đúng giờ, đúng thời lượng.
Sư cụ khỏi bực mình.”

Và thế là từ đấy
Chú tiểu cứ đều đều
Tụng kinh rất chăm chỉ,
Được sư già thương yêu.

*
Kể đến đây, Phật nói:
“Sư là Phật Định Quang.
Còn ta là chú tiểu.
Ông trưởng giả cúng dàng,

Người biết lo chu đáo,
Chính là A Nan Đà.
Ông là người thông tuệ,
Nhớ hết lời của ta”

Chúng tôi nghe, hoan hỉ,
Ca ngợi thầy Thích Ca.
Rồi tất cả lễ phép
Cúi đầu chào, lui ra.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/10/2014(Xem: 21760)
Vấn vương, vương vấn làm chi Hợp tan, tan hợp chẳng gì bận tâm Con về thăm mẹ lần này Trọng trách con gánh từ rày nghe con Lời xưa con gắng giữ tròn Gieo duyên tạo phước, lái thuyền từ bi.
10/10/2014(Xem: 15231)
Ngồi trong vườn nguyệt lộ Hôn một màu trăng non Nghe lòng mình cười rộ Chạy băng đồi vô ngôn Ồ. Hồn tràn mộng trắng Tôi ôm trăng không màu Tôi ngút xuống biển dạng Tôi dại khờ mắt nâu
09/10/2014(Xem: 21707)
Nói thiệt, tôi chẳng biết ông Lê Hựu Hà nghĩ gì khi viết bảy chữ này. Nhưng tôi đã xem đó như một đề nghị rất Phật giáo. Tôi chưa hề là một thiền sinh nghiêm túc, nói gì là thiền sư. Tôi chỉ là kẻ lãng du trong cõi Phật pháp và thỉnh thoảng ghé chơi dăm khu vườn văn nghệ như một cách nghỉ chân. Và chính bảy chữ đó của người nhạc sĩ họ Lê từ lâu đã là một khẩu quyết cho tôi những khi nghe, đọc, ngắm nhìn cái gì đó tình cờ bắt gặp. Chẳng hạn tôi đã yêu ca dao Việt Nam từ những lời rất lạ.
08/10/2014(Xem: 14671)
Chiều nay nắng ghé sân chùa Đậu lung linh đủ để vừa đề thơ Nắng vờn vạt áo thiền sư Hình như nắng thích phù du đường trần
07/10/2014(Xem: 13736)
Hạnh phúc thay khi Tăng già hòa hợp Cùng “Về nguồn” để “Hiệp Kỵ” vinh danh Bảy kỳ qua tố chức được viên thành Nay Pháp Bảo Úc châu kỳ thứ tám Chư Tôn Đức Tăng Ni đều đồng cảm Trông mong ngày hội ngộ để sẻ chia Những mưu toan áp lực muốn cắt lìa
07/10/2014(Xem: 15158)
Năm xưa ở nơi này, Đại chúng hội về đây, Lạc thành và Đại hội, Bốn chúng thật đủ đầy. Rồi cũng hai năm trước, Ghé thăm trước khi về, Mọi chuyện còn dang dỡ, Tuy nhiên cũng Ô-kê.
07/10/2014(Xem: 13334)
Tuyệt trần hoa nở chào đêm Vườn sau ứ rác nhũn mềm nhớp nhơ Trăng soi ma mị mập mờ Triêu dương tôi đón vần thơ nắng hiền.
06/10/2014(Xem: 17583)
Đêm mơ tôi hái được trăng Cài lên ngực áo lam vầng vàng hoe Mang trăng trên áo tôi về Ghim nơi áo trắng miền quê học trò Chập chờn bừng mắt giữa mơ Mẹ ngồi bên ánh đèn mờ cắt may
06/10/2014(Xem: 20939)
Thông thường, trong một tác phẩm văn học nghệ thuật, lời Tựa mở đầu bao giờ cũng được tác giả tự bộc bạch, thổ lộ, diễn bày rất cẩn trọng dài dòng, để người đọc dễ lãnh hội sâu vào nội dung tác phẩm đó, nhưng với Triều Nguyên thì lại hoàn toàn khác hẳn, khi viết Tựa cho tập thơ đầu tay Bay Đi Hạt Cát của mình, thi sĩ chỉ có một câu duy nhất, thật vô cùng giản dị : “Sa mạc buồn thương hạt cát bay đi…” Giản dị đơn sơ mà độc đáo, thể hiện một cốt cách đặc thù riêng biệt trên con đường sáng tạo, ngao du qua những phương trời ngôn ngữ thi ca quá mộng dập dìu.
04/10/2014(Xem: 12809)
Chân Tăng giảng lý Đạo suốt thông Đáp ân Phật Tổ trọn tấm lòng Khiến người hiểu thấu hành cách sống Hướng đường Giải Thoát bước thong dong.