Truyền Năng Lực Tu Tập

15/12/201015:29(Xem: 19354)
Truyền Năng Lực Tu Tập

TỔNG QUAN

VỀ NHỮNG CON ĐƯỜNG
CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
Nguyên tác: A Survey Of The Paths Of Tibetan Buddhism
Tác giả: His Holiness Tenzin Gyatso 14th Dalai Lama of Tibet
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 19/06/2010
Làng Đậu hiệu đính

Truyền Năng Lực Tu Tập[1]

Những hình thức của nghi lễ gia trì năng lực hay quán đảnh [khai tâm,điểm đạo] là hầu như giống nhau trong những Mật thừa cấpthấp. Tuy thế, trong Mật thừa Du-già Tối Thượng, do bởi sự đa dạng rộng rãi giữa các mật điển thuộc loại này, nên cũng có những lễ quán đảnh khácnhau, mà nó phục vụ như một nhân tố chín mùicho những mật điển cụ thể mà nó tùy thuộc.

Những loại gia trì năng lựctu tập khác nhau cần thiết cho những lớp Mật thừa đặc thù. Thí dụ, trong trườnghợp của Mật thừa Hành Động, hai loại quán đảnh khôngthể thiếu được là gia trì năng lực nước, và gia trì năng lực đảnh.Trong Mật thừa Thiện Hạnh, năm gia trì năng lực trí huệ là thiết yếu, và trongMật thừa Du-già Tối Thượng, tất cả bốn gia trì năng lực [Tứ Chủng Gia Trì]:quán đảnh tịnh bình, quán đảnh bí mật, quán đảnh tri kiếntrí huệ [quán đảnh Kim Cương Trì], và quán đảnh từ ngữ [quán đảnh Khánh] là cốt yếu.

Tuy nhiên, nhiều thuật ngữkhác nhau được sử dụng trong những truyền thống khác nhau. Trong truyền thống cổdịch hay trường pháiNyingma[2],thí dụ, Kim Cương đạo sư quán đảnh được gọi ‘quán đảnh ảo tưởng’ và đệ tử quánđảnh được gọi là ‘truyền lực lợi ích’ và v.v… Cũng có một ‘quán đảnh Kim Cương đại hoàn thiện’. Trong Đại Toàn Thiện, quán đảnhthứ tư tự nó được phân chia xa hơn thành bốn, quán đảnh với sự nghiên cứu kỷ lưỡngvà v.v…

Thuật ngữ ‘quán đảnh’, trongPhạn ngữ là Ashishem, có nhiều nghĩa khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau. Trong một ý nghĩa rộng,quán đảnh có thể được giải thích như là [1] mộtnhân tố chín muồi, hay như [2] sựkhởi tác nhân quả, và rồithì trong thuật ngữ của đạo pháp, mà nó [3] là con đường thật sự của giải thoát, vàcuối cùng, [4] quán đảnh trạng tháikết quả, mà nó là kết quả tịnh hóa. Đại Toàn Thiện cũng đề cập một loại quán đảnhnữa, quán đảnh căn bản. Điều này liên hệ đến tịnh quang mà nó phục vụ như mộtcăn bản và có thể làm cho những lễ quán đảnh khác xảy ra. Nếu một người thiếunhững căn cơ về tâm thức nguyên sơ của tịnh quang, thì sẽ không thể nào cho sự gia trì năng lực tiếp sau xảy ra.

Trong trường hợp của một nhân tố bên ngoài như một tịnh bìnhhay một chồi non, chúng ta không thể nói về một nhân tố chín muồi, một con đường, và một trạng thái kết quả vàv.v…. Chỉ có trêncăn bản của một cá nhân là người vốn sở hữu loại căn cơ này mà trong ấy người ta có thể nói về một nhân tốchín muồi và một con đường đưa đến một trạng thái kết quả cuối cùng. Vì thế,nói một cách rộng rãi có bốn lại quán đảnh.

[1]Gia trì năng lực (abhiseka) là mộtnghi thức trong Phật giáo Tây Tạng nhằm khởi động cho một đệ tử tu tập Mật điểnbổn tôn cụ thể. Nghĩa đen của chữ Phạn abhiseka là tưới hay phun nước. Một pháptu mật thừa sẽ không được xem là có hiệu quả hay không đạt hiệu quả cho đến khiđược một đạo sư đủ phẩm chất truyền năng lực ứng hợp của pháp tu này trực tiếpcho đệ tử. Điều này cũng chỉ đến việc nhập môn của đệ tử vào mạn-đà-la [đàntràng] của bổn tôn. Ba đòi hỏi dành cho đệ tử trước khi bắt đầu tu tập: [1] lễban truyền năng lực này (Tibetan: wang), [2] đọc các văn điển của các truyềnnhân quyền năng của pháp tu này (Tibetan: lung), và [3] Chỉ dẫn cách thức tiếnhành tu tập hay hành lễ (Tibetan: tri). Một cá nhân không được xúc tiến tu tậpbổn tôn mà không có gia trì năng lực cho tu tập đó. Nghi thức gia trì năng lựcthường được giữ bí mật như là các nghi thức đặc biệt bao hàm trong tu tập bổntôn. Qua việc thụ nhận năng lực tu tập, đệ tử bước vào mối quan hệ cam kết Kimcương (samaya) với người thầy.

“Empowerment (Tibetan Buddhism)”.Wikipedia.

<http://en.wikipedia.org/wiki/Empowerment_(Tibetan_Buddhism)>.Truy cập 19/08/2010.

[2]Truyền thống cổ dịch hay phái Cổ Mật[Ninh Mã] — là trường phái Phật giáo Tây Tạng cổ để ám chỉ những người theo cácdiễn dịch ban sơ về giáo pháp của đức Phật trong Tạng ngữ vốn được thực hànhcho đến thời gian xuất hiện ngài Chánh Niệm Tuệ Xứng (Smrtijñanakirti), một dịchgiả Ấn, vào cuối thế kỷ thứ 10. Họ được biết đến như là trường phái Cựu Dịch(Tibetan: Ngagyur Nyingma) để phân biệt với các trường phái Tân Dịch (Sarma) gồmKadam (Ka-đương), Kagyü (Ka-nhĩ-cư), Sakya (Tát-ca), và cuối cùng là Geluk(Cách-lỗ) theo sự diễn dịch mới hơn được hình thành từ thời của dịch giả vỹ đạiRinchen Zangpo (958-1055) trở về sau.

“Nyingma”. Rigpa Shedra.<http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Nyingma>. Truy cập 19/08/2010.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 7542)
Một thời Đức Bạc Già Phạm ngự tại núi KÊ LẠT KỲ cùng với vô số lượng Bồ Tát chúng đến dự. Bấy giờ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát từ chỗ ngồi đứng dậy, chỉnh trang y phục, trật áo chắp tay bạch với Đức Phật rằng...
08/04/2013(Xem: 6849)
Lúc số niệm tụng Pháp Du Già đã xong liền bày các chữ ở ngay trên thân đặt bày TIỂU TÂM CHÂN NGÔN. Lại ở trên chữ, quán chiếu rõ ràng như mặt trờimới mọc tỏa ánh sáng rực rỡ chói chan rộng lớn vô cùng…
08/04/2013(Xem: 7357)
Quy mệnh Kim Cương Thủ Mật chủ Đại Bồ Tát ( Vajrapàni gùhyahakàdhipati mahà Bodhisatva ) Hay nói Thừa tối thượng Khiến mau chứng Bồ Đề Hạ Dã Hột Lị Phộc ( Hayagrìva – Mã Đầu) Hay đập các ma chướng Dùng phương tiện Từ Bi...
08/04/2013(Xem: 7287)
Những người cầu Đạo mong mỏi thực hành sự thiền định về Thánh TARA cần phải xếp đặt một bàn thờ và một chỗ ngồi. Hành giả ngồi theo tư thế Kim Cương, bắt đầu buổi lễ bằng sự Quy Y và phát khởi Tâm Bồ Đề, rồi đọc thần chú Svabhava ( Thần chú về Tự Tính )...
08/04/2013(Xem: 8310)
Phàm muốn niệm tụng Pháp Đà La Ni, trước cần phải ở nơi Tam Muội Mạn Đà La, thấy Thánh chúng được quán đảnh, biết Bổn Tôn, theo Thầy thọ được Tam Muội Da.
08/04/2013(Xem: 7773)
Tên gọi là Kim Cương Cổ (Cái Trống Kim Cương). Mở miệng nâng lưỡi chấn cung Pháp Giới. Các Như Lai của Liên Hoa Tạng ra khỏi Định liền dùng đập tan Địa Ngục, diệt tai ương của 7 biến, khởi Giáo dạy Bồ Tát (Thiện Trụ Thiên Tử), nói bí mật của 5 Chữ, nắm gốc trao truyền Bố Tự (An bày chữ) như Pháp.
08/04/2013(Xem: 11023)
Như vậy tôi nghe, một thời Đức Bạc Già Phạm ngự tại Thiện Pháp Đường trên cõi Tam Thập Tam Thiên cùng với các vị Tỳ Kheo, các Đại Bồ Tát, Thiên Chủ Đế Thích, vô lượng chúng đến dự.
08/04/2013(Xem: 20842)
Theo truyền thống Mật Giáo thì Phật Đỉnh Tôn Thắng là một trong 5 Phật Đỉnh của viện Thích Ca thuộc Thai Tạng Giới Mạn Đà La ( Garbhadhàtu- Manïdïala) có tên là Trừ Chướng Phật Đỉnh (Vikiranïa Usïnïìsïa) biểu thị cho Đỉnh Thần Thông không có chỗ sợ hãi (vô sở úy) của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai (‘Sàkyamunïi Tathàgaya).
08/04/2013(Xem: 6294)
Một thời Đức Phật ngự tại trú xứ của Bất Viễn Tiên Nhân trong cung Trời trên đỉnh núi Thiện Lạc cùng với chúng Đại Tỳ Khưu gồm 1250 người đến dự. Lại có Bồ Tát Ma Ha Tát, Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử với 16 vị Đại Sĩ thuộc nhóm Hiền Hộ đều đến tập hội.
08/04/2013(Xem: 5512)
Nghe như vậy. Một thời Đức Phật ngự tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc ở nước Xá Vệ. Thời cùng với Ma Ha Tỳ Khưu Tăng nói Kinh Ma Ni La Đản Đức Phật hỏi A Nan (Ananda) rằng:”Người dân trong Thiên Hạ chẳng được an ổn là do việc gì?