Sai Ma

08/08/201111:56(Xem: 12351)
Sai Ma


lotus_5

SAI MA


Chính tôi được chứng kiến,
Phật Thích Ca Mâu Ni
Khi ở rừng Lâm Trúc,
Thuộc nước La Duyệt Kỳ.

Bấy giờ có người nọ
Thuộc dòng Bà La Môn,
Chăm làm nhưng nghèo kiết,
Không nuôi nổi vợ con.

Chợt anh nghe người nói
Phật có bốn đại hiền,
Là Tôn giả Ca Diếp,
Tôn giả Mục Kiền Liên,

Tôn giả Xá Lợi Phất,
Cuối cùng, người thứ tư -
Tôn giả A Na Luật,
Đại bi và đại từ.

Anh nghe nói các vị
Hay giúp đỡ người nghèo,
Làm đời họ thay đổi,
Ban phước lộc rất nhiều.

Anh chàng này mừng lắm,
Quyết làm thuê kiếm tiền,
Mua các thứ trai, lễ
Dâng cúng bốn đại hiền.

Anh gặp được bốn vị,
Kính trọng nói lời mời.
Dẫu cao sang, thần phép,
Các vị đã nhận lời.

Thọ trai xong, các vị
Liền giảng pháp tại nhà
Cho anh chồng và vợ
Có tên là Sai Ma.

Giảng về ngôi Tam Bảo,
Về thọ trì Tam Quy,
Về Bát Quan Trai Giới
Và bác ái, từ bi.

Vợ chồng nghe, xin hứa
Sẽ nhất mực tuân theo.
Còn bốn đại tôn giả
Trở về với tỳ kheo.

Lại nói vua nước ấy,
Có tên là Bình Sa,
Một hôm đi săn thú,
Trên đường trở về nhà

Thấy một tên tội phạm
Bị trói, treo bên đường.
Hắn đói, xin bố thí,
Vua thấy, động lòng thương,

Hứa cho bánh và nước.
Thế mà ngài lại quên,
Về đến nhà mới nhớ, 
Thì trời đã tối đen.

Vua sai lính đưa bánh.
Chúng sợ không dám liều.
Vì nghe nói chỗ ấy
Ma quỉ có rất nhiều.

Cuối cùng vua hứa thưởng
Một nghìn đồng tiền vàng
Cho ai đưa bánh, nước
Giúp người kia trong rừng.

Vợ của người nghèo đói,
Tức là cô Sai Ma
Đã nhận lời đưa bánh
Và nước cho anh ta.

Quả đúng nhiều thú dữ
Và ma quỉ hiện lên.
Nhờ Bát Quan Trai Giới
Nên cô vẫn bình yên.

Sau đó cô nhận thưởng,
Xây ngôi nhà thật to,
Mua ruộng, thuê đầy tớ,
Sống hạnh phúc, vô lo.

Chồng cô, anh nghèo đói
Được vua triệu vào cung,
Cho một chức quan lớn,
Cũng vinh hiển vô cùng.

Vậy là ta đã thấy,
Nhờ một bữa cúng dàng
Mà một nhà nghèo khổ
Được ân phước nghìn vàng.

Một hôm gia đình họ
Sửa lễ trọng cúng trai,
Mời Đức Phật đến dự.
Tôi cũng đi với Ngài.

Cơm xong, Phật thuyết pháp
Về bố thí, sinh thiên,
Về cả phép trì giới,
Và các phép đức, hiền.

Hai vợ chồng chăm chăm chú
Nghe, tâm trí sáng dần,
Như uống nước cam lộ,
Chứng quả Tu Đà Hoàn.

Chúng tôi thấy, hoan hỉ,
Ca ngợi thầy Thích Ca.
Rồi tất cả lễ phép
Cúi đầu chào, lui ra.

Thái Bá Tân

35
SAI MA

Chính tôi được chứng kiến,
Phật Thích Ca Mâu Ni
Khi ở rừng Lâm Trúc,
Thuộc nước La Duyệt Kỳ.

Bấy giờ có người nọ
Thuộc dòng Bà La Môn,
Chăm làm nhưng nghèo kiết,
Không nuôi nổi vợ con.

Chợt anh nghe người nói
Phật có bốn đại hiền,
Là Tôn giả Ca Diếp,
Tôn giả Mục Kiền Liên,

Tôn giả Xá Lợi Phất,
Cuối cùng, người thứ tư -
Tôn giả A Na Luật,
Đại bi và đại từ.

Anh nghe nói các vị
Hay giúp đỡ người nghèo,
Làm đời họ thay đổi,
Ban phước lộc rất nhiều.

Anh chàng này mừng lắm,
Quyết làm thuê kiếm tiền,
Mua các thứ trai, lễ
Dâng cúng bốn đại hiền.

Anh gặp được bốn vị,
Kính trọng nói lời mời.
Dẫu cao sang, thần phép,
Các vị đã nhận lời.

Thọ trai xong, các vị
Liền giảng pháp tại nhà
Cho anh chồng và vợ
Có tên là Sai Ma.

Giảng về ngôi Tam Bảo,
Về thọ trì Tam Quy,
Về Bát Quan Trai Giới
Và bác ái, từ bi.

Vợ chồng nghe, xin hứa
Sẽ nhất mực tuân theo.
Còn bốn đại tôn giả
Trở về với tỳ kheo.

Lại nói vua nước ấy,
Có tên là Bình Sa,
Một hôm đi săn thú,
Trên đường trở về nhà

Thấy một tên tội phạm
Bị trói, treo bên đường.
Hắn đói, xin bố thí,
Vua thấy, động lòng thương,

Hứa cho bánh và nước.
Thế mà ngài lại quên,
Về đến nhà mới nhớ, 
Thì trời đã tối đen.

Vua sai lính đưa bánh.
Chúng sợ không dám liều.
Vì nghe nói chỗ ấy
Ma quỉ có rất nhiều.

Cuối cùng vua hứa thưởng
Một nghìn đồng tiền vàng
Cho ai đưa bánh, nước
Giúp người kia trong rừng.

Vợ của người nghèo đói,
Tức là cô Sai Ma
Đã nhận lời đưa bánh
Và nước cho anh ta.

Quả đúng nhiều thú dữ
Và ma quỉ hiện lên.
Nhờ Bát Quan Trai Giới
Nên cô vẫn bình yên.

Sau đó cô nhận thưởng,
Xây ngôi nhà thật to,
Mua ruộng, thuê đầy tớ,
Sống hạnh phúc, vô lo.

Chồng cô, anh nghèo đói
Được vua triệu vào cung,
Cho một chức quan lớn,
Cũng vinh hiển vô cùng.

Vậy là ta đã thấy,
Nhờ một bữa cúng dàng
Mà một nhà nghèo khổ
Được ân phước nghìn vàng.

Một hôm gia đình họ
Sửa lễ trọng cúng trai,
Mời Đức Phật đến dự.
Tôi cũng đi với Ngài.

Cơm xong, Phật thuyết pháp
Về bố thí, sinh thiên,
Về cả phép trì giới,
Và các phép đức, hiền.

Hai vợ chồng chăm chăm chú
Nghe, tâm trí sáng dần,
Như uống nước cam lộ,
Chứng quả Tu Đà Hoàn.

Chúng tôi thấy, hoan hỉ,
Ca ngợi thầy Thích Ca.
Rồi tất cả lễ phép
Cúi đầu chào, lui ra.

Thái Bá Tân
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/10/2016(Xem: 23807)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
18/10/2016(Xem: 11927)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 10734)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 11834)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11287)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12856)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10356)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14328)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17186)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12498)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây