Hoa trong vườn nhà

11/08/201809:29(Xem: 17326)
Hoa trong vườn nhà
Hoa trong vườn nhà
Chu Trm Nguyên Minh
 Nguyn Tùng Vân
 

 

 

 

 

 

Về Nha Trang, những người yêu văn chương chữ nghĩa, thập niên 60 đều biết và nghĩ về một gia đình có đến hơn một nửa thành viên hoạt động văn học nghệ thuật, một gia đình đặc biệt hiếm có ở Việt Nam .

Tôi xin được trân trọng viết về hai người thuộc hai thế hệ văn học của gia đình này.

 

Bắt đầu là:

 

1.

Nhà thơ TÂM TẤN

 Nu Si Tam Tan1 (1)

 

 

Bà sinh năm 1921 tại Đà Nẵng. Làm thơ năm 14 tuổi. Năm 1937, lúc bà 16 tuổi đã có thơ trên báo Tam Bảo. Và từ đó, bà xuất hiện: Trong Khuê Phòng, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Đàn Bà, Liên Hoa, Tự Do, Tiếng Dội, Giác Ngộ…

Bút hiệu khác: Trinh Tiên, Trinh Nữ. Khi viết tùy bút, xã luận, bà ký: Lan Xuân, Diễm Bút.

Bà là bạn của: Phạm Huy Thông, Yến Lan, Vũ Đình Liên, Chế Lan Viên. Và là nghĩa muội của cố thi sĩ Quách Tấn.

Bà đại diện miền Trung, nữ sĩ Thụy An miền Bắc, và Mộng Tuyết miền Nam, kết nghĩa thành ba chị em văn nghệ đại diện ba miền.

Tác phẩm đã in:

Tình Thơ [1944 - in chung với phu quân, nhà văn Bửu    

                                                                     Đáo Ái Mỹ]

Hương Đạo Hạnh [1974]

Cuộc Đời Lọc Những Tinh Sương [2004]

Muôn Vàn Hương Sắc [2012]

Có mặt trong tác phẩm :

Hương Bình Thi Phẩm của Hoàng Trọng Thước [1962]

Tuyển Tập Thi Ca Việt Nam từ thế kỷ 19-20 của Huỳnh Sanh Thông {1996}

Nữ Sĩ Việt Nam của Nguyễn Ngọc Hiền [2005]

Bà hiện còn khỏe, minh mẫn, sống ở Nha Trang.

Bà thành hôn với nhà văn B.Đ. Ái Mỹ 1940, cuộc tình sau 47 năm (tức năm phu quân mất 1987), bà sinh hạ 14 người con: 7 trai, 7 gái. Tất cả 14 người con của bà đều say mê âm nhạc, thích hát và hát hay, nhất là người con thứ ba - Qui Hồng. Hơn ½ trong số này cầm bút, làm thơ, viết văn, vẽ, điêu khắc và dịch thuật. Người có trang viết nhiều nhất là người con thứ 10: Nhà văn Vĩnh Hảo, với 13 đầu sách đã phổ biến…

Bà là nữ sĩ nổi tiếng không những về thơ ca mà còn cả thanh sắc, thêm vào tính tình hiền diu, đằm thắm nên được văn thi hữu thời bấy giờ quí trọng. Bà là nữ sĩ nổi danh từ thập niên 30 vế cả ba mặt Tài, Sắc và Đức.

Bà ở vào thời Văn Học Lãng Mạn [1930-1945] những nhà thơ thuộc nhóm Dạ Đài, và nhóm Xuân Thu Nhã Tập, đã làm một luồng gió mới trong thơ, thơ dần thoát khỏi quan điểm “Thi Dĩ Ngôn Chí” hay ít ra chữ “Chí” mang một nghĩa sâu hơn và nhiều mặt hơn. Nó mang theo cả triết lý sống, đôi khi cũng ẩn dụ và viễn tưởng.

Thơ của Bà không thoát khỏi qui luật đó, chí ít cũng ở thời lãng mạn. Về sau, những thập niên 50-70 thi ca muốn thoát hẳn cái cũ, cái qui luật ràng buộc, gò bó… bắt thơ phải tuân thủ. Thơ phá cách, phá thể, thơ tự do bắt đầu xuất hiện nhiều, nhưng ở bà vẫn giữ được cái trầm lắng, nhẹ nhàng của thơ thời lãng mạn. Vần điệu và ý tưởng vẫn là chủ đạo trong thơ của bà.

