Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tứ niệm xứ: Con đường thẳng đến Bát Nhã

12/02/201215:10(Xem: 4214)
Tứ niệm xứ: Con đường thẳng đến Bát Nhã

Trongkinh TỨ NIỆM XỨ, ngay vào đầu kinh, đức Phật xác định TỨ NIỆM XỨ là con đườngđộc nhất để đi đến chứng ngộ NIẾT BÀN như sau:

“Nàycác Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượtkhỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó làBốn Niệm xứ.”

Nóinhư thế có nghĩa là không có con đường nào khác để đi đến NIẾT BÀN ngoài TỨNIỆM XỨ.

Tại sao lại không thể là con đường nàokhác?

-- Tại vì TỨ NIỆM XỨ là phương cách đểtìm hiểu THỰC TƯỚNG và GỐC CỘI KHỔ ĐAU của chính mình.

Không thểcó một bậc Giác Ngộ chứng nhập Niết Bàn mà chưa hiểu về mình và chưa thấy rõgốc cội khổ đau của mình. Bắt buộc cácngài phải đi xuyên qua sự tìm hiểu về mình và gốc cội khổ đau của mình trướckhi nhổ sạch gốc cội khổ đau để chứng nhập Niết Bàn. TÌM HIỂU CHÍNH MÌNHchính là thực hànhTỨ NIỆM XỨ. Đức Bổn Sư Thích Cacũng đã đi qua con đường tìm hiểu chínhmình như thế trước khi thành đạo:

153.Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.

154. Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Người không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong

(kinh Pháp Cú)

“Tâm ta đạt tịch diệt, Tham ái thảy tiêu vong” đó là lúcđức Thích Ca chứng nhập Niết Bàn.

Nhưng NIẾT BÀN là thế nào?

-- NIẾT BÀN là sự TẬN DIỆT KHỔ ĐAU.

Đóchính là DIỆT ĐẾ, là sự thật số 3 ở trong TỨ DIỆU ĐẾ. Đó cũng là lúc mà Bồ tát Quán Tự Tại ở trongkinh BÁT NHÃ tuyên bố: “Thoát mọi khổ đau ách nạn”.

Sauđây là đoạn đầu của kinh BÁT NHÃ, với 4 phân đoạn nhỏ có đánh số để tiện việcgiải thích.

1. Bồ tát Quán Tự Tại

khi quán chiếu thâm sâu

Bát Nhã ba la mật.

2. Bỗng soi thấy 5 uẩn

đều không có tự tánh.

3. Chứng thực điều ấy xong

ngài vượt thoát tất cả

mọi khổ đau ách nạn.

4. Nghe đây Xá Lợi Tử:

SẮC chẳng khác gì KHÔNG

KHÔNG chẳng khác gì SẮC

SẮC chính thực là KHÔNG

KHÔNG chính thực là SẮC

Còn lại bốn uẩn kia,

Cũng đều như vậy cả.

Qua4 phân đoạn ở trên ta thấy tiến trình để đắc chứng TRÍ TUỆ BÁT NHÃ là như sau:

  1. Bồ tátQUÁN TỰ TẠI thực hành MINH SÁT TUỆ (hành thâm Bát Nhã) cũng là TỨ NIỆM XỨđể chiếu kiến 5 uẩn (các pháp tạo nên con người của ta). Lý do có cụm từ “hành thâm Bát Nhã”là vì khi chiếu kiến ngũ uẩn, Bồ Tát phải dùng trí tuệ soi suốt tận gốc rễ(thâm sâu) của tư tưởng, của tâm thức, của thân xác, cùng những liên hệsâu xa giữa những biến động của các pháp.Ví dụ sự liên hệ giữa Thức và Tưởng.
  1. Rồingài phát hiện 5 uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) đều VÔ NGÃ vì thấy tấtcả chúng đều DO DUYÊN SANH, do các pháp khác mà sanh, chẳng phải dota, chẳng có thành phần nào là của ta, là ta cả. Từ đó thấy mình không là bất cứ cáigì, thấy mình không thực sự hiện hữu (sẽ giải thích thêm ý nghĩa này ởdưới).
  1. Dothấy mình không còn hiện hữu nên ra ngoài mọi khổ đau tức chứng đắc NIẾTBÀN tịch diệt. Sự kiện này cũnggiống như sau khi các ngài Kiều Trần Như nghe Đức Phật thuyết pháp về kinhVÔ NGÃ tướng rồi đắc được quả vị A LA HÁN để hoàn toàn được giải thoát.
  1. Sau đóvới tuệ giác VÔ NGÃ ngài thấy bản chất các pháp là “CHƠN KHÔNG”. Ý nghĩa CHƠN KHÔNG được giải thích nhưsau:

CHƠNKHÔNGlà cái KHÔNGluôn luôn chơn thật thường hằng, không phải lúc có lúc mất. Cái KHÔNGnày là cái KHÔNGvôdiều kiện, không đòi hỏi phải mất mới được KHÔNG. Như vậy thì cái KHÔNGnày là cái KHÔNGở ngay trên cái . (SẮC tức thị KHÔNG, KHÔNGtức thị SẮC, SẮC bất dị KHÔNG). Tức cũngcũng KHÔNG cùng một lúc.

Đểcó thể hình dung thế nào là KHÔNG ngay trên CÓ ta có thể lấy ví dụ những thứSẮC thấy trong giấc mơ, hoặc những hình SẮC thấy trên màn ảnh movie, do ánhsáng tạo thành. Tất cả những thứ SẮCđó tuy gọi là SẮC mà chẳng khác gì KHÔNG.

Tuynhiên muốn hiểu CHƠN KHÔNGcủa các pháp một cách chính xác phải chứng thực CHƠN KHÔNGtrên chính mìnhtrước, bằng sự thực chứng VÔ NGÃ.Muốn thực chứng VÔ NGÃ thì phải thực hành TỨ NIỆM XỨ quán sát 5 uẩn củata, theo dõi sự sinh diệt của chúng để thấy tất cả chúng đều DO DUYÊN SANH(do các pháp khác mà sanh) chẳng phảido ta, chẳng phải của ta,chẳng phải là ta.

Vídụ khi ta quan sát sự THỞ cho thật kỷ, ta sẽ thấy sự thở vô thở ra chẳng phảido ta gì cả, mà tự thân nó phải thở.Cho nên chẳng phải “TÔI THỞ” như ta thường tuyên bố từ xưa nay. Thở chỉ là một sự giao động tương tác giữacác pháp hữu vi.

Khiquan sát mọi phần khác của thân và của tâm ta cũng đều thấy “do duyên sinh” như thế. Thấy như thế đểchính mình chứng thực ta không có gì cả, ta không là gì cả. Đó là lúc thấy rõ sự thật VÔ NGÃ không còn chútnghi ngờ.

Thấyđược VÔ NGÃ như thấy một sự thậtnhư thế gọi là GIÁC NGỘbằng TRÍ TUỆ (có CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY) chứ không phải thấy qua FEELING haybằng VÔ NIỆM (dập tắt ý niệm về NGÃ). Khi thấy VÔ NGÃ như là một sự thật như thế thì bền chắc hơn loại VÔ NGÃcủa Ý Niệm hoặc Feeling.

Tuynhiên bằng CHÁNH TƯ DUY ta có thể suy luận thêm rằng dầu ta thấy ta là KHÔNG,cũng không thể nói ta là KHÔNG vì ta có sự GIÁC BIẾT các pháp, chứng tỏ ta cósự hiện hữu. Đây là một sự hiện hữungoài ngũ uẩn, ngoài các pháp hữu vi, ngoài sự sống và chết. Đó là điều mà đức Phật đã nói ở trong Tiểu Bộkinh:

“Này các Tỷ-kheo, có sựkhông sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi.

Này các Tỷ-kheo, nếukhông có cái không sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở đâykhông thể trình bày sự xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm, khỏi hữuvi.

Vì rằng, này cácTỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên cósự trình bày xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm, khỏi hữu vi.”

Nhưvậy ta thấy ta cũng KHÔNG mà cũng CÓ. Đóchính là sự chứng nghiệm CHƠN KHÔNGcủa BÁT NHÃ. Sau khi đã thấy ta là CHƠN KHÔNG (vừa CÓ vừaKHÔNG) thì ngay trên KHỔta cũng thấy KHÔNG KHỔ. Như vậy là vừa thấy KHỔmà vừa thấy NIẾTBÀN(không KHỔ). Khi NIẾT BÀN có thểhiện diện ngay trên KHỔ như thế, thì đó là NIẾT BÀN vô điều kiện. Vô điều kiện thì có nghĩa là thường hằngkhông mất mát. Mà như thế mới là NIẾTBÀN chân thật (như là một sự thật vĩnh cữu).

Nói nhưthế có nghĩa rằng nếu ai muốn trốn tránh sự KHỔ hoặc đòi hỏi KHỔ phải biến mấttrước để có NIẾT BÀN thì người đó không hề đạt được NIẾT BÀN chân thật mà chỉcó một loại sung sướng tạm bợ giả dối nào đó mà thôi.

Như vậythì NIẾT BÀN cũng như VÔ NGÃ là những SỰ THẬT thường hằng khám phá ra bằng trítuệ qua các tiến trình CHÁNH NIỆM, CHÁNH KIẾN và CHÁNH TƯ DUY. Nếu không có CHÁNH NIỆM, CHÁNH KIẾN, CHÁNHTƯ DUY thì sẽ không chứng thực được sự thật VÔ NGÃ và NIẾT BÀN.

Vớimột bậc đã có tuệ VÔ NGÃ, khi sống trong KHỔ thì chỉ “thấy khổ” (nhưthấy một màu sắc ở bên ngoài ta) chứ “không Khổ” (không có sự cảm thọkhổ vào bên trong ta). Rồi nhờ đã chấmdứt khổ đau, không còn bị pháp nào làm khổ” nên mới thấy các pháp BÌNHĐẲNG. Do đó mới “không nhơ, không sạch”.

Cũngvậy, sau khi đã chứng ngộ vạn pháp VÔ NGÃ, thì thấy chưa hề có VÔ MINH CHẤPNGÃ. Do đó mới có những lời kinh:

Khônghề có VÔ MINH

Khôngcó HẾT VÔ MINH

Chođến không GIÀ CHẾT

Cũngkhông HẾT GIÀ CHẾT

KhôngKHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO

Không TRÍ, cũng không ĐẮC.

Vì có NGÃ CHẤP mới cóVÔ MINH, mới có KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO để cho cái NGÃ tìm đường giải thoát. Khi đã giác ngộ xưa nay các pháp đều VÔ NGÃthì chưa hề có VÔ MINH, chưa hề có KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO. Đó là lý do có câu Không KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠOở trong kinh BÁT NHÃ.

Chứ câu đó không cónghĩa rằng pháp TỨ ĐẾ là pháp thấp thỏi của hàng NHỊ THỪA, hạ căn hạ trí như các tổ Thiền tông TQ hay tuyêntruyền. Chê bai như vậy sai trái vôcùng. Do chưa chứng Bát Nhã mới hiểu lầmkinh như thế. Họ không biết rằng TỨ ĐẾ làpháp chỉ có một bậc CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC mới có thể thấu triệt mà thôi (xemkinh Chuyển Pháp Luân). Như vậy thì làmsao TỨ ĐẾ có thể là pháp thấp thỏi được.

Thêm một điều nữa,khi còn NGÃ CHẤP thì mới có GIÀ CHẾT nhưng khi đã giác ngộ VÔ NGÃ thì GIÀ CHẾTchỉ là sự trôi chảy của các pháp hữu vi, không dính dáng gì đến ta, cho nên “không có già chết” mà cũng “không hết già chết”. Vì sau khi chứng ngộ VÔ NGÃ thì các pháp hữuvi vẫn trôi chảy từ trẻ, tới già, rồi chết, không có gì thay đổi.

Nóitóm lại muốn chứng ngộ BÁT NHÃ phải thực hành TỨ NIỆM XỨ quán chiếu Thân, Thọ,Tâm, Pháp, để thấy “ngủ uẩn giai không” để thực chứng VÔ NGÃ. Có chứng VÔ NGÃ rồi mới có thể diễn tả KHÔNGTÁNH của Bát Nhã một cách chính xác như một sự thật đã được chứng kiến rõ ràng.

Cho nên người Phật tử phảibiết rằng không thực hành pháp CHÁNH NIỆM, TỨ NIỆM XỨ thì không thể có sự chứngngộ, không thể có được trí tuệ BÁT NHÃ.Trong Tương Ưng bộ kinh, Phật đã giảng rằng, nơi nào thời nào mất TỨNIỆM XỨ thì nơi đó thời đó sẽ không có người chứng ngộ rồi giáo pháp sẽ suytàn.

Trái lại nơi nào, thời nào,còn có người thực hành TỨ NIỆM XỨ thì sẽ có nhiều bậc chứng ngộ để làm giáopháp càng thêm sung mãn. Xem trọn lờiPhật giảng ở đây: /D_1-2_2-219_4-21393_5-15_6-1_17-672_14-2_15-2/su-ton-tai-cua-dieu-phap.html

Vì pháp TỨ NIỆM XỨ quá quantrọng như thế cho nên trước khi nhập Niết bàn Đức Phật đã căn dặn ngài A NANrằng sau khi Như lai diệt độ hãy nương pháp TỨ NIỆM XỨ mà tu. Lời dặn này có ghi rõ trong kinh ĐẠI BÁT NIẾTBÀN của cả Đại Thừa lẫn Nguyên Thủy.

Về sau Bồ tát LONG THỌ,trong ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN, tập III, cuốn 48, cũng nhắc lại lời dạy của Phật trongkinh ĐẠI BÁT NHÃ (của Đại Thừa) rằng: “Bốn Niệm Xứ là Đại Thừa của Bồ Tát”. Có nghĩa rằng mất TỨ NIỆM XỨ là mất Đại Thừa.và điều đó đã và đang xảy ra ở Trung Hoa.

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-61_4-3323_5-50_6-1_17-45_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

Khổ thay, các tổThiền Tông Trung Hoa do sự hiểu lầm tưởng Trí Bát Nhã là trí VÔ PHÂN BIỆT, nênđã thay thế pháp CHÁNH NIỆM (có sự phân biệt) bằng pháp VÔ NIỆMđể tâm có thể đạt ngay trình độ “vô phân biệt”. Nhưng các tổ đã không biết rằng loại Bát Nhãnhư vậy là loại BÁT NHÃ “áp đặt” của TƯ TƯỞNG, còn trong vòng NGŨ UẨN, chứkhông phải là TRÍ BÁT NHÃ ở cấp độ VÔNGÃ đã ra ngoài ngũ uẩn.

Phảibiết rằng BÁT NHÃ là sự chứng ngộ, là“điểm đến” của NIẾT BÀN chứ không phải là “con đường đi”. Do đó ai cố uốn nắn tâm theo sự thấy của BátNhã, để được “tức khắc giải thoát”, là tu lấy đuôi làm đầu. Tu kiểu đó là đi ngược chiều giác ngộ.

Đừngtưởng một bậc chứng ngộ Bát Nhã trở thành VÔ PHÂN BIỆT, để rồi muốn “đốn ngộ” ngay đến sự VÔ PHÂNBIỆT đó bằng cách coi NHƠ cũng như SẠCH, coi ÁC cũng như THIỆN. Tu tập như thế thì chỉ có thêm bệnh hoạn, vàcó ngày sẽ bị vào tù. Nên nhớ rằng, khi chúngta còn vô minh chấp ngã, chưa chấm dứt khổ đau, thì không thể bắt chước cáinhìn bình đẳng của một bậc VÔ NGÃ mà đối xử với các pháp được.

Cácbậc chứng ngộ vẫn luôn luôn có trí phân biệt.Vì PHÂN BIỆT là khả năng của TRÍ TUỆ. Hễ có GIÁC BIẾT là phải có sự PHÂN BIỆT. Không có sự phân biệt thì chẳng còn nhận rađược cái gì. Chỉ có kẻ hôn mê mới khôngcòn khả năng phân biệt. Nếu các ngàikhông còn Phân Biệt thì làm sao biết mình đã giác ngộ? Đương nhiên các ngài vẫn còn phân biệt ĐÚNG/SAI, CHÁNH/ TÀ để hướng dẫn chúng sanh. Tu hành cũng phải có khả năng phân biệt để nhận ra được các sự thật như DUYÊN KHỞI, 12 NHÂN DUYÊN, TAM PHÁP ẤN,TỨ ĐẾ thì mới có thể đắc đạo.

Rất mong bài này sẽ giúpcho nhiều phật tử VN tỉnh thức, trở vềchuyên tu pháp CHÁNH NIỆM TỨ NIỆM XỨ để sớm đắc chứng BÁT NHÃ. Được như thế thì DIỆU PHÁP của Phật sẽ càngngày càng sung mãn trên đất nước VN; Để rồi Phật tử VN còn giúp cho Trung Hoaphục hồi lại CHÁNH PHÁP của Phật.

Nam mô CHÁNH TINH TẤNBồ Tát Ma Ha Tát
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/02/2013(Xem: 4105)
Pháp Duyên khởi, tiếng Phạn là Pratīya-samutpāda. Pratīya, là sự hướng đến: Nghĩa là cái này hướng đến cái kia và cái kia hướng đến cái này. Hán dịch Pratīya là Duyên và Anh dịch là Condition. Trong Māhyamika, Ngài Nāgārjuna giải thích chữ Pratīya như sau: Utpadyate pratītyemān itīme pratyayaḥ kīla (1). Nghĩa là, do làm điều kiện cho cái kia sinh khởi, những cái này người ta gọi là Duyên. Samutpāda có nghĩa là tập khởi, đồng khởi, sinh khởi, tương khởi, cộng khởi… Do những ý nghĩa trên, mà Pratīya-samutpāda được các nhà Hán dịch là Duyên khởi hay Duyên sinh, tức là sự khởi sinh của vạn pháp cần phải có điều kiện (pratīya), nếu không có điều kiện, thì các pháp không thể sinh khởi.
31/12/2012(Xem: 3828)
Theo nghĩa hẹp, nhẫn nhục là nhịn chịu mọi nhục nhã và mọi khó khăn trở ngại, và vượt qua chúng một cách bình ổn. Nhà Phật gọi những chướng duyên làm ngăn trơ ûsự tiến tu là ma chướng, gồm ngoại ma (trở ngại do người khác hoặc hoàn cảnh bên ngoài gây ra)và nội ma (trở ngại từ chính thân tâm mình)
28/12/2012(Xem: 20751)
Là người mới bắt đầu học Phật, tôi nhận thấy quyển sách nhỏ này thể hiện tốt tinh thần vừa giáo dục vừa khai sáng. Mặc dù đạo Phật có bề dày lịch sử phong phú, đầy những giá trị, điều cần thiết đối với người học Phật ngày nay vẫn là làm thế nào để ứng dụng lời đức Phật dạy vào đời sống hàng ngày. Quyển 100 điều đạo đức tại gia này giúp tôi hiểu tầm ảnh hưởng của đạo Phật đối với cuộc sống thường nhật của con người. Nó có thể được xem như quyển sổ tay hướng dẫn chúng ta sống cuộc đời theo chánh pháp.
09/12/2012(Xem: 10041)
Người ta thường nói rằng tác giả 14 điều Phật dạy là Hòa thượng Kim Cang Tử. Thực tế không phải như vậy. Hòa thượng Kim Cang Tử chỉ có công phiên dịch 14 điều này ra từ chữ Hán. Vào những năm 1998-1999, ta mới thấy 14 câu này được lưu hành. Gần đây, chúng tôi có đọc được bản nguyên tác chữ Hán có ghi rõ xuất xứ là chùa Thiếu Lâm ở Trung Quốc tặng cho các phái đoàn Việt Nam.
08/11/2012(Xem: 7329)
Cách đây ít lâu - chính xác là ngày 14 tháng 9 - một bài viết được đăng lên trang Phật giáo Thư viện Hoa sen có nhan đề “Kinh Vu Lan Bồn thực hay giả?”của tác giả Đáo Bỉ Ngạn. Ngay hôm sau đó, bài viết này cũng xuất hiện trên trang Văn hóa Phật giáo và gợi lên một loạt những tranh biện kéo dài đến hơn một tháng sau. Ý kiến cuối cùng được đăng bên dưới bài viết này là vào ngày 20 tháng 10.
31/07/2012(Xem: 5681)
Chúng tôi viết quyển sách này cho nhữngngười mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quantrọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khimới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu.Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần phải xâydựng có một căn bản vững chắc, đi đúng đường hướng của Phật dạy. Hiểu Phật giáomột cách đúng đắn, mới mong thành một Phật tử chân chánh.
27/05/2012(Xem: 10528)
Trải qua nửa thế kỷ thuyết pháp độ sinh, Đức Đạo sư đã hóa độ đủ mọi hạng người, không phân biệt màu da, chủng tộc, giai cấp, sang hèn. Những đệ tử được Thế Tôn hóa độ, do căn cơ trình độ, tuổi tác, giới tính bất đồng, vì thế được chia thành 7 nhóm và được gọi là 7 chúng đệ tử của Phật. Trong đó, hai nhóm đầu là Ưu bà tắc và Ưu bà di thuộc hàng đệ tử tại gia; năm nhóm sau là Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na, Tỷ kheo và Tỷ kheo ni thuộc hàng đệ tử xuất gia. Trong bài này, chúng tôi sẽ tuần tự trình bày những giới pháp mà mỗi chúng đệ tử phải lãnh thọ, hành trì trên lộ trình tiến đến giải thoát.
21/01/2012(Xem: 11983)
Tập sách nhỏ này, là một tập tài liệu vô cùng quí giá, do sự tham khảo các kinh sách của Đức Thế Tôn để lại với các tài liệu tác giả đã sưu tầm và tham quan tại một số địa phương...
20/11/2011(Xem: 16994)
Người muốn thấu triệt pháp môn tu tập, xứng lý, hợp cơ, trước hết cần phải tạo cho mình có cái nhìn căn bản tổng quát về tôn giáo mình... HT Thích Bảo Lạc
12/10/2011(Xem: 3353)
ó bốn cách nghiệp sẽ chín trong những kiếp tương lai: Nghiệp Chín Hoàn Toàn: là loại tái sanh mà tâm thức ta sẽ nhận lãnh khi nó tách rời thân thể ta trong giờ phút lâm chung. Hành Động Tương Đương với Nguyên Nhân: tất cả những lời nói, ý nghĩ và hành động ta tạo ra trong bất cứ kiếp sống nào là do những thói quen trong quá khứ. Kinh Nghiệm Tương Đương với Nguyên Nhân: tất cả những gì người khác hay các chúng sanh khác đối xử với ta, hay những gì xảy ra cho ta. Nghiệp Quả Qua Môi Trường (Y báo): thế giới xung quanh ta ra sao: ô nhiễm, tươi đẹp, bị động đất v.v..., đều do cộng nghiệp của tất cả chúng sanh sống trong môi trường đó.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,539,059