Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

II. NGHIÊN CỨU VỀ LỤC ĐỘ TẬP KINH

21/05/201313:31(Xem: 8583)
II. NGHIÊN CỨU VỀ LỤC ĐỘ TẬP KINH


TỔNG TẬP

VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Lê Mạnh Thát

---o0o---

Tập I

=================

II. NGHIÊN CỨU VỀ LỤC ĐỘ TẬP KINH

Nếu lịch sử văn học và văn hóa thành văn thời Hùng Vương còn để lại cho đến nay qua một bài Việt ca duy nhất đang bàn cãi [1]thì lịch sử văn học và văn hóa Việt Nam sau thời Hai Bà Trưng và trước Lý Nam Đế có thể được nghiên cứu qua một loạt những tác gia lớn như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Đạo Hinh, Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu, trong đó nổi bật nhất là Khương Tăng Hội với Lục độ tập kinh. 

Lục độ tập kinh là văn bản đầu tiên và xưa nhất ghi lại tình tiết 100 trứng của truyền thuyết khởi nguyên dân tộc ta [2]. Lục độ tập kinh cũng là tác phẩm đầu tiên và xưa nhất ngoài bài Việt ca, còn bảo lưu được một số trên 15 trường hợp các cấu trúc ngữ học theo văn pháp tiếng Việt, và cung cấp một lượng đáng kể các tá âm cho việc nghiên cứu tiếng Việt cổ, và phục chế lại diện mạo tiếng nói ấy cách đây 2.000 năm. Lục độ tập kinh còn là nơi tập đại thành những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa, trung hiếu, đất nước, mất nước v.v… làm cột sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam. Lục độ tập kinh còn là văn bản thiết định những chủ đề tư tưởng lớn của Phật giáo Việt Nam, làm tiền đề cho những phát triển tư duy Phật giáo Việt Nam, mà thành quả đầu tiên phát hiện cho đến nay là sáu lá thư trao đổi giữa Lý Miễu, Đạo Cao và Pháp Minh vào khoảng những năm 450 [3]

Lục độ tập kinh vì thế là một tác phẩm văn học lớn không chỉ của lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn là của lịch sử văn học tư tưởng và văn hóa dân tộc. Có thể nói cùng với Mâu Tử Lý hoặc luận và Cựu tạp thí dụ kinh, nó kiến tạo nên giai đoạn văn học đầu tiên của lịch sử văn học 2.000 năm Việt Nam, tập hợp những thành tựu và thắng lợi đầu tiên trong cuộc đọ sức sống còn đầy cam go và khốc liệt với kẻ thù, làm nền tảng cho những cuộc đấu tranh sắp tới, mà đỉnh cao huy hoàng là sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế vào năm 544, khẳng định sự độc lập không chỉ về mặt chính trị kinh tế, mà còn về mặt tư tưởng văn hóa. Nó đã trở thành một bức trường thành, mà chủ nghĩa xâm lược văn hóa Trung Quốc không vượt qua được. Lục độ tập kinh do đó có một vị thế xung yếu không chỉ của lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn của lịch sử văn học, tư tưởng và văn hóa Việt Nam. 

Xung yếu như vậy, song cho đến lúc này vẫn chưa có một bản dịch tiếng Việt hoàn chỉnh và công bố rộng rãi làm tư liệu nghiên cứu không những cho những người quan tâm đến lịch sử và giáo lý Phật giáo Việt Nam, mà còn cho những người làm công tác nghiên cứu lịch sử chính trị, tư tưởng, văn hóa và ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt hơn nữa là Lục độ tập kinh đã được dịch ra tiếng Nhật, tiếng Pháp từ lâu[4]. Và những mẫu chuyện do nó cung cấp đã lưu hành rộng rãi trong sinh hoạt văn học và tôn giáo nước ta, nếu không phải là từ thời Mâu Tử, thì cũng từ thời Chân Nguyên trở đi. Do đó có một yêu cầu bức thiết công bố bản dịch trọn vẹn và hoàn chỉnh Lục độ tập kinh nhằm góp phần vào việc nghiên cứu bản sắc tư tưởng văn hóa dân tộc và Phật giáo Việt Nam. 

Trước khi công bố bản dịch, chúng tôi đề nghị tiến hành nghiên cứu tình trạng văn bản của Lục độ tập kinh cùng nội dung tư tưởng và những liên quan của nó với văn bản học Việt Nam. Từ đó, nó giúp ta tìm hiểu lại những sinh hoạt tư tưởng học thuật của không những Phật giáo, mà còn của dân tộc thời Lục độ tập kinh là một bản kinh tiếng Việt. Đặc biệt sự có mặt của một loạt các cấu trúc tiếng Việt cổ, của những nhận định về các xu thế tư tưởng ở Việt Nam thời nó, của các cải biên, thậm chí hư cấu nên các truyện mới. Bản nghiên cứu này chia làm 8 phần. Phần I, ghi lại các mẫu tin kinh lục về quá trình truyền bản của Lục độ tập kinh cùng số quyển, niên đại và tên gọi. Phần II đề nghị xem xét việc Khương Tăng Hội đã dùng bản đáy nào cho công tác dịch bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc hiện nay. Từ đấy phát hiện ra một số cấu trúc ngữ học không bình thường, đã trở thành đề tài bàn cãi của phần III. Phần IV thử tìm hiểu bản đáy Lục độ tập kinh tiếng Việt có khả năng gồm những gì. Phần V nghiên cứu những cải biên và hư cấu có thể của Lục độ tập kinh. Phần VI và VII mô tả một số tư tưởng và liên hệ của bản kinh với tư tưởng và văn học dân tộc ta. Phần cuối là mấy tổng kết sơ bộ. 

1VẤN ĐỀ TRUYỀN BẢN TÊN GỌI VÀ NIÊN ĐẠI

Về Lục độ tập kinh, bản kinh lục xưa nhất hiện còn là Xuất Tam tạng ký tập 2 ĐTK 2145 tờ 7a27-b1 đã ghi thế này: “Lục độ tập kinh 9 quyển, hoặc gọi Lục độ vô cực kinh, hoặc gọi Độ vô cực tập, hoặc gọi Tạp vô cực kinh (...) Thời Ngụy Minh đế (228-240) sa môn Thiên Trúc Khương Tăng Hội dịch ra vào đời Ngô chúa Tôn Quyền (222-252) và Tôn Lượng (253-258) [5]”. Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 326a21 xác nhận Khương Tăng Hội có dịch Lục độ tập ở chùa Kiến Sơ. Pháp Kinh viết Chúng kinh mục lục 6 ĐTK 2146 tờ 144a11 vào năm Khai Hoàng thứ 14 (585) dưới mục Tây phương chư thánh hiền sở soạn tập đã ghi: “Lục độ tập 8 quyển, Khương Tăng Hội đời Ngô dịch”. Năm Khai Hoàng thứ 17 (597), Phí Trường Phòng viết Lịch đại tam bảo ký 5 ĐTK 2034 tờ 36b24 đã nói: “Năm Thái Nguyên thứ nhất (251) ở Dương đô chùa Kiến Sơ dịch các kinh Lục độ tập v.v... 4 bộ 16 quyển”. 

Hơn mười năm sau vào năm Nhân Thọ thứ 2 (603) Ngạn Tôn soạn Chúng kinh mục lục 2 ĐTK 2147 tờ 161b7 lại xếp “Lục độ tập 8 quyển, Khương Tăng Hội đời Ngô dịch” vào mục Hiền thánh tập truyền. Tỉnh Thái cũng ghi như vậy trong Chúng kinh mục lục 2 ĐTK 2148 tờ 195a28 viết năm Lân Đức thứ nhất (664). Đạo Tuyên soạn Đại đường nội điển lục 2 ĐTK 2149 tờ 230a6-c23 chép: “Lục độ tập kinh 9 quyển, một chỗ gọi Lục độ vô cực kinh, một gọi Độ vô cực kinh, một gọi Tạp vô cực kinh. Xem Trúc Đạo tổ lục và Tam tạng ký (...) Đời Tề vương nhà Ngụy trong năm Chính Thỉ (241-249) sa môn Thiên Trúc Khương Tăng Hội (...) ở chùa Kiến Sơ dịch ra...” 

Minh Thuyên viết Đại châu san định Chúng kinh mục lục lược ghi ý kiến của Đạo Tuyên, nói: “Lục độ tập kinh 1 bộ 8 quyển 145 tờ, một tên Lục độ vô cực kinh, một tên Độ vô cực kinh, một tên Tạp vô cực kinh. Trên đây do Khương Tăng Hội đời Ngô dịch ở Vũ Xương. Rút từ Nội điển lục”. Tỉnh Mại soạn Cổ kim dịch kinh đồ ký 1 ĐTK 2152 tờ 352a26-b22 ghi: “Sa môn Khương Tăng Hội là con trưởng của đại thừa tướng nước Khương Cư (...) vào năm Thái Nguyên thứ 2 nhà Ngô nhằm năm tân mùi ở Dương đô dịch Lục độ tập kinh 9 quyển, Ngô Phẩm kinh 5 quyển (...)” 

Trí Thăng trong Khai nguyên thích giáo lục 2 ĐTK 2154 tờ 490b4-491b23 nhận ra năm Thái Nguyên Tân Mùi là thứ nhất, chứ không phải thứ hai, đã viết: “Lục độ tập kinh 8 quyển, hoặc 9 quyển, hoặc gọi Lục độ vô cực kinh, hoặc gọi Độ vô cực tập, hoặc gọi Tạp vô cực kinh. Xem Ngô lục của Trúc Đạo Tổ và Tăng Hựu lục (...) sa môn Khương Tăng Hội (...) vào năm Thái Nguyên thứ nhất tân mùi (251) của Tôn Quyền ở chùa Kiến Sơ do mình lập, dịch các kinh Lục độ...” Viên Chiếu sao lại toàn bộ ý kiến của Trí Thăng trong Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục 3 ĐTK 2157 tờ 787c4-788c21. 

Qua các kinh lục, ta thấy Lục độ tập kinh có 8 hoặc 9 quyển và được gọi bằng nhiều tên như Lục độ tập, Lục độ vô cực kinh, Độ vô cực kinh hay Tạp vô cực kinh. 

Truyền bản bây giờ có 8 quyển và có tên Lục độ tập kinh. Chúng ta chấp nhận tên gọi này. Về niên đại, tất cả các kinh lục đều nhất trí nói Khương Tăng Hội dịch Lục độ tập kinh ở chùa Kiến Sơ tại Trung Quốc. Điều này có nghĩa Hội phải dịch nó sau năm 247. Tăng Hựu, Huệ Hạo, Pháp Kinh, Ngạn Tôn, Tỉnh Thái và Đạo Tuyên không nói rõ Hội đích xác dịch vào năm nào, chỉ biết trong koảng 222-258, hoặc ngắn hơn trong khoảng 241-249. 

Nhưng đến Phí Trường Phòng, Tỉnh Mại, Trí Thăng và Viên Chiếu, họ đồng ý đặt thời điểm dịch Lục độ tập kinh vào năm Thái Nguyên Tân Mùi của Tôn Quyền nhà Đông Ngô, tức năm 251. Trong tình hình tư liệu hiện nay, nếu chỉ giới hạn niên đại 251 này cho Lục độ tập kinh chúng ta tất không có một phản bác nào. Tuy nhiên, vì Tỉnh Mại và Trí Thăng đều có ý muốn nói các tác dịch phẩm khác của Khương Tăng Hội cũng được thực hiện vào thời điểm đó hay sau nó không lâu, nên vấn đề nảy sinh. Trong năm tác phẩm dịch hiện còn của Khương Tăng Hội, đó là Lục độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh, An ban thủ ý kinh chú giải, An ban thủ ý kinh tự và Pháp kính kinh tự thì 4 trong số chúng đã có những dấu hiệu nội hay ngoại tại cho thấy chúng được hoàn toàn thành hay chuẩn bị tư liệu trước năm 247 khá lâu, trừ Lục độ tập kinh.

Cụ thể là An ban thủ ý kinh tự và An ban thủ ý kinh chú giải. Nội dung An ban thủ ý kinh tự trong Xuất Tam tạng ký tập 6 ĐTK 2154 tờ 43b18-c1 nói An Thế Cao đến “ở kinh sư”, nói Khương Tăng Hội “mới biết vác củi, cha mẹ chết mất, ba thầy viên tịch, ngữa trông mây trời, buồn không biết hỏi ai, nghẹn lời xem quanh, lệ rơi lã chã. Nhưng phước xưa chưa hết, may gặp Hàn Lâm từ Nam Dương, Bì Nghiệp từ Dĩnh Xuyên, Trần Tuệ từ Cối Kê (...) Tôi theo xin hỏi, thước giống góc khít, nghĩa không sai khác. Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước, chẳng phải lời thầy thì không truyền, không dám tự do...”. 

Căn cứ An ban chú tự của Đạo An trong Xuất Tam tạng ký tập 6 tờ 43c22-23, ta biết: “Đầu đời Ngụy, Khương Hội viết chú nghĩa. Nghĩa hoặc có chỗ chìm chưa rõ, An trộm không tự lượng mình, dám nhân người trước, giải thích ở dưới”. Vậy, theo Đạo An, Khương Tăng Hội đã viết An ban thủ ý kinh chú giải vào “đầu đời Ngụy” (Ngụy sơ). Nhà Ngụy do con Tào Tháo là Tào Phi thành lập năm 221 và chấm dứt năm Hàm Hy thứ nhất (265) của Nguyên đế Tào Hoán, kéo dài được 45 năm. Cho nên nếu Hội viết An ban thủ ý kinh chú giải vào đầu đời Ngụy thì ông phải viết nó vào khoảng những năm 221-230, tức những năm đầu của nhà Ngụy, chứ không thể sau những năm 247 hay 251 trở đi được. 

Chính vì viết giữa khoảng 221-230, Khương Tăng Hội mới nói An Thế Cao đến “ở kinh sư”, nhằm chỉ Lạc Dương, kinh đô nhà Hán cũng như nhà Ngụy. Và chính trong khoảng đó, lúc Hội trên dưới 20 tuổi, tang cha mẹ và thầy mới để lại những ấn tượng đau buồn sâu sắc thể hiện trong đoạn văn dẫn trên của lời tựa. Việc viết An ban thủ ý kinh chú giải cùng lời tựa do thế chắc chắn không thể xảy ra sau năm 247 hay 251, như các nhà kinh lục đã có. 

Cựu tạp thí dụ kinh cũng vậy. Ta ngày nay tuy không thể nào xác định chắc chắn Khương Tăng Hội dịch nó vào thời điểm nào, nhưng có thể nghĩ Hội phải chuẩn bị khá sớm cho công trình phiên dịch ấy. Lý do nằm ở chỗ 14 đoạn văn bình luận sau 13 truyện của bản kinh đó đã được Hội bảo là do “thầy nói” (sư viết). “Thầy” đây không chỉ một người nào khác hơn là vị thầy của Hội, như sẽ thấy dưới đây, khi nghiên cứu về Cựu tạp thí dụ kinh. Một khi các đoạn bình luận ấy là của vị thầy của Hội, điều hiển nhiên là Hội đã ghi chép chúng lại, trong khi thầy giảng Cựu tạp thí dụ kinh cho Hội nghe. Song có lẽ mới giảng được 13 truyện thì thầy đau bịnh và đột ngột từ trần (điêu táng). Cho nên, ngày nay chỉ có 14 đoạn văn bình luận vừa nói. 

Từ đó, ta có thể rút ra kết luận là Cựu tạp thí dụ kinh là một văn bản được ghi chép lại khá sớm trong toàn bộ sự nghiệp phiên dịch trước tác của Khương Tăng Hội. Quá trình hình thành văn bản đó có thể giải thích như sau. Ông đã chép lại một nguyên bản tiếng Việt. Rồi thầy ông, từng buổi học, giảng cho ông một truyện. Mỗi buổi giảng xong một truyện, vị thầy đã tóm tắt ý chính và Khương Tăng Hội ghi lại bên lề. Chính nhờ lối ghi chép cẩn thận và trân trọng này, ta mới không thấy có rối loạn, dù các truyện có bình luận không được xếp đặt theo một thứ tự nhất định, từ truyện 4, rồi 6, 7 tới 9, 13, 14, 17, 18, 19, 22, 26, 32 và 40. 

Qua phân tích 3 trường hợp hiện biết trên, tức An ban thủ ý kinh tự, An ban thủ ý kinh chú giải và Cựu tạp thí dụ kinh, ta nhận ra một sự thực là quan điểm của các nhà kinh lục về niên đại của một số tác dịch phẩm của Khương Tăng Hội là không thể chấp nhận được, đặc biệt khi họ bảo chúng được thực hiện “tại chùa Kiến Sơ do Hội sáng lập” ở Trung Quốc. Tối thiểu 4 trong 5 tác dịch phẩm hiện còn, ta biết chắc chắn đã viết hay chuẩn bị tư liệu tại nước ta, như đã thấy. Vì thế, khi Phí Trường Phòng, Tỉnh Mại và Trí Thăng bảo Lục độ tập kinh được dịch “vào năm Thái Nguyên thứ nhất tân mùi (251) của Tôn Quyền ở chùa Kiến Sơ”, ta không thể hoàn toàn tin được. 

2. VẤN ĐỀ BẢN ĐÁY

Điểm lôi cuốn nằm ở chỗ nếu như ta chấp nhận niên đại 251 này, vấn đề chưa phải đã chấm dứt. Ai từng đọc Lục độ tập kinh cũng đều thấy văn từ và nội dung nó chứa đựng một số nét làm cho người ta nghi ngờ nó có phải là một dịch phẩm từ một nguyên bản tiếng Phạn không. Thực tế, ngay vào thế kỷ thứ VI sdl, Pháp Kinh khi viết Chúng kinh mục lục đã xếp nó vào loại tác phẩm “do các thánh hiền phương Tây soạn tập”. Quan điểm này sau đó đã được Ngạn Tôn và Tỉnh Thái tán đồng, khi họ viết các bản kinh lục của mình và xếp Lục độ tập kinh vào loại “hiền thánh tập truyền do hiền thánh soạn”, mà không nói đến “phương Tây” nữa. 

Thế đã rõ. Càng đọc kỹ Lục độ tập kinh, người ta càng thấy nó bộc lộ nhiều dấu vết cho phép giả thiết nếu không nói là khẳng định, nó “do thánh hiền soạn ra”. Và “thánh hiền” đây không còn nhất thiết là “phương Tây” nữa. Bởi vì nó chứa đựng những dữ kiện, mà dù “thánh hiền phương Tây” cũng không thể thốt ra được. Chẳng hạn, truyện 49 của Lục độ tập kinh 5 ĐTK 152 tờ 28a22-24 có câu phát biểu của anh thợ săn nói rằng: “(Tôi) ở đời lâu năm, thấy nho sỹ tích đức làm lành, há có bằng đệ tử Phật quên mình cứu mọi người, ở ẩn mà không dương danh ư?” Rõ ràng “thánh hiền phương Tây” không thể có một phát biểu như thế “về nho sĩ” được. Bởi “phương Tây” thời ấy không có “nho sĩ”. 

Phát biểu đó do vậy phải được thốt ra từ miệng một “thánh hiền phương Đông”, và trong trường hợp này lại là một “thánh hiền” của nước ta, đến năm 251 Khương Tăng Hội mới dịch ra tiếng Trung Quốc bản Lục độ tập kinh ngày nay. Bản kinh đây từ đấy chứa đựng những dữ kiện không thể xuất phát từ nguyên bản Phạn văn cho Khương Tăng Hội dịch được. Khương Tăng Hội phải dùng một nguyên bản đã có cải biên các truyện của truyền thống Phạn văn hay Pali, để có thể cho phép các phát biểu loại dẫn trên xuất hiện. Thực tế, không phải chỉ có truyện 49 mới có hiện tượng phát biểu ấy. Một số truyện khác của Lục độ tập kinh cũng được “thánh hiền phương Đông” canh cải và biên tập lại. 

Chẳng hạn, truyện 86, Nho đồng thọ quyết. Đây là một truyện tiền thân mà cốt lõi ta hiện thấy trong Phạn bản Lalitavistara và Hán bản Phổ diệu kinh do Chi Khiêm dịch đồng thời với Khương Tăng Hội. Thế nhưng, nếu so sánh hai bản Phạn và Hán này với truyện 86, chúng ta một lần nữa thấy truyện nhiều lần nhắc đến “chúng nho”, “quốc nho”, “chư nho” và gắn cho họ những quan điểm kỳ thị, bảo thủ, lạc hậu đáng phê phán, mà hai bản kia không có. Rõ ràng, đây là một bộc lộ quan điểm của người biên tập Lục độ tập kinh đối với nho giáo, một lối phê phán gián tiếp học thuyết ấy, một học thuyết không phải không có những nhược điểm cơ bản. Nó do vậy chỉ thể hiện quan điểm của người biên tập, chứ không thể có trong nguyên bản chữ Phạn được. 

Người biên tập từ đó không thể là một “thánh hiền phương Tây”, vì hệ tư tưởng nho giáo không tồn tại ở “phương Tây”. Ngược lại, ông phải là một thánh hiền “phương Đông”, mà cụ thể là nước ta, vì hệ tư tưởng ấy lúc đó không chỉ tồn tại, mà còn ra sức tấn công vào thành trì văn hóa dân tộc ta. Việc phê phán nó do thế trở thành một yêu cầu tất yếu, nếu không nói là quan tâm hàng đầu của bất cứ một công trình lý luận nào của dân tộc, trong đó có cả Phật giáo dân tộc. Lục độ tập kinh vì không phải dịch trực tiếp từ các nguyên bản Phạn văn, nên phải ít nhiều đáp ứng yêu cầu quan tâm vừa nói trong khi biên tập. Thế người biên tập phải chăng là Khương Tăng Hội. 

Sống gần như sát thời với Hội, Đạo An viết Thập pháp cú nghĩa kinh tự, mà Tăng Hựu chép lại trong Xuất Tam tạng ký tập 10 ĐTK 2145 tờ 70a11-13, đã nói: “Xưa Nghiêm Điều soạn Thập huệ chương cú, Khương Tăng Hội tập Lục độ yếu mục, mỗi tìm dấu chúng, vui vì có hiểu, nhưng vẫn có phiến, truyền lâu chưa chép. Nay sao sắp xếp, đặt tên Thập pháp cú nghĩa”. Vậy, ngoài dịch Lục độ tập kinh, ta biết Khương Tăng Hội có (biên) tập Lục độ yếu mục, Lục độ yếu mục có nội dung gì, ta ngày nay không thể biết được, bởi vì nó thất lạc tương đối sớm, đến nổi các kinh lục xưa nhất và sau đó không một bộ nào đã ghi nó vào danh sách các tác phẩm dịch phẩm của Khương Tăng Hội. 

Có thể nó gồm những đoạn giới thiệu về độ hiện thấy trong Lục độ tập kinh? Ta không thể khẳng định được. Điều chắc chắn là Khương Tăng Hội đã có một quan tâm đặc biệt về tư tưởng lục độ, nên đã viết một tập riêng về các “yếu mục” của tư tưởng đó. Thực tế, nếu so sánh những gì hiện biết về quan điểm của Hội đối với Nho giáo với những phát biểu dẫn trên của Lục độ tập kinh, ta thấy có một sai khác đáng chú ý. Truyện của Hội trong Xuất Tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a17 và trong Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13, mà sau này các bản kinh lục đều chép lại với một vài thêm bớt không đáng kể, đều ghi quan điểm của Hội là “cách ngôn của sách Nho tức cũng là minh huấn của Phật giáo”, “tuy lời Châu Khổng lược bày việc gần rõ, còn đến Phật dạy thì đủ tới u viễn”. 

Quan điểm này tất không thể nào phù hợp hoàn toàn với quan điểm phát biểu trong truyện 49 và 86. Trong những truyện ấy, ngay cả cách ngôn nhà Nho liên hệ với chuyện “rõ gần” (hiển cận), như vợ chồng, danh tiếng v.v... cũng bị đả kích mạnh mẽ, không thương tiếc. Cho nên, về mặt tư tưởng có một sai khác đáng kể giữa quan điểm của Lục độ tập kinh và bản thân Khương Tăng Hội. Từ đó, dù Đạo An có nói tới việc Hội “biên tập” một tác phẩm nhan đề Lục độ yếu mục, ta cũng không thể đơn giản đồng nhất Lục độ yếu mục này với Lục độ tập kinh hay một bộ phận của nó, và coi Lục độ tập kinh là do Hội biên tập. 

Không những về mặt quan điểm mà về mặt văn từ, Lục độ tập kinh hiện nay chứa đựng một số lượng lớn các câu chữ mang sắc thái văn hóa Viễn Đông, tức văn hóa Trung Quốc và Việt Nam. Cụ thể là các từ nhân nghĩa (truyện 48), nhân đạo (41, 84), bất nhân (11, 43), nhân hiếu (45), nhân ái (57), nhân từ (91), thành tín (91), các câu “quân nhân, thần trung, phụ nghĩa, tử hiếu, phu tín, phụ trinh”, (70, 67), “gia hữu hiểu tử” (82), “bất nhân nghịch đạo” (11) v.v... Các từ và câu này chiếm một tỉ lệ khá cao trong toàn bộ bản văn Lục độ tập kinh, tạo nên ấn tượng “văn tsừ điển nhã”, như Thang Dụng Đồng đã nhận định [6]và đã dẫn họ Thang đến việc coi Lục độ tập kinh không phải do Khương Tăng Hội dịch, mà do Hội viết. 

Sự thực, những phân tích tư tưởng trên cho thấy không thể kết luận Khương Tăng Hội đã biên tập Lục độ tập kinh. Ấn tượng “văn từ điển nhã” ấy có được là do khi dịch Lục độ tập kinh, Khương Tăng Hội đã sử dụng một bản đáy tiếng Việt, thay vì tiếng Phạn. Chính nhờ căn cứ vào bản đáy Lục độ tập kinh tiếng Việt này, Khương Tăng Hội mới có được một bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc mang tính “văn từ điển nhã” vừa thấy. Nói cách khác, Hội đã không dịch Lục độ tập kinh từ nguyên bản tiếng Phạn, vì bản kinh này ngày nay chứa đựng những phê phán đối với Nho giáo, mà nguyên bản chữ Phạn khó có thể có được. Và Hội cũng không thể viết bản kinh đó, vì quan điểm phê phán Nho giáo của Lục độ tập kinh không phù hợp với quan điểm của Hội đối với Châu Khổng. 

Vì thế, ấn tượng “văn từ điển nhã” bắt nguồn từ việc Khương Tăng Hội đã sử dụng một bản đáy Lục độ tập kinh tiếng Việt với một hệ thống văn từ Phật giáo đã được Việt hóa mang sắc thái văn hóa Viễn Đông, để dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc hiện nay. Sự kiện Khương Tăng Hội sử dụng những bản đáy tiếng Việt cho công tác dịch thuật không phải không xảy ra trong những trường hợp khác, mà cụ thể là Cựu tạp thí dụ kinh. 

Cựu tạp thí dụ kinh với 14 đoạn bình luận cho 13 trong số 61 truyện của nó và được Khương Tăng Hội ghi là “Thầy nói” (sư viết) rõ ràng chứng tỏ một nguyên bản đã tồn tại để cho “thầy” Hội dùng mà giảng cho Hội và đưa ra những đoạn bình luận ấy. Hội do thế dứt khoát không thể biên tập Cựu tạp thí dụ kinh. Bản kinh này đã có trước thời Hội. Căn cứ vào những cấu trúc tiếng Việt hiện có trong bản Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Trung Quốc ngày nay, ta có thể kết luận thêm ngôn ngữ của bản kinh đó là tiếng Việt. Nói thẳng ra, Cựu tạp thí dụ kinh được Khương Tăng Hội dịch ra từ một nguyên bản tiếng Việt của nó. 

