Thi Kệ Cuộc Đời Đức Phật

04/04/201318:25(Xem: 8501)
Thi Kệ Cuộc Đời Đức Phật

KINH TỤNG HẰNG NGÀY

TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
biên soạn

---o0o---

THI KỆ CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT

Thứ nhất

Phật sanh tại Ca-tỳ-la-vệ,
Nay thuộc về lãnh thổ Nê-pal,
Tuyết sơn cao ngất mây ngàn,

Xuân về trong cảnh giang san tươi hồng. O

Khắp cả nước đơm bông kết lá,
Dân chúng hầu như đã thuần lương,
Đức vua Tịnh-phạn đường đường,
Trị vì vương quốc thời đang thái bình.
Cả đất nước yên lành rất đỗi,
Vua thuộc về dòng dõi Thích-ca,
Đức bà hoàng hậu Ma-da,
Thuộc hàng quyền quý trải qua bao đời.
Cả hai vị là người thiện nghiệp,
Có nhân lành, nhiều kiếp tu hành.
Cả hai đức hạnh xứng danh,
Vào hàng cha mẹ muôn nghìn lê dân.
Nhân vào dịp kinh thành có lễ,
Vua tôi cùng hội để vui ca,
Bấy giờ hoàng hậu Ma-da,
Vừa lên dâng lễ hương hoa điện thờ.
Trước ngọ môn xong giờ bố thí,
Hoàng hậu về ngơi nghỉ trong cung,
Bỗng mơ voi trắng trên không,
Sáu ngà trắng toát từ hông đi vào.

Bà đem điều chiêm bao vừa đặng,
Kể thánh hoàng Tịnh-phạn cùng nghe,
Đức vua an ủi vỗ về,

Lệnh truyền gọi kẻ tiên tri luận bàn. O

Rằng: Hoàng hậu sinh hàng con quý,
Tài sức cao đức trí vẹn toàn,
Đức vua mừng rỡ vô vàn,
Vì chưng có kẻ đảm đang ngôi trời.
Rằm tháng tư trăng tròn vừa đến,
Lâm-tỳ-ni thượng uyển xinh tươi,
Trong khi hoàng hậu dạo chơi,
Bỗng nghe hoa ngát hương trời Vô Ưu.
Đưa tay phải nâng niu định ngắt,
Thái tử liền bất giác giáng sinh,
Bấy giờ khắp chốn kinh thành,

Bỗng nhiên khí hậu mát lành hẳn ra. O

Muôn cây cỏ đơm hoa kết trái,
Nước sông nguồn bỗng thấy cao thêm,
Không trung chim hót vang rền,
Hào quang tỏa sáng khắp miền mười

phương.

Vua Tịnh-phạn vô cùng vui sướng,
Mời tiên tri xem tướng kỳ tài,
Đoán dùm vận mệnh tương lai,

Rằng: “Người tướng tốt băm hai đủ đầy O

Đoán thái tử đức tài bậc thánh,
Nhưng đức vua chẳng muốn chút nào,
Chỉ vì như vậy mai sau,
Ai người kế vị vua trao ngôi trời.
Vua Tịnh-phạn muốn dời định mệnh,
Nên Thánh Hoàng ý định đặt tên,
Sĩ-đạt-ta, nghĩa nói lên,

Là người thành đạt ngôi trên vững vàng.

Cái ngôi vị thánh hoàng ám chỉ,
Là ngôi trời cai trị muôn dân,
Đâu ngờ ngôi vị thánh nhân,

Lại là ngôi Phật xuất trần xưa nay. O

Riêng hoàng hậu sau ngày sinh nở,
Chỉ bảy ngày sống ở trần gian,
Nghĩ mình nhiệm vụ chu toàn,
Không còn nghiệp báo buộc ràng trầm luân.
Sau khi trút sắc thân bốn đại,
Bà vãng sanh về lại cõi trời,
Cõi trời Đao-lợi yên vui,

Tâm hồn trong sạch sống đời thanh cao. O

***

Vua Tịnh-phạn liền trao thái tử,
Gô-ta-mi gìn giữ dưỡng nuôi,
Mỗi ngày một lớn khôn rồi,
Thân hình diện mạo ra người khôi ngô.
Tài năng cũng cơ hồ bộc lộ,
Sức khỏe tốt, đức độ hơn người,
Thông minh trí tuệ tuyệt vời,
Nghề văn nghiệp võ học thời tinh thông.
Thời gian ngắn đã hơn thầy dạy,
Nên nhiều thầy e ngại cáo lui,
Dù thầy giỏi nhất được mời,
Chỉ thời gian ngắn là thôi sạch nghề.
Mặc dầu đã cực kỳ quyền quý,
Là đương kim kế vị ngai vàng;
Dù là thái tử cao sang,

Không hề ngạo mạn huênh hoang khinh

người.

Luôn vui vẻ tươi cười nhã nhặn,
Với mọi người bình đẳng vô tư;
Mọi điều bác ái nhân từ,

Tận tình cứu giúp hầu như mọi người. O

Vì lẽ ấy vua tôi yêu quý,
Thần dân đều nể vị tôn vinh;
Càng yêu càng quý con mình,
Vua cha càng thấy sự tình lo âu.
Sợ cái cảnh mai sau Thái tử,
Sẽ thành người tu sĩ xuất gia,
Để thành vị Phật như là,
Những lời tiên đoán của A-tư-đà.
Nhất là thấy dần dà khôn lớn,
Thái tử thường lẳng lặng trầm tư;
Ít khi cười nói vô tư,

Ít khi vui vẻ giống như thiếu thời. O

Lòng lo sợ những lời tiên đoán,
Sẽ đến hồi linh ứng tương lai,
Vua cha dùng kế trong ngoài,
Truyền xây cung điện lâu đài ba nơi.
Để thái tử vui đời tráng lệ,
Tạo tưng bừng như lễ quanh năm,
Bao nhiêu mỹ nữ cung tần,
Chỉ mong thái tử muôn phần thảnh thơi.

Chọn cho con được người nhan sắc,
Con gái vua Thiện Giác nhân hòa,
Nàng là công chúa tiên sa,
Da-du-đà-la hiền hòa đoan trang.
Nàng nổi tiếng ngàn vàng nhân đức,
Vua dọn đường gia thất cho con,
Những mong hạnh phúc hôn nhân,
Vợ con phú quý cầm chân được Ngài.
Sống giữa cảnh vui vầy vương giả,
Sự vinh hoa hơn cả trần đời,
Lòng Ngài nặng trĩu đêm ngày,

Cho rằng hạnh phúc trần ai vô thường. O
***

Nhân dịp hôm “Hạ Điền” lễ lớn,
Thái tử theo vua hướng ra đồng,
Mùa xuân quang cảnh tưng bừng.
Muôn dân vui vẻ tập trung cấy cày.

Nhìn cảnh vật phô bày xanh tốt,
Cảnh xuân về chim hót hoa tươi,
Bầu trời quang đãng rạng ngời,
Gió xuân phơi phới nơi nơi hữu tình.
Giữa khung cảnh thanh bình an lạc,
Với tâm hồn soi xét nhân gian,
Đời đầy cảnh khổ trái ngang,

Vô thường, vô ngã tiềm tàng thương đau. O

Đời chẳng phải đẹp màu tươi sắc,
Như thoảng qua ánh mắt muôn người,
Nông dân lao khổ dưới trời,
Trâu bò quần quật thay người gian lao.
Để đổi lấy bó rau bát gạo,
Đời lắm điều trở tráo bi ai,
Nhìn qua cảnh vật phơi bày:
Chim muông nuốt sống bao loài trùng sâu.
Ngay khi ấy kẻ vào săn bắn,
Tên nỏ còn đang nhắm vô chim,
Bên rừng dày đặc quanh mình,

Thì loài hổ báo đang rình thợ săn… O

Nhìn cảnh vật thương tâm giết chóc,
Nạn tương tàn không lúc nghỉ ngưng,
Miếng ăn, sự sống không ngừng,
Gieo nhân chém giết vô cùng dã man.
Ngài nhận thấy rõ ràng sáng tỏ,
Đời vốn là bể khổ bao la,
Một hôm xin phép vua cha,

Ra thành quanh quẩn dạo qua một vòng. O

Đến cửa Đông thấy người già cả,
Đứng bên đường mệt lả còng lưng,
Mắt lòa tai điếc ngập ngừng,

Chống đi từng bước xem chừng muốn xiêu. O

Đến cửa Nam gặp điều trước mắt,
Thấy một người bệnh tật thương đau,
Nhìn người rên siết lệ trào,

Xót lòng, thái tử mày chau thương tình. O

Ra cửa Tây lại nhìn người chết,
Xác bên đường nhê nhết tanh hôi,
Ruồi bu kiến đậu nặc mùi,

Xác sình gớm ghiếc giữa người lại qua. O

Ba cảnh khổ như già bệnh chết,
Cùng cảnh tình thê thiết tranh nhau,
Mà Ngài được thấy không lâu,

Ghi vào tâm trí, hằn sâu đáy lòng. O

Một hôm khác ra vùng cửa Bắc,
Thấy một người dáng dấp trang nghiêm,
Bên đường cất bước lặng yên,
Sống đời ẩn sĩ an nhiên thanh nhàn.
Ngài bước lại, ôn tồn thăm hỏi,
Rằng: “Tu hành là bởi lẽ chi,
Việc này lợi lạc được gì,
Xin người lượng thứ từ bi đáp lời.”
“Rằng mục đích của người tu tập,
Là mong lìa trói buộc nhân gian;
Diệt tan phiền não buộc ràng,

Khi thành Chánh Giác quyết tâm độ đời.” O

Mấy câu nói đáp lời Thái tử,
Gợi đúng điều ấp ủ lâu nay,
Đúng vào hoài bão đêm ngày,
Như vừa mở mắt nên ngài ung dung.
Về hoàng cung tâu cùng Thánh Thượng.
Xin đức vua ban lượng hải hà,
Cho Ngài được phép xuất gia,

Nhưng vua Tịnh-phạn xót xa chối từ. O

Ngài đề nghị nếu như bốn việc,
Mà Thánh Hoàng giải quyết được cho,
Thì Ngài bỏ ý đi tu,
Vui lòng ở lại nhân từ trị dân.
“Một là được sắc thân trẻ mãi,
Hai là thân không bệnh không đau,
Ba là sự chết không vào,
Bốn là phiền não khổ đau không còn.”
Bốn việc ấy vô cùng gian khó,
Bởi xưa nay đã có bao giờ,
Vua cha bối rối thẫn thờ,

Không sao giải đáp cho vừa lòng con. O

***

Khi biết rõ con mình nghiêm chỉnh,
Nói ra lời ý định xuất trần,
Đức vua tìm cách cản ngăn,
Giữ cho thái tử đừng năng ra ngoài.
Để trong cung cho Ngài vui thỏa,
Nhưng chẳng gì khuây khỏa cho nguôi,
Một khi Ngài quyết chí rồi,

Trên đời không thể có người giữ chân. O

Giữa hoàng thành cung tần mỹ nữ,
Quân lính tuần canh giữ ngoài trong,
Sau cơn vui vẻ tiệc tùng,
Mọi người mê mệt đã cùng ngủ say.
Thái tử quyết ra ngoài cung cấm,
Thoát khỏi vòng vương vấn vợ con,
Giã từ đời sống vàng son,

Cùng hầu Sa-nặc đi chung ra ngoài.O

Đêm mùng tám tháng hai sao kín,
Ngài mới vừa mười chín tuổi xanh,
Thầy trò phi ngựa vượt thành,
Vội vàng giục giã băng mình trong đêm.
Đã xa cảnh phồn vinh vương giả,
Thái tử vào núi thẳm rừng sâu,
Dốc lòng cầu đạo nhiệm mầu,

Tìm đường thoát khỏi khổ đau buộc ràng. O

Giữa rừng núi thênh thang yên vắng,
Sự an bình soi lắng tâm tư,
Cỏ cây muông thú hoang vu,
Khác gì như cảnh tâm tư thanh nhàn.
Sống trong cảnh yên hàn tịch mịch,
Với muôn loài không địch không ta,
Thiên nhiên với vẻ hiền hòa,
Thấy lòng nhân ái bao la vô cùng.

Nhìn cảnh vật dung thông tự tại,
Bỗng an nhiên sảng khoái tinh thần,
Sự đời chẳng chút bận tâm,

Mọi điều vướng mắc thế trần tiêu tan. O

Ngài cầu học hai thiền sắc giới

Không sở hữu, Không cảm giác sáng ra

A-la-ra và Út-đa-ca

Phải đều thừa nhận Thích-ca bằng mình. O

Nhưng thái tử nhận chân ra được

Hai thiền này khó vượt khổ đau.

Quyết từ bỏ, vào rừng sâu,

Sáu năm khổ hạnh dãi dầu tuyết sương.
Ngài nghiền ngẫm con đường giải thoát,
Chẳng một điều chi khác để tâm,
Đêm ngày bỏ ngủ quên ăn,
Một hôm kiệt sức ngã lăn bên rừng.
Người chăn cừu bỗng dưng qua đấy,
Thấy thương tình, sữa lấy hiến dâng,
Tỉnh ra, Ngài tỏ lẽ rằng,
Muốn tu phải giữ sắc thân của mình.
Thân khoẻ mạnh, tinh thần minh mẫn

Thân yếu gầy đạo chẳng thành đâu,
Một khi sức lực dồi dào,

Giúp tâm vượt thoát trần lao muộn phiền. O

Ngài thấy rõ khổ hành vô hiệu,
Khuyên đồng tu nên hiểu dừng đi,
Pháp môn khổ hạnh chấp nê,
Trói chân bao kẻ u mê lầm đường.
Người tu tập phải nương Trung Đạo,
Không lụy dục, không bạo ngược thân

Uống ăn ngơi nghỉ cân phân

Con đường tuệ giác tỏ dần trong tâm. O

***

Thấy Ngài lấy thức ăn dùng lại,
Bạn đồng tu thấy vậy bất bình,
Cho rằng lợi dưỡng thường tình,
Đã làm Ngài phải thoái mình trở lui.
Kiều-trần-như, năm người bỏ cả,
Về Vườn Nai hoang dã tu riêng.
Một mình không chút muộn phiền,

Kiên trì tinh tấn hành thiền không lơi. O

Như mặt gương lau chùi bóng loáng,
Mọi vật rồi soi sáng đâu xa,
Rõ ràng chân lý thật thà,
Ái tham ô nhiễm rồi ra lắng chìm.
Quyết phá bỏ vô minh vô thỉ,
Dưới Bồ-đề quyết chí thiền hành,
Nếu như đạo cả chưa thành,
Xương tan thịt nát mặc tình không đi.
Ngài chuyên nhất hành trì chánh định,
Tánh chân thường thanh tịnh bản tâm,
Đột nhiên đại ngộ cõi lòng,

Bao nhiêu kiếp trước thảy đồng sáng ra. O

Thấy rõ cả đời qua bao cõi,
Quá khứ từng trôi nổi bao nơi,
Nửa đêm sáng được mắt trời,
Tỏ tường muôn sự bao thời gần xa.
Rõ bản thể người, ta, vũ trụ,
Đến đầu hôm chứng “lậu tận thông,”

Diệt trừ ba độc buộc ràng,

Não phiền lậu hoặc tiêu tan hết liền. O

Bốn chân lý hiện tiền tỏ rõ,
Một là đời vốn có khổ đau,
Sinh-già-bệnh-chết bấy lâu,
Đời là bể khổ vây bao trùng trùng.
Hai là hiểu nguyên nhân gây tạo,
Phát sinh điều phiền não nhân gian,
Ba là hết khổ, Niết-bàn,
Bốn là cách thoát buộc ràng khổ đau.
Đường chân chính gồm thâu tám nhánh,
Để viên thành quả thánh vô sanh,
Vô sanh bất diệt đạo thành,

Ra ngoài khổ não tử sanh luân hồi. O

***

Khi thành đạo, Phật ngồi ngẫm nghĩ,
Giáo lý Ngài huyền bí cao thâm,
Ra ngoài lý luận thế trần,
Hẳn là lãnh hội khó khăn vô cùng.
Bỗng Ma Vương trên không thổ lộ,
Giáo lý Ngài chứng ngộ cao siêu,
Loài người tham ái đã nhiều,
Như ngọn lửa lớn đốt thiêu kiếp người.
Giáo pháp ấy ngược dòng tham ái,
Cõi Ta-bà chẳng mấy người tin,
Xin ngài nhập diệt, lặng thinh,

Không cần ban bố pháp âm diệu huyền! O

Liền khi ấy Phạm Thiên lên tiếng,
Cầu Phật thương, phổ biến pháp lành,
Ba lần bày tỏ chân thành,
Xin Người soi xét thương tình chúng sanh.
Dẫu cho họ đã thành mê muội,
Mắt vướng nhiều cát bụi ngăn che,
Nếu không được pháp chưa nghe,
Trầm luân sa đọa trăm bề bi ai!
Dẫu giáo pháp của Ngài cao diệu,
Vẫn có người tin hiểu sâu xa,
Có người ngộ nhập chứng ra,
Những điều chân lý thật là uyên thâm.
Xin Thế Tôn rộng lòng hoan hỉ,
Mở cửa vào bất tử vô sanh.
Xin Ngài chỉ dạy pháp lành,

Để cho ba cõi chúng sanh được nhờ! O

Bậc Toàn Giác như là trên núi,
Nhìn thấy đời bên dưới trầm luân,
Chúng sinh chìm đắm ái tham,
Hận thù ngu muội, phá tan tâm lành.
Phật đản sinh, để hành đại nguyện,
Độ chúng sanh phương tiện, thần thông,
Từ bi trí tuệ không cùng,
Giúp cho tất cả tâm đồng Như Lai.
Bốn ơn nặng ở đời quyết trả,
Dưới ba đường cứu khổ trầm luân,
Như Lai quyết ở trần gian,

Chuyển xe chánh pháp, mở tâm muôn loài! O

***

Về sự nghiệp độ đời của Phật,
Giữa Ta-bà rất mực khó khăn,
Nhờ Ngài trí tuệ uyên thâm,
Từ bi quảng đại, tinh thần vị tha.

Nhờ bình đẳng, nhân hòa dũng mãnh,
Chẳng thoái lùi hoàn cảnh khó khăn,
Nơi nơi ban bố pháp âm,
Tùy duyên giáo hoá muôn ngàn chân Kinh. O

***

Dùng phương tiện, độ sinh trình tự,
Với mỗi người tùy sự căn cơ,
Thoạt tiên độ bạn cùng tu,
Đó là nhóm Kiều-trần-như năm người.
Bốn chân lý rạng ngời công bố,
Năm vị này giác ngộ nhân duyên,
Trở thành đệ tử đầu tiên,
Xa gần khắp nẻo Phật truyền pháp âm.
Bà-la-môn, năm lăm vị ngộ,
Hợp lại cùng năm vị trước tiên,
Trở thành sáu chục thiện hiền,

Đúng theo giới luật giữ gìn không sai. O

Các vị này được Ngài chỉ giáo,
Dấn thân đi truyền đạo nơi nơi,
Đi vào những chốn xa xôi,
Cho người sáng tỏ, cho đời hết mê.

Phật hoá độ anh em Ca-diếp,
Dẫn hơn ngàn đệ tử quy y,
Nhớ lời ước hẹn khi đi,
Ngài về Vương Xá độ trì đức vua.
Sự ước nguyện hôm xưa đã thỏa,
Vua cất liền Tịnh Xá Trúc Lâm,
Xây rồi thỉnh Phật, chư tăng,

Làm nơi thuyết pháp xuất trần độ sanh. O

Lúc Đức Phật thực hành truyền bá,
Tại ngôi chùa: Tịnh Xá Trúc Lâm,
Vua cha Tịnh-phạn mừng thầm,
Liền sai sứ giả đích thân đi mời.
Ưu-đà-di nhận lời xin hứa,
Người cận thần thân tín ra đi,
Đường xa nhất quyết kiên trì,
Đã mời được Phật trở về quê hương.
Từ Vương Xá trên đường về nước,
Phật độ sanh cũng được lắm người,
Bảy ngày ở lại quê thôi,

Ngài cảm hóa được bao người xuất gia.

Cả dòng họ Thích-ca theo Phật,
Nhiều vị đà chứng đắc Vô Sanh,
Sau khi thăm viếng gia đình,

Ngài liền tiếp tục hành trình độ sinh. O

Thành Xá-vệ: lộ trình Đức Phật,
Nơi vua Ba-tư-nặc đương thời,
Nhân duyên hội độ một người,
Là ông Tu-đạt đức ngời, trí cao.

Vốn quyền quý lòng giàu bố thí,
Thường giúp người cùng thế cô đơn,
Nên người hay gọi tên ông,
Là Cấp Cô Độc lồng trong ý này.
Vốn có lòng kính tin trọng Phật,
Chẳng tiếc chi vàng bạc của tiền,
Quyết lòng mua cả khuôn viên,
Kỳ-đà thái tử dâng lên cúng dường:
Phật hoan hỉ tán dương đến ở,
Với ngàn hai trăm rưỡi tỳ-kheo;
Lẽ này chốn ấy thường kêu,
Vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà.
Trúc Lâm ấy Phật-đà cư ngụ,
Nơi chúng tăng làm chỗ tu hành,
Là nơi thuyết pháp độ sanh,

Là nơi chúng thánh thực hành đại bi. O

***
Nghe vua cha đến kỳ bệnh nặng,
Phật xa từ muôn dặm về thăm,
Bên giường thấy mặt phụ thân,
Nét buồn ẩn khuất sắc thần kém xinh.
Phật thuyết giảng bài kinh Bát-nhã,
Lẽ vô thường, vô ngã, khổ đau;
Nghe rồi khổ não sạch làu,
Tâm thông trí giác, ngộ liền Vô Sanh.
Rồi thanh thản bỏ thân đã mục,
Không còn mang một chút vấn vương,
Ngay sau cái chết phụ vương,
Mẹ nuôi Đức Phật vui đường xuất gia.

Sau đó, La-hầu-la con Phật

Cũng quyết tâm theo Phật xuất gia,

Vợ ngài: Da-du-đà-la

Bỏ đời phú quý, làm Tỳ-kheo-ni. O

Phật tiếp tục gần xa truyền đạo,
Độ bao người, rốt ráo không cùng,
Nào là quốc thích, hoàng thân,

Nào là các bậc thường dân xa gần.

Đức Phật đã thực hành phổ độ,
Biết bao người tuần tự căn cơ,
Người thân cùng với kẻ sơ,

Kẻ thì giải thoát, người thì lạc an. O

***

Trên bước đường độ sanh khất thực,
Nhiều cảnh tình rất mực gay go,
Hành trình giáo hoá môn đồ,
Lắm người ganh tỵ bày trò gian manh.
Tùy phương tiện thực hành cảm hóa,
Dẫn dắt người xấu dạ thành ngay,
Tình thương, trí tuệ rộng bày

Người thù kẻ ghét cũng đều độ qua. O

Như Đề-bà-đạt-đa đố kỵ,
Cũng được Ngài thọ ký Phật thân,
Anh chàng Vô Não sát nhân,
Cũng nhờ Phật độ ân cần quy y.
Con voi dại ngu si mê muội,
Cũng nghe lời sám-hối theo chân,
Vua A-xà-thế nhẫn tâm
Giết cha, nhờ Phật ăn năn làm lành.
Phật vận dụng muôn ngàn phương tiện,
Tùy duyên mà ứng biến độ sanh,
Trên đường truyền đạo làm lành,

Căn cơ tâm ý sáng danh đạo đời. O

Phật răn nhắc chớ lầm phương tiện,
Tưởng cho là cứu cánh xưa nay,
Nhớ đừng lầm lẫn ngón tay,
Ngỡ là trăng tỏ bị mây khuất mờ.
Vầng trăng dụ chân như Phật trí,
Ngón tay là giáo lý kinh văn,
Mượn tay để thấy được trăng,
Chớ cho tay trỏ là trăng mà lầm.
Như thầy giỏi rõ nguồn cơn bệnh,
Tùy bệnh tình mà định thuốc thang,
Thông minh ngu độn, nghèo sang,

Pháp môn hóa độ Phật ban chẳng đồng. O

***

Sự bình đẳng; điểm son đáng quý,
Trong tinh thần giáo lý Như Lai;
Giàu nghèo, nam nữ: không hai
Thảy đều bình đẳng tỏ bày sáng trong.
Rằng: máu đỏ đâu phân giai cấp,
Vị mặn thì nước mắt ai hơn,
Mỗi người tánh Phật sẵn mầm,

Khả năng giác ngộ ngang bằng khác chi. O

Giáo hội Ngài không hề phân biệt,
Nhận cả người hạ liệt xuất gia,
Ưu-ba-li trước vốn là,
Thợ cạo, giai cấp nào ra thứ gì.
Nhưng tu tập kiên trì chứng đắc,
Nổi danh về giới đức nghiêm minh,
Lại còn quả thánh viên thành,
Quả là hiếm có thật tình quý thay.
Như sen giữa bùn lầy nước bẩn,
Hoa tươi hồng vẫn thoảng hương thơm,
Giữa đời bể khổ tang thương,

Sang hèn đâu phải tự phương sinh thành. O

***
Năm thời pháp góp phần tu tập,
Căn cơ tùy thứ bậc thấp cao,
Khi vừa thành đạo nhiệm mầu,

Phật ban giáo pháp dẫn vào Hoa Nghiêm. O

Pháp rốt ráo xuất trần đích thật,
Chỉ Phật cùng với Phật rõ thôi,
Tối lòng như điếc, như đui,
Huống chi tà đạo ai người hiểu ra.
Phật chỉ dạy để mà tu luyện,
Pháp tâm mình phải nghiệm phải suy,
Pháp môn chân thật diệu kỳ,
Tự mình soi đuốc mà đi một mình.

Muốn đi xa, từ gần trước nhất,
Muốn lên cao, tự thấp khởi đầu;
Thích-ca, các Phật khác nào,

Tùy duyên thuyết pháp ngõ hầu khai tâm. O

Ngài nói kinh A-hàmđa diện,
Giúp cho người thứ bậc ngộ tâm,
Bao năm đây đó xa gần,
Khiến người cao thấp sáng tâm độ mình.

Để thực hành độ sinh đúng mực,
Giácmình xong, tích cực giác người.
Diễn kinh Phương Đẳngđể đời,

Dùng tâm chuyển hóa tùy người chỉ cho. O

Khi đã thấy căn cơ khả dĩ,
Vững thế rồi có thể đi xa,
Bấy giờ Phật mới nói ra,

Những điều giáo lý sâu xa thượng thừa. O

Thời Bát-nhãtựa hồ giáo pháp,
Phương tiện dùng để đáp qua sông,
Vượt dòng biển khổ mênh mông,
Đến bờ bên ấy, quyết không trở về.

Sự hóa độ muốn cho trọn vẹn,
Chúng sanh cần nhuần nhuyễn căn cơ,
Khả năng dứt được mê mờ,
Như Lai mới nói pháp chưa từng bày.
Phật sinh ở nơi đầy đau khổ,
Nhân duyên vì phổ độ chúng sinh,
Ngộ vào tri kiến Phật tâm,
Để lời phó chúc đạo thành tương lai.
Ngài thọ ký những ai thành Phật,
Bằng những lời chân thật tâm can,
Kinh văn vận dụng luận bàn,

Pháp Hoacùng với Niết-bàngiảng tuyên. O

***

Tám chục tuổi báo thân đã hết,
Nhiệm vụ tròn phó chúc ra đi,
Hoàn thành đại nguyện từ bi,
Xa đời trần lụy đã vì độ sanh.

Gọi A-nan một hôm Phật giảng,
Đạo ta nay viên mãn cả rồi,
Nguyện xưa nay đã tròn lời,

Bốn hàng đệ tử nhiều người “Vô sanh.” O

Họ có thể thực hành giáo hóa,
Đem pháp lành truyền bá nơi nơi,
Vô thường sắp đến nơi rồi,
Thân ta cũng sắp đến hồi tiêu tan.
Giống như cỗ xe tàn già cỗi,
Trước mượn dùng rong ruổi đó đây,
Tạm dùng chở pháp bấy nay,

Xong rồi còn tiếc thân này mà chi. O

Đã đến lúc ra đi thanh thản,
Đã đến hồi hết vướng trần gian,
Tin truyền nhập diệt vừa ban,
Bốn hàng đệ tử bàng hoàng thiết tha.
Có Tu-bạt-đà-la tám chục,
Đến lễ Ngài, xin được xuất gia,
Trước hồi nhập diệt thế mà,

Phật còn hoá độ ông đà “vô sanh.” O

***

Các đệ tử vội về cho kịp,
Chỉ vắng ngài Ca-diếp xa thôi,
Mọi người đông đủ cả rồi,
Phật liền phó chúc, ban lời ra đi.
Rằng: “Y bát trao về Ca-diếp,
Giới luật coi muôn kiếp như Thầy,
Mỗi kinh nêu lại câu này,

"Chính tôi nghe được như vầy"đầu kinh. O

Xá-lợi Phật chia thành tám khối,
Mỗi phần dành gửi tới một vua,
Gọi là nhớ chút duyên xưa,

Tặng đều cho tám vị vua tỏ lòng. O

***
Giáo pháp Phật cũng dường bó đuốc,
Phải chính mình tự thắp mà đi,
Nương theo chánh pháp hành trì,
Tự mình giải thoát xa lìa tử sanh.
Chớ dục vọng hoành hành tâm trí,
Mọi sự đời chẳng quý mảy may,
Sắc thân tan rã có ngày,

Niết-bàn an lạc xưa nay trường tồn. O

Mọi điều đã chúc ngôn chân thật,
Phật an lòng từ biệt nhân gian,
Hoa rừng muôn sắc huy hoàng,
Rải lên trùm kín thân vàng yên hơi.
Chim xao xác lưng trời quên tiếng,
Vạn vật dường lưu luyến Người đi,
Đau buồn thay, phút biệt ly,
Sắc thân cát bụi một khi vô thường.
Bốn chín năm con đường hoằng pháp,
Khắp kinh thành làng mạc từng đi,
Gieo đầy hạt giống từ bi,
Đã thành lẽ sống tâm tri bao người.
Nhờ trí tuệ rạng ngời soi sáng,
Khiến bao người thoát nạn lầm than,
Thấm nhuần khắp cả nhân gian,

Bổn tâm rộng mở, tinh thần sáng ra. O

Pháp Phật nói như sư tử rống,
Thú muôn loài nghe đến sợ oai,
Như là sóng biển đêm ngày,
Vang rền át tiếng bi ai côn trùng.
Phật chỉ rõ con đường hạnh phúc
Phải tự mình thắp đuốc mà đi;
Dạy rành phương thuốc trị vì,
Uống hay không uống vị chi tự mình.
Như biển cả mông mênh vô hạn,
Vốn chỉ thuần vị mặn mà thôi,
Cũng vầy, vị pháp Như Lai,

Một mùi “giải thoát” xa rời tử sinh! O

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật(3 lần, xá 3 xá) OOO


--- o0o ---
Chân thành cảm ơn Thầy Nhật Từ đã gởi tặng bản Kinh điện tử này
( Quang Duc Website 04/2002)
--- o0o ---
Trình bày : Nguyên Hân- Nguyên Phúc

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/08/2021(Xem: 13841)
v Duy na xướng: Hiếu đồ tựu vị. Ai thành bài ban. Đảnh lễ tam bái – Quỳ – Phần hương – Thượng hương – Khởi thân đảnh lễ tam bái – Hồ quỳ. v Pháp ngữ vân: Ký tùy duyên nhi thuận tịch, nãi y pháp dĩ biếm truân. Cơ niên dư hoằng đạo chi xu, quy nhất lộ niết bàn chi cảnh. Ngưỡng lao đại chúng, đồng trợ chơn thuyên. v Cử tán: Tâm nhiên ngũ phận, Giới Định Tuệ hương. Giải thoát tri kiến chủ kiền thành, tịnh độ khởi căn nguyên. Diệp biến tam thiên, phụng hiến giác linh tiền. - Tiến Giác Linh Bồ Tát (tam xưng).
11/06/2021(Xem: 18529)
LỜI ĐẦU SÁCH Giáo pháp của Đức Phật đã được truyền đến khắp năm châu bốn bể và tại mỗi địa phương ngày nay, giáo lý ấy được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhằm phổ biến đến những người tin Phật có cơ hội hiểu rõ và đúng với chân tinh thần của đạo Phật. Đức Phật vẫn luôn dạy đệ tử của Ngài rằng: “Các ngươi tin ta phải hiểu ta, nếu tin mà không hiểu ta, tức hủy báng ta vậy”. Lời dạy ấy rất sâu sắc và có giá trị muôn đời cho những ai tìm đến giáo lý đạo Phật. Một hệ thống giáo lý rất sáng ngời trong tình thương, trí tuệ và giải thoát. Giáo lý đạo Phật là chất liệu dưỡng sinh trong cuộc sống tinh thần của người Phật tử. Vì thế, trước khi tin vào giáo lý, thiết tưởng cần phải hiểu rõ giáo lý ấy có thể giúp ta được những gì. Nếu không hoặc chưa rõ mục đích, chúng ta có quyền chưa tin và cũng không nên tin vội. Dầu lời dạy ấy là của những người thông thái, của các vị Thiên Thần hay ngay cả của chính đức Phật.
05/06/2020(Xem: 5891)
Cúi đầu đảnh lễ Như Lai, Chứng minh đệ tử ngày nay phát nguyền. Con xin đem dạ chí thiền, Thành tâm sám hối nghiệp khiên đã làm. Bởi xưa chưa rõ dạ phàm, Nên chi kết tạo dây oan cõi trần,
12/05/2020(Xem: 23834)
Pháp Hồng Danh Sám Hối này cũng thuộc về sự, do Ngài Bất Động Pháp Sư đời Tống bên Trung Hoa soạn ra. Ngài rút 53 danh hiệu Phật trong Kinh "Ngũ Thập Tam Phật " tức là từ đức Phật Phổ Quang cho đến Phật Nhứt Thế Pháp Tràng Mãn Vương, và rút 35 hiệu Phật trong Kinh "Quán Dược Vương, Dược Thượng" với pháp thân đức Phật A Di Đà, sau thêm vào kệ Phổ Hiền Đại Nguyện, thành nghi sám hối này, tổng cộng là 108 lạy, để ám chỉ trừ 108 phiền não.
09/04/2020(Xem: 13909)
“Xây chùa, tạo tượng, đúc chuông, ba công đức ấy thập phương nên làm”, xây dựng ngôi Tam bảo, bao gồm hình thức và nội dung của cơ sở Tự viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường. Qua đó, Trụ trì mới có cơ sở hành đạo, thi hành Phật sự, hóa độ chúng sanh, báo Phật ân đức.
31/12/2019(Xem: 25281)
Theo thông lệ hằng năm, Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu đã quy định Khoá An Cư Kiết Đông 10 ngày, được tổ chức tại chùa Khánh Anh - Evry - Paris - Pháp quốc vào dịp đầu năm Dương Lịch. Thời tiết đã vào Thu, hoa lá đã chuyển màu, không mấy chốc nmùa Đông sẽ trở về trên xứ Âu Châu và thời gian chỉ còn hai tháng rưởi nữa là hết năm 2019. Bước qua năm 2020, nhưng đặc biệt Giao Thừa - Nguyên Đán Canh Tý sang năm rơi vào quý tuần tháng 01 năm 2020 tức là 24 & 25/01/ 2020. Cho nên Hội Đồng Điều Hành quyết định mở Khoá An Cư Kiết Đông bắt đầu từ ngày 02 tháng 01 năm 2020 đến ngày 11 tháng 01 năm 2020, sớm hơn những năm trước, vì để thời gian cho các Bổn Tự chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán Canh Tý.
31/07/2019(Xem: 23608)
Trong tiết trời giá lạnh của mùa đông xứ Úc, mùa Vu Lan lại trở về với những người con Phật trên khắp Năm Châu. Mùa Hiếu Hạnh nhắc nhở cho con cháu tưởng nhớ đến công ơn giáo dưỡng của ÔNG-BÀ-CHA-MẸ nên Lễ VU LAN cũng là Mùa BÁO ÂN ĐÁP NGHĨA, giáo dục đạo đức nhân sinh, xây dựng nếp sống THANH LƯƠNG tiến đến CHÂN-THIỆN-MỸ, góp phần tạo sự an lành trong gia đình và xã hội.
30/06/2019(Xem: 5666)
Mark Unno là vị tăng sĩ trong truyền thống Phật Giáo Tịnh Độ và cũng là Phó Giáo Sư dạy về Phật Giáo tại Đại Học University of Oregon, Hoa Kỳ. Ông là tác giả của cuốn sách “Shingon Refractions: Myoe and the Mantra of Light” [Những Tia Sáng Chân Ngôn Tông: Minh Huệ và Thần Chú Của Ánh Sáng], và ông cũng là chủ bút của Tạp Chí Buddhism and Psychotherapy Across Cultures [Phật Giáo và Tâm Lý Trị Liệu Xuyên Qua Các Nền Văn Hóa].
01/06/2019(Xem: 7227)
Kinh Phật căn bản là tuyển tập 13 bài kinh, trong đó 11 bài có xuất xứ từ kinh điển Pali và 2 bài thuộc kinh điển Đại thừa. Các bài kinh này, trong mười năm qua, tôi thường sử dụng trong các chuyến hành hương chiêm bái Phật tích Ấn Độ và Nepal do tôi hướng dẫn. Thay vì mang theo nhiều bài kinh riêng biệt, trong ấn bản này, tôi quyết định gộp chung thành một tuyển tập, theo đó người đọc tụng sẽ tiện sử dụng khi ngồi trên xe, lúc có mặt tại các Phật tích hoặc đọc tụng tại chùa hay tại tư gia. Kinh tiểu sử đức Phật giúp ta ôn lại cuộc đời đức Phật lịch sử qua năm giai đoạn: (i) Từ lúc đản sanh đến lúc lập gia đình, (ii) từ bỏ cơ hội làm vua, trở thành nhà tâm linh, (iii) sáu tháng trải nghiệm hai pháp thiền của đạo sa môn và năm năm rưỡi tu khổ hạnh theo đạo Bà-la-môn, (iv) giác ngộ thành Phật nhờ phương pháp Bát chánh đạo do Phật khám phá, (v) truyền bá chân lý, cứu độ nhân sinh suốt 45 năm.
14/03/2019(Xem: 30582)
Chùa Thiên Ấn do TT Thích Như Định thành lập năm 1992 (Nhâm Thân) tại thành phố Wollongong, tiểu bang New South Wales, cho đến ngày 14 tháng 4 năm 1993, nhân duyên đầy đủ, chùa chính thức dời về Canley Vale thuộc thành phố Fairfield. Chùa Thiên Ấn hiện tọa lạc tại số 69-71 Delamere St, Canley Vale (bao gồm lô đất số 56-58 Cadwell St, Canley Vale), Sydney, New South Wales với diện tích tổng quát là 3,600m2. Chùa Thiên Ấn tại Úc được đặt theo tên của Tổ Đình Thiên Ấn, Quảng Ngãi là quê hương của Thầy Trụ Trì Thích Như Định. Tổ Đình tọa lạc trên núi Thiên Ấn, phía dưới là sông Trà Khúc.