Tịnh Độ Giáo Khái Luận

18/07/201115:05(Xem: 23266)
Tịnh Độ Giáo Khái Luận

 

TỊNH ĐỘ GIÁO KHÁI LUẬN

Pháp sư Ấn Hảidịch từ Nhật ngữ sang Hoa ngữ vào năm 1987 tại chùa Pháp Ấn, Nam California, Hoa Kỳ.

Thích nữ Viên Thắngdịch từ Hoa ngữ sang Việt ngữ vào năm 2011 tại Tu viện Huệ Quang, Sài Gòn, Việt Nam.

tinhdogiaokhailuan_tnvienthang

LỜI GIỚI THIỆU

Tịnh Độ Giáo Khái Luậndo Tiến sĩ Vọng Nguyệt Tín Hanh, vị học giả Tịnh độ tông Nhật Bản nổi tiếng trong giới Phật học thế giới của thế kỷ XX, trứ tác. Tác phẩm này được Pháp sư Ấn Hải đang hoằng pháp tại Mỹ quốc dịch từ Nhật ngữ sang Hoa ngữ vào năm 1987.

Vọng Nguyệt Tín Hanh (1869 – 1948), người huyện Tân Tả. Ông tu học tại Đại học Tịnh Độ Tông và Tỉ Duệ Sơn, lần lượt làm giáo sư Cao đẳng Phật học viện Tịnh Độ Tông, hiệu trưởng trường Đại học Đại Chính. Ông có tham dự biên tập Tịnh Độ Tông Toàn Thư, Đại Nhật Bản Phật Giáo Toàn Thư. Trong thời gian 30 năm, từ năm 1906 đến 1936, ông biên soạn bộ Phật Giáo Đại Từ Điển và Phật Giáo Niên Đại Biểu. Đây là các bộ sách công cụ thiết yếu cho người nghiên cứu Phật học. Ông trứ tác các tác phẩm: Nghiên cứu Tịnh Độ giáo, Lược thuật Tịnh Độ giáo lý sử. Khởi nguyên và phát triển của Tịnh Độ giáo, Sinh hoạt tín niệm, Tịnh Độ giáo khái luận …

Pháp sư Ấn Hải (1927 - ), người huyện Như Cao, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, họ Lưu, hiệu Viên Tu, xuất gia với pháp sư Trí Minh ở chùa Định Huệ nơi quê nhà. Mùa xuân năm 1947, Sư thọ giới Cụ Túc tại núi Bảo Hoa, Nam Kinh, sau đó theo học tại Phật học viện Thiên Ninh ở Thường châu. Sư đã từng thân cận các vị Đại sư Từ Hàng, Ấn Thuận. Năm 1967, Sư du hóa các nước Đông Nam Á. Năm 1976, sư sang Mỹ giảng kinh Di-lặc thượng sinhvà hiện nay Sư đang hoằng hóa tại Mỹ. Sư trứ tác Di-lặc thượng sinh kinh giảng ký, phiên dịch các tác phẩm: Trung Ấn Thiền tông sử, Trung Quốc Tịnh Độ giáo lý sử, Phật giáo duy tâm luận khái luận, Tịnh Độ giáo khái luận…

Sách này gồm 21 chương, mở đầu tác giả khẳng định Tịnh Độ giáo là tinh hoa của Phật giáo Đại thừa, đi sâu vào nội dung, chủ yếu luận thuật về khởi nguyên và phát triển của giáo lý Tịnh Độ. Trải qua thời gian gần hai nghìn năm từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc, đến đời Đường (thế kỷ VII) ngài Viên Trân mang Tịnh Độ giáo vào Nhật Bản và từ đó phát triển mạnh mẽ đến ngày nay dĩ nhiên có nhiều chuyến biến. Mười chương đầu, tác giả phân tích và đối chiếu giáo nghĩa các kinh như kinh Đạo hành bát-nhã, kinh Phóng quang bát-nhã, kinh Bát-chu tam-muộiđến ba kinh Tịnh Độ kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, kinh A-di-đà, và kinh Duy-ma-cật, kinh Hoa nghiêm, kinh Pháp hoacho đến các luận như luận Đại Tỳ-bà-sacủa bồ-tát Long Thọ, luận Nhiếp đại thừacủa bồ-tát Vô Trước, luận Vãng sanh của bồ-tát Thế Thân. Mười chương tiếp theo, tác giả luận thuật các quan điểm khác nhau về các vấn đề như: nan hành đạo, dị hành đạo, thân Phật, cõi nước Phật, nhân hạnh vãng sinh Tịnh Độ, tự lực, tha lực, một niệm, mười niệm v.v… qua chủ trương của các ngài Tịnh Ảnh Huệ Viễn, Ca Tài, Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo, Huệ Nhật, Pháp Thường, Trí Nghiễm …ở Trung Quốc, đặc biệt là ở Nhật Bản với ngài Pháp Nhiên chủ trương thuyết ‘tuyển trạch bản nguyện niệm Phật’. Đồng thời và sau ngài Pháp Nhiên, giáo nghĩa Tịnh độ ở Nhật Bản phát triển rầm rộ với nhiều thuyết mới của các ngài Long Khoan, Thánh Quang, Lương Trung, Chứng Không, Trường Tây, Hạnh Tây và đặc biệt là ngài Thân Loan thành lập Tịnh độ Chân Tông. Cuối cùng là chương tổng kết.

Với sắc thái đa dạng như thế, đã được tác giả điểm qua và bình luận một cách sắc bén và xác đáng, khiến người đọc vô hình trung bị thuyết phục. Đọc sách này không những biết được các điều trọng yếu về giáo nghĩa Tịnh Độ mà còn thấy được toàn cảnh của tông Tịnh độ từ cổ đại đến hiện đại. Tác giả là người chuyên tu học và giảng dạy giáo lý Tịnh Độ nên có chính tri chính kiến, không làm hỏng tín tâm của người tu Tịnh độ, mặc dù đây là sách nghiên cứu học thuật. Do đó trong đoạn kết, ông nói:

“Chân thân của Như Lai và Tịnh độ của Ngài an trú vượt lên trên tâm cảnh của phàm phu; chẳng phải trí tuệ của loài người có thể hiểu được sự tồn tại không thể nghĩ bàn này. Người mù không thấy được ánh sáng mặt trời, mặt trăng, người điếc không nghe được tiếng sấm sét, nhưng ánh sáng mặt trời mặt trăng vẫn chiếu, sấm sét vẫn nổ. Hiện nay chúng ta tuy không thấy được chân Phật, chân độ, nhưng không thể phủ nhận sự tồn tại của chân Phật chân độ”.

Tôi trân trọng giới thiệu bản dịch này của Sư cô Viên Thắng, thành viên Ban phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam, chuyển từ Hoa ngữ sang Việt ngữ, với ước vọng sách này được lưu thông rộng rãi để mọi người biết nhiều hơn về tính đa dạng của giáo nghĩa Tịnh độ mà buông bỏ thành kiến, chấp nhận dị biệt và tự chọn cho mình một phương pháp phù hợp để tiến tu.

Tu viện Huệ Quang, ngày Phật Đản PL.2555 (17/5/2011)

Hòa thượngTHÍCH MINH CẢNH

Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/09/2011(Xem: 7053)
Cõi Tịnh Độ cũng được gọi là cõi Cực Lạc. Tôi là người hạnh phúc nhất và giàu nhất trên thế giới. Mỗi ngày nơi làm việc, tôi nghe tụng niệm và tâm trí tôi đầy bao Cực Lạc khi đang làm việc.
13/07/2011(Xem: 6946)
Người tu Tịnh Độ, khi bịnh chưa nặng cũng nên uống thuốc, nhưng vẫn tinh tấn niệm Phật, chớ tưởng nghĩ rằng: uống thuốc rồi sẽ lành bịnh. Lúc bịnh đã nặng, có thể không cần dùng thuốc. Hoằng Nhứt đại sư khi đau nặng, có kẻ thưa để xin rước thầy hốt thuốc. Ngài liền từ tạ và nói kệ rằng...
19/06/2011(Xem: 6658)
Nếu mình là người có Trí huệ, biết lo cho hạnh phúc đời này và mai sau của mình thì mình lo tinh tấn tu hành, đừng để cái Chết hay Vô Thường tới, lúc đó đã quá muộn rồi.
03/05/2011(Xem: 5635)
Tôi có một người bà, em ông tôi, bà rất tinh tấn niệm Phật Di Đà cầu vãng sinh. Trong nhà, bà cho tiền mấy đứa cháu nội niệm Phật một xâu chuỗi trường thì được mấy đồng. Dĩ nhiên, bà biết không phải mướn nó niệm Phật cho bà, mà bà muốn mấy đứa cháu niệm Phật để được phước, và gieo duyên với Đức Phật Di Đà. Khi tôi hỏi bà, vậy chứ khi bà về đến Cực Lạc rồi, bà có trở lại Ta bà để cứu giúp người khác không, thì bà lắc đầu, nhăn mặt trả lời: “T- h- ô- i…!”.
02/05/2011(Xem: 11197)
Lâu nay, nhiều người được đọc một bài viết nhan đề: “Lời tự thú của một Sư Cô”[1] được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới thông tin điện tử và báo giấy tiếng Việt toàn cầu. Đây là lời “tự thú” của một nữ tu sĩ Phật giáo, 50 tuổi đời và có hơn 30 năm tuổi đạo. Tuy lai lịch thực hư của tác giả chưa được xác định rõ ràng, nhưng người viết đã nói lên hai vấn đề được đề cập khá rộng rãi và thường xuyên trong sinh hoạt đạo Phật từ xa xưa đến bây giờ: Trí tuệ và Pháp môn... Đạo là con đường mà đạo Phật là con đường đi đến giác ngộ. Có vô số cách đi trên con đường ấy – vô lượng pháp môn tu – tùy theo căn cơ, tính giác của từng cá thể...
01/05/2011(Xem: 8494)
Tây phương Cực lạc là cảnh giới thanh tịnh giải thoát. Thanh tịnh là vô nhiễm là thuần thiện, giải thoát là vượt ngoài ba cõi, vượt ngoài ba cõi là xả ly thế gian.
30/04/2011(Xem: 10157)
"Văn hóa Tịnh độ" được thiết lập theo các quy chuẩn, giá trị vật chất và tinh thần nhất định. Thứ nhất, đây là cảnh giới không có khổ đau, chỉ có hạnh phúc...
23/03/2011(Xem: 6819)
Từ ngàn năm trước cho đến tận ngàn sau, sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật vẫn vang dội mãi trong tâm thức đi về của Đạo Phật Việt, như một năng lực cứu độ nhiệm mầu cho chúng sanh...
18/03/2011(Xem: 14046)
Khi một hành giả tu Tịnh độ chuyển hoá tận gốc rễ tham ái, hận thù và si mê, gieo trồng vạn thiện công đức: phụng sự xã hội và con người trên tinh thần vô ngã vị tha thì việc sanh về Tây phương không cònquan trọng nữa. Lúc ấy, hành giả đang sống trong cõi Ta Bà với chất lượng cuộc sống của Tịnh độ. Nói cách khác, với chất liệu và chất lượng cuộc sống như vừa nêu, hành giả có mặt ở đâu thì nơi đó được xem là Tịnhđộ trần thế. Sau khi phân tích kinh, tác giả đã khẳng định không có yếu tố tha lực trong kinh A-di-đà, dầu chỉ là nghĩa ám chỉ
18/01/2011(Xem: 4015)
Sáng nay trên những con đường còn băng giá Tôi chợt thấy mùa xuân trên vạn cánh sen hồng tía… Tôi say sưa ngắm nhìn cảnh tượng sáng ngời trứơc mắt tôi, những cành cây trơ trụi của mùa đông bây giờ đã khóac lên mình những hoa lá trắng mềm mại. Cả cảnh vật như chìm trong mầu sáng tinh khôi của mùa đông băng giá. Trong giây phút đó mọi vât dường như ngừng lại, như từ vô thủy chưa bao giờ thay đổi. Dù thực hay mộng ảo, giửa cỏi này hay cỏi kia có gì khác không? Giòng tâm tư tôi không ngừng tại đó, vẩn cuồn cuộn, vẩn trôi chẩy như từ kiếp nào, giửa bờ thực hư đó, theo thói quen của cuộc sống hiện tại tôi đưa tay nhấn nút, bổng lời đối đáp giữa Jhon Blofeld và thiền sư Hư Vân vang lên