Chỉ với một kết luận như vậy, ta mới lý giải sự kiện tại sao những lời bình luận của thầy Hội lại xuất hiện trong Cựu tạp thí dụ kinh. Chúng xuất hiện nhờ Hội đã chép toàn bộ bản kinh và ghi lại những lời bình luận của thầy vào một truyện nào đó do thầy ông giảng. Một khi đã thế, ta không có một đòi hỏi tất yếu nào buộc ta phải giả thiết, chứ khoan nói chi đến việc khẳng định, Lục độ tập kinh là do Khương Tăng Hội viết, chứ không phải do ông dịch, như các bản kinh lục đã ghi. Sự thật, nếu phân tích kỹ hơn Lục độ tập kinh về mặt văn bản học, ta sẽ phát hiện ra một số cấu trúc ngữ học bất bình thường trong các truyện của nó. 

Chính những cấu trúc ngữ học bất bình thường này sẽ đánh tan ấn tượng “văn từ điển nhã” vừa nói, bởi vì với những cấu trúc bất bình thường ấy làm sao văn từ của Lục độ tập kinh “điển nhã”. Không những thế, chúng còn giúp củng cố kết luận trên về việc Khương Tăng Hội đã sử dụng một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt để dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc. Thế thì, những cấu trúc ngữ học bất bình thường trong Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc ngày nay là gì? 

3. NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC CỦA LỤC ĐỘ TẬP KINH

Trong các tác phẩm hiện còn của Khương Tăng Hội, thì Lục độ tập kinh giữ một vai trò xung yếu đặc biệt. Xung yếu bởi vì xuyên qua nó, chúng ta tìm hiểu được quá trình tác động hỗ tương giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam trong những ngày đọ sức gay go và khốc liệt đầu tiên này. Nó cho ta biết những tư tưởng giáo lý gì của Phật giáo đã được truyền vào cho dân tộc ta, và ngược lại, dân tộc ta đã tiếp thu những gì từ Phật giáo. Không những thế, vì Khương Tăng Hội sinh ra, lớn lên và được đào tạo tại Việt Nam, nên Lục độ tập kinh cũng để cho thấy những dấu ấn của nền văn hóa Việt Nam, và từ đó, ta có thể tái lập lại một phần nào diện mạo của nền văn hóa đó trong những giờ phút đọ sức gay go, khốc liệt đầy ngỡ ngàng và không tương xứng ấy. 

Lục độ tập kinh hay Tập hợp các kinh về sáu hạnh vượt bờ của bồ tát, bây giờ được xếp vào bộ Bản duyên và in vào Đại tạng kinh số 152. Nó được ghi là do “Sa môn Khương Tăng Hội nước Khương Cư đời Ngô dịch”. Khương Tăng Hội cha gốc người Khương Cư (Sogdiane) qua buôn bán ở nước ta, rồi sinh Khương Tăng Hội, nên nói ông là người nước Khương Cư cũng không có gì lạ. Ông dịch Lục độ tập kinh vào khoảng năm 251, tức bốn năm sau khi ông qua truyền giáo ở Kiến Nghiệp, nên nói dịch vào đời nhà Ngô của Trung Quốc cũng không có gì là quá đáng. Điều đáng lấy làm lạ là Lục độ tập kinh có phải do Khương Tăng Hội dịch hay không? và nếu dịch thì ông đã dùng nguyên bản nào để dịch ra? 

Trả lời câu hỏi thứ nhất, giáo sư Thang Dụng Đồng [7]của Trường Đại học Bắc Kinh trước đây đã gợi ý Lục độ tập kinh không phải là một dịch phẩm, vì “văn từ” nó quá “điển nhã”. Thực tế, nhận xét nầy phải nói là đầy sáng tạo và khá hàm súc. Những ai đã từng đọc qua Lục độ tập kinh thì không thể nào không có một ấn tượng như thế. Khương Tăng Hội đã sử dụng lối văn bốn chữ khá sắc sảo và tương đối nhuần nhuyễn cũng như huy động được vốn từ ngữ mang nặng màu sắc Trung Quốc cũng như Việt Nam, nên khi đọc lên, ta nghe gần gũi, có cảm tưởng như một bản văn viết, chứ không phải là một bản dịch từ một nguyên bản chữ Phạn hay một phương ngôn nào đó của Ấn Độ. Một kiểm tra thực tế xác nhận cảm tưởng đó. Những từ như “nhân nghĩa”, “hiếu thuận”, “nho đức” v.v... tất nhiên không thể tìm thấy trong tiếng Phạn. 

Và những câu: 

Nam hữu vi ngẫu 

Tự cổ nhiên hỉ 

Nam hiền nữ trinh 

Thành diệc nam tỷ 

Hay là: 

Phụ ly sở thiên 

Chích hành nhất túc 

Chúng hữu nghi vọng 

Khởi huống tuần sóc 

Rồi những đoạn phê phán Nho giáo như thế nầy trong truyện 49 ĐTK 152 tờ 28a22-4 thì không thể tìm thấy trong các sách văn học Phật giáo Ấn Độ thời Khương Tăng Hội: “Tôi ở đời đã lâu năm, tuy thấy nho sỹ chứa đức làm thiện, nhưng há có kẻ như đệ tử Phật quên mình cứu người, ở ẩn mà không dương danh đó sao?”. Ngoài ra, còn có những truyện được cải biên, thêm thắt yếu tố Lạc Việt vào, như trường hợp truyện 23 nói tới trăm trứng, mà chúng tôi sẽ bàn dưới đây [8]Và cónhững truyện dứt khoát không thể có nguồn gốc Ấn Độ, như truyện 69 kể việc người con đào mả, lấy vàng liệm trong miệng cha mình v.v... Tuy nhiên, nếu đọc kỹ hơn, chúng ta phát hiện một sự kiện hết sức lạ lùng, nhưng rất quan trọng và có nhiều ý nghĩa đối với không những lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn lịch sử văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Sự kiện đó là trong một số câu của Lục độ tập kinh, Khương Tăng Hội đã không viết đúng theo ngữ pháp Trung Quốc, mà lại theo ngữ pháp Việt Nam, cụ thể là: 

1. Truyện 13 ĐTK 152 tờ 7c13 “Vương Cập phu nhân, tự nhiên hoàn tại bản quốc trung cung chính điện thượng tọa, như tiền bất dị...” 

2. Truyện 14 ĐTK 152 tờ 8c5 “. . . Nhĩ vương giả chi tử, sinh cư vinh lạc, trưởng ư trung cung...” ĐTK 152 tờ 9b27: “... Lưỡng nhi đổ chi, trung tâm đát cụ...” 

3. Truyện 26 ĐTK 152 tờ16 b 2: “... Thủ thám tầm chi, tức hoạch sắt hỉ, trung tâm sảng nhiên, cầu dĩ an chi...” 

4. Truyện 39 ĐTK 152 tờ21 b 27: “... trung tâm hoan hỉ” 

5. Truyện 41 ĐTK 152 tờ 22 c 12: “Vương bôn nhập sơn, đổ kiến thần thọ” 

6. Truyện 43 ĐTK 152 tờ 24 b 21: “... trung tâm chúng uế...” 

7. Truyện 44 ĐTK 152 tờ 25 a 26: “trung tâm nục nhiên, đê thủ bất vân” 

8. Truyện 72 ĐTK 152 tờ 38 b 25: “Thần đổ tôn linh vô thượng chính chân tuyệt diệu chi tượng lai tại trung đình, thiếp kim cung sự”. 

9. Truyện 76 ĐTK 152 tờ 40a8: “Thần thiên thân lãnh, cửu tộc quyên chi, viễn trước ngoại dã”.

ĐTK 152 tờ40 b 5: “Vị chúng huấn đạo trung tâm hoan hỉ”. 

10. Truyện 83 ĐTK 152 tờ 44 c 1: “Ngô đẳng khước sát nhân súc, dĩ kỳ cốt nhục vi bệ thăng thiên”.

ĐTK 152 45 tờ 45a19: “Ngô đương dĩ kỳ huyết vi bệ thăng thiên”. 

11. Truyện 85 ĐTK 152 tờ 47 b 26:... trung tâm gia yên

ĐTK 152 tờ47 c 16: “... trung tâm đài yên”. 

Như thế, qua 11 truyện với 15 trường hợp, ngữ pháp tiếng Trung Quốc đã không được chấp hành.

Ngược lại, chúng đã được viết theo ngữ pháp tiếng Việt. Trong 15 trường hợp này thì 11 trường hợp liên quan đến chữ chỉ nơi chốn “trung”.

Theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc thì chữ trung luôn luôn đứng sau danh từ hay đại từ mà nó chỉ nơi chốn. Điều này hoàn toàn ngược với ngữ pháp tiếng Việt. Cho nên, khi viết “trung tâm”, “trung cung”, “trung đình” với nghĩa “trong lòng”, “trong cung”, “trong sân”, Khương Tăng Hội rõ ràng đã sử dụng ngữ pháp tiếng Việt, chứ không phải ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Nếu viết theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc, thì “trung cung”, “trung tâm”, “trung đình” phải đổi lại thành “cung trung”, “tâm trung”, “đình trung”. Và việc sử dụng “cung trung”, “tâm trung” không phải là đã không xảy ra trong Lục độ tập kinh. Xem chẳng hạn truyện 77 về “tâm trung” (ĐTK 152 tờ 41b17) hay truyện 15 và 50 về “cung trung” (ĐTK 152 11 b 9 và 29 a 10). “Trung đình” chỉ xuất hiện một lần, nên không có đối chứng. 

