Nghiệp (thơ)

07/03/201211:21(Xem: 12566)
Nghiệp (thơ)

Phat Di Da 6

NGHIỆP

Nhân Quả trong tiếng Phạn
Được gọi là Karma,
Thường hay dịch là Nghiệp,
Phiên âm thành Yêt Ma.
Nghiệp dẫn tới Quả Báo,
Liên tiếp mãi không thôi,
Tạo thành Luật Nhân Quả,
Trong vòng lớn Luân Hồi.
Hồi là quay trở lại.
Luân nghĩa là bánh xe.
Bánh xe quay, thực chất,
Quay đi lại quay về.
Con người sinh, rồi chết.
Chết rồi lại được sinh.
Con người mới là Quả
Của Nhân cũ của mình.
Ai đó, theo Phật dạy,
Được sinh ở đời này,
Tức là đã từng sống
Nghìn vạn kiếp trước đây.
Người sinh ra, hình tướng
Đẹp hay xấu khác nhau.
Cũng khác nhau sướng khổ,
Phải nghèo hay được giàu.
Đó là Nghiệp, Nhân Quả.
Mọi cái có nhân duyên.
Ở ác thì gặp ác,
Ở hiền sẽ gặp hiền.
Muốn biết Nhân ngày trước,
Hãy nhìn Quả hôm nay.
Nhìn việc làm hiện tại
Để biết Số sau này.
Muốn giàu, phải bố thí,
Làm những điều tốt lành.
Kiếp sau muốn sống thọ,
Kiếp này không sát sinh.
Muốn mặt mày xinh đẹp,
Phải vào chùa dâng hoa.
Muốn tinh thần thoải mái,
Không nóng giận, dâm tà.
Tất cả đều do Nghiệp.
Mà Nghiệp gồm ba phần,
Mỗi phần có hai loại.
Nghiệp gồm Ý, Khẩu, Thân.
Ý Nghiệp quan trọng nhất.
Nó chi phối mọi điều.
Thiện Ý là trí tuệ,
Từ bi, tình thương yêu.
Ác Ý là nghĩ xấu,
Nghĩ chuyện Tham Sân Si.
Nóng giận và ghen ghét,
Chẳng coi ai ra gì.
Khẩu Nghiệp là lời nói.
Ác Khẩu là điêu toa,
Nói dối, gây hiềm khích,
Hoặc khai man trước tòa.
Thiện Khẩu là nói thật,
Nói điều hay, điều lành,
Giảng kinh và thuyết pháp,
Sâu xa và chân thành.
Thân Nghiệp và Khẩu Nghiệp
Dễ nhận thấy ở người.
Cái Ác và cái Thiện
Trong việc làm và lời.
Thân Ác là làm ác,
Như trộm cắp, sát sinh,
Đánh đập người, súc vật,
Phá chùa, phá đền đình.
Thân Thiện thì ngược lại,
Bố thí và cúng dường,
Giúp đỡ người nghèo khổ,
Sống bằng tình yêu thương.
*
Vậy là ta đã biết,
Mọi cái có nhân duyên.
Ở ác thì gặp ác,
Ở hiền sẽ gặp hiền.
Nhưng nhiều người sống thiện
Vẫn gặp ác, vì sao?
Còn lắm kẻ sống ác
Vẫn sướng, là thế nào?
Là vì hạt giống Thiện
Và giống Ác ở đời,
Như mọi hạt giống khác,
Phải chờ mưa, chờ thời.
Nghiệp và Luật Nhân Quả
Như Lưới Trời bủa vây.
Không người nào có thể
Thoát được Lưới Trời này.
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/10/2016(Xem: 23807)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
18/10/2016(Xem: 11931)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 10736)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 11836)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11294)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12864)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10359)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14328)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17186)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12506)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây