Bồ Đề Nguyên Thiều

20/06/202507:45(Xem: 1133)
Bồ Đề Nguyên Thiều


tu vien nguyen thieu-phat to

BỒ ĐỀ NGUYÊN THIỀU

 

Cụm tháp Bạc sừng sững trên đồi cao lộng gió, dưới chân có khúc quanh của dòng sông Côn. Nghìn năm trước tháp kiêu hãnh dưới bầu trời xanh, nghìn năm sau tháp cô quạnh giữa dòng đời xuôi ngược. Trong tám tháng lưu lại ở Chăm Pa, có thể thượng hoàng Trần Nhân Tông đã đến viếng tháp này vì tháp không xa kinh đô Đồ Bàn (Vijaya) là mấy. Lịch sử thịnh – suy rất vô thường, sự - yếu mạnh thay đổi liên tục… Đến năm 1471 vua Lê Thánh Tông mang đại quân đến đây và đã cho phá huỷ kinh đô Đồ Bàn, cả vùng đất này nhập vào Đại Việt.

Dưới chân tháp Bạc (dân địa phương gọi là tháp Bánh Ít) ngày nay có một tu viện được vinh hạnh mang tên của một vị thiền sư lỗi lạc, người đã hoằng hóa và phát triển Phật giáo Đàng Trong từ những năm 1867 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, đó là thiền sư Nguyên Thiều. Ngôi già lam này được hình thành và phát triển từ năm 1958 với hội đồng sáng lập gồm 12 vị: Huyền Quang, Đổng Quán, Bửu Quang, Giác Tánh, Tâm Hoàn…Và với sự cố vấn của kỹ sư địa chất Đặng Đình Đạm, xã trưởng Lê Trọng Cừu, ấp trưởng Bùi Hàn, và cùng với sự hiến đất, bán đất của những người dân sở taị. Tu viện Nguyên Thiều có diện tích 19 héc ta, có ngôi chánh điện, Thích Ca Phật Đài, Quan Âm Đài, tháp thánh tử đạo… Các công trình này cũng rất long đong lận đận trong suốt quá trình xây dựng. Thời nào cũng có những khó khăn ép buộc khiến cho các công trình phải gián đoạn hoặc bị đình chỉ. Hiện tại giữa tu viện vẫn còn một công trình chánh điện xây dang dở, bỏ hoang phế mấy mươi năm nay, bản thân công trình là một chứng nhân lịch sử, một “lời nói thật” không thể nào xóa bỏ được.

Tu Viện Nguyên Thiều rộng rãi, thâm u, cô tịch, nhiều cây xanh bóng mát mặc dù đất đồi sỏi đá khô cứng, thời tiết nắng như nung. Với sức lực và tâm huyết của những vị tòng lâm thạch trụ và bao nhiêu người con Phật đầy năng lực đã biến nơi này thành một chốn già lam u nhã, thanh tịnh… Ngày nay trong khuôn viên tu viện còn có tháp của ngài Huyền Quang – đệ tứ tăng thống, tháp ngài Đồng Thiện – đệ nhất trú trì, tháp ngài Quảng Bửu – đệ nhị trú trì. Các ngôi tháp hiện đại nhưng phong cách kiến trúc cổ điển, rất đẹp, rất trang nghiêm khiến người lễ bái sanh lòng tôn kính. Quanh đấy là những cây hoa sứ cổ thụ tỏa hương thơm ngát, hoa sứ rụng trong sân ngỡ như hoa Mạn Thù Sa, Mạn Đà La từ cõi trời rải cúng dường. Lại thấy hoa sứ rơi cứ ngỡ Ôn Ngài lại về thăm tứ chúng môn đồ…

Chánh điện cũ từ 1958 đến giờ vẫn trầm mặc trong nắng sớm chiều sương, phong cách bày trí cũng giống nhiều ngôi chùa Bắc tông khác, Tượng bổn sư Thích Ca Mâu Ni là điểm nhấn chính, kế là bộ tượng Tây Phương Tam Thế: A Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí. Phía sau chánh điện là gian thờ tổ, ngoài chân dung thiền sư Nguyên Thiều ra hiện đang thờ di ảnh của Ông Ngài (danh từ hết sức tôn kính mà dân địa phương gọi ngài đệ tứ tăng thống Thích Huyền Quang) và hòa thượng Quảng Bửu. Những ngày này đang mùa an cư kiết hạ, rất nhiều tu sỹ vân tập về đây để an cư. Thời tiết mùa hè của Bình Định nói riêng miền Trung nói chung nóng như đổ lửa. Thương các thầy một thì thương quý thầy trong hội đồng sáng lập và những vị có công khai sơn phá thạch mười. Thuở ấy còn khó khăn gấp ngàn lần, khai sơn phá thạch bằng sức lực với tay trần, gánh nước sông Côn lên đồi cao sỏi đá, trú nắng lửa mưa dầm ngay trong tháp Bạc trên đồi. Cơm ăn nước uống thì không còn phải nói nữa “ăn như sư ở như phạm” vô cùng thiếu thốn và đạm bạc. Với hùng tâm nhiệt huyết, với lòng mộ đạo kính Phật nên các ngài chẳng ngại gian nan, để rồi hôm nay có ngôi già lam thanh tịnh như thế này. Đất này là đất của Champa, đất này là đất thang mộc của nhà Tây Sơn, đất này thay ngôi đổi chủ biết bao lần rồi… Giờ đây, Nguyên Thiều là ngôi nhà chung của bá tánh, của những người con Phật. Khách hành hương dẫu có ghé qua trong phút giây cũng hưởng được chút an lạc từ làn sóng vô hình. Đất thiêng tại nhân và đất linh sinh người hào kiệt. Tu viện Nguyên Thiều mang tên ngài Nguyên Thiều, vinh dự được ngài Huyền Quang ra công kiến tạo và cuối đời chọn làm nơi tịnh dưỡng. Ngôi chánh điện của Bồ Đề Nguyên Thiều nhỏ bé, đơn sơ như những ngôi chùa quê. Không có hoa văn cầu kỳ, không có rồng phụng tứ linh… ấy vậy mà tầm vóc lại vượt qua biên giới không gian và thời gian. Hình ảnh Bồ Đề Nguyên Thiều in đậm sâu trong tâm tưởng tứ chúng, trong lòng người mến mộ Phật giáo. Đất linh tại người. Bồ Đề Nguyên Thiều lung linh trong tâm tưởng người ngoài lý do đây là ngôi phạm vũ thanh tịnh mà còn nhờ hưởng đức của ngài Huyền Quang. Ngài là bậc tòng lâm thạch trụ của Phật giáo Viêt Nam hiện đại. Ngài là một trong những vị có công kiến lập nên. Ngài về đây tịnh tu sau khi được phóng thích. Ngài là vị trưởng lão tôn kính suốt đời chăm lo giáo dục, hoằng pháp lợi sanh, quan hoài đến tiền đồ dân tộc và quốc gia. Đấy cũng là những điều khiến cho dân chúng kính mến tôn xưng ngài là Ông Ngài.



tu vien nguyen thieu-chanh dientu vien nguyen thieu-thap ngai dong thientu vien nguyen thieu


Bồ Đề Nguyên Thiều nối tiếp truyền thống Yên Tử, Trấn Quốc, Linh Mụ, Thập Tháp…và còn hơn thế nữa. Ngay trong tu viện có trường Phật học với đội ngũ giáo thọ sư toàn tâm toàn ý đào tạo tăng tài cho Phật giáo Việt Nam. Ngày trước tu viện có Học Phật Viện Nguyên Thiều do ngài Huyền Quang làm giám đốc, khóa chiêu sinh đầu tiên vào năm 1961. Sau 1975 thì bị đình chỉ, maĩ đến 1992 mới được khôi phục lại gọi là trường Phật học cơ bản, rồi là trường trung cấp Phật học. Công việc khôi phục lại cũng vô cùng gian nan vất vả, đòi hỏi công sức, năng lực và sự nhẫn nại của quý thầy, đặc biệt là hòa thượng Thích Đồng Thiện. Trong khoảng thời gian ấy, quý thầy, quý giáo thọ sư, quý học tăng… đều vô cùng gian nan vất vả để được dạy và được học, khó mà có thể dùng ngôn ngữ để tả được nỗi gian nan vất vả này. Bồ Đề Nguyên Thiều còn sáng lập hệ thống trường tư thục mang tên Bồ Đề nguyên Thiều, sau năm 1975 thì bị dẹp hết. Bồ Đề Nguyên Thiều tuy sinh sau nhưng quả thật “hậu sanh khả úy”. Chỉ chừng ấy tuổi đời mà đã làm nên kỳ tích lớn đến như thế, hình ảnh in sâu vào tâm khảm tứ chúng, hương thơm bay cao bay xa.

Không biết trên giải đất Việt này có ngôi chùa nào mà từ lúc xây dựng cho đến quá trình hoằng pháp gặp nhiều chướng duyên, trở ngại như Bồ Đề Nguyên Thiều? Khi xây dựng Phật đài thì gặp cơn pháp nạn nên bị đình chỉ, khi xây dựng tháp thánh tử đạo thì chiến sự hai bên vô cùng ác liệt nên lại dừng, phải mất nhiều năm sau thì hai công trình này mới hoàn thành. Rồi công trình xây chánh điện sau này bị cấm vĩnh viễn và chứng tích còn trơ ra đấy với tháng năm. Suốt nhũng năm tháng ngài Huyền Quang tịnh tu ở đây thì Bồ Đề Nguyên Thiều bị cấm bế, ngăn chặn, phong tỏa suốt một thời gian dài…Tất cả những gian nan thử thách không làm nhụt chí quý thầy, phải chăng “gian nan là nợ anh hùng phải vay” – Đào Tấn. Đạo Phật xưa nay cũng trải qua lắm thăng trầm, lúc gặp minh quân mộ đạo thì phát triển, khi vận thay thì gặp phải hôn quân bạo chúa…Bao nhiêu ngôi tụ viên trên thế gian này đã từng lẫy lừng rồi bị phá hủy. Bao nhiêu chốn già lam dựng lên rồi mai một theo thời gian, ấy là lẽ vô thường của thế gian này! Thinh suy là lẽ, dựng lập và hủy hoại cũng là lẽ, tất cả không ngoài nhân duyên, duyên tụ thì thành duyên tán thì tan. Bồ Đề Nguyên Thiều cũng thế, nhờ nhân duyên mà tựu thành. Nhờ duyên mà chiêu cảm được các bậc long tượng, tòng lâm thạch trụ hội tụ. Nhờ duyên mà mở ra đại hội khoáng đại bất thường. Nhờ duyên mà Bồ Đề Nguyên Thiều đi vào Việt Nam Phật sử như một địa chỉ linh thiêng, một sự kiện vinh quang, một chứng nhân sống động giữa đời.

Tiểu Lục Thần Phong
Vijaya, 0625

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/12/2010(Xem: 6162)
Chùa xây đã 100 năm, trải bao biến thiên của đất trời và bom đạn chiến tranh, nay đã đến lúc phải trùng tu nếu muốn được tiếp tục sinh hoạt. Ngôi chánh điện dung chứa hàng trăm phật-tử nhiệt tâm mỗi ngày để bái sám tụng niệm, và hàng ngàn đồng bào qui tụ những ngày sóc vọng, lễ lớn, có nguy cơ sẽ bị sụp đổ bất cứ lúc nào. Điều này khiến sư cô trụ trì ngày đêm ưu tư, lo lắng, và cuối cùng cũng phải cất lời kêu gọi sự hằng tâm hằng sản của chư tôn đức Tăng Ni và đạo hữu khắp nơi.
04/12/2010(Xem: 9643)
Video: Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa, Thành Phố Nha Trang
13/11/2010(Xem: 5191)
Chùa Từ Đàm, Ngôi Đại Già Lam Xứ Huế
31/10/2010(Xem: 6619)
Chùa Minh Đức ở huyện Phú Ninh, Quảng Nam, theo như lược ghi trong phần lịch sử ngôi chùa từ bức thư của Thầy Viên Quán, không phải là ngôi chùa được xây trên núi. Nhưng tôi vẫn muốn gọi là "chùa núi", vì chùa nằm ở nơi đìu hiu hút gió, xa cách phố thị, mặt hướng kênh nước và hồ sen, lưng dựa núi đồi trầm mặc; với một địa danh xa lạ (Phú Thịnh, Phú Ninh) mà tôi mới nghe lần đầu. Một ngôi chùa, xây ở một địa phương tuốt trong vùng núi rừng như thế (trong nước bây giờ người ta gọi là "vùng sâu, vùng xa,") thì chẳng phải là chùa núi thì là gì. Đó là nói về địa thế, cảnh trí.
29/10/2010(Xem: 9872)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
26/10/2010(Xem: 45818)
Chùa Hòa Thạnh (Chùa Cây Mít) Xã Nhơn Hưng, Huyện Tịnh Biên Tỉnh An Giang Chùa Linh Sơn Xã Vọng Thê, Huyện Phú Tân Tỉnh An Giang Chùa Long Hưng Xã Long Sơn, Huyện Phú Tân Tỉnh An Giang Tịnh Xá Ngọc Giang 80 B Trần Hưng Đạo, Phường Mỹ Xuyên Thị Xã Long Xuyên, Tỉnh An Giang Chùa Phú Thạnh Tổ 24, Ấp Châu Long, Xã Vĩnh Mỹ Thị Xã Châu Đốc, Tỉnh An Giang
24/10/2010(Xem: 6116)
Chùa sắc tứ Kim Sơn tọa lạc tại thôn Ngọc Hội xã Vĩnh Ngọc, Tp.Nha Trang, cách trung tâm thành phố khoảng 3 km về phía Tây Bắc thuộc tỉnh Khánh Hòa.
31/05/2010(Xem: 59556)
Chùa Việt HẢI NGOẠI-ẤN ÐỘ | ANH | ÁO BỈ | CANADA ÐÀI LOAN | ÐAN MẠCH | ÐỨC HOA KỲ | HÒA LAN NA UY | NÉPAL | NGA | NHẬT | NOUVELLE-CALEDONIE PHẦN LAN | PHÁP TÂN TÂY LAN | THỤY ÐIỂN | THỤY SỸ ÚC ÐẠI LỢI | Ý
15/05/2010(Xem: 6428)
Chùa Thập Tháp Di Đà nằm trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất của miền Trung, được biết đến bởi những giá trị kiến trúc, văn hóa và lịch sử đặc sắc. Đây cũng là ngôi tổ đình của phái Lâm Tế.