Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chương 8: Trí Tuệ

03/01/201104:06(Xem: 4641)
Chương 8: Trí Tuệ

SỐNG HẠNH PHÚC - CHẾT BÌNH AN

The Joy of Living - Dying in Peace
Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14
Dịch: Chân Huyền

CHƯƠNG 8
TRÍ TUỆ

Tất cả các pháp hành trì đã nói trong các chương trước đây như bố thí, tinh tấn, nhẫn nhục v.v... là giáo pháp Bụt Thích Ca đã dạy chúng ta để đạt được trí tuệ. Trí tuệ hay hiểu biết có nhiều ý nghĩa, nhưng nơi đây chúng ta bàn tới trí tuệ về tánh Không, sự hiểu biết về thực tại. Thầy Long Thọ (Narajuna) của xứ Ấn Ðộ đã dạy:

"Tôi xin xưng tán Bụt đã dạy cho những giáo pháp tuyệt vời: Duyên khởi, Không cũng như Trung đạo, Nhân duyên, tất cả đều cùng một ý nghĩa".

Bụt là người có rất nhiều tướng tốt, đức tính và ngôn từ của ngài đềutuyệt diệu. Nhưng trong câu trên đây thầy Long Thọ muốn ca tụng trí tuệcủa ngài. Thầy muốn nói rõ là khi có trí tuệ ta sẽ hiểu tánh Không, thuyết Duyên khởi và Trung đạo, tất cả đều có nghĩa tương đồng. Có nhiềulý do quan trọng về chuyện này. Giáo lý duyên khởi có nhiều hàm ý rộng rãi, đại cương là mỗi vật hiện hữu đều tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân và điều kiện khác nhau.

Tỷ dụ niềm vui, nỗi khổ của chúng ta phát khởi lên, tùy thuộc vào những nhân duyên đặc biệt nào đó. Vì muốn được an lạc, chúng ta phải tìm hiểu những nhân duyên của hạnh phúc và đem ra thực tập. Không muốn đau khổ thì ta tìm hiểu nguyên nhân gây ra đau khổ và loại trừ chúng đi. Ðó là ý nghĩa của giáo lý Tứ Diệu Ðế là bài giảng chuyển pháp luân đầu tiên của Bụt: có khổ và nguyên nhân gây ra khổ; có thể dứt khổ và có con đường diệt khổ. Ðiều chúng ta thực sự cần là hạnh phúc. Khi còn trong vòng luân hồi, ta có thể có hạnh phúc nhưng nó không bền vững, ta thực sự mong có được an lạc vĩnh cửu. Xa lìavĩnh viễn khổ đau chính là hạnh phúc bền vững. Ðó là mục tiêu ta muốn đạt tới và Ðạo là con đường giúp ta hoàn thành ý nguyện này.

1.- HIỂU BIẾT VỀ VÔ NGÃ

Mọi sự đều do duyên khởi mà hiện hữu, kinh điển đạo Bụt không bao giờnói tới cái ngã độc lập. Không có hạnh phúc hay đau khổ nào mà không liên hệ tới nhiều nhân duyên. Kinh điển cũng không khẳng định có một đấng sáng tạo ra vũ trụ. Quả quyết về một đấng sáng tạo hay về một cái ngã riêng biệt là trái với lý duyên khởi - mọi sự đều do nhân duyên mà thành. Khi ta công nhận mọi sự vật đều do duyên khởi, thì ta không thể chấp nhận một cái ngã bất biến, hoàn toàn và độc lập được. Như vậy, nếu ta chấp nhận có một đấng sáng tạo ra toàn thể vũ trụ thì thật phi lý.

Một hiện tượng không có tự tánh, vì nó hiện hữu tùy thuộc nhiều nhân duyên. Nó cũng tùy thuộc vào các thành tố, tùy vào khái niệm và tên người ta đặt cho nó. Tuy nhiên, vật thể tuy không có tự tánh nhưng khôngphải là nó không hiện hữu, nó hiện hữu vì có nhiều nhân duyên tập hợp, tùy vào những nhân duyên đó nó biểu hiện ra, nên chúng không có tự tánh độc lập. Ðiều này chứng minh KHÔNG cũng có nghĩa là Duyên khởi. Hiểu nhưvậy ta không bị rơi vào cực đoan của chủ thuyết Hư vô (Không có gì hết). Khi nói rằng mọi vật do duyên khởi mà thành, ta hiểu chúng không có tự tánh độc lập và ta không bị vướng vào quan niệm thường hằng bất biến. Vậy nên Không, Duyên khởi và Trung đạo có cùng một ý nghĩa.

