Cá trăm đầu

08/08/201115:59(Xem: 13016)
Cá trăm đầu

ca vang

CÁ TRĂM ĐẦU

Chính tôi được chứng kiến
Chuyện này của Thích Ca
Khi Ngài ở Vườn Trúc
Của nước Ma Kiệt Đà.

Đức Thế Tôn ngày nọ,
Cùng đệ tử ra đi
Khất thực tận một nước
Có tên Tỳ Xá Ly.

Trên bờ sông Lê Việt,
Ngài ngồi cùng tỳ kheo,
Thưởng thức chút hơi mát
Giữa nắng nóng buổi chiều.

Quanh chúng tôi lúc ấy
Năm trăm người chăn trâu,
Năm trăm người đánh cá,
Đang kéo lưới bên cầu.

Năm trăm người kéo lưới,
Kéo mãi vẫn không lên.
Họ phải nhờ mấy bác
Đang chăn trâu kề bên.

Cuối cùng họ kéo được
Một con cá khổng lồ
Có trăm cái đầu thú
Như hổ, lợn, trâu, bò…

Mọi người thấy cá lạ,
Tranh nhau xem, ồn ào.
Phật dẫn các đệ tử
Đến xem thử thế nào.

Khi thấy con cá ấy,
Trăm chiếc đầu, Thích Ca
Bèn lên tiếng hỏi nó:
“Ca Tỳ Lê đấy à?”

“Thưa vâng,” con cá đáp.
“Kiếp sau ngươi làm gì?”
“Kiếp sau con phải sống
Dưới địa ngục A Tỳ.”

Nghe cá đáp, thấy lạ,
Chính tôi, A Nan Đà,
Muốn biết rõ sự việc,
Bèn hỏi Phật Thích Ca.

Phật nói, nhiều kiếp trước,
Có ông Bà La Môn,
Thời Đức Phật Ca Diếp.
Ông này có anh con

Khá thông minh, tài giỏi,
Nhưng ngạo mạn, hợm mình.
Tranh luận với người khác,
Thường tỏ ý coi khinh.

Không ít lần hỗn láo,
Cậu gọi các sa-môn
Bằng tên các loài vật,
Đủ các loài, các con.

Đến đây, Đức Phật nói:
“Các đệ tử lắng nghe.
Con người phạm thượng ấy
Chính là Ca Tỳ Lê.

Vì sự hỗn láo đó
Mà nhiều kiếp xưa nay
Anh ta bị nghiệp chướng
Thành con cá thế này.”

Tiếp đến, Ngài giảng pháp.
Năm trăm người chăn trâu,
Năm trăm người đánh cá,
Nghe, sáng láng trong đầu.

Rồi cả nghìn người ấy
Quì trước Phật Thích Ca,
Muốn qui y theo Phật,
Mong sớm được xuất gia.

Đức Phật rất hoan hỉ,
Nói: “Tỳ Kheo Thiện Lai!”
Lập tức thành phật tử,
Họ cùng đi theo Ngài.

Thái Bá Tân
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/02/2011(Xem: 13487)
Khói mây liễu mộng, ngoại trần chơi Trăng nước hoa gương, gẫm lại cười Nhân ái đề huề, sao tỏ rạng...
21/02/2011(Xem: 17308)
chẳng phải là bài thơ hẹn ước chẳng phải là ý tưởng vẽ vời mà mùa xuân năm nay lại như cánh gió hân hoan đi về...
21/02/2011(Xem: 14668)
cánh rất mỏng chim đường bay rồi chẳng tới bởi mù sa hớt hải đuổi bên chân
19/02/2011(Xem: 28245)
Hết lòng trân quí và ghi nhớ ân đức sâu dầy của sư Sán Nhiên đã biên soạn và hiệu đính tập sách này, cũng như đã hoan hỷ cho phép Hội Thiện Đức ấn tống nhằm góp phần vào công cuộc hoằng hóa Phật pháp đem đến lợi lạc cho nhiều người. Hội Thiện Đức xin biết ơn sự ủng hộ tinh thần và tán thán sự phát tâm đóng góp tịnh tài của quý Phật tử và ân nhân cho công trình ấn tống này. Xin tri ân chị Thân Thục & anh Thân Phúc đánh máy tập sách; anh Thân Hòa trình bày sách bao gồm thiết kế bìa sách; anh Chúc Giới, anh Thiện Tánh, cùng anh Chúc Tùng cung cấp tài liệu và hình ảnh; Tâm Hân Huệ thỉnh ý sư Sán Nhiên; chị Tâm Thiện, chị Chơn Hạnh Bạch, chị Diệu Âm, Thân Hồng, cùng anh chị Lê Lộc (Lancaster, PA) phụ giúp sổ sách, liên lạc, và kêu gọi cho quỹ ấn tống.
19/02/2011(Xem: 14815)
Lá xanh cõng nắng sang mùa Phất phơ sương khói hiên chùa gọi nhau Làm thơ, hoa cỏ chụm đầu...
13/02/2011(Xem: 60219)
Vội đến, vội đi, vội nhạt nhòa Vội vàng sum họp vội chia xa. Vội ăn, vội nói rồi vội thở Vội hưởng thụ mau để vội già.
06/02/2011(Xem: 13193)
Đường của thơ là đầm đìa cát bụi Vùi nắng mưa sấm chớp bão bùng Và khơi mở dòng đời từ vô thủy...
02/02/2011(Xem: 11870)
"Trước sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông." Ngữ tình vương vấn. Tâm cảnh xao động. Mối tương dữ sâu sắc giữa thiên nhân trong lần Kim Trọng trở lại vườn Thúy tìm Kiều. Người xưa vắng bóng, chỉ thấy cảnh cũ hoa đào cười trước gió đông ngày xuân. Đó cũng chính là cảnh của Thôi Hộ trong bài thơ dưới đây.
02/02/2011(Xem: 17164)
1) Đối với các Thiền Sư thời Lý-Trần, sự ứng dụng tâm thức tu hành với những giáo lý Đức Phật truyền dạy là một. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, Đức Phật khai thị về không gian: "Mười phương thế giới đồng nhất thể." Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật mở bày ý niệm về thời gian: "Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vi lai tâm bất khả đắc."
02/02/2011(Xem: 15487)
Sự hiện hữu đột biến phản diện của một đóa mai đã đánh lay tâm thức của người đọc một cách bất ngờ, tạo ra một mối nghi tình cho hành giả, trong hai câu song thất kết thúc của bài kệ, mà thiền sư Mãn Giác đã trao cho những người đi sau, nhân lúc cáo bệnh thị chúng của ngài, chúng vẫn còn tiếp tục chảy không biết bao nhiêu bút mực để nói về sự hiện hữu của chúng.