Bà viết nhiều về tình yêu Nam – Nữ, lứa đôi, tình phụ mẫu, tình phu thê nhưng không thiếu những khắc khoải của phận người, những trăn trở suy tư cho thế sự. Về sau bà thiên về Phật giáo. Ngoài thơ bà còn viết tùy bút, xã luận.

Với dự định viết về thơ ca của bà, thú thật tôi đã run tay, kẻ hậu sinh như tôi không thể nào nhìn thấu suốt được nỗi lòng của bà đã gởi gắm trong thơ, cho mình, cho đời, cho nhân sinh.

Vả lại, thơ tự nó đã nói lên và giãi bày, tự nó xác nhận chỗ đứng, nơi hiện diện. Tự nó minh chứng sự có mặt trước người đọc.

Và vì lẽ đó, tôi xin được trích giới thiệu hai bài thơ, bà viết cách nhau 47 năm: -Một Cái Siết Tay- bài thứ nhất bà viết ở Nha Trang 1/1940, nói về những cảm xúc ban đầu khi gặp và yêu nhà văn B.Đ. Ái Mỹ. Đó, như một thông điệp của định mệnh.

Ở thủa ban đầu yêu nhau, trong thi ca thường là “nắm tay”, “cầm tay”, ít hay không thấy thi sĩ nào sử dụng từ “siết tay” như bà.

Cầm, Nắm, Nâng ..tay em .. tay của Nam –Nữ yêu nhau ở thủa ban đầu, đó là kỷ niệm theo suốt cuộc tình dài trăm năm, một cảm xúc hóa thành thanh âm vang mãi trong trái tim của hai người. Đó là sự va chạm truyền cảm tinh khôi và trinh khiết. Đó là sự bắt đầu của tình yêu và định mệnh …nhưng “siết tay” thì còn hơn thế, đó là lời thệ ước.

Xin hãy lắng lòng:

 

Một Cái Siết Tay

 

Vạn lời yêu dâng đầy trên bốn mắt

Muôn mê say run rẩy ở đôi môi

Trời! Chiều nay vũ trụ ở đâu rồi

Không thấy nữa khi đôi tay siết chặt

Vô hình chưa! Trong bốn làn tia mắt

Hồn anh sang quấn quít chạm hồn em

Run làm sao! Cảm giác rúng đôi tim

Trong cái siết của đôi bàn tay nóng

Em thu náo nức với niềm say

Thu cả tình đêm lẫn mộng ngày

Thu vạn nghìn lời âu yếm nữa

Cả tình sôi nổi xuống bàn tay

Em siết tay anh chuyền cảm giác

Những lời âu yếm rúng trên môi

Những lời náo nức trong tim thắm

Em gởi tay anh cả vạn lời.

 

46 năm sau bài thơ đầu, bà viết bài thứ hai -Hai Lần Siết Tay – cũng tại Nha Trang đầu năm 1967, khi phu quân nhắm mắt lìa đời. Cuộc tình từ cái siết tay đầu tiên đến 47 năm sau luôn là cuộc tình đẹp, đẹp mãi dù thời gian cứ trôi … Hai tráí tim hòa điệu, biết cùng nhận đắng cay của cuộc đời, cùng vượt nỗi gian nan …và biết cùng nhau giữ mãi lửa tình yêu ban đầu …Phu quân của bà - nhà văn B.Đ Ái Mỹ - bị tai biến liệt bên phải, chỉ còn bàn tay bên trái “ông dùng bàn tay trái níu tay người bạn đời, siết chặt” và “bình thản nhìn bà rồi lẳng lặng đi vào giấc hôn mê”.[1] Lần Tay Siết này là tiếng gào thét đớn đau ẩn khuất trong trái tim để trở thành nỗi tiếc thương khôn cùng. Ngày vĩnh biệt, anh siết bằng tay trái [2] bà nuốt nỗi đau ly biệt vào lòng.

Rõ ràng lời thơ, cũng như bà, cũng nuốt đi niềm đau vào thanh âm khổ hạnh của kiếp người. Không còn cái “động”, cái háo hức của cái siết tay lần đầu…mà chỉ là cơn mê trong cái “Tỉnh”, cái trầm mặc. Tất cả trở thành một dòng khổ đau giấu kín nơi cõi lòng. Bà đã trải, đã sống, đã yêu và đã chín trong tư duy và trong cách thể hiện.

Hãy cảm xúc và chia sẻ:

 

Hai Lần Siết Tay

 

Từ cái siết tay ban đầu mở lối

Vườn duyên tình thắm thiết tuổi đôi mươi

Buổi cảm giao không thốt được nên lời

Tay chỉ nắm trong tay lời ước thệ

Chừ tay ấy bỗng nhiên thành tàn phế

Lời mong trao, môi khó chuyển nên lời

Bốn sáu năm từng chung khổ chia vui

Ngày vĩnh biệt, anh siết bằng tay trái

Người đã khuất…đẹp ân tình lưu lại

Tóc màu sương vẫn quí gọi “giai nhân”

Nửa trăm năm như ngọc chuộng vàng nâng

Anh trang trọng giữa hai lần tay siết

Trọn một kiếp song đôi, chừ đoạn diệt

Vắt áo trần nhơ, giả hợp hình hài

Trời Lăng Nghiêm hay sắc giới Thiên Thai

Cầu linh phách nhẹ nương vào Bát Nhã.

 

Thơ của bà là cung đàn, nhưng không phải vang lên từ dây đàn mà từ nước mắt và máu của con tim.

Những dòng trên không phải “nhận đinh” hay “phê bình” mà là những lời chân thành của kẻ hậu sinh chiêm ngưỡng bà và chiêm nghiệm thi ca của bà..

 

[1] chú thích của các con

[2]trích Hai lần Tay Siết

 

*

 

2.

Nhà thơ THANH NHUNG

Cuối thập niên 50, chuyện có thơ được đăng ở tạp chí Phổ Thông, lại thêm có mặt trong hai tập thơ chung cùng một năm. Đó như một hiện tượng và Thanh Nhung đã trở thành nữ sĩ, rất trẻ được ngưỡng mộ. Với tính cách đó, sau hơn nửa thế kỷ, tôi nhìn lại.

 
thanh nhung

Bà sinh năm 1941 tại Nha Trang và nơi sinh cũng là tên: Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang. Bút hiệu: Thanh Nhung.

Bà là con cả của nữ thi sĩ Tâm Tấn và nhà văn B.Đ Ái Mỹ, thuộc dòng dõi vua Minh Mạng và thi hào Tuy Lý Vương.

Theo học Võ Tánh Nha Trang, Quốc Học Huế, Đại học Văn Khoa Sài Gòn.

1963 – Du học Nhật, Mỹ. Năm 1973 lấy bằng Tiến Sĩ Đại Học California ở Berkeley với luận án: Vai Trò Truyền Thống của Phụ Nữ phản ánh trong văn học truyền khẩu và văn chương viết của Việt Nam.

Bà nói được 5 thứ tiếng, chu du 20 quốc gia, Giáo sư Đại Học của 4 nước: Malaysia, Mỹ, Nhật và Thái Lan.

 

Về sự nghiệp thi ca:

Năm 1958, Bà có thơ xuất hiện lần đầu trên tạp chí Bông Lúa rồi Phổ Thông của cố thi sĩ Nguyễn Vỹ. Cùng năm này bà có mặt trong hai tập “Tiếng Thơ Miền Trung” với Cao Hoành Nhân, Từ Thế Mộng ….và “Hoa Mười Phương” với Định Giang …Lúc đó bà mới 17 tuổi. Bà có thơ đăng thường xuyên ở Phổ Thông đến 1965. Những thập niên sau bà cộng tác với các báo và tạp chí nước ngoài như: Văn Học và Nghệ Thuật, Văn Học,Vietnam Culture Journal …và đã xuất bản một số sách viết bằng tiếng Anh trong đó có bộ tiểu thuyết 2 tập The Moon of Hòa Bình [1994] đồng tác giả với chồng là : William L.Pensinger.

Bà hiện sống cùng chồng ở Nha Trang .

 

Ở đây tôi xin nói -một chút- về thi ca mà không nói đến tác phẩm văn xuôi bằng tiếng Việt hay tiếng Anh của bà. Gia tài thi ca của bà không nhiều, không đồ sộ, không nhiều đầu sách, nhiều trang in….Nó chỉ vỏn vẹn có 50 bài thơ đủ các thể loại bà viết từ 1958 đến 2000. Như một bức tranh khung nhỏ, khiêm nhường, được gắn ở khoảng không gian tĩnh lặng, lẻ loi, trong một thế giới trưng bày hoành tráng của thi ca đương đại, nhưng bước chân người thưởng ngoạn lại dừng lại -rất lâu- trước bức tranh khung nhỏ, lẻ loi ấy của bà.

Tôi vẫn không làm sao tìm được những sáng tác sau năm 2000 của bà .

Năm 1963 bà du học ở Nhật. Thời đó đi du học là chuyện cực hiếm, nó càng hiếm hơn khi dành cho giới nữ. Lúc đó bà 22 tuổi, một cánh chim non tung cánh vào bão táp của cuộc đời. Cuộc ra đi này, theo tôi, đã ảnh hưởng sâu sắc đến thi ca và cả cuộc đời của bà. Cuộc ra đi dài cho đến gần hết cuộc đời bà mới có cuộc -thật sự- trở về.

Đó là cuộc chia tay mà cuộc đời đã dành cho bà, như một định mệnh.

 

Về hình thức thể hiện:

Bà sử dụng hầu như hết các thể thơ: 8 chữ, 7 chữ, 5 chữ chia đoạn, 4 chữ, lục bát, thể kết hợp và tự do…xuyên suốt trong quá trình sáng tác của bà. Đặc biệt là Thể Kết Hợp. Thoạt nhìn ta có thể lầm tưởng đó là thơ tự do, nhưng không, bài thơ tuân thủ qui tắc vần, ngữ pháp, ngữ nghĩa của từng thể thơ, nhưng không độc lập, riêng rẽ mà liên kết lại thống nhất âm điệu và ý tưởng. Có ít tác giả sử dụng thể kết hợp thành công như bà. Tôi xin đơn cử:

 

Chắp tay van gió nằm im

Đừng đưa vẳng mấy lời chim gọi đàn

Tiếng hồn vừa mở

Tiếng hồn than van

Bốn phương trời đất dường tăm tối

Sao khóc tình yêu, chết vội vàng

[trích Hoang Dại trong “Hoa Mười Phương”-1959]

 

Ba thể: lục bát, 4 chữ, 7 chữ trong một bài. Vần “an ‘ –câu 2: gọi đàn –câu 4: than van -câu 6: vội vàng. Đó là sợi dây kết nối, thống nhất của 3 thể loại trong một bài thơ. Không khó nhưng cũng không dễ để hình thành thanh âm xuyên suốt như vậy.

 

Về nội dung:

Người đọc không khó để nhận ra rằng, sáng tác của bà có hai thời kỳ, rất rõ, rất tách bạch .Thời kỳ đầu, từ trước 1958 đến tháng 4 năm 1963 Trong thời kỳ này bà còn chịu ảnh hưởng nhiều của thi ca lãng mạn [1932-1945,] về hình thức lẫn nội dung. Thơ chỉ nói đến cái tôi của chính mình, sự ích kỷ cần thiết cho giai đoạn mở đầu của một tác giả, viết về những cảm xúc rung động của mình và cho mình. Viết cái ở trong và riêng ta. Gần như hầu hết các nhà thơ khởi viết đều viết về tình yêu của chính mình, bà cũng không ngoại lệ. Dường như bà biết yêu rất sớm:

 

Tóc mây hò hẹn tuổi mười lăm

Mắt-đọng-sầu–tư vẫn khóc thầm.

 

Và cái bóng dáng tình yêu ban đầu ấy cứ lớn theo thòi gian, chập chờn rồi choáng ngợp trái tim, thi ca của bà bị cuốn theo. Mộng mơ. Hạnh phúc. Khổ đau. Giận hờn. Oán trách. Nỗi rung động và xúc động đầu đời bậc lên thành cung điệu, thành thơ. Nhưng, dù trong nỗi đau nào, cũng giữ được sự đằm thắm, dịu dàng, không phẫn nộ, không lộng từ…đúng như tâm hồn tĩnh lặng, sâu lắng của bà.

 

Bốn phương trời đất dường tăm tối

Sao khóc tình yêu, chết vội vàng

[trích Hoang Dại /Hoa Mười Phương, 1959]

 

Hai vỡ tan còn ghi kỷ niệm

Tình Yêu? Còn lại chút gì đâu

Ngày mai khi khép hoài đôi mắt

Ôm lấy niềm đơn xuống huyệt đài

[trích Kiếp Sầu/Sài Gòn 12/9/1961 ]

 

Ngăn-cách-cuộc-đời xâu xé hồn nhau

Sầu đã biến dòng thơ thành suối lệ

[trích Những Mùa Xuân – Sài Gòn 29/12/1961]

 

Bà thể hiện sự đau khổ tận cùng, tiếng thơ cũng chỉ là nổi khứng chịu số phận của riêng mình:

 

Xác thân vùi với niềm đau khổ

Là hết, là xong một cuộc đời

……….

Tỉnh giấc, trời ơi, hồn ngẩn ngơ

………….

Người xa - thương nhớ là dao chém

Từng nhát vào tim ứ tủi hờn

[trích Oán Trách /Phổ Thông số 88-9/1962]

 

Những cảm xúc, bâng khuâng, tò mò khám phá. Của đợi chờ mộng mơ. Của hạnh phúc ban đầu. Thời của tan vỡ, tiếc nuối, đau buồn, thơ của bà bấy giờ vẫn mang một sắc thái riêng: óng mượt và lung linh.

 

Thời kỳ từ 4/1963 trở về sau:

Cuộc chiến chống Pháp kết thúc 20/ 7/1954. Nhưng cuộc chiến ác liệt vẫn tiếp tục ở quê nhả. Trái tim nhỏ bé của bà, ở cách xa vạn dặm, qua một đại dương bao la, mãi tận phương trời …đã nghe và đã thổn thức. Bà bỗng ngộ ra rằng bấy lâu nay bà chìm đắm trong nỗi riêng của cõi lòng, của riêng bà, rất đỗi vị kỷ. Tâm sự đó bà gởi vào “Hướng Tâm Tư “ viết tại Tokyo ngày 25/4/1963.

 

Ôi những ngày xưa rất dại khờ

Tháng năm quằn quại khổ vì mơ

…………….

Một sớm niềm kiêu hãnh hiện về

Mang linh hồn khỏi ngục đa mê

Điềm nhiên dứt bỏ thời hoang dại

Có những lời thơ rất não nề

 

Cuối cùng, như một cánh bướm thoát ra khỏi kén, tung bay vào không gian, thơ bà đã mang thêm một ý nghĩa về cuộc chung của kiếp người. Bà dấn thêm một bước vào cảm xúc về nỗi khổ đau của đất nước, của quê hương, của đồng bào, và bà hạnh phúc với sự chuyển hướng này.

 

Hồn nở tình thương đẹp lạ lùng

Trao về linh khí của non sông.

Hạnh phúc trào dâng đến nghẹn lời

Nghe lòng chuyển hướng rộng chơi vơi

[trích Hướng Tâm TưTokyo 25/4/1963]

 

Thi ca của bà lúc này có thêm một mảng thi ca dấn thân, chất đấu tranh ẩn khuất trong những thương cảm, lo âu. Từ nơi xa xôi gởi về quê nhà. Nỗi lòng bà đã trải ra, tấm lòng bà đã xót thương, nước mắt bà đã rơi. Thơ của bà giờ đây đã mang tính chiến đấu, hy sinh và cống hiến cho quê hương hơn cái tôi của mình.

 

Xót xa nghe chuyện điêu tàn

Hỡi ơi! quê mẹ muôn vàn thương đau

[trích Khắc Khoải – Tokyo 29/91963]

Lòng đất quê hương quặn niềm ly tán

Cho nỗi hờn câm ngùn ngụt tinh cầu

……………….

Đất mẹ rưng rưng ôm những hình hài

[trích U Uất, Phổ Thông số 137, 11/1964]

 

Trái tim nhỏ bé, côi quạnh ở mãi phương trời xa tắp, đã nghe –không những tiếng bom rền đạn nổ, tiếng gào thét của quê hương. Bà còn nghe cả tiếng nỉ non, khấn nguyện, thầm thì của những người mẹ, tiếng khóc của trẻ thơ…

 

Nghe từ mẫu đêm nhìn đèn tâm sự

Hai tay gầy và mắt lệ xin ơn.