Vì mọi hiện tượng đều trống rỗng, không có tự tánh, những cảm thọ bấtan trong tâm ta cũng không có tự tánh, không phải do bẩm sinh mà có. Nókhông hiện diện ngay từ đầu, nó phát khởi vì những ý nghĩ tiêu cực nên kết cục nó cũng có thể bị loại trừ. Nguyên thủy, tâm ta sáng láng và tỉnh thức, đó là những tính chất nguyên thủy của tâm. Sân si và tham đắmchỉ khởi lên lúc nào hội đủ vài điều kiện, nên chúng cũng có thể bị loại trừ. Trong bản chất, tâm ta có khả năng xả bỏ vọng tâm và nuôi dưỡng chân tâm hay Phật tâm.

Trong số các đệ tử của Bụt, có nhiều loại người, nhiều ý hướng khác nhau. Bụt hiểu như vậy nên ngài giảng dạy Phật pháp theo nhiều trình độ khác nhau. Do đó chúng ta có thể thấy hầu như có chút khác biệt giữa cáckinh điển. Vì thế, lời dạy của Bụt có thể được xếp thành loại kinh điển"đủ nghĩa" hay loại kinh "cần diễn nghĩa". Trong các bài giảng "đủ nghĩa", chúng ta có thể chấp nhận nguyên văn lời Bụt dạy; nó khác với những bài giảng mà ta cần tìm hiểu ý Bụt về sự hiện hữu của mọi vật.

Chẳng hạn như trong cuốn kinh "Kho tàng trí huệ" (Treasure of Knowledge), kích thước của mặt trời và mặt trăng được tả bằng một nửa chiều cao núi Meru, ngọn núi được coi như trục trái đất thời đó. Theo đolường thời xưa, nó vào khoảng 400 dậm. Kinh điển nói tới mặt trời và mặt trăng mà ngày nay khoa học đã đo được rõ ràng. Trong kinh đó, quan niệm về đo lường khác với khoa học thực nghiệm, và ta cũng phải công nhận sự đo lường trong kinh sai với kiến thức khoa học thời hiện đại. Dùkinh là do Bụt dạy, mà ngài là vị thầy rất khả kính, trường hợp này ta không thể công nhận "nguyên văn" lời kinh như vậy. Ta phải diễn giải ý nghĩa kinh theo mục tiêu và ý nghĩa mà Bụt muốn giảng dạy lúc đó.

Cũng trong kinh đó, tâm của ta khi chết được coi như có tính thiện vàcó tính bất thiện. Nhưng trong sách "Trí huệ trích yếu" (Compendium of Knowledge) lại nói tâm lúc chết trung tính, không tốt không xấu. Cuốn "Du Già Mật Tông Cao Cấp" thì dạy rằng chúng ta có thể thực tập các tínhthiện ngay khi sắp chết. Những lý giải này không giống nhau, ta khó dùng lý trí để làm cho các kinh sách đó hòa hợp với nhau được. Khi thấy sự khác nhau nho nhỏ như vậy, ta nên nhớ là các bài giảng trong sách Mậttông rất chú trọng vào các biểu hiện của tâm, gồm nhiều trình độ từ thôđến vi tế. Sách cũng giải thích cho ta biết cách để quán vào nhiều từnglớp của tâm. Nhiều quá trình thực tập Yoga có thể được chứng minh bằng lý luận hay bằng sự chứng nghiệm của chính mình. Vậy nên khi dùng những kinh sách Mật tông làm căn bản, ta phải hiểu rằng những dữ kiện trong kinh điển của hệ phái khác cần phải được giải thích chứ không thể chấp nhận nguyên văn.

Ngày nay trong khoa học có nhiều ngành như thiên văn, thần kinh, tâm lý, vật lý hạt nhân, là những ngành học do kết quả của nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm. Những ngành này có nhiều khám phá rất gần với giáo pháp của Bụt. Tôi nghĩ rằng, do dó, các nhà trí thức Phật tử và cáctriết gia cần làm quen nhiều với những ngành khoa học này. Trong khi đócũng có nhiều điều khoa học không chấp nhận. Có hai lý do: có thể vì những thứ đó không hiện hữu - hoặc sự hiện hữu của những thứ đó chưa được chứng minh.

2.- CHUYỂN MÊ SANG NGỘ

Chúng ta không thể chấp nhận kinh điển chỉ vì đó là lời Bụt dạy, mà ta phải phân tích để tìm hiểu ý nghĩa và mục tiêu của bài giảng, rồi đemdiễn giải. Ta cần nghiên cứu kỹ lưỡng những gì được nhấn mạnh nhiều lầntrong Phật pháp.

Có nhiều phương pháp nghiên cứu, vì ta dùng tâm để nghiên cứu nên ta phải có một trí óc sáng suốt, không lầm lẫn về đối tượng nghiên cứu. Làmđược như vậy mới đáng tin tưởng. Ta không thể căn cứ vào những kết qua nghiên cứu do một bộ óc lầm lẫn và đáng nghi ngờ đưa ra. Không giống nhưcác cuộc nghiên cứu những đối tượng như ngoài đời, khi ta tìm hiểu tâm thức thì mục tiêu số một là ta phải đi tới sự chuyển hóa tốt đẹp. Ta phải tìm ra cách chuyển hóa tâm vọng động, vô kỷ luật thành tâm thanh tịnh, an bình. Ðó là lý do trong đạo Bụt có rất nhiều bài bình giảng về tánh chất của tâm, về các tâm hành. Cũng có rất nhiều những bài giảng chi tiết về các trạng thái của tâm thức khi nó chuyển đổi từ tình trạng mê vọng tới trình độ tâm sáng suốt, tỉnh thức.

Tiến trình chuyển hóa từ mê sang ngộ, nhìn sâu hơn vào tự tánh các pháp, diễn ra từ từ. Khởi đầu, chúng ta có thể quan niệm hoàn toàn sai lạc về thực tại. Sau khi quán chiếu, dần dà ta hiểu được những duyên do khiến ta phải thay đổi, từ hoàn toàn mê lầm thành ra lúc nghi, lúc lầm. Ta bắt đầu nghĩ sự vật có thể thế này, cũng có thể thế kia. Quán chiếu sâu hơn nữa, ta tiến tới chỗ nhận biết những mê lầm của mình khi trước. Tuy nhiên phải lâu hơn nữa trí ta mới từ từ có thể rút ra được kết luận xác đáng. Thiền quán về những gì ta đã hiểu, sẽ làm quen với những điều đó. Vì ta đã thông suốt được với các pháp và tâm thức ta trở thành trí tuệ. Ðó là phương pháp luyện tâm.

Khi tâm trí ta quán chiếu như vậy, trước hết ta cần biết rằng mọi sự vật đều có một cách hiện hữu tự nhiên và bẩm sinh. Khi tâm bắt đầu quán chiếu nó đi tìm bản chất của thực tại. Thực tại hay chân như không phải là thứ tâm ta mới chế tác ra. Ði tìm ý nghĩa thực tại tức là tìm chân lý, tìm bản chất sự hiện hữu của các pháp. Muốn hiểu được đối tượng bên trong hay bên ngoài, ta đều phải hiểu cách nó sinh tồn và hoạt động - tức là cái logic của chân như. Chúng ta quán chiếu vào chân như các pháp. Chẳng hạn như đối với tâm trước hết ta phải nhận biết những vận hành tự nhiên của nó. Ta cần phân biệt được tâm trong sáng và những biểuhiện của vọng tâm khi có tham đắm khởi lên.

Ta có thể quán chiếu một cách khác, như quan sát các kinh nghiệm hàngngày. Buổi sớm nếu ta cảm thấy buồn phiền, thì cái buồn đó có thể ảnh hưởng lên các cảm thọ khác suốt ngày hôm đó, dù cho nó không phải là duyên trực tiếp: vì buồn buổi sáng nên ta khó chịu buổi chiều. Trong thếgiới vật chất, khi có hai chất hợp nhau tạo ra chất thứ ba, chất sau này có thể không giống những tính cách đặc biệt của hai chất đầu. Ta có thể quan sát chuyện này dễ dàng trong các ngành hóa học. Nếu buổi sáng cảm thấy buồn hay rất vui, thì suốt ngày ta cảm thấy dễ buồn hay dễ vui hơn ngày khác (tùy theo cảm xúc đầu ngày). Vì khi đã buồn thì tâm dễ bị động. Khi đã vui thì dù có người nào làm lỗi, bạn cũng coi nhẹ và bỏ quadễ dàng. Bạn thấy rõ ràng những xúc động trong tâm ta tùy thuộc vào nhiều nhân duyên mà thay đổi. Hạnh phúc giúp ta coi những phiền trược nhẹ nhàng hơn, trong khi khổ đau khiến chúng ta trở nên hẹp hòi, dễ nổi giận hơn.

Sự thật là vạn pháp đều do tâm khởi. Như thế không có nghĩa là mọi sựvật do tâm khởi đều hiện hữu. Chẳng hạn do tâm, ta có thể tưởng tượng ra sừng con thỏ, mà trong thực tế thì thỏ không có sừng. Nếu mọi thứ trong tâm đều hiện hữu thì phải có sừng thỏ thiệt. Ta cần biết xem các pháp hiện hữu cách nào? Vì vạn pháp không thể thay đổi luật biến hóa tùytheo tâm của ta, nên ta phải theo tiến trình của chúng và chuyển hóa tâm ta cho khỏi kình chống với các biến hóa đó. Như vậy, ta có thể sống hạnh phúc hơn và giảm bớt được đau khổ.

Vì cái giận gây ra phiền não nên ta biết nếu không giận thì tốt hơn. Vì lòng từ bi tạo ra hạnh phúc nên ta thấy cần phát triển tâm thiện này.Sân hận và từ bi là hai thái cực trái ngược nhau, không thể cùng hiện hữu. Vì đó là hai trạng thái tâm đối nghịch nhau, nếu ta cố gắng phát triển và nuôi dưỡng tâm từ bi thì tâm sân hận sẽ yếu đi. Ðó là phương pháp chúng ta theo để tu tập tâm linh. Chúng ta cố gắng nuôi dưỡng lòng từ bi vì nó mang hạnh phúc tới và xả bỏ sân hận vì nó mang lại đau khổ. Quán chiếu như thế rất là quan trọng.

Chúng ta đi tìm chân lý và chúng ta có thể đạt được niềm tin vào chânlý qua sự phân tích và tìm hiểu. Nhà phê bình trứ danh người Ấn chia Phật tử làm hai loại: những người rất thông minh chỉ học Phật pháp sau khi thấy nó có nghĩa lý và những người kém thông minh theo học vì có tíntâm. Loại trên tìm hiểu ý nghĩa những lời giảng, Họ dùng lý trí để tìm xem giáo pháp có chứa những điều thiếu hợp lý chăng? Khi họ đã hài lòng,thấy các bài pháp không vô lý và không bất nhất mà lại có nền tảng vữngchắc, thì họ sẽ tin tưởng và có hứng khởi theo học dù cho họ chưa hiểu thấu ý nghĩa kinh điển cho lắm. Trong giáo pháp này, thường người ta dùng lý luận để loại bỏ những tâm thức sai lầm. Ai nghi ngờ một chủ đề nào đặc biệt đều có cơ duyên dùng lý trí tìm hiểu. Vậy nên tôi thường khuyên những người muốn trở thành Phật tử là trước tiên nên có thái độ bi quan.

