Tám vạn bốn ngàn chiếc tháp

08/08/201111:13(Xem: 14767)
Tám vạn bốn ngàn chiếc tháp

Pagoda_4

TÁM VẠN BỐN NGÀN CHIẾC THÁP


Lần nọ, ở Xá Vệ,
Chính tôi, A Nan Đà,
May mắn được chứng kiến
Chuyện này của Thích Ca.

Hôm ấy, tôi và Phật,
Vừa sáng, trời đầy sương,
Đi vào thành khất thực
Thấy lũ trẻ bên đường

Đang chơi trò đắp đất,
Xây thành phố, xây nhà,
Xây cả kho chứa thóc
Và cả những tháp ngà.

Một đứa trong bọn chúng
Thấy chân Phật phát quang,
Cúi lạy, lấy mẩu đất
Đem dâng Phật cúng dàng.

Phật cầm mẩu đất ấy
Bảo tôi khi về nhà
Bôi lên thềm phòng ngủ
Của Đức Phật Thích Ca.

Ngài nói: “Cậu bé ấy
Năm trăm năm về sau 
Là vua một nước lớn
Rất rộng và rất giàu.

A Du Ca hoàng đế
Là tên cậu bé này.
Các đại thần của cậu
Là lũ trẻ hôm nay.

Chúng chấn hưng Tam Bảo,
Và sẽ xây cho ta
Tám vạn bốn ngàn tháp,
Cao to và nguy nga.

Tôi vui mừng, bạch Phật:
“Các kiếp trước của thầy
Có duyên gì để cậu
Xây nhiều tháp thế này?”

Ngài lại kể câu chuyện,
Rằng thời Phật Phất Sa,
Vô lượng kiếp về trước,
Có một ông vua già.

Ông là vua nước lớn,
Có tên Ba Tắc Kỳ,
Hàng ngày cúng dàng Phật
Không thiếu một thứ gì.

Một hôm vua chợt nghĩ
Phật không riêng của ai,
Nhưng dân các nước nhỏ
Lại không được thấy Ngài.

Nghĩ thế, vua quyết định
Mời thợ vẽ vào cung
Vẽ thật nhiều tranh Phật,
Phân phát cho các vùng.

Thợ vẽ được gặp Phật
Để vẽ lại hình Ngài,
Nhưng vẽ mãi không được,
Ít hoặc nhiều đều sai.

Cuối cùng Phật tự vẽ
Một chân dung của mình.
Các thợ vẽ sau đấy
Sao chép lại thành tranh.

Tám vạn bốn ngàn chiếc
Được vua gửi tận nơi.
Tám vạn bốn ngàn nước.
Phật đến với mọi người.

Chúng sinh mang lễ vật
Thờ cúng trước bức tranh.
Dẫu không phải Phật thật,
Nhưng mang điều tốt lành.

*
Kể xong, Đức Phật nói:
“Này con, A Nan Đà,
Ba Tắc Kỳ ngày ấy
Là tiền kiếp của ta.

Nhờ vẽ các tranh Phật
Mà ta có nhân duyên
Được làm Phật cõi tục
Và Đế Chúa cõi thiên.

Kiếp này đến kiếp khác,
Mỗi lần ta đầu thai,
Đều tám mươi vẻ đẹp
Và tướng tốt - băm hai.

Sau khi ta viên tịch
Để nhập cõi Niết Bàn,
Ta được xây nhiều tháp,
Đúng tám vạn bốn ngàn.

Mọi người nghe, hoan hỉ,
Ca ngợi thầy Thích Ca.
Rồi tất cả lễ phép
Cúi đầu chào, lui ra.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/10/2013(Xem: 26039)
Miền trung mưa nắng quê tôi hai mùa Ruộng nương xơ xác quê tôi thật buồn Đã bao nhiêu năm ngàn giông bão xuống Một vùng đất nghèo bao nỗi đau thương
27/10/2013(Xem: 23149)
Không biết từ đâu ta đến đây Mang mang trời thẳm đất xanh dày Lớn lên mang nghiệp làm thi sĩ Sống điêu linh rồi chết đọa đày Mấy câu thơ thời tuổi trẻ, lúc mới 23 tuổi ấy đã theo suốt cuộc đời Nguyễn Đức Sơn, một thi sĩ kiệt xuất trên bầu trời văn nghệ Việt Nam hiện đại. Rờn lạnh hoang vu một tâm hồn cô độc, cô liêu khốc liệt, luôn luôn ngún cháy bên trong chiều sâu linh thức một ngọn lửa tịch mịch vô hình, thường trực đứng giữa đôi bờ sống chết giữa đỉnh cao và hố thẳm của tồn sinh bức bách ngay từ những ngày còn chạy lông bông đùa rỡn cùng sóng vàng cát trắng vu vơ dọc mấy hàng cây thông xanh ngút ven bãi biển Ninh Chữ xa mù. Từ đó, từ thuở nhà thơ chào đời năm 1937 ở làng Dư Khánh, Thanh Hải, Ninh Thuận đến nay cũng hơn 70 năm trời đằng đẵng trôi qua rồi mà ngọn lửa tịch mịch đó vẫn còn hừng hực rực ngời như một ngọn lửa thiêng trong lòng người thi sĩ dị thường :
19/10/2013(Xem: 18879)
" Đau thì đau vậy để mà Trả xong nghiệp báo vượt qua luân hồi. Trải qua vô số kiếp rồi Gây bao tội ác cho người khổ đau,
10/10/2013(Xem: 22628)
Phạm Thiên Thư, Phạm Công Thiện, Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, Phạm thế Mỹ, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, Trí Hải...
06/10/2013(Xem: 87104)
Trước khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã có một thời gian dài sống tại Lăng Cha Cả, gần nhà thờ Tân Sa Châu. Để đến được trung tâm Sài Gòn, từ Lăng Cha Cả phải đi qua những con đường Trương Minh Ký – Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Ở đoạn chân cầu Trương Minh Giảng có một cái chợ mang cùng tên và sau này
06/10/2013(Xem: 18798)
Những sóng nước biển xưa Đi về trong giấc ngủ Mù sương xuân mờ phủ Một châu quận bên đèo Một bình minh mang theo Một hoàng hôn cô tịch Những sóng nước trong veo Dọi ánh trời chuyển dịch
20/09/2013(Xem: 20094)
Mùa hè 1969, mới học lớp Đệ nhị mà tôi đã bắt đầu biết ngao du lãng tử rồi. Khi cha qua đời thì tôi đang rong rêu phiêu bạt ở Nha Trang. Nhận được điện tín của người bạn từ Đà Nẵng khẩn cấp gởi vào, tôi liền vội vã quy hồi cố quận.