Mười bài thơ đoạn trường

14/11/201018:45(Xem: 19616)
Mười bài thơ đoạn trường

Thúy Kiều, con của viên ngoại họ Vương, người ở Bắc Kinh. Nàng yêu kiều diễm lệ, có một thái độ phong lưu, tính thích hào hoa, thích âm luật, sở trường về hồ cầm. Vốn đa cảm, giàu tình, nàng sáng tác bài "Bạc mệnh oán" để hát theo khúc hồ cầm, khi gảy lên nghe rất não nùng, ai cũng sa nước mắt.
Một hôm, nhân tiết Thanh Minh, Thúy Kiều cùng hai em đi tảo mộ và nhân tiện xem hội Đạp Thanh. Lúc trở vê, Kiều nhìn bên dòng nước có một nấm mồ hoang cô lạnh, hỏi ra mới biết đó là mồ của nàng ca nhi tên Lưu Đạm Tiên. Trước sống mua vui cho khách làng chơi, chết làm ma không chồng trong nấm mồ vô chủ.
Kiều cảm động, rơi nước mắt, khóc cho kiếp hồng nhan.
Về nhà, đêm khuya vắng vẻ, nàng cảm thấy một nỗi buồn man mác xâm chiếm cõi lòng. Nghĩ phận người lại nghĩ phận mình, hay kiếp hồng nhan rồi phải chung mạng bạc!
Nàng tựa ghế thiu thiu, rồi ngủ say lúc nào không biết. Giữa lúc ấy, thấy một thiếu nữ tiến đến chào và hỏi rằng:
- Này chị Thúy Kiều, đương lúc ngày xuân phơi phới sao không hỏi liễu tìm hoa, mà lại chịu ngủ ở nhà như vậy?
Kiều nghe nói, vội vàng đứng dậy, sửa áo đón mời, nhìn thấy thiếu nữ má đào, môi hạnh, dáng điệu như tiên. Sau khi hai bên cùng ngồi, Kiều vội hỏi:
- Chẳng hay nương tử ở tại cung nào mà xe loan thình lình hạ cố đến đây?
Thiếu nữ tươi cười đáp:
- Thiếp đây nào phải ai đâu xa lạ, nhà thiếp ở phía tây cầu bên dòng nước chảy. Chiều nay chị đã vãng qua, sao mà mau quên như thế? Hôm nay, thiếp ở trong "Hội đoạn trường", trước mặt Giáo Chủ, thiếp có khen đến tài hoa của chị. Giáo Chủ rất vui mừng và cho biết rằng chị cũng có chân trong hội ấy. Rồi người trao cho thiếp mười cái đầu đề đoạn trường, bảo đem lại cho chị vịnh. Vậy yêu cầu chị thảo ngay để cho thiếp xếp vào tập "Đoạn trường sách".
Kiều hỏi:
- Em xin lãnh ý, nhưng xin chị cho biết Đoạn Trường Giáo Chủ là ai? Có thể đưa em đến yết kiến được không?
Thiếu nữ mỉm cười đáp:
- Lúc này chị không cần hỏi kỹ, một ngày khác, chị sẽ hiểu rõ đấy mà.
Đoạn, nàng trao tập đầu đề. Kiều tiếp lấy, mở ra xem. Đây là mười đầu đề: Tích đa tài, Liên bạc mạng, Bi kỳ lộ, Ức cố nhân, Niệm nô kiều, Ai thanh xuân, Ta kiển lộ, Khổ linh lạc, Mộng cố viên, Khốc tương tư.
Kiều xem xong, vui vẻ nói:
- Đầu đề rất hay, vậy em xin thảo ngay. May bài của em chiếm khôi nguyên trong tập, thì khỏi phải phụ công chị giới thiệu.
Vừa nói vừa viết thao thao bất tuyệt. Chỉ trong giây lát, đủ cả mười bài từ khúc theo lối hồi văn:
I
Tích đa tài

Tờ oanh nỡ bỏ hoài,
Hợp hoan ngày tháng phổ cho ai?
Tương tư mình gác để ngày mai.
Để ngày mai!
Tiếc cho tài!

II
Thương bạc mạng

Đêm đêm một mình lạnh,
Nhà vàng nghe nói để A Kiều
Một mặt nghe chừng khó hân hạnh.
Khó hân hạnh!
Thương bạc mạng!

III
Thương kỳ lộ

Khúc đường quanh co thật khó đi,
Đường khổ chưa bằng tâm em khổ!
Một bước sai thời ngàn bước lỡ!
Ngàn bước lỡ!
Thương kỳ lộ.

IV
Nhớ cố nhân

Tóc bạc nhưng tình vẫn chưa thân!
Cần gì trước phải lên tận mây xanh!
Cưỡi xe đội nón mới là chân
Mới là chân!
Nhớ cố nhân!

V
Nhớ cô hầu!

Soi gương hồn biến đâu?
Ta thấy ai vẫn còn than thở!
Son phấn thôi đừng giễu cợt nhau.
Giễu cợt nhau.
Nhớ cô hầu!

VI
Xót thanh xuân

Cành hoa giống mỹ nhân,
Xuân sắc núi rừng, ôi đẹp đẽ!
Muốn mượn mưa xuân tưới hoa thần.
Tưới hoa thần!
Xót thanh xuân!

VII
Than cảnh ngộ

Giấc mơ tỉnh rồi đó,
Đâu phải gặp ai cũng kêu thương.
Chỉ vì lầu son lối cũ chưa tỏ.
Lối cũ chưa tỏ!
Than cảnh ngộ!

VIII
Khổ linh lạc

Thân nầy hết đường bước,
Lìa cành hoa rụng khắp đông tây.
Nhạn lạc đàn bay quanh hiên trước.
Quanh hiên trước!
Khổ linh lạc!

IX
Mơ vườn xưa

Hồn về cậy ai đưa?
Cảnh cũ cúc tùng không thấy nữa.
Bạch vân phương thảo lặng như tờ.
Lặng như tờ!
Mơ vườn xưa!

X
Khóc tương tư

Nghẹn ngào đã nhiều khi,
Lòng đau không giữ nổi tiếng khóc.
Đất cũ tình thâm luống sầu bi.
Luống sầu bi!
Khóc tương tư!


Thúy Kiều viết xong 10 bài, trao lại thiếu nữ. Xem qua, thiếu nữ tấm tắc khen rằng:
- Quả thực mỗi chữ khác gì ôm mối hận. Nếu đem vào tập "Đoạn trường", chắc rằng sẽ đoạt giải nhất.
Đoạn thiếu nữ đứng dậy, từ giã. Kiều nói:
- Hôm nay chị đã có lòng chiếu cố, đôi ta ắt có tiền duyên, sao lại nỡ vội vàng như vậy? Vả lại lần này ly biệt, biết bao giờ lại được gặp nhau.
Thiếu nữ nói:
- Nếu chị tình thâm mà thiếp cũng không tình bạc, thì sông Tiền Đường đó, ta sẽ hẹn về sau.
Nói xong đi thẳng.
Kiều chạy theo giữ lại thì bỗng có trận gió làm khua động bức mành. Nàng sực tỉnh, mới hay là giấc chiêm bao.
Về sau, Kiều phải 15 năm lưu lạc, thân thế lắm nỗi đoạn trường. Cuối cùng trầm mình dưới sông Tiền Đường, ứng như điềm mộng.
Truyện trên viết theo Thanh Tâm Tài Nhân. Cụ Nguyễn Du dựa theo, viết thành quyển "Đoạn trường tân thanh" bằng thể lục bát. Đoạn này, Nguyễn Du diễn tả:

Này mười bài mới, mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.
Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên vẩy đủ mười khúc ngâm.
"Mười khúc ngâm" tức 10 bài "đoạn trường" đó.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/09/2014(Xem: 16605)
mây tan, trời lồ lộ trùng khơi bóng chim về dưới trăng, ngàn hoa nở một thoáng bừng giấc mê.
10/09/2014(Xem: 17461)
Đời người, dù hết trăm năm Trong con, Mẹ vẫn trăng rằm thiên thu Đời người, trả lại phù du Trong con, Mẹ vẫn Mẫu Từ dấu yêu Vai này cõng Mẹ nâng niu Vai kia cõng Mẹ chắt chiu yếu già Dẫu rằng cát bụi Ta Bà Mượn thân hư ảo trong nhà trần gian
09/09/2014(Xem: 17526)
Không chỗ trú chẳng bến bờ Vẫn bầu rượu với túi thơ dặm dài Ngút mùa cuồng sĩ lai rai Nghêu ngao vô sự hát bài Hoa Nghiêm
09/09/2014(Xem: 22155)
Lung linh giọt sáng ngàn phương Đêm huyền diệu xuống nghe sương luân hồi Ngắm trăng ngắm cả cuộc đời Giữa mênh mông chợt ta ngồi ngắm ta
06/09/2014(Xem: 22734)
Cuộc đời sóng vỗ Đại đao Lời cha dạy bảo, con nào có quên Người cha đức rộng lại hiền Ân cần dạy bảo, khuyên người hồi tâm Tiền tài danh vọng chẳng cần Quyết noi gương Phật độ lần chúng sanh Hào quang tỏa sáng xung quanh Hiện thân Di-Lặc cứu đời độ nhân Tọa thiền phóng điển An lành Như như bất động, bóng Người từ bi
06/09/2014(Xem: 15707)
Ra vào cửa Phật cầu tỉnh ngộ Hiểu rõ chân tình thân tứ hải Đất, nước, gió, lửa đúc kết lại Vạn vật vô thường không quản ngại Phật pháp Như Lai nói chẳng sai Nước mưa một vị một không hai Hiểu được vô thường tâm chẳng ngại An nhiên tự tại chẳng bận ai
06/09/2014(Xem: 18574)
Tên thật : Nguyễn Kim Long Tên trong thơ : Nguyễn Thanh Tâm (Mặc Phương Tử) Nguyên quán: Đồng Sơn, Gò Công, Tiền Giang Sinh năm 1952, về sau còn 1956. Xuất thân từ gia đình làm nông Lưu lạc đến Sàigòn, quận 4 từ năm 1964. Đi học trường tiểu học Nguyễn Thái Học, Q.1, Saigon. phụ gia đình bán nước mía, bánh cam, chuối chiên, để tạm sống trong thời nhiễu loạn.
06/09/2014(Xem: 21034)
Thân con từ cội Bồ Đề Nổi trôi, trôi nổi bốn bề biển khơi Trùng dương sóng nỗi dập vùi Bao phen thoát nạn, quên ơn Mẹ hiền Bụi trần ám nhiễm si mê Quên lời Mẹ day tu nhiều càng si Cầu tinh tấn, sanh si mê Cầu Hỷ xả, thêm sân si Thuận cảnh quên ơn, Nghịch cảnh oán phận Sân si tham đắm bụi trần
06/09/2014(Xem: 17294)
Trung thu trăng sáng tuyệt vời Nhưng mà cũng chỉ trăng đời mà thôi Trăng đời khi đổi khi dời Khi trong khi đục như đời trần gian Còn trăng trí tuệ PHẬT ban Hào quang chiếu tỏa muôn ngàn đại dương
06/09/2014(Xem: 19197)
Hoa lửa gợn hương trầm Gió Pháp dệt tơ hương Đèn bạc nạm Long Lân Qui Phụng Gấm vàng che rợp sắc Hoàng Vương Cung Vua A-Xà-Thế Rộn nghi lễ cúng dường Hoa lửa Hoa đăng vạn ánh Kính dâng lên Đấng Pháp Vương