Trong đời sống, chúng ta có vô số hoạt động và nhận rất nhiều dữ kiệnqua ngũ quan. Chúng ta có khuynh hướng coi những sinh hoạt và hiện tượng ta gặp như những sự thật tuyệt đối. Nói khác đi, chúng ta lầm tưởng, cho là mọi sự hiện hữu giống như hình tướng ta nhận thấy. Sự tráichống nhau giữa các pháp hiện bày và bản chất thực của chúng là nguồn gốc gây ra nhiều vấn đề cho ta. Cuối cùng, khảo sát sự khác biệt đó và tìm hiểu về thực tại, về chân như là đầu mối của các triết thuyết trong Phật giáo. Sự hiện hữu chân thực của các pháp có thể hiểu được qua nhữngphân tích, quán chiếu và thực tập.

3.- BỐN PHÁP ẤN

Tất cả các tông phái Phật giáo đều công nhận bốn dấu ấn của Phật pháp: vạn pháp đều vô thường, những gì bất tịnh đều khổ, mọi hiện tượng đều không có tự tánh (vô ngã) và Niết bàn là sự tịch tĩnh. Tất cả các hiện tượng ngay từ khi mới khởi sanh, đều có bản chất thay đổi vô thườngkhông lúc nào yên. Ðó là do nhân quả không vì lý do nào khác. Mọi sự doduyên khởi đều vô thường, thay đổi, không tồn tại vĩnh viễn mà liên tụctàn hoại. Tính cách vô thường này đã được các chứng nghiệm khoa học xácnhận. Những hiện tượng tập hợp và vô thường, nói chung đều do nhân duyên tạo ra. Chúng ta đặc biệt quan tâm tới bản chất của thân và tâm, những phần tử tạo nên con người chúng ta.

Ðó là những nghiệp quảcủa các cảm thọ bất an và hành nghiệp ô nhiễm, bất tịnh. Vậy nên người ta nói thân tâm là những thứ lậu hoặc (bất tịnh). Những cảm thọ phiền não bị chỉ huy bởi vô minh và cái thấy sai lầm về tự tánh. Ðối tượng củasi mê và bất an là khổ, khi thoát được những bất an đó thì được hòa bình. Vậy nên có câu: những gì bất tịnh đều khổ. Câu hỏi là chúng ta có bị khổ não vô tận hay không? Pháp ấn thứ ba nói rõ là không có cái khổ vĩnh cửu vì vạn pháp đều trống rỗng, không có tự tánh. Ðó là thực tánh của vạn pháp, tuy bề ngoài chúng hiện ra những thứ có tự tánh vậy. Khái niệm vạn pháp có tự tánh là một khái niệm sai lầm, không có nền tảng.

Chúngta có thiên kiến sai lầm này vì lâu nay có thói quen suy tưởng như thế,Nếu nay chúng ta cố gắng để hiểu ý nghĩa của tánh "Không" và bản chất của vô ngã, ta có thể phá được tà kiến và có cái thấy chân thật về bản chất của các pháp. Nguyên nhân của những tà kiến đó - những cảm thọ bất an - là thứ có thể bị loại trừ. Ta cũng có thể bỏ được mê lầm và tri kiến sai lạc về tự tánh các pháp. Khi chúng ta loại trừ được những nguyên nhân lậu hoặc này, ta sẽ đạt được sự an vui. Vậy nên Niết bàn là hòa bình thật sự, thứ hòa bình không lọc lừa, giả dối.

Nền tảng của tất cả giáo pháp và các phép tu Phật giáo là nguyên lý Duyên khởi. Tại sao? Trước hết sự tu tập có được cũng nhờ nhiều nhân duyên. Tu tập để thấy được thực tại, hiểu được sự hiện hữu trống rỗng của các pháp. Mọi sự đều nương vào nhau mà có mặt, không có cái gì có tựtánh hay hiện hữu hoàn toàn độc lập. Hiểu thuyết duyên khởi rồi, ta sẽ có cái thấy mới mẻ về tánh Không, để có thể phát triển và quảng bá triếtthuyết này.

Thứ hai, biết mọi sự đều tùy thuộc vào các pháp, tasẽ hiểu được rằng niềm vui nỗi khổ của ta đều là kết quả của các hành động do chính mình làm. Tương tự như thế, đa số các hành nghiệp của ta cũng có ảnh hưởng tốt hay xấu vào người khác. Nếu ta không để tâm tới họ, ta sẽ thua thiệt. Ngược lại. ta cũng được lợi lạc. Ðó là những lời giảng căn cứ vào thuyết duyên khởi, các lối sống Phật giáo cũng dựa vào thuyết này. Người Phật tử hành sử bất bạo động không làm hại ai. Quan niệm vô ngã và các phép tu tập đều có nền tảng của thuyết Duyên khởi.

"Không" là một cách diễn giải khác của lý Duyên khởi. Theo lý luận của thuyết này, bạn có thể hiểu được rằng, các pháp đều không có hoặc thiếu tự tánh độc lập. Do bối cảnh các hiện tượng đều nương nhau mà có mặt nên mới có liên hệ tất yếu giữa nhân với quả. Và do đó, chúng ta mớitham gia vào việc hành trì các tính thiện như từ bi, thương yêu, bố thí, nhẫn nhục, trì giới và tinh tấn, thiền định.

Những tâm sở như tham, sân là do khái niệm sai lầm về sự hiện hữu riêng biệt của sự vật. Khi ta nuôi dưỡng cái tâm chỉ chú ý vào vô ngã, nó sẽ đối đầu được với vọng tưởng sai lầm về thực tại, do đó tham đắm hay sân hận sẽ tự động yếu đi. Những tâm thiện như từ bi, thương yêu có thể phát triển, không cần sự yểm trợ của vô minh và cái thấy sai lạc về thực tại. Khi ta thực tập về Không phối hợp với các phương tiện thiện xão của tâm tỉnh thức, thì hai thứ này phối hợp với nhau và làm cho khả năng tâm thức ta được gia tăng. Dần dà, tâm hiểu biết về tánh Không của một đối tượng, sẽ thoát được tính phân biệt và các khái niệm, để trực tiếp thấy được tánh Không. Khi ta đã quen tu tập theo lối này, ta sẽ ngừng được các mê vọng, lầm lỗi để vào cõi thanh tịnh. Trạng thái tĩnh lặng chấm dứt được hết các vọng tưởng, đạt tới chân tướng Phật tánh.

Ðể vượt thoát được tâm bất an, ta cần phát triển cái thấy về Không. Khi nào bạn còn tưởng thân tâm của mình là những thứ có tự tánh, bạn cònkhái niệm sai lầm về ngã. Chấp ngã một cách sai lạc, khiến bạn tích lũythêm nghiệp xấu và những nghiệp dĩ này đưa tới kiếp sau. Muốn đạt tới Niết bàn, thoát khỏi luân hồi, bạn cần trau dồi chánh kiến về Không. Những người tu cho chính mình cũng cần phải đạt tới cái thấy về Không. Muốn như vậy, bạn phải nuôi dưỡng tâm mình sao cho luôn được an tịnh. Trong nhiều loại Trí, bạn nên đặc biệt chăm sóc cái trí đối trị được những cản trở của tánh giác. Thực tập ngũ giới là những ảnh hưởng đầu tiên lên Trí đó. Những phương tiện tu luyện đều được dạy để tiến tới quảvị Bụt. Tất cả giáo pháp của Bụt đều căn cứ vào thuyết Duyên khởi, và mục tiêu của nó là thoát khổ.

Chỉ thấy tánh Không chưa đủ, bạn cần phải tập thật sự làm quen với nó. Bạn nghĩ về ý nghĩa của Không và quán chiếu sự vật trong cái thấy đó. Chẳng hạn quan sát một đám đông, chắc ai cũng mong có hạnh phúc, tránh được khổ đau. Nhưng gương mặt họ diễn ra vô số những diện mạo khácnhau, tùy nhân duyên của mỗi người. Không có sự vật nào có tự tánh, dù mọi thứ đều hiện ra như có tự tánh vậy. Vì thế, giữa thực chất và hình tướng của mọi vật có sự khác biệt.

Khi bạn hiểu như vậy, bạn sẽ thấy mọi thứ chỉ như giấc mộng hay ảo ảnh. Bạn sẽ biết quý cái "Không có bản chất" đó của mọi pháp và bạn có thể giảm thiểu được tham đắm và sân hận. Vì vạn pháp đều không, nên không có gì mất hay còn, được hay thua. Ðạt Lai Ðạt Ma thứ 7 khi giảng về bản chất thực tại đã nói rằng các thứ: "Sắc, thanh, hương... biểu hiện ra vì có sáu giác quan (lục căn). Dù bề ngoài, ta thấy bao nhiêu cảnh sắc đẹp đẽ phong phú, nhưng thực chất của nó không giống bên ngoài.Ðối với tâm bạn, mọi thứ đều hình như có tự tánh, đó là vì tâm bạn bị ngăn che, si mê. Chúng ta cần phải hiểu như vậy, và do đó biết rằng những gì hiện ra trong tâm ta đều do cái Si đầy quyền lực in ấn lên tâm ta. Khi có một ảnh tượng nào hiện ra trong tâm, mà ta biết thực ra nó không hiện hữu như hình tướng ta thấy, thì ta sẽ không bị thất vọng".

Khi ta đối diện với cảm thọ vui hay buồn mà nhìn thấy được thực chất của nó, thì có cái gì để ta sung sướng hay thất vọng đâu? Ta vướng mắc với ai và tại sao ta lại vướng mắc? Ta thường cho là người này ở trên, kẻ kia ở dưới, bạn thì thân tình, kẻ thù thì dễ ghét... Nhưng chính ta, ta nên coi tất cả họ đều là giấc mộng, là ảo giác, và ta nên có thái độ bình đẳng với mọi người. Như vậy, không phải là ta không biết phân biệt tốt xấu hay những điều đó không hiện hữu. Dù thông thường ham muốn được coi là xấu, nhưng mong đạt tới Niết bàn cũng là một ham muốn vậy.

Theoước lệ, Niết bàn là thứ nên tiến tới trong khi cõi luân hồi là thứ nên bỏ đi. Vậy nên ta cần quán về Không. Và ta phải hiểu là không nên nhìn Niết bàn hay Ta bà là những gì hiện hữu thật sự và có tự tánh độc lập. Chúng ta có bạn và kẻ thù, những người tạo phúc lợi cho ta được gọi là bạn, những người làm hại ta gọi là kẻ thù. Gọi là kẻ thù hay bạn không có gì hại, điều có hại là ta bị vướng mắc vào người mà ta gọi là bạn - họ thế nào ta cũng vẫn thương. Ta cũng sẽ lầm lẫn nếu ta luôn luôn giận ghét kẻ thù, coi họ là người hoàn toàn xấu ác. Thái độ đó là sai lầm. Hiểu được mọi chuyện đều hiển hiện ra như vậy là do nhiều nhân duyên kếthợp, ta sẽ coi mọi thứ đều huyền ảo như giấc mộng.

Chúng ta mong được hạnh phúc và coi mình là một thực thể có tự tánh riêng biệt. Quan niệm sai lầm này làm cho ngã chấp ta nặng thêm. Những thái độ chấp ngã này tiềm ẩn tự nhiên và thoải mái trong tâm chúng ta, chúng ta luôn luôn nương tựa và cúi đầu trước những tự ái đó như trước một vị thầy khả kính, và chúng ta vui lòng để nó ngự trị trong tâm ta. Hãy nhìn lại coi dấu vết của nó trong những tình huống chúng ta đã sống,đã trải qua. Chư Bụt coi những thái độ chấp ngã đó là kẻ thù khó chịu nhất. Các ngài chiến đấu thắng được nó nên đạt tới giải thoát.

Một số quý thầy Kalampa nói về các thái độ chấp ngã như sau: "Dù cho toàn thể con người tôi bị ép dưới sức mạnh của khổ đau, tôi sẽ cố gắng dùng răng cắn vào các chấp ngã và xé chúng ra thành từng mảnh". Các ngàicũng thách đố chúng: "Ta nhìn thấy ngươi rồi, ngã chấp ơi! Mi mang tới cho ta bao nhiêu vấn đề, ta phải đánh bại mi, bẻ cổ mi mới được!".

Thái độ chấp ngã này cùng với quan niệm sai lầm về tự tánh các pháp luôn luôn mang đau khổ tới chúng ta. Vì vậy cho nên, dù ta luôn mong cầucó hạnh phúc, ta vẫn gặp toàn vấn đề khó khăn và đau khổ. Từ đầu, chúngta đã sống như vậy. Có thể chúng ta đã sanh ra làm vua trời trong một kiếp nào đó, nhưng trong trường hợp ấy, cái ngã chấp cũng vẫn nằm sâu trong tâm thức ta. Vậy nên ta không có hạnh phúc lâu bền. Trong cõi luânhồi, ta không có niềm vui vĩnh hằng vì chấp ngã và khái niệm sai lầm vềtự tánh.

Vì chấp ngã, chúng ta bị quay liên tục trong vòng luân hồi. Dù có khita được hưởng sự an lạc tạm thời, nhưng nếu vô ý đi lầm đường, bị đọa vào những cõi thấp kém hơn, thì ta lại gặp toàn đau khổ. Những người tự coi là Phật tử thuần thành thì thọ các giới luật, thường cho mình là người hành trì tinh tấn. Nhưng nếu sự thật bạn vẫn bị chấp vào ngã và hiểu sai về tự tánh các pháp, bạn sẽ lầm tưởng mình là con người đặc biệt. Bạn hành sử giống như một người chuyên cứu giúp người và đứng đó để làm chỗ nương tựa cho kẻ khác. Tự mãn như thế, bạn sẽ bị tái sanh vàochỗ không tốt sau này.

4.- TÔI NGUYỆN GIÚP ÐỜI

Phương pháp thoát khổ là hiểu và quán chiếu vào tánh cách rỗng không,không có tự tánh của các pháp. Nếu bạn coi trọng pháp này, bạn sẽ được lợi lạc, sẽ đạt tới giải thoát và giác ngộ. Trước hết là Văn: bạn phải nghe giảng về pháp, rồi Tư và Tu: học hỏi và quán chiếu. Bạn rán để hiểuđược những căn bản của phép tu, và coi những điều giảng đó là những lờikhuyên quý báu. Kiến thức mà thôi, không có ích lợi gì, bạn phải chuyêntâm tu tập. Khi nhập thất, nếu bạn chỉ ở trong căn phòng nhỏ để sống thoải mái và tiện nghi thì không phải là kiên trì tu học. Bạn phải thực tập nghiêm chỉnh thật sự.

Tôi nghe nói có những thiền sư ngồi thiền rất đẹp và rất lâu, nhưng họ hầu như không có tình cảm ấm áp đối với các thiền sinh. Tâm họ không cảm được những khổ đau hay an lạc của các chúng sanh khác. Có thể đó là vì họ luôn luôn thiền quán trong sự buông lơi. Khi quá buông lung tâm ý,họ không còn sáng suốt hay nhạy cảm nữa. Hoặc là thay vì quán về sự trống rỗng của tự tánh, họ lại quán về cái trống không hư vô nên mới không có cảm xúc?

Khi tu tập mà ta biến thành người không có trái tim, không quan tâm tới an vui, đau khổ của kẻ khác thì lối tu đó không tốt. Vậy thì, không phải chỉ trong lúc thiền quán mà sau đó nữa, bạn nên luôn luôn có chánh niệm và tỉnh thức về ngũ quan của bạn. Luôn luôn quán chiếu tâm mình, khi quán về tâm tỉnh thức chẳng hạn, bạn nên ca ngợi các tính thiện của người khác, dấu những đức tính của mình đi. Bạn cần nuôi dưỡng tín tâm cho mạnh và quán sát các hành nghiệp thập thiện. Nên tránh các sinh hoạtbất thiện và ồn ào, nên học hỏi và quán chiếu về ý nghĩa các lời kinh và làm việc để giúp ích chúng sanh.

Tôi xin kết luận bằng mấy câu trong kinh Shantideva mà tôi thường tụng hằng ngày:

Khi còn thế giới,
Khi còn chúng sanh.
Tôi nguyện đời mình,
Giúp người bớt khổ.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn