Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

- Sự lợi ích của việc Tụng Kinh, Niệm Phật và Hành Thiền

08/07/201406:22(Xem: 21321)
- Sự lợi ích của việc Tụng Kinh, Niệm Phật và Hành Thiền

Nói đến Đạo Phật là đề cập đến tư tưởng triết lý, hàm chứa trong tam tạng kinh điển, một hệ thống giáo lý khế hợp, khế cơ với những điều kiện tâm lý xã hội của con người, kinh qua các thời kỳ phát triển của lịch sử truyền đạo của các bậc tổ sư, bằng những chứng sống, để cho các hàng Phật tử tại gia cũng như xuất gia chiêm nghiệm và hành trì. Là người Phật tử phải có một cái nhìn như thị, xem tất cả các pháp môn hành trì như những phương tiện, để nhận dạng sự dung hòa của nó, thì mục đích đối tượng là giải thoát giác ngộ đều do các phương tiện dẫn dắt là điều không thể thiếu được.

Thưa quý vị trong vấn đề tu tập, tại sao ta phải tụng kinh, niệm phật và hành thiền, nó có lợi ích gì cho sự tu tập giải thoát và giác ngộ. Là người Phật tử nếu chỉ thờ, lạy, cúng Phật thì chưa đủ gọi là rốt ráo thuần thiện, mà người Phật tử cần phải tụng kinh, niệm Phật và hành thiền v.v.. thì mới viên dung cả Sự và Lý, vì đây là những điểm căn bản không thể bỏ qua được.

Tại sao ta phải tụng kinh và có lợi ích gì?

Đạo Phật xuất hiện ở thế gian vì sứ mệnh làm nhẹ bớt những thương đau, và hướng dẫn con người trong việc kiến tạo một đời sống an lạc. Căn cứ trên nền tảng từ bi và trí tuệ. Vì vậy trong tam tạng giáo điển hay nói một cách khác, là cả một hệ thống giáo lý bao gồm mọi lãnh vực triết học, y học, dược học, văn học, tâm lý học v.v … và có vô số pháp môn để chúng ta thực hành và đạt đến quả vị giác ngộ. Kinh Phật có công năng khai mở trí tuệ, phá trừ mê mờ cho nên tụng kinh rất lợi ích:

  1. Tụng kinh để thâu nhiếp sáu căn và làm cho ba nghiệp được thuần tịnh, không có cơ hội tạo các nghiệp bất thiện.
  2. Đạo tràng nhờ đó mà được thanh tịnh trang nghiêm.
  3. Gia đình nhờ thế mà được an lạc và hòa thuận.
  4. Tĩnh thức người chung quanh bằng lời kinh tiếng mõ.
  5. Nhờ tụng kinh mà thông hiểu giáo lý và thực hành đúng chánh pháp.

Ví dụ: hai thời công phu sớm tối, nói lên chí nguyện thượng cầu hạ hóa của người xuất gia, để cho chúng ta thấy rằng tinh thần nhân bản của đạo Phật không những biểu lộ ở giáo lý mà còn ở thái độ và hành động của người Phật tử đối với vấn đề tự giác và giác tha. Người Phật tử xây dựng bản thân về ba mặt: trí tuệ, tình thương và ý trí; luôn sống trong ý thức, biết mình đang làm gì, nghĩ gì để soi sáng tư tưởng, ngôn ngữ và hành động. Vì vậy thời công phu sáng là ôn lại chí nguyện của người xuất trần và trì ngũ bộ chú để bạt những chướng ngại trong khi thực hành đại nguyện:

- “Nguyện kim đắc quả thành bão vương

- Hoằng độ như thị hằng xa chúng

- Tương thử thâm tâm phụng trần sát

- Thị tắc danh vi báo Phật ân v.v …”

Đúng là ý nguyện xuất trần, nguyện thành Phật độ chúng sanh, nếu có một chúng sanh nào chưa thành Phật thì không bao giờ bỏ qua. Chí nguyện này là tâm Bồ Đề, là căn bản của người tu tập, phải phát liên tục.

Công phu chiều: mục đích là hồi hướng chí nguyện nói trên để cầu sanh Tây Phương Cực Lạc, nơi thuận tiện cho bất thoái Bồ Đề, hay nói một cách khác là để hoàn thành cho chí nguyện mà buổi sáng đã phát ra.

Vậy hai thời công phu để cho chúng ta thấy cả một quá trình tu tập (trên cầu Phật Đạo, dưới cứu độ chúng sanh). Chí nguyện muốn thành Phật nếu ở mãi trong ngũ trược ác thế thì nội chướng (dục vọng) và ngoại chướng (nghịch cảnh) dễ làm cho thối tâm, khó có ngày viên mãn để thành quả vị Phật, do đó phải cầu sanh Tây Phương là vậy.

Tóm lại tụng kinh rất ích lợi cho sự tu tập của mình, vì tất cả tam tạng kinh điển, duy chỉ một mục đích là đưa hành giả đến giác ngộ giải thoát. Kinh nào cũng có công năng phá trừ mê mờ và khai mở trí tuệ cho ta, do vậy tụng kinh rất thiết thật và hữu ích.

Tại sao ta phải niệm Phật và sự lợi ích của nó.

Thưa ai cũng biết, cuộc đời là bể khổ như sống trong nhà lửa, ấy thế mà chúng ta vẫn thích sống, tham sống và không biết đâu để thoát ra, và cũng không đủ nghị lực vượt thoát. Đạo Phật đã tìm ra lối thoát và chỉ dẫn chúng ta những phương pháp để thoát ly cảnh giới khổ đau. Đức Phật Thích Ca giới thiệu cảnh giới Cực Lạc để chúng sanh cầu sanh về.

Phật dạy: “Niệm Phật để cầu sanh Cực Lạc, vì thế giới ấy không có mọi thứ phiền não, sanh về đó sẽ được bất thoái chuyển.” nhưng làm thế nào để cầu sanh? Phật nói: “nếu ai nghe ta nói đến Đức Phật A Di Đà, và chấp trì danh hiệu Ngài, từ một ngày cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn, thì người ấy khi gần lâm chung, Đức A Di Đà cùng Thánh Chúng Cực Lạc cùng đến tiếp dẫn, làm tâm người ấy không điên đảo, tức khắc vãng sanh về thế giới A Di Đà”. Chúng ta phải hiểu là Ta Bà và Cực Lạc đều là đối tướng của tâm, nếu tâm bất tịnh thì quả báo Ta Bà sanh, nếu tâm thanh tịnh thì cảnh giới Cực Lạc hiện tiền, như câu “tự tánh Di Đà duy tâm Tịnh Độ”.

Ngoài ra phương pháp niệm Phật có công năng phá trừ tất cả những vọng niệm bất thiện và làm cho tâm trở nên sáng suốt, như phèn gieo vào nước đục, nước đục trở thành trong. Trong kinh thường nói: tâm ta như con vượn chuyền cành, như ngựa chạy rong không ngừng. Muốn hàng phục vọng tâm chỉ còn một cách là cột tâm lại bằng câu niệm Phật, lâu dần những ma chướng trong tâm không còn nữa, mà chỉ thuần câu niệm Phật. Vì ích lợi như thế nên Đức Thích Ca khuyên chúng ta nên trì niệm danh hiệu A Di Đà. Tuy nhiên người niệm Phật phải đủ những yếu tố mới được vãng sanh.

  1. Tín: niềm tin vững chắc. Niềm tin có 3:

- Tin Phật: tin Đức Thích Ca vì thương xót chúng sanh mà giới thiệu cảnh giới Cực Lạc và pháp môn niệm Phật để sanh về, tin lời Phật nói không dối.

- Tin Pháp: tin pháp môn Tịnh Độ là phương pháp dễ tu dễ chứng, tin 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà có đầy đủ diệu dụng để độ sanh, nếu hành giả niệm đến chỗ nhất niệm.

- Tin mình: tin mình có tự tánh thanh tịnh A Di Đà, tin mình có khả năng vãng sanh nếu mình thực hành đúng lời dạy của Đức Phật trong kinh A Di Đà

  1. Nguyện: là ước nguyện, là mong muốn được vãng sanh, làm động lực thúc đẩy mau đến mục đích.
  2. Hạnh: sau khi chuẩn bị đầy đủ tín, nguyện rồi thì gia công niệm Phật không gián đoạn. Nếu tín mà không nguyện thì tin vô bổ. Nếu ao ước cầu sanh mà không chuyên nhất thì không đi đến kết quả. Cho nên Tín, Nguyện, Hạnh không thể thiếu đối với người cầu sanh.

Tại Sao nên thực hành thiền quán:

Ngoài việc tụng kinh niệm Phật ra người Phật tử cũng phải thực tập thiền quán, vì chủ trương thiền là phá tan vô minh tỏ ngộ nguồn tâm. Thưa quý vị, trong sự tu tập, hành giả muốn minh tâm kiến tánh, thì phải phá trừ vô minh, muốn phá vô minh phiền não thì phải có trí tuệ, muốn có trí tuệ thì hành giả phải thiền định; có nghĩa là khi trí tuệ phát sanh thì mới diệt được vô minh, mới minh tâm kiến tánh thành Phật được. Như Đức Bổn Sư thiền định 49 ngày chứng đạo.Các bậc Tổ Sư đốn ngộ tự tâm cũng từ đây. Cho nên thiền định cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tu tập, như nhựa sống phải nuôi cây. Nếu thiếu thiền định thì giáo lý của Phật thành sơ cứng, bởi vì kinh giáo chỉ còn là lý thuyết, chỉ giúp người mở rộng kiến thức, mà rất ít quan hệ đến mục đích giải thoát.

Đối với người Phật tử đang đi trên đường tu học Phật pháp, thì không chỉ tìm hiểu nghiên cứu nghĩa lý, mà còn phải thực hành trong đời sống hằng ngày, thì mới mong giải thoát hệ lụy khổ đau, đạt đến hạnh phúc an lạc. Cho đến nay có một số vẫn ngộ nhận, cho thiền là một thứ gì đó thiêng liêng thần thánh.

Ví dụ: Tu tập thiền định để đắc thần thông, Thiền dành cho bậc thượng căn, dễ tẩu hỏa nhập ma. Trong khi tu tập cho là chứng đắc mà không biết đó là do phản ảnh của tâm. Sở dĩ có những ngộ nhận này là do không tìm hiểu và nắm chắc phương pháp thiền. Thưa quý vị: cái giá trị của thiền, huấn luyện thân và tâm chúng ta từ động trở về tĩnh, giúp cho chúng ta biết sống với hiện tại, không tiếc nuối quá khứ, không mơ ước viễn vông, vì quá khứ đã qua, mà tương lai thì chưa đến, trong kinh Anan Nhất Dạ Hiền ở Trung Bộ Kinh tập III có dạy: “Quá khứ không suy tầm, tương lai không ước vọng, quá khứ đã đoạn tận, tương lai lại chưa đến, chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính ở đây” (Kinh Nhất Dạ Hiền)

Không than việc đã qua, không mong việc sắp tới, sống ngay với hiện tại, do vậy sắc thù diệu, do mong việc sắp tới, do than việc đã qua, nên kẻ ngu héo mòn, như Cây Lau lìa cành. (Kinh Cây Lau Tương Ưng I)

Vậy cho ta thấy trong 37 Phẩm Trợ Đạo, trong Bát Chánh Đạo có chánh định

- 7 Giác chi: có niệm giác chi, định giác chi

- Ngũ căn ngũ lực: có định căn, định lực

- Tứ như ý túc: có dục định, tinh tấn định v .v…

Trì chú giúp gì cho sự tu:

Như trì chú cũng giúp cho 3 nghiệp và 6 cănđược thanh tịnh. Chư Phật và chúng sanh chỉ khác nhau ở chỗ giải thoát hay ràng buộc, chỗ ngộ và mê, chổ tịnh và nhiễm mà thôi. Cho nên khi trì chú, thân bắt ấn nên thân không tạo ác, miệng đọc thần chú nên miệng không nói vọng ngữ, tâm quán tưởng tượng Phật, nên tâm không nghỉ ác , nhờ thế mà 3 nghiệp thân khẩu ý được thanh tịnh, nhờ trì chú mà dẹp trừ được oan gia, nhổ sạch hết gốc rễ của nghiệp chướng và làm cho trí tuệ ngày càng tăng trưởng, do vậy trì chú có rất nhiều sự lợi ích.

Nói tóm lại trong tứ oai nghi, đi đứng ngồi nằm, nếu chúng ta biết an trụ vào mọi phương pháp như tụng kinh, hành thiền, niệm Phật hay trì chú v.v… bằng chánh niệm, tĩnh giác thì bất cứ ở đâu và bất cứ trong trường hợp nào, chúng ta cũng làm chủ được hành động và tư tưởng của mình, vì chánh niệm sẽ đem lại nhiều lợi ích thực tiễn cho cuộc sống con người giúp cho cuộc sống nhẹ nhàng hơn, tích cực hơn và đáng sống hơn.

Chùa Liên Hoa, Sydney, tháng 7-2014

Thích Nữ Tâm Lạc

su loi ich-1su loi ich-2su loi ich-3

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/201617:01(Xem: 3418)
Phật tử Darwin Bắc Úc cúng Rằm Tháng Giêng Bính Thân 2016
09/01/201606:25(Xem: 5853)
Lễ Khánh Thành Chùa Bồ Đề Phật Quốc (do TT Thích Huyền Châu trụ trì) tại Santa Ana, Cali, Hoa Kỳ, Sunday 27-12-2015, có 120 Tăng Ni và 400 Đồng Hương Phật tử tham dự
11/12/201502:33(Xem: 3888)
" Từ ngày 7 đến ngày 11 tháng 12 năm 2015 Hòa Thượng Phương Trượng Thích Như Điển đã có mặt tại Bồ Đề Đạo Tràng Ấn Độ để đãnh lễ nơi thành đạo của Đức Thế Tôn, gặp gỡ và giảng pháp cho Phái Đòan hành hương của TT Thích Hạnh Nguyện tại Trung Tâm Tu Học Viên Giác, đón tiếp cái Phái Đón Phật Tử Âu Mỹ, Nga và làm từ thiện cho người nghèo cũng như phát sách vở cho học sinh tại trường Pragna Vihara).
03/12/201519:19(Xem: 5325)
Nguyện vọng của Cố Hòa Thượng Ân Sư của chúng tôi, vị khai sáng ra 2 chùa Bagneux và Evry là muốn tạo dựng chùa Khánh Anh - Evry thành một nơi hoằng pháp rộng lớn chung cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hải ngoại, nhất là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu nói chung và tại Pháp cũng như chùa Khánh Anh nói riêng. Ngôi chùa được thành hình từ mọi công sức đóng góp, sự gia lực, hộ niệm của tất cả chư Tôn Đức Tăng Ni và phật tử khắp nơi với những đường nét đặc thù của một ngôi Phạm Vũ Phật Giáo A Đông. Nay ngôi phạm vũ Khánh Anh - Evry đã hoàn tất. Chư Tôn Trưởng Lão Cố Vấn Lãnh Đạo Tối Cao của chùa Khánh Anh quyết định đẩy mạnh mọi sinh hoạt ngoài chùa Khánh Anh Evry bằng cách thỉnh chư hương linh thờ tại chùa Bagneux ra Evry để thờ phượng cho rộng rãi hơn để từ từ khởi xướng mọi sinh hoạt ngoài ấy.
13/10/201520:04(Xem: 5434)
Chùa An Lạc, ngôi chùa danh tiếng tại thành phố San Jose được Ni trưởng Thích Nữ Nguyên Thanh thành lập vào năm 1994. Chùa đã được trùng tu nhiều lần vào các năm 2003, 2011, 2012, và chính thức tổ chức Đại lễ lạc thành vào các ngày 09, 10 và 11 tháng 10 năm 2015 (nhằm ngày 27, 28 và 29 tháng 8 năm Ất Mùi). Buổi lễ chính thức diễn ra vào lúc 10g30 ngày 11 tháng 10 năm 2015. Đông đảo chư Tôn đức Tăng, Ni và Phật tử ở thành phố San Jose cùng nhiều thành phố ở các tiểu bang từ Tây sang Đông của Hoa Kỳ đến dự.
08/10/201506:02(Xem: 3145)
Trong năm, chúng ta có 3 ngày vía của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là 19/2, 19/6 và 19/9 âm lịch. Sắp tới đây, vào 2 ngày : thứ bảy 31/10/2015 (tức đúng ngày 19/9 năm Ất Mùi), và chủ nhật 1/11/2015 tại chùa Khánh Anh (Bagneux) sẽ thiết lập Đàn Tràng Quan Thế Âm cúng dường lên Thập Phương Thường Trú Tam Bảo nhân ngày Lễ Vía Kỷ Niệm Đức Bồ Tát Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm để hồi hướng đến khắp Pháp Giới Chúng Sanh, cầu nguyện phong điều vũ thuận, quốc thái dân an và nhất là hồi hướng công đức cúng dường lên Giác Linh Cố Ân Sư thượng Minh hạ Tâm. Xin thông báo và kính mời chư Phật Tử tùy nghi tham dự, thời khóa Đàn Tràng như dưới đây.
14/07/201514:21(Xem: 11507)
Chùa Trúc Lâm do Sa Môn Thích Tâm Minh, một hậu duệ truyền thừa Trúc Lâm Thiền phái tại Huế. Sau khi vượt biển và định cư tại Úc, tạo lập từ năm 1993 tại thành phố Sydney, Úc Đại Lợi. Sau hai đợt di dời vì hoàn cảnh thuê nhà làm Chùa, năm 1995 di chuyển đế tụ điểm thứ ba cho tới nay. Hiện toạ lạc tại só 13 Winspear Ave, Bankstown, NSW 2200. Thời điểm 1995-1997 suốt hai năm trường, Chùa đã trải qua bao cuộc tang thương nghiệt ngã bởi nhân tình thế thái, lòng người khó lường vì từ hai chữ Danh và Lợi (đại nạn lần thứ nhất).
28/05/201512:33(Xem: 5256)
Trong thời gian hơn 10 năm qua, Đ.Đ Thích Hạnh Tuệ đã giúp điều hành và phát triển tốt đẹp Trung tâm Viên Giác và nay đến thời kỳ mãn nhiệm, trở về lại Đức tu học. Tiếp nhận trở lại và điều hành sinh hoạt của Trung tâm Viên Giác kể từ tháng 9 năm 2015 là T.T Thích Hạnh Nguyện, người sáng lập và xây dựng Trung tâm Tu học Viên Giác từ buổi ban đầu năm 2000. T.T đã đề cử Đ.Đ Thích Thông Trí từ chùa Cực Lạc, Thái Lan đến điều hành mọi sinh hoạt của Trung tâm Viên Giác, Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ. Mọi việc đặt phòng tại Trung tâm Viên Giác từ trước đến nay với Đ.Đ Thích Hạnh Tuệ không còn hiệu lực. Mọi liên lạc và đặt phòng mới cho năm 2015, năm 2016 và về sau, xin chư Tôn đức, quý Phật tử gởi email về địa chỉ email mới: trungtamviengiac@gmail.com . Facebook.com/trungtamviengiac
11/04/201521:22(Xem: 6698)
Sự hiện diện của người Việt tại Úc, sau thảm trạng đau buồn tại Việt Nam, có phần khác biệt so với các cộng đồng sắc tộc văn hoá đa nguyên khác ở Úc Châu. Sự khác biệt đó là do chính sách định cư người tị nạn của chính phủ, khiến cộng đồng người Việt gia tăng gấp 16 lần trong 5 năm đầu sau 1975, và tăng 62 lần trong vòng hai thập niên kế tiếp. Trên 50% người Việt là Phật tử, nên sự gia tăng nhân số nhanh chóng này đã tạo thử thách lớn cho năm bảy vị tăng ni người Việt mở đường hoằng Pháp trong đầu thập kỷ 1980 vừa xây dựng tự viện vừa hướng dẫn tâm linh cho Phật tử khắp Úc Châu. Tăng ni đã phải vượt qua những chướng ngại thế tục cũng như những biến đổi và thách đố về mặt tổ chức và thành phần dân số. Qua tiến trình này, tập thể tăng ni người Việt đã có những đóng góp đáng kể cho di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Úc Châu.
09/04/201506:30(Xem: 4316)
Khi nói về Đạo Phật, trước tiên chúng ta liền nghĩ đến biểu tượng hình ảnh một ngôi chùa, pháp tháp tôn thờ Đức Phật Bổn Sư, Chư Bồ Tát, Chư Thánh Tổ, và cũng là nơi tu học hành trì pháp Giới-Định-Tuệ cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia trong giáo nghĩa của Phật Giáo nói chung, và Phật Giáo Việt Nam nói riêng, với truyền thống :