Kệ Thỉnh Chuông Đại Hồng

27/01/201411:46(Xem: 9172)
Kệ Thỉnh Chuông Đại Hồng

daihongchung
Kệ Thỉnh Chuông Đại Hồng



1.
Ba nghiệp lắng thanh tịnh
Gửi lòng theo tiếng chuông
Nguyện người nghe tỉnh thức
Vượt thoát nẻo đau buồn.
2.
Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe
Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.
3.
Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới
Khắp nơi u tối mọi loài nghe
Siêu nhiên vượt thoát vòng sanh tử
Giác ngộ tâm tư một hướng về.
4.
Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới
Xa xôi tăm tối cũng đều nghe
Những ai lạc bước mau dừng lại
Tỉnh giấc hôn mê thấy nẻo về.
5.
Nghe chuông phiền não tan mây khói
Ý lặng, thân an, miệng mỉm cười
Hơi thở nương chuông về chánh niệm
Vườn tâm hoa tuệ nở xinh tươi.
6.
Nghe tiếng chuông
Lòng nhẹ buông
Tâm tĩnh lặng
Hết sầu thương
Tập buông thả
Thôi vấn vương
Lắng nghe thấu
Tận nguồn cơn
Học nhìn lại
Hiểu và thương.
7.
Chuông đại hồng mới vọng
Tiếng kệ xướng đã vang
Trên vọng tới thiên đường
Dưới thông về địa phủ.
8.
Nam Mô Bụt Tỳ Lô Giá Na, Pháp Thân Thanh Tịnh.
9.
Nam Mô Bụt Lô Xá Na, Báo Thân Viên Mãn
10.
Nam Mô Bụt Thích Ca Mâu Ni, Hóa Thân ngàn muôn ức.
11.
Nam Mô Bụt A Di Ðà cõi nước Tịnh Ðộ.
12.
Nam Mô Bụt Di Lặc hạ sanh trong tương lai.
13.
Nam Mô Bụt Dược Sư Lưu Ly.
14.
Nam Mô Bụt Bất Ðộng cõi nước Diệu Hỷ.
15.
Nam Mô Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi.
16.
Nam Mô Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền.
17.
Nam Mô Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm.
18.
Nam Mô Bồ Tát Đại Nguyện Ðịa Tạng Vương.
19.
Nguyện ngày an lành đêm an lành
Ngày đêm sáu thời đều an lành
An lành trong mỗi giây mỗi phút
Cầu ơn Tam Bảo luôn che chở.
20.
Bốn loài sinh lên đất Tịnh
Ba cõi thác hóa tòa Sen
Hằng sa ngạ quỷ chứng Tam Hiền
Vạn loại hữu tình lên Thập Ðịa.
21.
Tám nạn ba đường đều thoát khỏi
Bốn ân ba cõi thấm hồng ân
Thế giới khắp nơi không chiến tranh
Gió hòa mưa thuận dân an lạc.
22.
Ðại chúng chuyên tu càng tinh tiến
Mười địa đi lên không khó khăn
Tăng thân an lạc sống tươi vui
Mọi giới quy y thêm phước tuệ.
23.
Nguyện chúc đạo Bụt sáng thêm
Pháp môn càng ngày càng tỏ rạng
Gió hòa mưa thuận
Ðất nước bình an.
24.
Khắp nơi thành thị nông thôn
Mọi giới biết noi theo đường tu tập.
25.
Thiên nhiên được bảo vệ an lành
Xã hội được tự do bình đẳng.
26.
Xin thổi ngọn gió từ bi thanh lương vào thế gian nóng bức
Ðem mặt trời trí tuệ rạng rỡ về ngự giữa không gian âm u.
27.
Khắp nơi đạo giải thoát được tuyên dương
Mưa pháp thấm nhuần chúng sanh đều lợi lạc.
28 .
Hiện tiền đại chúng tu tập tinh chuyên
Biết thương yêu nhau như ruột thịt
Chuyển hóa nội tâm trang nghiêm Tịnh Ðộ.
29.
Nguyện noi gương Phổ Hiền và Quán Tự Tại
Cùng các bậc Bồ Tát Ma Ha Tát
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
30.
Lạy đức Bồ Tát Quán Thế Âm
chúng con xin học theo hạnh Ngài
biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ.
31.
Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu.
Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm
và thành khẩn của chúng con.
Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến.
32.
Chúng con xin tập ngồi nghe
mà không phán xét,
không phản ứng.
Chúng con nguyện tập ngồi nghe để hiểu.
33.
Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú
để có thể hiểu được những điều đang nghe
và cả những điều không nói.
34.
Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi,
chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi.
35.
Nam Mô đức Bồ Tát Lắng Nghe Quán Thế Âm.
36.
Nam Mô đức Bồ Tát Lắng Nghe Quán Thế Âm.
37.
Nam Mô đức Bồ Tát Lắng Nghe Quán Thế Âm.
38.
Lạy đức Bồ Tát Ðịa Tạng,
chúng con xin học theo hạnh Ngài,
tìm cách có mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang trấn ngự,
để có thể mang đến những nơi ấy ánh sáng, niềm tin, hy vọng và giải thoát.
39.
Chúng con nguyện không bao giờ quên lãng
và bỏ rơi những người còn đang bị kẹt trong những tình huống tuyệt vọng.
40.
Xin nguyện cố gắng thiết lập liên lạc với những ai
đang không còn lối thoát, những ai bị bưng bít không có phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình, nhân phẩm và quyền được làm người.
41.
Chúng con biết địa ngục có mặt khắp nơi
trên thế giới và chúng con nguyện
sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm những địa ngục trần gian như thế.
42.
Chúng con xin nguyện nỗ lực giải trừ những địa ngục còn đang có mặt.
43.
Chúng con nguyện tu học để đạt được đức
vững chãi và kiên trì của Ðất, để có thể trở thành
trung kiên và không kỳ thị như Ðất.
44.
Và cũng được như Ðất có thể làm nơi nương tựa cho tất cả những ai cần đến chúng con.
45.
Nam Mô đức Bồ Tát Đại Nguyện Ðịa Tạng Vương.
46.
Nam Mô đức Bồ Tát Đại Nguyện Ðịa Tạng Vương.
47.
Nam Mô đức Bồ Tát Đại Nguyện Ðịa Tạng Vương.
48.
Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.
49.
Ðã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.
Ðã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.
Ðã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập.
50.
Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người, thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Ðề.
Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người, nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người, xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài.
51.
Nghe chuông phiền não tan mây khói
Ý lặng, thân an, miệng mỉm cười
Hơi thở nương chuông về chánh niệm
Vườn tâm hoa tuệ nở xinh tươi.
52.
Nghe tiếng chuông
Lòng nhẹ buông
Tâm tĩnh lặng
Hết sầu thương
Tập buông thả
Thôi vấn vương
Lắng nghe thấu
Tận nguồn cơn
Học nhìn lại
Hiểu và thương.
53.
Thỉnh chuông pháp thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Ðệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sanh mọi miền.
54.
Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên.
Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe. Tiếng chuông huyền diệu
đưa về quê hương.
Mỗi khi nghetiếng chuông, ta ngưng lại mọi hành động, suy tư và nói năng để trở về hơi thở.
Thở vào ta thầm niệm:
"Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe".
Thở ra ta thầm niệm:
"Tiếng chuông huyền diệu đưa về quê hương".
Quê hương ở đây là quê hương tâm linh, là sự sống, là giây phút hiện tại, là hải đảo tự thân nơi đó ta có thể tiếp xúc với Bụt, với Tịnh Độ, với tổ tiên tâm linh và huyết thống. Ở Tu Viện Lộc Uyển mỗi khi nghetiếng đồng hồ đánh nhạc mỗi 15 phút hay tiếng chuông điện thoại, mọi người cũng đều thực tập thở như thế theo bài kệ ít nhất là ba lần.
Dừng lại để thở, ta buông hết mọi căng thẳng trong thân và trong tâm để trở về với trạng thái bình an và tĩnh lặng. Lúc đó, công việc mà ta đang làm sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn, và người bạn trước mặt ta sẽ trở nên quý trọng hơn.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/11/2015(Xem: 7396)
Trước đây do phương tiện truyền thông còn nhiều hạn chế nên người ta ít khi nghe và thấy chữ "Tân Viên Tịch" trong các văn thư, cáo phó, phân ưu, điếu từ và điếu văn trên các phương tiện truyền thông, nhưng gần đây người ta thấy chữ "Tân Viên Tịch" nhiều hơn trước để chỉ sự kiện một vị Tôn Đức Tăng Ni Giáo Phẩm vừa viên tịch. Vậy trong thực tế có sự khác nhau giữa viên tịch và tân viên tịch không?
19/08/2015(Xem: 8858)
Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đá, cây, đồng, v.v…Xưa tại Ấn Độ dùng để báo thời gian, cảnh báo. Khi Đức Phật còn tại thế, dùng nó để tập họp chúng Tăng Bố tát, nghe pháp…Ngũ Phần Luật có ghi: “chư Tỳ kheo bố tát, chúng bất thời tập. Phật ngôn: nhược đả kiền chuỳ, nhược đả cổ…”.
14/07/2015(Xem: 21800)
Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư (Ngày Về Nguồn 8) sẽ được tổ chức tại chùa Pháp Bảo – Sydney, Úc Châu vào cuối tháng 9 năm 2014. Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư (Ngày Về Nguồn 9) năm 2015 dự định sẽ được tổ chức tại chùa Khánh Anh - Evry, Pháp Quốc nhân lễ Khánh Thành chùa cũng như lễ Đại Tường của cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm. Trong dịp này, chư Tăng Ni sẽ hội luận vào ngày thứ bảy 15.08.2015 như chương trình gửi kèm theo đây. Chư Tôn Đức cũng như quý Phật tử nào không tham dự được suốt chương trình các ngày Lễ thì xin mời chọn những ngày thích hợp để đến với Tăng đoàn nhằm nói lên tinh thần cộng trụ trong sinh hoạt Phật sự tại hải ngoại ngày nay. Kính mong chư Tôn Đức và quý vị Phật tử hồi báo cho Ban Tổ
06/06/2015(Xem: 14483)
Nhà để tro cốt Ruriden thuộc ngôi đền Koukoko-ji, Nhật Bản là nơi đang lưu giữ tro cốt của 2046 người đã mất theo một cách hết sức hiện đại và đầy công nghệ. Đây là những hình ảnh ghi lại tại nhà để tro cốt Ruriden thuộc ngôi đền Koukoko-ji, Nhật Bản. Nơi đây đang lưu giữ tro cốt của 2046 người đã mất theo một cách hết sức hiện đại và đầy công nghệ. Những bức tường được ngăn thành rất nhiều ngăn, mỗi ngăn có đặt một bức tượng Phật bằng pha lê và được chiếu sáng bằng đèn LED nhiều màu. Đằng sau mỗi bức tượng là hũ đựng tro cốt của người đã khuất. Như có thể thấy trong hình ảnh, màu sắc từ mỗi bức tượng được điều khiển một cách có chủ đích, tạo nên "bức tranh" đầy màu sắc trên tường.
31/03/2015(Xem: 26526)
“Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh thế gian danh lợi khách Kinh thanh Phật hiệu hoán hồi khổ hải mộng trung nhơn”. Một làn khói trầm vương nhẹ, một lời kinh khuya sớm, một tiếng chuông rơi… đều làm cho tâm hồn ta nhẹ nhàng, thanh thoát, hướng thượng và quay về với nội tâm. Mỗi tôn giáo đều có những nghi thức và pháp khí hành lễ đặc thù, phù hợp với truyền thống và văn hóa của tôn giáo mình. Đạo Phật, gần hai ngàn năm gắn liền với Dân tộc chúng ta, cho nên những pháp khí, tiếng trống, tiếng chuông chùa… trở thành thân thương, gần gũi, quen thuộc với văn hóa Dân tộc và lắng đọng trong tâm hồn người Việt Nam.
17/11/2014(Xem: 42063)
"Thọ Mai gia lễ" là gia lễ nước ta, có dựa theo "Chu Công gia lễ" tức gia lễ thời xưa của Trung Quốc, nhưng không rập khuôn theo Trung Quốc. Mặc dầu gia lễ từ triều Lê đến nay có nhiều chỗ đã lỗi thời nhưng khi đã trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, nên đến nay trong Nam ngoài Bắc vẫn còn áp dụng phổ biến, nhất là tang lễ. Tác giả của "Thọ Mai gia lễ" là Hồ Sỹ Tân hiệu Thọ Mai (1690-1760), người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông đậu tiến sỹ năm 1721 (năm thứ hai triều Bảo Thái), làm quan đến Hàn lâm Thị chế.
09/10/2014(Xem: 7860)
Một buổi lễ tụng kinh Pali theo truyền thống Nam tông Tụng kinh hay cầu kinh là một điều phổ biến trong các tôn giáo. Phật giáo cũng không ngoại lệ trong vấn đề này. Tuy nhiên, mục đích của việc tụng niệm thì khác nhau giữa tôn giáo này với tôn giáo khác. Phật giáo là tôn giáo duy nhất không xem tụng niệm như là cầu nguyện. Đức Phật trong nhiều phương cách đã chỉ dạy chúng ta phải có niềm tin vào hành động của mình và kết quả của nó, và qua đó khuyến khích chúng ta nương tựa vào chính mình mà không vào một ai khác. Điều này trong thực tế là điều cốt lõi nơi thông điệp sau cùng của Ngài ở trong kinh Đại Niết-bàn (Mahaparinibbana Sutta). Một trong những thông điệp trong kinh ngày là: “Này A Nan, hãy nương tựa chính mình và chớ nương tựa vào ai khác, hãy nương tựa Chánh pháp và chớ nương tựa vào pháp nào khác”.
25/09/2014(Xem: 36857)
Phụng hành lời giáo huấn của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni trong Kinh Du Hành - bộ Trường A Hàm : “ Chúng Tỳ Kheo phải thường xuyên theo đúng các qui định của Luật Tạng, để giảng luận Chánh Pháp, khiến cho các Tỳ Kheo trong trú xứ cùng sinh hoạt hòa hợp, là pháp đầu trong Bảy Pháp Bất Thối của hàng Thích tử ”. Theo tinh thần đó, chúng ta đã và đang nối gót các bậc Thầy Tổ trong sự nghiệp kế thừa gia bảo của Đức Thế Tôn qua Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư hay Ngày Về Nguồn năm nay là năm thứ 8.
08/09/2014(Xem: 16421)
Đức Phật từng dạy: “Trên đời có hai hạng người đáng quý. Thứ nhất, người chưa hề phạm tội và thứ hai là người lỡ phạm tội nhưng hết lòng sám hối, nguyện không tái phạm.” Kinh sách ghi lại nhiều bài sám với những hình thức ngắn, dài, đại cương hoặc chi tiết, để mỗi hành giả tùy căn cơ, nhu cầu và phương tiện mà phát nguyện sám hối. Ở đây, chỉ xin được chia sẻ đôi giòng, sau hai tuần lễ đại chúng đạo tràng chùa Phật Tổ hành trì, trong khóa tu sẽ liên tục một tháng, tụng lạy bộ“Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp Lương Hoàng Sám”
02/09/2014(Xem: 11258)
Đạo Phật là Đạo cứu chúng sanh ra khỏi sáu cõi sinh, tử, luân hồi khổ đau, để đến các cõi Phật, là những cõi vô sanh, vô tử. Do đó chư Phật trong 10 phương thế giới Phật, đều thị hiện vào Tam giới, Lục đạo, để cứu khổ chúng sanh theo sở nguyện và phương tiện(giáo pháp, tâm đại từ bi, trí tuệ) của mình. Như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thị hiện vào cõi Ta bà, nói Pháp và hướng dẫn con Người tu tập giáo pháp, để giải thoát sanh tử, luân hồi. Đức Phật còn thuyết minh về các kinh