Mười bài thơ đoạn trường

14/11/201018:45(Xem: 20483)
Mười bài thơ đoạn trường

Thúy Kiều, con của viên ngoại họ Vương, người ở Bắc Kinh. Nàng yêu kiều diễm lệ, có một thái độ phong lưu, tính thích hào hoa, thích âm luật, sở trường về hồ cầm. Vốn đa cảm, giàu tình, nàng sáng tác bài "Bạc mệnh oán" để hát theo khúc hồ cầm, khi gảy lên nghe rất não nùng, ai cũng sa nước mắt.
Một hôm, nhân tiết Thanh Minh, Thúy Kiều cùng hai em đi tảo mộ và nhân tiện xem hội Đạp Thanh. Lúc trở vê, Kiều nhìn bên dòng nước có một nấm mồ hoang cô lạnh, hỏi ra mới biết đó là mồ của nàng ca nhi tên Lưu Đạm Tiên. Trước sống mua vui cho khách làng chơi, chết làm ma không chồng trong nấm mồ vô chủ.
Kiều cảm động, rơi nước mắt, khóc cho kiếp hồng nhan.
Về nhà, đêm khuya vắng vẻ, nàng cảm thấy một nỗi buồn man mác xâm chiếm cõi lòng. Nghĩ phận người lại nghĩ phận mình, hay kiếp hồng nhan rồi phải chung mạng bạc!
Nàng tựa ghế thiu thiu, rồi ngủ say lúc nào không biết. Giữa lúc ấy, thấy một thiếu nữ tiến đến chào và hỏi rằng:
- Này chị Thúy Kiều, đương lúc ngày xuân phơi phới sao không hỏi liễu tìm hoa, mà lại chịu ngủ ở nhà như vậy?
Kiều nghe nói, vội vàng đứng dậy, sửa áo đón mời, nhìn thấy thiếu nữ má đào, môi hạnh, dáng điệu như tiên. Sau khi hai bên cùng ngồi, Kiều vội hỏi:
- Chẳng hay nương tử ở tại cung nào mà xe loan thình lình hạ cố đến đây?
Thiếu nữ tươi cười đáp:
- Thiếp đây nào phải ai đâu xa lạ, nhà thiếp ở phía tây cầu bên dòng nước chảy. Chiều nay chị đã vãng qua, sao mà mau quên như thế? Hôm nay, thiếp ở trong "Hội đoạn trường", trước mặt Giáo Chủ, thiếp có khen đến tài hoa của chị. Giáo Chủ rất vui mừng và cho biết rằng chị cũng có chân trong hội ấy. Rồi người trao cho thiếp mười cái đầu đề đoạn trường, bảo đem lại cho chị vịnh. Vậy yêu cầu chị thảo ngay để cho thiếp xếp vào tập "Đoạn trường sách".
Kiều hỏi:
- Em xin lãnh ý, nhưng xin chị cho biết Đoạn Trường Giáo Chủ là ai? Có thể đưa em đến yết kiến được không?
Thiếu nữ mỉm cười đáp:
- Lúc này chị không cần hỏi kỹ, một ngày khác, chị sẽ hiểu rõ đấy mà.
Đoạn, nàng trao tập đầu đề. Kiều tiếp lấy, mở ra xem. Đây là mười đầu đề: Tích đa tài, Liên bạc mạng, Bi kỳ lộ, Ức cố nhân, Niệm nô kiều, Ai thanh xuân, Ta kiển lộ, Khổ linh lạc, Mộng cố viên, Khốc tương tư.
Kiều xem xong, vui vẻ nói:
- Đầu đề rất hay, vậy em xin thảo ngay. May bài của em chiếm khôi nguyên trong tập, thì khỏi phải phụ công chị giới thiệu.
Vừa nói vừa viết thao thao bất tuyệt. Chỉ trong giây lát, đủ cả mười bài từ khúc theo lối hồi văn:
I
Tích đa tài

Tờ oanh nỡ bỏ hoài,
Hợp hoan ngày tháng phổ cho ai?
Tương tư mình gác để ngày mai.
Để ngày mai!
Tiếc cho tài!

II
Thương bạc mạng

Đêm đêm một mình lạnh,
Nhà vàng nghe nói để A Kiều
Một mặt nghe chừng khó hân hạnh.
Khó hân hạnh!
Thương bạc mạng!

III
Thương kỳ lộ

Khúc đường quanh co thật khó đi,
Đường khổ chưa bằng tâm em khổ!
Một bước sai thời ngàn bước lỡ!
Ngàn bước lỡ!
Thương kỳ lộ.

IV
Nhớ cố nhân

Tóc bạc nhưng tình vẫn chưa thân!
Cần gì trước phải lên tận mây xanh!
Cưỡi xe đội nón mới là chân
Mới là chân!
Nhớ cố nhân!

V
Nhớ cô hầu!

Soi gương hồn biến đâu?
Ta thấy ai vẫn còn than thở!
Son phấn thôi đừng giễu cợt nhau.
Giễu cợt nhau.
Nhớ cô hầu!

VI
Xót thanh xuân

Cành hoa giống mỹ nhân,
Xuân sắc núi rừng, ôi đẹp đẽ!
Muốn mượn mưa xuân tưới hoa thần.
Tưới hoa thần!
Xót thanh xuân!

VII
Than cảnh ngộ

Giấc mơ tỉnh rồi đó,
Đâu phải gặp ai cũng kêu thương.
Chỉ vì lầu son lối cũ chưa tỏ.
Lối cũ chưa tỏ!
Than cảnh ngộ!

VIII
Khổ linh lạc

Thân nầy hết đường bước,
Lìa cành hoa rụng khắp đông tây.
Nhạn lạc đàn bay quanh hiên trước.
Quanh hiên trước!
Khổ linh lạc!

IX
Mơ vườn xưa

Hồn về cậy ai đưa?
Cảnh cũ cúc tùng không thấy nữa.
Bạch vân phương thảo lặng như tờ.
Lặng như tờ!
Mơ vườn xưa!

X
Khóc tương tư

Nghẹn ngào đã nhiều khi,
Lòng đau không giữ nổi tiếng khóc.
Đất cũ tình thâm luống sầu bi.
Luống sầu bi!
Khóc tương tư!


Thúy Kiều viết xong 10 bài, trao lại thiếu nữ. Xem qua, thiếu nữ tấm tắc khen rằng:
- Quả thực mỗi chữ khác gì ôm mối hận. Nếu đem vào tập "Đoạn trường", chắc rằng sẽ đoạt giải nhất.
Đoạn thiếu nữ đứng dậy, từ giã. Kiều nói:
- Hôm nay chị đã có lòng chiếu cố, đôi ta ắt có tiền duyên, sao lại nỡ vội vàng như vậy? Vả lại lần này ly biệt, biết bao giờ lại được gặp nhau.
Thiếu nữ nói:
- Nếu chị tình thâm mà thiếp cũng không tình bạc, thì sông Tiền Đường đó, ta sẽ hẹn về sau.
Nói xong đi thẳng.
Kiều chạy theo giữ lại thì bỗng có trận gió làm khua động bức mành. Nàng sực tỉnh, mới hay là giấc chiêm bao.
Về sau, Kiều phải 15 năm lưu lạc, thân thế lắm nỗi đoạn trường. Cuối cùng trầm mình dưới sông Tiền Đường, ứng như điềm mộng.
Truyện trên viết theo Thanh Tâm Tài Nhân. Cụ Nguyễn Du dựa theo, viết thành quyển "Đoạn trường tân thanh" bằng thể lục bát. Đoạn này, Nguyễn Du diễn tả:

Này mười bài mới, mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.
Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên vẩy đủ mười khúc ngâm.
"Mười khúc ngâm" tức 10 bài "đoạn trường" đó.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/10/2025(Xem: 8930)
Thư Mời Tham Gia Cuộc Thi Viết chủ đề "Hành Trình Vượt Sóng"
05/10/2025(Xem: 4486)
Một lần học được những danh ngôn tuyệt phẩm (1) Nhủ thầm muốn tìm ra ánh sáng cho chính mình Hãy tự mình đầy nắng , thắp lên ngọn lửa trong tim Là vai diễn thầm lặng trong hành trình nhưng kiên cường và luôn có tình thương rộng mở Dù không phải ban đầu “ngậm thìa vàng”, một kịch bản rực rỡ !
04/10/2025(Xem: 7386)
Cư sĩ Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng, pháp danh Như Ninh, sinh năm 1956 tại Quảng Ngãi, sớm có duyên lành với Phật pháp. Năm lên sáu tuổi (1962), Cư sĩ được quy y với Hòa thượng Thích Trí Hưng tại chùa Từ Lâm, Quảng Ngãi, và chính thức bước vào con đường tu học. Thuở thiếu thời, Cư sĩ là một trong số ít Pháp tử của “Nhóm Thập Thiện”, được đào tạo nghiêm mật về nội điển và ngoại điển, rèn luyện cả trí lực, thể lực và khả năng hùng biện, với sự hướng dẫn tận tình của chư Tôn đức.
03/10/2025(Xem: 5472)
Phước lành con đã tạo ra Các đời quá khứ hay là đời nay Nghiệp chưa cho quả phước nào Nguyện thành pháp độ để vào thiện căn . Sau này dù tạo mấy lần Từ đây cho đến vô sanh Niết Bàn Hễ làm chuyện tốt sẵn sàng Mỗi điều lợi ích thành đoàn nhân duyên Giúp cho phiền não sớm yên Trợ mau giải thoát kế liền kiếp sau Nếu trễ chẳng gặp Phật nào Nhằm kỳ Độc Giác làm sao cũng thành .
30/09/2025(Xem: 6241)
một chốn về, mang ý nghĩa truyền thống Kết nối “lễ hiệp kỵ “ và “về nguồn “ thể hiện lòng biết ơn Góp phần duy trì , phát huy, kế thừa di sản hơn Bằng cách ghi nhận, tôn vinh công hạnh sự đóng góp Thông qua hành trạng dấn thân từ văn hóa , giáo dục, hoằng pháp
21/09/2025(Xem: 5111)
Tín thành tâm phát nguyện Đốt thân dâng cúng dường Khiêm cung nhận giới pháp Nhiệt đảnh hoà tấn hương
21/09/2025(Xem: 4240)
Ngày xưa mượn cánh tay người Hỏi đường, nhờ lửa, chẳng lười đêm thâu Giờ đây vượt thắng bước đầu Vững vàng tự lập, ân sâu dâng Thầy Chân thành tình cảm còn đây Đi trong tỉnh lặng, sẹo nay đã lành Xin thưa có chút trưởng thành Vẫn xem tri kỷ , nguyện hành thiện lương
20/09/2025(Xem: 5068)
Năm mươi năm rồi hử? Tưởng chết hoá ra còn Hữu vẫn còn hiện hữu Không thì cứ như không Năm mươi năm thoáng chốc Thất học tuổi mười lăm Thiếu ăn mà phách dóc Tuổi mười bảy xung phong
16/09/2025(Xem: 6906)
Đừng sợ bị đánh giá cô độc hay yếu đuối ! Thoát ra khỏi vai diễn, tự mình tìm lấy con đường Khi bước vào tu tập, dù sống trong đời thường Hãy nhắc nhở mỗi người đều mang một ẩn sĩ !
14/09/2025(Xem: 6336)
Đường gập ghềnh sỏi đá Lên đồi vắng đìu hiu Năm mươi năm chuyển hoá Đón rằm đã phẳng phiu Ô hay, Đồi Trại Thuỷ… Góc phế tích điêu tàn Bóng nâu sồng lầm lũi Pháp đăng vẫn sáng vàng