Cho hơi ấm của mùa xuân ấp ủ

Tình thương yêu làm nhẹ mối căm hờn

[trích Mùa Xuân Mong Đợi – Berkeley 11/11/1968 ]

 

Thời kỳ này, cảm xúc dâng trào choáng ngợp, đè nén và bộc phát thành thơ, nó phá vỡ hết qui tắc, niêm luật, gò bó của thơ lãng mạn, thơ mới. Bà vượt qua, thoát khỏi và hầu hết tác phẩm thời kỳ này bà viết theo thể thơ Tự Do. Từ cái phóng khoáng, thênh thang, cái cởi mở của thơ tự do, người viết mới viết hết ý tưởng của mình muốn gởi gắm. Tuy nhiên “vần” vẫn được bà sử dụng như cách tạo âm, thơ bà vẫn mang tính nhạc điệu, tôi nghĩ, bà đã áp đặt tu-từ-mới cho thơ tự do.

 

Mẹ già không nhặt xác con

Đem xây nền dân chủ

Những xác co ro trong đất mẹ hao mòn

Nỗi khao khát âm thầm thôi có bao giờ tự thú

[trích Xin Cúi Xuống Thật GầnKuala Lumpur , 20/1/1975]

 

Có người nói thơ “là cấu trúc của trí tưởng tượng” tôi hiểu đại để là “trí tưởng tượng có trước ngôn ngữ thi ca, có trước thơ”. Nó có thể đúng ở một “diện” nào đó của một giai đoạn. Tuyệt nhiên nó không phù hợp với thơ của bà trong thời kỳ này.Cái cảm xúc có thật và có trước ngôn ngữ thi ca, có trước thơ. Tiếng động của âm thanh, của súng đạn, của xương máu, đó là sự hiện-hữu-có-thật…làm nên cảm xúc, bà mới viết thành thơ. Thơ gần như hoàn toàn không cần và vượt khỏi trí tưởng tượng.

Và thơ của bà giai đoạn này là “Thơ, đó là những cách đi tới nơi tận cùng của ý thức” [Laurence folinghetti –nhóm nhà thơ-Không Tùy Thời-1950 Hoa Kỳ ] và “Ngôn ngữ thi ca là ngôn ngữ của cuộc sống “[Luân Hoán]. Tôi nghĩ như vậy.

Bà cũng như người mẹ -nữ sĩ Tâm Tấn- hội đủ: Tài Năng, Đức Hạnh và Thanh Sắc.

 

Ngày về

Ra đi ở tuổi 22, phải gần hết cuộc đời bà mới -thật sự- trở về. Căn nhà nơi bà sinh ra giờ đây mái đã rêu phong, vòm bông giấy trước nhà đã không còn, tiếng cười cũng vắng xa. Đàn em, mỗi nguời một phận, tứ tán khắp phương trời. Chốn cũ, nay chỉ còn hình bóng lẻ loi, đơn độc, âm thầm của mẹ già. Và, ôi những dấu chân ngày nào đã in trên bờ cát trắng của thuở lên mười, gói đậu phụng rang gởi trọn nỗi lòng của ai đã trao thời niên thiếu….cùng với tiếng sóng của biển khơi thì thầm…của một thời đã xa...rất xa.

Thời gian có thể đã xóa mất đi biết bao điều của đời người nhưng tôi đoan chắc rằng những kỷ niệm kia còn mãi nơi cõi lòng bà, ngày nào bà còn nghe tiếng sóng thì thầm, còn nhìn thấy biển quê hương.

 

Chu Trầm Nguyên Minh và Nguyễn Tùng Vân

Sài Gòn 1/2013
http://www.luanhoan.net/gocchung2013/html/bm%205-4-13%2015.htm

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/2026(Xem: 1382)
Hôm nay Tháng Chạp hăm ba Táo quân khắp chốn gần xa về chầu Bớ khanh Bắc Đẩu Nam Tào Mau mau mở máy bắt đầu online Táo Quân dưới đó là ai Trẫm đây miễn lễ, trình ngay phương nào ? Trong năm Ất Tỵ ra sao Mà ta bị réo điên đầu điếc tai.
02/02/2026(Xem: 2710)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 2632)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 2007)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1828)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2250)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1712)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1604)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1650)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 2135)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng