Tám vạn bốn ngàn chiếc tháp

08/08/201111:13(Xem: 14894)
Tám vạn bốn ngàn chiếc tháp

Pagoda_4

TÁM VẠN BỐN NGÀN CHIẾC THÁP


Lần nọ, ở Xá Vệ,
Chính tôi, A Nan Đà,
May mắn được chứng kiến
Chuyện này của Thích Ca.

Hôm ấy, tôi và Phật,
Vừa sáng, trời đầy sương,
Đi vào thành khất thực
Thấy lũ trẻ bên đường

Đang chơi trò đắp đất,
Xây thành phố, xây nhà,
Xây cả kho chứa thóc
Và cả những tháp ngà.

Một đứa trong bọn chúng
Thấy chân Phật phát quang,
Cúi lạy, lấy mẩu đất
Đem dâng Phật cúng dàng.

Phật cầm mẩu đất ấy
Bảo tôi khi về nhà
Bôi lên thềm phòng ngủ
Của Đức Phật Thích Ca.

Ngài nói: “Cậu bé ấy
Năm trăm năm về sau 
Là vua một nước lớn
Rất rộng và rất giàu.

A Du Ca hoàng đế
Là tên cậu bé này.
Các đại thần của cậu
Là lũ trẻ hôm nay.

Chúng chấn hưng Tam Bảo,
Và sẽ xây cho ta
Tám vạn bốn ngàn tháp,
Cao to và nguy nga.

Tôi vui mừng, bạch Phật:
“Các kiếp trước của thầy
Có duyên gì để cậu
Xây nhiều tháp thế này?”

Ngài lại kể câu chuyện,
Rằng thời Phật Phất Sa,
Vô lượng kiếp về trước,
Có một ông vua già.

Ông là vua nước lớn,
Có tên Ba Tắc Kỳ,
Hàng ngày cúng dàng Phật
Không thiếu một thứ gì.

Một hôm vua chợt nghĩ
Phật không riêng của ai,
Nhưng dân các nước nhỏ
Lại không được thấy Ngài.

Nghĩ thế, vua quyết định
Mời thợ vẽ vào cung
Vẽ thật nhiều tranh Phật,
Phân phát cho các vùng.

Thợ vẽ được gặp Phật
Để vẽ lại hình Ngài,
Nhưng vẽ mãi không được,
Ít hoặc nhiều đều sai.

Cuối cùng Phật tự vẽ
Một chân dung của mình.
Các thợ vẽ sau đấy
Sao chép lại thành tranh.

Tám vạn bốn ngàn chiếc
Được vua gửi tận nơi.
Tám vạn bốn ngàn nước.
Phật đến với mọi người.

Chúng sinh mang lễ vật
Thờ cúng trước bức tranh.
Dẫu không phải Phật thật,
Nhưng mang điều tốt lành.

*
Kể xong, Đức Phật nói:
“Này con, A Nan Đà,
Ba Tắc Kỳ ngày ấy
Là tiền kiếp của ta.

Nhờ vẽ các tranh Phật
Mà ta có nhân duyên
Được làm Phật cõi tục
Và Đế Chúa cõi thiên.

Kiếp này đến kiếp khác,
Mỗi lần ta đầu thai,
Đều tám mươi vẻ đẹp
Và tướng tốt - băm hai.

Sau khi ta viên tịch
Để nhập cõi Niết Bàn,
Ta được xây nhiều tháp,
Đúng tám vạn bốn ngàn.

Mọi người nghe, hoan hỉ,
Ca ngợi thầy Thích Ca.
Rồi tất cả lễ phép
Cúi đầu chào, lui ra.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/09/2010(Xem: 17406)
Bao giờ nhỉ tôi về thăm xứ Quảng Mười năm dài mộ mẹ chẳng ai trông Cỏ có cao hơn nỗi nhớ trong lòng Đất có lạnh hơn mùa đông Bắc Mỹ
18/09/2010(Xem: 23644)
Thiền sư Quảng Nghiêm (1121 - 1191) người huyện Ðan Phượng, tỉnh Hà Tây. Ông tu ở chùa Thánh Ân thuộc huyện Siêu Loại (nay là Thuận Thành, Bắc Ninh).
16/09/2010(Xem: 12496)
Chị ơi nếu chị đã yêu Ðã từng lỡ hái ít nhiều đau thương Ðã xa hẳn quãng đời hương Ðã đem lòng gởi gió sương mịt mù
16/09/2010(Xem: 16208)
Nhìn ra trăng nước vơi đầy, Nhìn đời một giấc mộng dài ngắn thôi! Đáy lòng vằng vặc gương soi, Thăng hoa nhân quả đón người thăng hoa!
13/09/2010(Xem: 19760)
Chuyển ngữ: Sư Ông Làng Mai Xướng kệ: Thầy Pháp Niệm Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.
10/09/2010(Xem: 79482)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
08/09/2010(Xem: 13014)
Mười con nhạn trắng về tha Như Lai thường trụ trên tà áo xuân Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm
08/09/2010(Xem: 13407)
Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng
06/09/2010(Xem: 22445)
Văn Tế Thiên Thái Trí Giả Tác giả Đại Sư Tuân Thức Việt dịch: Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm *** 1. Nhất tâm đảnh lễ Thiên Thai Trí Giả trong núi Đại Tô tu Tam Muội Pháp Hoa Tâm tâm tịnh thường lại qua pháp giới Như mặt nhật trên không chẳng trụ không Ba ngàn thật tướng tức khắc viên thông Tám vạn trần lao đều đồng chân tịnh. Xưa hội kiến Linh Sơn còn hoài niệm Nay toàn thân bảo tháp thấy rõ ràng Nếu chẳng cùng sư Nam Nhạc tương phùng Ai biết được tướng thâm sâu thiền định?
06/09/2010(Xem: 17972)
Trước khi viết loạt bài thơ trong phần 1 (Hương Đạo Pháp) của thi tập này, tôi đã có gần 900 bài thơ, xoay quanh các đề tài như quê hương đất nước, lịch sử, địa lý, giáo dục, cuộc sống hiện thực, triết lý sắc không, nhân sinh quan - vũ trụ quan Phật giáo, xưng tán Phật và Bồ-tát….. Tôi đang tạm thời dừng lại công việc sáng tác và chuẩn bị làm một số công việc chuyên và không chuyên khác. Nhưng chợt nhớ lại nhiều năm trước đây, thỉnh thoảng có trao đổi với vài vị thân, quen, những người đã đọc gần hết thơ tôi. Họ nói, trong số gần 900 bài thơ đã đọc qua, tuy cũng có nhiều bài khuyến tu, nhiều bài mang tính giáo lý sâu sắc, có khả năng tịnh hóa lòng người, tuy nhiên những bài đó nằm tản mạn chưa tập trung. Hơn nữa cũng cần một loạt bài có nội dung giáo lý căn bản với thuật ngữ, danh từ, pháp số thông dụng, nếu có thể cho thành một tập riêng biệt thì càng tốt.