Chữ “trung” với nghĩa chỉ nơi chốn “trong” đến thời Vương Dật (k.89-158) và Trịnh Huyền (127-200) chú thích Sở từ và Kinh thi. đã được qui định hẳn là luôn luôn đứng sau danh từ hay đại từ nó chỉ nơi chốn. Thí dụ, khi chú thích chữ “trung châu” trong câu mở đầu của bài Tương quân trong Văn tuyển 32 tờ 12b12-13a1. 

Quân bất hành hề di do 

Kiến thùy lưu hề trung châu. 

Vương Dật đã viết: “Trung châu, châu trung dã”. 

Trịnh Huyền cũng làm thế đối với Kinh thi. Hai chữ “trung cốc” của câu đầu bài thơ Cát đàm trong Mao thi chính nghĩa 1/2 tờ 1a13: 

Cát chi đàm hề 

Thi vu trung cốc 

Duy diệp thê thê. 

Trịnh Huyền đã chua: “Trung cốc, cốc trung giả”. Về “trung tâm” của bốn câu cuối bài Thố ta trong Mao thi chính nghĩa 1/3 tờ 1b13-2a1 cũng vậy: 

Túc túc thố ta 

Thi vu trung lâm 

Củ cù vũ phu 

Công hầu phúc tâm 

“Trung tâm, lâm trung dã”. Xem thêm 12/1 tờ 7b3-4 và 18/2 tờ 5a9 

“Trung a”, “trung chỉ” và “trung lăng” của bài Tình tinh trong Mao thi chính nghĩa 10/1 tờ 9b10 -10a4, “trung trạch” của bài Tiểu uyển (12/3 tờ 1b3-4) và “trung điền” của bài Tín nam sơn (13/2 tờ 12a 5-6) đều được Trịnh Huyền giải thích là “a trung”, “chỉ trung”, “lăng trung”, “trạch trung”, “nguyên trung” và “điền trung”. Vị trí chử “trung” như một giới từ chỉ nơi chốn đến thế kỷ thứ II sdl như vậy được qui định là ở sau danh từ hay đại từ nó chỉ định [9]

Riêng cụm "trung tâm" lần đầu tiên xuất hiện trong bài thơ Chung Phong của Mao thi chính nghĩa 2/1 tờ 9a10-13: 

Chung phong thả bạo 

Cố ngã tắc tiếu 

Ngược lãng tiếu ngạo 

Trung tâm thị điệu 

và Trịnh Huyền không có chú thích gì. Cụm “trung tâm” còn có mặt trong chín bài thơ khác của Kinh thi. Cụ thể là các bài Cốc phong của Mao thi chính nghĩa 2/2 tờ 7a4. Nhị tử thừa châu (2/3 tờ 9b 12), Vương thành (4/1 tờ 3a7 và 4a9-11, Hữu đệ (6/2 tờ 6b12 và 7a7), Trạch pha (7/1 tờ 10b6) và, Cao cừu (7x2 tờ 3a13-b1), Phỉ phong (7/2 tờ 5b11 và 5a5), Đàn cung (10/1 tờ 8a5, 8b11 và 9a5) và Thấp tang (15/2 tờ 7a12). Trong 9 trường hợp này, riêng bài Hữu đệ, Trịnh Huyền có nhắc lại cụm “trung tâm” khi giải thích. Đến thời Khổng Dĩnh Đạt viết sớ cho bộ Mao thi xong vào năm Trinh Quán 16 (638), trong số 10 bài thơ có cụm “trung tâm” thì 6 bài giữ nguyên cụm từ ấy. Đó là Chung phong, Nhị tử, Vương thành, Cao cừu, Đàn cung và Thấp tang. Một bài là Hữu đệ, thì “trung tâm” được giải thích là lòng trung (trung tâm với chữ trung có chữ tâm ở dưới). Một bài, bài Trạch pha, không có một giải thích nào. Còn lại hai bài, tức Cốc phong và Phi phong, cụm “trung tâm” được giải thích là “tâm trung”. 

Ngoài Kinh thi, Lễ ký cũng bốn lần xử dụng cụm “trung tâm”. Một lần ở thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 54 tờ 12a3-4, dẫn đoạn ba của bài Thấp tang của Kinh thi: (Mao thi chính nghĩa 15/2 tờ 7a12). 

Tâm hồ ái hỉ 

Hà bất vị hỉ 

Trung tâm tạng chi 

Hà nhật vong chi. 

Ba lần kia ở thiên Lễ vận và thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 22 tờ 10a7 và tờ 4a7 và tờ 5a1 “trung tâm vô vi”, “trung tâm thảm đát” [10]và “trung tâm an nhân giả, thiên hạ nhất nhân nhi dĩ hỹ”. Trong cả ba lần này, Trịnh Huyền không có giải thích gì thêm, còn Khổng Dĩnh Đạt vẫn giữ nguyên khi viết lời sớ của mình. Tuy nhiên, không phải Lễ ký không biết đến lối viết tiêu chuẩn “tâm trung”. Cụ thể là thiên Nhạc ký của Lễ ký chính nghĩa tờ 9b10. “Tâm trung tư tu, bất hòa bất lạc”. Đặc biệt hơn nữa, khi giải thích chữ “trung” trong câu “lễ nhạc giao thố ư trung, phát hình ư ngoại” của thiên Văn vương thế tử của Lễ ký chính nghĩa 20 tờ 7b13-8a1. Trịnh Huyền đã viết: “Tâm, trung tâm giả”. Như thế rõ ràng đến thế kỷ thứ II sdl, qui định về vị trí của chữ "trung" đối với các danh từ và đại từ được tuân thủ. 

Thực vậy, kiểm soát toàn bộ văn liệu tiếng Trung Quốc từ thế kỷ thứ nhất sdl đến thời Khổng Dĩnh Đạt viết Mao thi chính nghĩa và Lễ ký chính nghĩa vào năm 638, ta thấy cụm “trung tâm” rất ít khi dùng tới. Trong ba thế kỷ từ thế kỷ thứ I -III ngoài Dương Hùng, ta chỉ gặp ba lần dùng cụm “trung tâm”. Một là trong lá thư của Phùng Diển (k.1-65) do Lý Hiền dẫn trong truyện của Diển ở Hậu Hán thư 58 hạ tờ 14a4-6 viết cho Tuyên Mạnh: “Cư thất chi nghĩa, nhân chi đại luận, tư hậu hòa chi tiết, lạc định kim thạch chi cố. Hựu tư thương tiền tào bất lương, tỷ hữu khử lương phụ chi danh, sự thành bất đắc bất nhiên, khởi trung tâm chi sở hảo tại!”. Hai là trong tờ chiếu cải cách lịch của Hán Chương đế viết tháng 2 năm Nguyên Hòa thứ 2 (86) trong Hậu Hán thư 12 tờ 2a5, ta có câu “trung tâm nục yên”. Ba là ngày Đinh Hợi tháng giêng năm Cảnh Sơ thứ 3 (240) Minh đế Tào Duệ băng hà, Tề vương Tào Phương lên ngôi. Tháng 2, Tào Sảng nhằm giảm bớt quyền hành của Tư Mã Ý, đã sai em là Tào Hy viết biểu đề nghị phong Ý từ thái úy lên thái phó. Bài biểu này chép trong Ngụy thư, mà Bùi Tùng Chi cho dẫn trong Ngụy chí 9 tờ 13a12, trong đó có câu “trung tâm quí dịch”. 

Hà Yến và Đặng Dương cùng nhóm với Tào Sảng. Thế thuyết tân ngữ phần hạ của quyển trung tờ 30b11-13 chép việc Yến và Dương nhờ Quản Lạc xủ quẻ. Xủ xong, Lạc dặn phải cẩn thận. Yến lại dẫn 2 câu cuối của bài thơ Thấp tang 

Trung tâm tạng chi 

Hà nhã vong chi 

để trả lời. Hai câu này, Tôn Tú cũng dùng đễ trả lời Phan Nhạc [11]về mối hận với Thạch Sùng, như Thế thuyết tân ngữ phần hạ của quyển hạ tờ 38a8 đã ghi. 

Đến thế kỷ thứ IV, Thế thuyết tân ngữ phần thượng của quyển hạ tờ 9a2-7 chép Chi Tuần (352 - 404), sau khi người bạn đạo của mình là Pháp Kiên tịch, đã nói: “Tri kỷ đã mất, nói ra không ai thưởng thức, trong lòng dồn nén, ta cũng mất thôi”. Câu “trong lòng dồn nén” là dịch cụm “trung tâm uẩn kết”, mà sau khi viết truyện của Tuần trong Cao tăng truyện 4 ĐTK 2059 tờ 349c15-167, Huệ Hạo đã ghi lại và là một lời nhái câu “ngã tâm uẩn kết” của bài thơ Tố quan trong Mao thi chính nghĩa 7/2 tờ 4b6. 

Qua các thế kỷ V-VI không thấy dùng nữa. Đến đầu thế kỷ thứ VII, khi viết Biện chính luận 7 ĐTK 2110 tờ 541a20-22 vào năm 622, Pháp Lâm mới có dịp dùng “trung tâm” trong bài thơ Thanh sơn (Núi xanh) mà bốn câu cuối cùng đọc: 

Huyên phong bạch vân thượng 

Quải nguyệt thanh sơn hạ 

Trung tâm dục hữu ngôn [12]

Vị đắc vong ngôn giả. 

Như vậy cụm từ “trung tâm” từ thế kỷ thứ VI tdl, khi Khổng Tử san định Kinh thi, Thơ và Lễ trở về trước, đang còn được sử dụng khá phổ biến. Nhưng từ thế kỷ thứ I sdl về sau cho đến thời Khương Tăng Hội, việc sử dụng nó cực kỳ hiếm hoi, như ta đã thấy. Trong khoảng 300 năm, nó chỉ được sử dụng ba lần, một trong lá thư của Phùng Diễn, một trong tờ chiếu viết năm 86 của Chương đế và một trong bài biểu năm 240 của Tào Sảng. Những lần do Hà Yến, Tôn Tú và Phan Nhạc dùng tới thì đều đọc lại hay nhái theo thơ của Kinh thi, nên không cần kể ra ở đây. 

Thế mà chính trong giai đoạn đó, một tập sách ngắn như Lục độ tập kinh lại có đến 8 [13]trong 15 trường hợp ngôn ngữ bất bình thường dẫn trên lại sử dụng cụm từ “trung tâm”. Việc sử dụng cụm từ ấy tất nhiên không thể giải thích bằng việc nại đến ảnh hưởng của văn phong Kinh thi. Đành rằng Khương Tăng Hội nắm Kinh thi rất vững, như đã tỏ ra trong khi viết An ban thủ ý kinh tự với sự xuất hiện hai câu cuối của bài thơ Đại đồng. Nhưng như thế thì những nhà văn, nhà thơ lớn Trung Quốc giai đoạn đó như Trương Hành (80-141), Mã Dung (80-167), Thái Ung (130-191), Tào Thực (192-232) v.v..., mà thơ văn ta còn gặp trong Văn tuyển, không biết đến Kinh thi ư? Họ không những biết rất rành rẽ Kinh thi, trái lại còn vận dụng nó một cách điêu luyện và sáng tạo. Vậy mà cụm từ “trung tâm” đã không xuất hiện trong các tác phẩm của họ. Thế tại sao cụm từ ấy lại có mặt một cách dày đặc trong Lục độ tập kinh? 

Câu trả lời tất nhiên là Khương Tăng Hội đã trước mắt chịu ảnh hưởng của cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt. Chính ảnh hưởng này của ngữ pháp tiếng Việt đã cho phép xuất hiện cụm từ “trung tâm” trên trong Lục độ tập kinh vào một giai đoạn, mà chính bản thân người Trung Quốc không còn dùng tới hay họa hoằn có dùng tới thì dùng một cách hạn chế tối đa nghiêm ngặt. Điểm cần nói nữa là 8 trường hợp dùng cụm từ ấy chỉ biểu thị số trường hợp được bảo lưu trong truyền bản hiện nay của Lục độ tập kinh. 

Có khả năng số lần dùng “trung tâm” lớn hơn nhiều, bởi vì hiện có cũng 8 trường hợp sử dụng cấu trúc “trung tâm” theo đúng ngữ pháp Trung Quốc thời Khương Tăng Hội ở các truyện 64 (tờ 34 c1), 74 (tờ 39a13, b11 và c4), 77 (tờ 41b17), 79 (tờ 42a19), 81 (tờ 43b23) và 82(tờ 43c26-27). Tự nguyên ủy, những cấu trúc đó có thể là “trung tâm” chứ không phải là “tâm trung”, như ta hiện có. Nhưng qua quá trình lưu hành bằng sao chép từ khoảng năm 251 cho đến năm 972 - 983 khi Đại tạng kinh Phật giáo Trung Quốc lần đầu tiên được lệnh Tống thái tổ cho khắc bản, một số câu chữ của Lục độ tập kinh bị nhuận sắc, sửa đổi, thậm chí chép lầm và sai. Trong số ấy có khả năng 8 trường hợp “tâm trung” vừa liệt kê. 

Người ta có thể hỏi nếu quá trình nhuận sắc, sửa đổi hay chép lầm đã xảy ra, thì tại sao nó chỉ xẩy ra trên một nửa số trường hợp, mà không đụng chạm đến một nửa số kia trong toàn 91 truyện của Lục độ tập kinh? Câu trả lời là vì Lục độ tập kinh đã lưu hành dưới những dạng bản khác nhau. Ngay thời Tăng Hựu viết Xuất Tam tạng ký tập, ông đã thống kê được 22 kinh (tức truyện) của Lục độ tập kinh lưu hành dưới dạng đơn hành bản, như chúng tôi đã vạch ra ở trên. Cho nên, quá trình sao chép, nhuận sắc, sửa đổi cũng không thể xảy ra một cách đồng loạt và nhất quán. Từ đó, ta có thể giải thiết 8 cấu trúc “tâm trung” hiện nay có khả năng là một nhuận chính theo hướng Trung Quốc hóa ngữ pháp của cấu trúc “trung tâm” 

Vậy, sự có mặt của những cấu trúc “trung tâm” này xác nhận một cách không chối cãi ảnh hưởng của ngữ pháp tiếng Việt đối với bản dịch Lục đô tập kinh tiếng Trung Quốc hiện nay. Chính xuất phát từ ảnh hưởng ấy, mà 2 trường hợp “trung cung” và một trường hợp “trung đình”, chúng tôi cũng xử lý theo cách xử lý “trung tâm”, tuy biết rằng “trung cung” và “trung đình” chỉ những sự vật cụ thể theo tiếng Trung Quốc, từ đó chữ “trung” không có nghĩa “trong”, mà có nghĩa là “giữa”. Chẳng hạn lời tâu của Lý Cố chép trong Hậu Hán thư 93 tờ 4b10 đề nghị vua “khá khiến trung cung rộng chọn gái đẹp …” Hay lời tâu của Lục Khải trong Ngô chi 16 tờ 7a13 nói: “Nay trung cung số muôn không đủ người đẹp” v.v… 

Chữ “trung đình” cũng thế. “Trung đình” là “sân giữa”, đối lập với “tiền đình” và “hậu đình”. Bài thơ Vịnh sử thứ 3 của Tả Tư trong Văn tuyển 21 tờ 3a9 có câu: 

Liên tỷ diệu tiền đình 

Tỷ chi do phù vân 

Hay bài Kim cốc tập tác thi của Phan Nhạc trong Văn tuyển 20 tờ 22a7-8 có hai câu: 

Tiền đình thị sa đường 

Hậu viên thực ô tỳ. 

Về hậu đình, ai cũng biết hai câu thơ nổi tiếng của Phan Nhạc trong Tây chinh phú của Văn tuyển 10 tờ 13b7-8: 

Giáo diện triều nhi hoán binh 

Thứ hậu đình chi ý mỵ 

Về trung đình, thiên Đàn cung của Lễ ký chính nghĩa 6 tờ 4b8 đã nói tới việc “Khổng Tử khóc Tử Lộ ở trung đình”. Rồi Trường môn phú của Tư Mã Tương Như (179-117 tdl.) trong Văn tuyển 16 8b6 viết: 

Vọng trung đình chi cát cát hề 

Nhược lý thu chi giáng sương 

Ban Cố sáng tác Lưỡng độ phú trong Văn tuyển 1 tờ 6a11 cùng nói: 

Liệt chung cừ ư trung đình 

Lập kim nhân u đoan vi 

Đến Huệ Hạo soạn Cao tăng truyện 10 ĐTK 2059 tờ 390c4-7 đã kể việc “lô đồ” của Bôi Độ để ở trung đình. Gần cả ngàn năm sau, Huyền Quang (1254-1334) của nước ta trong chùm thơ về hoa cúc còn nói: 

Hoa tại trung đình nhân tại lâu 

Phấn hương độc tọa tự vong âu 

Chú nhân dự vật hồn vô cạnh 

Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu 

Như vậy, dù biết “trung cung” và “trung đình” trong tiếng Trung Quốc là những danh từ ghép chỉ những sự vật cụ thể, chúng tôi vẫn tách riêng chúng ra, coi chúng có cấu trúc tiếng Việt kiểu cụm từ “trung tâm” và hiểu theo nghĩa tiếng Việt. Kết quả là ý nghĩa vẫn thông suốt, không có một chút khiên cưỡng nào. 

Bốn trường hợp còn lại, trường hợp thứ nhất là việc dùng chữ “thần thọ”. Chữ này nếu hiểu theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc thì có nghĩa là “cây thần”, như đã thấy trong Bính Nguyên Biệt truyện do Bùi Tùng Chi dẫn trong truyện Bính Nguyên của Ngụy chí 11 tờ 16 a 2. Truyện kể Bích Nguyên thanh liêm, đi đường gặp tiền rơi, nhặt treo lên cây bên đường. Dân thấy cây có tiền treo “gọi là cây thần” (Vị chi thần thọ). Nếu hiểu theo ngữ pháp tiếng Việt, nó chỉ đơn giản có nghĩa là “thần cây”. Chữ "thọ" trở thành một tá âm. Nó cũng xuất hiện trong truyện 25 của Cựu tạp thí dụ kinh quyển thượng ĐTK 106 tờ 515a20. Cấu trúc nó giống như cấu trúc “tượng Phật" của truyện 31 trong Tạp thí dụ kinh quyển Hạ ĐTK 105 tờ 510a5. Nó biểu thị cho cấu trúc bổ từ đi sau chữ được bổ nghĩa mà ta thấy xuất hiện khá phổ biến trong Lục độ tập kinh, như sẽ thấy dưới đây.Trong những lần khác, để diển tả ý niệm “thần cây” luôn luôn được viết một cách nghiêm chỉnh là “thọ thần”. Xem chẳng hạn truyện 5 ĐTK 152 tờ 2c13, truyện 43 ĐTK 152 tờ 24c26, và ngay trong truyện 41 ĐTK 152 tờ 22c15 vài dòng thì ta lại gặp “thọ thần”. Trường hợp thứ hai liên quan đến chữ chỉ nơi chốn “ngoại”. Giống như trường hợp chữ “trung”, với chức năng một chữ chỉ nơi chốn, nó phải đặt sau danh từ hay đại từ nó chỉ, thì mới đúng theo ngữ pháp Trung Quốc. Ở đây, nó được đặt trước theo kiểu nói của ngữ pháp Việt Nam. Hai trường hợp còn lại liên hệ đến nhóm từ “bệ thăng thiên” với nghĩa “bệ lên trời”. “Thăng thiên” như một bổ từ cho “bệ” thì theo ngữ pháp Trung Quốc không thể đi sau “bệ”. Một lần nữa “bệ thăng thiên” là một kiểu nói theo ngữ pháp Việt Nam. 

Việc sử dụng bổ từ đi sau chữ được bổ nghĩa xuất hiện khá phổ biến trong Lục độ tập kinh. Nếu hai trường hợp “thần thọ” và “bệ thăng thiên” có bổ từ là danh từ và động từ, thì trong những trường hợp dưới đây, bổ từ là các tính từ, mà tính từ với chức năng bổ nghĩa cho danh từ, cứ theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc thì phải luôn luôn đi trước danh từ, một hiện tượng hoàn toàn trái ngược với ngữ pháp tiếng Việt. Ta nói "trời xanh" người Trung Quốc nói "thanh thiên". Tuy vậy, trong các trường hợp dưới đây, dù Lục độ tập kinh là một dịch bản tiếng Trung Quốc, ta vẫn gặp: 

1. “Giới cụ hạnh cao” (truyện 2 tờ 1b15 và c21, 16 tờ 11c28, 21 tờ 13c3, 49 tờ 28c5, 49 tờ 28c5, 55 tờ 32b12, 73 tờ 38c11 và 76 tờ 40b19). 

2. “Chính khoan dân phú” (truyện 8 tờ 3c15 

3. “Chính hà dân khốn” (truyện 46 tờ 26c17) 

4. “Quốc phong dân khang” (truyện 8 tờ 4a14, 43 tờ 25a9 -10) 

5. “Tính tà hạnh nghiệt” (truyện 22 tờ 13c29) 

6. “Quốc phong dân phú” (truyện 15 tờ 11c3, 52 tờ 30a13) 

7. “Chấp tháo bạo ngược” (truyện 10 tờ 5a23) 

8. “Thân thể liêu lệ, diện xô thần đả” (truyện 14 tờ 9b3) 

9. “Phước long” (truyện 2 tờ 1b15) 

10. “Đức cao phước thịnh” (truyện 43 tờ 25a11) 

11. “Phước long đạo thành” (truyện 53 tờ 30b14) 

12. “Sơn cao cốc thâm” (truyện 31 tờ 18c1) 

13. “Nam hiền nữ trinh” (truyện 45 tờ 26b21) 

Rõ ràng các bổ từ trên đây, mà chủ yếu là các tính từ, đã nhất loạt đi sau các danh từ chúng bổ nghĩa. Trường hợp “giới cụ hạnh cao” thì truyện 17 tờ 12b11 viết đúng theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc là “cụ giới cao hạnh”. Một số những trường hợp khác có thể không cần coi như những phức hợp có quan hệ bổ từ kiểu “tính từ + danh từ”, mà như những cấu trúc mệnh đề với động từ bị lược bỏ, dù thực tế không hẳn đã như vậy, như “sơn cao cốc thâm” và “nam hiền nữ trinh” hay “chính hà dân khốn” v.v... Dẫu sao đi nữa sự kiện quan hệ bổ từ “danh từ + tính từ” là một đặc trưng của ngữ pháp tiếng Việt. Và hai trường hợp sau là điển hình: 

1. Truyện 46 ĐTK 152 tờ 27a3 - 4: “Cậu dĩ thế cường, đoạt ngô chúng hỉ” 

2. Truyện 84 ĐTK 152 tờ 47a14 - 15: “Thất quốc sư hùng”. 

Bổ từ “cường” và “hùng” ở đây dứt khoát không được cấu trúc theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc, bởi vì nếu căn cứ vào ngữ pháp đó thì phải nói là “cường thế” và “hùng sư”, chứ không phải “thế cường” và “sư hùng” như truyện 46 và 84 đã có. Cấu trúc ấy phải nói là phản ảnh cấu trúc bổ từ của ngữ pháp tiếng Việt cổ. 

Cần mở ngoặc ở đây để nói thêm một chút về cách đọc chữ “cường”. Chữ này ta có thể đọc “cưỡng”, nhưng phải chấm câu lại thành ra “cậu dĩ thế, cưỡng đoạt ngô chúng hỉ”. Song ngắt câu lại như thế, thì lối văn bốn chữ tiêu chuẩn của Lục độ tập kinh bị phá vỡ một cách không cần thiết, tuy vẫn có ý nghĩa. Do thế, chúng tôi vẫn giữ cách đọc chữ “cường” và coi nó như một tính từ bổ nghĩa cho chữ “thế” đi trước và phản ảnh quan hệ bổ từ của ngữ pháp tiếng Việt, chứ không đọc là “cưỡng”. 

Truyện 22 tờ 14a9 có câu: “Do hiền lý gia huấn bỉ nhi ngoan”, tuy đây là một mệnh đề, chứ không là nằm trong quan hệ bổ từ “danh từ + tính từ”, cũng bộc lộ ít nhiều cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt, như khi ta nói “nuôi con tốt, dạy con ngoan”. Số cấu trúc có dạng tương tự này trong Lục độ tập kinh xuất hiện khá nhiều, cụ thể là bốn câu sau với đặc trưng là sử dụng chữ "cố". mà nếu căn cứ theo ngữ vựng và ngữ pháp tiếng Trung Quốc thì thật khó hiểu trong khi nếu theo ngữ vựng và ngữ pháp tiếng Việt thì trở nên dễ hiểu một cách lạ thường: 

1. Truyện 14 ĐTK 152 tờ 9b39 - c1: “Mẫu cố quật ấm, kỳ hãm dung nhân, nhị nhi nhập trung, dĩ sài phú thượng” 

2. Truyện 50 ĐTK 152 tờ 29a9: “Đại vương cố khiển thần qui tuyên mạng, thần đẳng bất hư lai...” 

3. Truyện 53 ĐTK 152 tờ 30a29: “Phạm chí cố tại hồ” 

4. Truyện 85 ĐTK 152 tờ 47c7: “Ngô cố trì ẩn, suy hựu phùng yên” 

Trong bốn câu này, chữ “cố”, nếu hiểu theo nghĩa tiếng Trung Quốc, tức “cũ”, “xưa”, “cho nên” thì khi dịch ta gặp phải những câu văn gượng ép. Thêm vào đó, có thể dùng những chữ khác như “tiền”, “tích”, để diễn đạt ý “xưa”, “trước đây” một cách rõ ràng và trôi chảy hơn. Trên thực tế, Khương Tăng Hội, ở những trường hợp khác đã sử dụng chúng. Trái lại, nếu hiểu chữ “cố” trên như một tá âm, để diễn đạt ý “có” hay “cố” của tiếng Việt và đọc là “có” hay “cố” thì câu dịch suông sẻ một cách lạ lùng “mẹ có đào hầm”, “đại vương có sai rùa thần truyền mạng”, “phạm chí có ở đó không”, “ta cố chạy trốn”. Riêng câu thứ 4 dẫn trên, vế thứ hai “suy hựu phùng yên”, một lần nữa nếu hiểu “suy” như trong “thịnh suy”, “hưng suy” tiếng Trung Quốc, ta sẽ gặp không ít khó khăn. Ngược lại, nếu coi “suy” như một tá âm và đọc là “xui”, thì nghĩa câu văn rất rõ ràng và đơn giản: “Ta cố chạy trốn, xui lại gặp vậy”. 

Phương thức tá âm này còn có khả năng xảy ra trong hai trường hợp ở truyện 84 ĐTK 152 tờ 46b23 và 47a2 - 4: 

1. “Tự tư chi hậu, thái tử xuất nhập, vị thường biệt sắc” 

2. “Dĩ vi nhân phi, nhược tế minh ngu cát hung hảo xú, quyết do túc mạng, thục năng nhưỡng chi, nhi bất trinh nhất, tận hiếu phụng tôn, bạc tế hoàn quốc, hoạ chí vu tư”. 

Hai chữ "biệt" và "bạc" (hay "bạ" "bộ") đều có thể đọc là "biết" và "bỏ", mà không cần dịch, ý nghĩa câu văn vẫn rõ ràng và thích hợp. Chữ "biệt" này cũng xuất hiện trong các truyện 10 (ĐTK 152 tờ 6a4) và 76 (ĐTK 152 tờ 41a11). 

Cấu trúc câu văn của Lục độ tập kinh do thế không chỉ tuân thủ theo cú pháp chuẩn mực của tiếng Trung Quốc, mà còn mang nặng dấu ấn của cú pháp tiếng Việt. Ngay cả những câu đọc lên nghe có vẻ viết theo cú pháp tiếng Trung Quốc, ta vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng của câu tiếng Việt. Lấy thí dụ mấy câu sau: 

1. Truyện 43 ĐTK 152 tờ 24b23: "Sơn hữu lưu tuyền, trung sinh liên hoa", tờ 24c8-9: "Khứ tư bất viễn, hữu tiểu bồng lư, ngô thân tại trung". 

2. Truyện 45 ĐTK 152 tờ 25c14: "Tọa trung hữu nhất lý gia". 

3. Truyện 78 ĐTk 152 tờ 41c9: "Bách tiết giai không, trung như trúc tiết". 

4. Truyện 83 ĐTK 152 tờ 44c24 - 25: "Lâu các cung điện... thiện đế xử trung..." 

Và đặc Biệt truyện 83 ĐTK 152 tờ 45a4 có một câu, mà nếu hiểu theo nghĩa và cú pháp tiếng Trung Quốc, thì ý nghĩa không hợp lý, không hay và không sống động bằng, nếu ta hiểu theo cú pháp và ngữ âm tiếng Việt. Truyện kể khi hai đạo sỹ Xà Lê và Ưu Bôn đi tìm thần nữ, họ đến Hương sơn, gặp một vị phạm chí thánh thiện. Vì có vị phạm chí này, họ không thể bắt thần nữ được, nên bèn bàn với nhau "kết cỏ chú ếm, rồi quăng vào nước", khiến cho phạm chí "thể trọng thiên nữ linh kiệt".

Sáu chữ cuối cùng này, nếu dịch theo nghĩa tiếng Trung Quốc, ta sẽ có: “khiến cho phạm chí thân nặng, thiên nữ hết linh”. Ngược lại, nếu coi chúng như một câu tiếng Việt được dịch nửa vời qua tiếng Trung Quốc, nên chữ “trọng” không còn có nghĩa tiêu chuẩn tiếng Trung Quốc là “nặng” nữa, mà là một tá âm tiếng Việt để diễn tả ý “chồng lên”, ta sẽ có: “Khiến cho phạm chí thân chồng (lên) thiên nữ, (nên thiên nữ) hết linh”. Rõ ràng, nếu dịch theo nghĩa tiếng Trung Quốc, việc “phạm chí thân nặng” làm sao quan hệ với sự hết linh của thiên nữ? Nó không hợp lý chút nào. Trái lại, nếu coi chữ “trọng” là tá âm của chữ "chồng" tiếng Việt, thì không những sự việc xảy ra một cách hợp lý, bởi vì phạm chí chồng mình lên thiên nữ, thiên nữ mới hết linh, mà còn cho ta một hình ảnh hết sức thú vị và sống động là việc phạm chí ôm chồng lên thiên nữ. 

Cuối cùng, cũng cần nêu ra một số từ thuần túy tiếng Việt hay đã Việt hóa đến nghe quen thuộc. Mở đầu Lục độ tập kinh, Khương Tăng Hội đã nói tới việc Phật ở núi Diều. Núi Diều tiếng Phạn là Grdhrakuta, sau nầy các dịch giả khác thường phiên âm là Kỳ xà quật, hay nếu dịch thì không còn dịch là Diều Sơn, mà dịch Linh Thứu sơn. Chữ "Diều" chắc cũng khó hiểu đối với người Trung Quốc, cũng như chữ "Thứu" đối với người Việt Nam. Truyện 20 ĐTK 152 tờ 13b6 nói tới những người gù được thẳng lưng. Chữ "gù" trong Tống bản còn để nguyên, chứ các bản in Đại tạng kinh khác đều sửa lại thành "tỵ" cho dễ hiểu. Truyện 33 ĐTK 152 tờ19a20 nói tới việc người chủ hàng làm bè để thả bạn mình xuống biển. Chữ "bè" này, tiếng Trung Quốc tương đương là "phiệt", mà ta thấy xuất hiện trong truyện 25 ĐTK 152 tờ15a25. 

Sau hết, phải nói tới hai chữ khá đặc biệt xuất hiện khá thường xuyên trong các truyện của Lục độ tập kinh. Đó là chữ "thuộc" của các truyện 10 ĐTK 152 tờ 5c24, truyện 14 ĐTK 152 tờ 10ac7, truyện 80 ĐTK 152 tờ42c1 v.v... và chữ "sơ" của các truyện 13 ĐTK 152 tờ 7c4, truyện 66 ĐTK 152 tờ 35b23 và c.8-18 v.v... 

Khi làm công tác phiên dịch, chúng tôi gặp hai chữ này, cảm thấy hơi bỡ ngỡ, vì chúng xuất hiện không bình thường, nếu hiểu theo nghĩa và ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Chúng tôi giả thiết chữ "thuộc" là tá âm của chữ "chốc" và chữ "sơ" là tá âm cuả chữ "xíu" tiếng Việt: "Chốc" trong "chốc lát", "chốc nữa" và có nghĩa "ban nảy", và "xíu" trong "chút xíu" với nghĩa như vậy. Khi giả thiết như thế, việc hiểu và dịch các câu có hai chữ ấy xuất hiện trở thành dễ hiểu và suôn sẻ một cách lạ thường. 

Ngoài ra, truyện 14, mà chúng tôi sẽ bàn kỹ ở dưới đây, khi tả diện mạo lão phạm chí, đã viết: “Tỉ chính biển hổ, thân thể liêu lệ, diện sô thần đả, ngôn ngữ khiểng ngật”. Trong đó nếu ta coi những chữ “tỉ”, “diện”, “thần” như những tá âm tiếng Việt và đọc "mũi", "mặt", "môi", thì câu vừa thấy có thể phiên âm thành một bài thơ tiếng Việt, mà không cần dịch: 

Mũi chính vểnh vẹo 

Thân thể rệu rạo 

Mặt xô môi dày 

Ngôn ngữ ngọng nghịu 

Qua những phân tích trên, ta thấy Lục độ tập kinh chứa đựng một số tàn dư của ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng Việt. Sự tồn tại của những tàn dư nầy đưa ta đến những kết luận nào? Thứ nhất, như trên đã nói, Khương Tăng Hội sinh ra, lớn lên và được đào tạo thành tài tại đất nước ta, cho nên khi tiến hành phiên dịch và trước tác, dứt khoát không thể nào không chịu ảnh hưởng của tiếng Việt về cả ba mặt ngữ vựng, cú pháp và ngữ pháp. Nếu Khương Tăng Hội sử dụng tiếng Trung Quốc tới mức nhuần nhuyễn của một diệu thủ, thì có thể hạn chế tối đa ảnh hưởng vừa nói. Nhưng đối với những trưng dẫn trên, ta thấy ông đã chịu ảnh hưởng đó một cách nặng nề và sâu đậm. Tuy nhiên, vì quá nặng nề và sâu đậm, nên ta phải đi tới một kết luận thứ hai. Đó là có khả năng Khương Tăng Hội đã sử dụng một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt để dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc, mà ta hiện đang dùng làm nguyên bản để dịch lại ra tiếng Việt, bởi vì phải có một nguyên bản tiếng Việt như vậy mới giải thích nổi tại sao ngữ pháp tiếng Việt đã ảnh hưởng một cách có hệ thống và toàn diện đến thế đối với dịch bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc hiện có.

Có thể có một bản Lục độ tập kinh tiếng Việt tồn tại vào thời Khương Tăng Hội không?


[1]Lê Mạnh Thát, Thử nghiên cứu bài Việt ca, (Cảo bản 1970). Xt Lê Mạnh Thát, Lịch sử âm nhạc Việt Nam, NXB Tp Hồ Chí Minh, 2001, tr. 90-135.

[2]Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Saigon: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972.

[3]Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 412-625.

[4]Kokuyaku issaikyo 8, Tokyo, 1937; E. Chavannes, Cinq cent contes bouddhiques, Paris: André Maisonoeuvre, 1949.

[5]Truyện Hội ở quyển 13 ĐTK 2145 tờ 96a 29-97a 12 nói: “Hội ở chùa Kiến Sơ dịch ra kinh pháp A nan (sic) niệm di kinh, Kính diện vương kinh, Phạm hoàng vương kinh, Đạo phẩm và Lục độ tập kinh…”

[6]Thang Dụng Đồng, Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam bắc triều Phật giáo sử, Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1963.

[7]Thang Dụng Đồng, Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam bắc triều Phật giáo sử, Thượng Hải: Thương vụ ấn quán, 1935.

[8]Xem Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Sàigòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972.

[9]Vấn đề quan hệ của cấu trúc ngữ pháp và từ vựng Kinh Thi với cấu trúc và ngữ vựng tiếng Việt, chúng tôi bàn ở một chổ khác. Xem chương Vấn đề tiếng Việt thời Hùng Vương, trong Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta. Sàigòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972, tr. 254-290.

[10]Câu “trung tâm” cũng xuất hiện trong bài Phong phú của Tống ngọc ở Văn tuyển 13 tờ 2b6-8: 

Đôn hỗn uất ấp 

Khu ôn trí thấp 

Trung tâm thảm đát 

Sinh bệnh tao nhiệt 

[11]Phan Nhạc có nhái theo hai câu

Hành đạo trì trì,

Trung tâm hữu vi 

của Cốc Phong để viết hai câu: 

Thân hữu các ngôn mai 

Trung tâm trường hữu vi 

Xem Văn tuyển 20 tờ 22a2-3

[12]Thực tế câu này là một tiếp thu câu “trung tâm bất dục” của Dương Hùng (53 tdl-18 sdl) trong Phương ngôn 6 tờ 1a4.

[13]Cần chú ý đến số lần này, Kinh thi 300 bài thơ, “trung tâm” xuất hiện 16 lần. Lục độ tập kinh 91 truyện lại có 8 lần. Tỷ lệ như vậy là 16/300 đối với 8/91.


---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn