Sức mạnh của Định

15/01/202606:21(Xem: 740)
Sức mạnh của Định


phat thanh dao

Sức
 mạnh của Định


Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Định. Khi Tỷ-kheo có định sẽ như thật rõ biết (pajànati):

-“Đây là Khổ (bản chất bất an), đây là Khổ tập (nguyên nhân dẫn đến bất an) các ngươi đều như thật rõ biết!.

-"Đây là Khổ diệt (cảnh giới Niết Bàn) và đây là con đường đưa đến Khổ diệt (tám Chánh Đạo). Các ngươi hãy như thật rõ biết!.

Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Định. Phát lên một cố gắng cần làm để rõ biết:

-"Đây là Khổ","Đây là Khổ tập". Cố gắng cần làm để rõ biết.

-"Đây là Khổ diệt","Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt". Cố gắng cần làm để rõ biết.

(Trích Tương Ưng bộ, chương 7, S.v 414)

Quả vậy, đoạn kinh có hai điều mà đức Phật muốn nhấn mạnh do nhờ tu tập Định.

1) Như thật rõ biết

2) Phát lên một cố gắng để rõ biết

Như thật rõ biết là cách gọi khác của Tuệ Tri. Vậy, Tuệ tri điều gì? và như thật rõ biết như thế nào? Đó là về “Khổ”, về “Nguyên nhân” dẫn đến khổ. Cũng như, tuệ tri về “Niết bàn” và “Con đường dẫn đến Niết bàn”.

Về sự Khổ:

(Trạng thái bất an)

Khổ chính là những hiện tượng, tướng trạng còn bị tác động bởi sinh và diệt. Như thân này là một pháp sinh diệt vô thường. Từ đầu đến chân, trong ra ngoài, lục phủ ngũ tạng, thịt máu gân xương….tất cả đều vận hành trong sinh diệt. Một phút trôi qua có biết bao tế bào sống chết thay nhau và hướng thân này đến già nua, bệnh tật và chết chốc. Đây là chân lý không thể chối cải.

Dù ta cố gắng o bế thân này, tô đấp cho nó bằng những dưỡng chất tốt đẹp thì nó cũng già và chết. Một đóa hoa xinh đẹp mỹ miều, cũng chỉ vài tuần là héo; những động vật quý cưng, tuổi thọ của chúng là vài chục năm. Đời người cũng vậy, 100 năm chưa gọi là dài. Nhẫn đến núi non, ao hồ, sông ngàn, mây nước nào khác gì nhau. Mọi thứ đều chung một điểm, đó chính là sinh diệt mong manh.

Về tâm hành cũng thế. Những nghĩ suy của chúng ta, dòng tâm tưởng, cảm xúc, suy tư phân biệt của chúng ta; chí đến những buồn vui giận ghét, đau khổ, mừng lo vv... đều là mọi hiện tượng, trạng tướng của tâm hành, cũng đến đi chớp nhoáng, không hề trường cữu.

Một Tỷ kheo có Định, tức đạt được trạng thái vô niệm. Tâm không hề xao lãng, dao động. Ngồi xuống là yên, cột niệm tại chỗ, vững như núi lớn, tâm lặng như mặt hồ hoàn toàn tĩnh yên.

Hoặc khi Tỷ kheo ấy co tay, duỗi chân, nghiêng người hay hướng tới thì lòng vẫn an, tâm vẫn lặng. Dù con người ấy đi vào công việc, lao tác thường ngày thì Định của vị ấy vẫn vững mạnh và an trụ. Từ đó, nó chính là nền tảng cho nguồn Tuệ bừng khai.

Tuệ bừng khai, Tuệ sáng chói sẽ thấy rõ mọi thứ hoàn toàn như chúng đang là. Đây là Khổ, rõ biết là khổ, là bấp bênh, là bất toại ý, thảy đều như thật Tuệ Tri.

Ồ, đây là hạt đậu đen trong bàn tay, biết rõ như vậy. Đây là đậu đỏ, đậu trắng đều nằm trong bàn tay, biết rõ như thật. Và càng biết rõ hơn về sự có mặt của chúng vốn mong manh, sinh diệt và biến mất. Vị Tỷ kheo khi đó, tâm vẫn bình yên, hằng sáng đối với bất kỳ tình huống nào xảy ra.

Về Khổ Tập:

(Nguyên nhân dẫn đến bất an)

Do nhờ Định lực, sức mạnh của tĩnh lặng nội tại, vị Tỳ kheo tiếp tục duy trì sự quán chiếu sâu sắc đối với vận hành của các pháp. Dù là phần dao động của tâm (tâm pháp) hay tướng trạng của các pháp (sắc pháp), chúng di chuyển ra sao, vận hành thế nào thì thầy Tỳ kheo vẫn an trụ trong trí quán thuần sáng.

Thầy tỳ kheo thấy như thật rằng, chính do bám víu và tham đắm vào các sắc pháp, như trần cảnh bên ngoài, sắc tướng bên trong, tấm thân thịt máu, lớn hay nhỏ, liệt hay thắng, xa hay gần đi nữa, vị ấy vẫn thấy rõ như nhìn lòng bàn tay: “Ồ, do tham ái mà có khổ, do bám víu mới đầy ắp đau thương.” Thật vậy, ai cho thân này là trường tồn bất hoại, là chỗ dựa của tự ngã linh hồn, thì họ đã rơi vào tà kiến về thân, lạc vào khổ xứ.”

Định lực ấy, sức mạnh của tĩnh tâm, luôn là nền tảng duy nhất cho Tuệ giác giải thoát. Bởi hàng ngàn cái thấy, cái biết của thế gian vẫn bị đóng khung trong bản ngã tự tôn vậy. Từ lâu, áng mây vô minh dầy đặc đã che lấp “tánh giác” trong sáng trong ta, nên sự sự dù bày ra trước mắt nhưng chúng ta không bao giờ thấu triệt được bản chất hiện hữu trong kiếp sống mong manh.

Biết giả tạm mà vẫn mong, rõ hư huyễn mà vẫn bám, người ta cứ mãi ném mình vào thế giới khổ đau, thà chấp nhận một cách mù quáng miễn đạt được danh, được lợi, thì dù có bị cột trói, kiềm hãm đến đâu cũng sẳn lòng nếm cho bằng được những giọt mật trên đầu một lưỡi dao sắc bén.

Vị tỳ kheo đã hành đúng pháp, trì đúng cách và tự nói lên rằng: “Tham ái là gốc khổ, là tập đế dẫn đến khổ đế, biết rõ như vậy, tuệ tri như vậy. Ái là cội nguồn của sinh diệt, là động lực đưa đến luân hồi bất tận, vị Tỳ kheo tuệ tri như thật, rõ biết như vậy, không dính mắc hay can thiệp bất kỳ điều gì.”

Về Khổ Diệt:

 

(Niết bàn)
Chính
 là người đã dứt trừ hoàn toàn khổ đau và đạt được thánh quả giải thoát. Dù còn mang thân này, nhưng tâm của họ đã tự tại, không còn vướng mắc thế gian. 
Họ nhìn vào cuộc sống bằng tuệ giác siêu việt, không bị đóng khung bởi ngã chấp hoặc sự bám víu đối với cuộc đời. 
Cái gọi là danh, là lợi, là những thứ mà thế gian tôn thờ, muôn người chạy theo từ tiền tài, địa vị, tận hưởng vinh hoa vv… nhưng, người thánh trí tuyệt đối không còn si mê hay tham ái nữa. 
Họ chính thức ra khỏi bóng đêm và tháo gỡ hoàn toàn tất cả những cột trói. Vì cuộc sống này, vạn sự đều là vô thường, sinh diệt, đắp đổi mong manh. Nói đúng hơn, các pháp vốn trống rỗng, hư vô; không hề có một thể tính cố định, trường tồn. 
Vị tỷ kheo đã chứng được sự diệt khổ, còn gọi là Niết bàn quả vị, trí tuệ viên thông, năng lực giác tuệ hoàn toàn hùng hậu. Họ đã cắt lìa mạng lưới chằng chịt của vô minh, phá tan thành trì bản ngã, mọi khổ đau từ nay đã dứt hẳn. 
Họ đi ngang cuộc đời bằng nụ cười tự tại, xem sống chết nhẹ như bông tơ, tuyệt không còn sợ hãi và vượt lên tất cả sầu ưu, điên đảo của thế gian vậy.

Về Khổ Diệt Đạo:

(Con đường Bát Chánh).”

Sức mạnh của Định đã kiên trì thì sự quán chiếu sẽ sáng hơn trên từng đề mục. Hành giả đã nhận thức được rằng, mọi sự vận hành đều nội hàm tính biến hoại và sinh diệt. Như một đoá hoa lớn lên, là một chuỗi vận hành tương tục sinh hoại, gọi là Khổ Đế. Thân trạng con người cũng vậy, liên tục sinh, liên tục hoại để tạm hình thành và tan biến theo thời gian, đó cũng là sự khổ.
Sự thật này được đức Phật nghiệm chứng bằng con đường thiền định rất thực tiễn. Ngài thấy rõ chúng là hữu vi pháp thuộc về tâm tướng và chỉ là những vận hành giả danh, không thật. Cái này tiếp nối cái kia để có mặt, để hoại tan một cách tạm bợ. Con đường ấy, khổ đạo thánh đế, đã được ngài chỉ dẫn thật rõ ràng trên từng pháp hành cụ thể.
Thầy tỳ kheo cũng học như vậy, nương theo dấu bước của Ngài bằng chí nguyện vững chắc để phát tấn hành trì không lung lay. Vị ấy đã tỏ thông con đường thánh đạo tám chi, từ chánh kiến, chánh tư duy đến chánh niệm, chánh định một cách minh tường và tỷ mỷ. Giống như người lực sĩ co duỗi cánh tay thật mạnh khoẻ và dễ dàng để nâng một vật khỏi vị trí mà anh muốn. 
Vị hành giả đêm ngày hằng quán như sau:
“Nhờ vào Chánh Kiến mà sự thật về Khổ đã được Tuệ Tri. Nhờ vào Chánh kiến mà sự thật về nguyên nhân tạo ra Khổ, đã được Tuệ Tri….” Và nhờ Tuệ tri như thật trong các pháp, không bám víu, không chạy theo, không ném đời mình vào những thăng trầm được mất. 
Ồ, sầu ưu đang chiếm hữu tâm tôi; hỷ nộ, ái ố đang vận hành trong tôi; kể cả lòng tham, sự ái luyến cũng từng nối tiếp theo nhau tác động tiêu cực đến đời sống tôi. Nay nhờ hành trì mà tôi đã vượt thắng mọi đau thương phiền não. Tôi hoàn toàn tuệ tri như thật đối với chúng. Từ đó, thầy Tỳ kheo trong từng phút giây cảm nghiệm trạng thái Niết bàn (Diệt đế) và con đường thánh đạo (Đạo đế) hằng tương thông, tương hành, không hề gián đoạn.”


Thích Thiện Lợi




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/04/2013(Xem: 5931)
Theo kinh Dhammapada (Pháp Cú) và lời chú giải, sự hiện hữu cuối cùng của con người là đạt đến tầng cuối cùng ( A-la-hán hay Thanh Văn), với một đối tượng giản dị làm đề tài cho thiền định, để nhận biết sự vật như nó là. Họ có thể hiểu về ba đặc điểm của tất cả mọi vật hiện hữu, tính chất vô thường, đau khổ, và vô ngã.
22/04/2013(Xem: 10446)
Bài này chỉ bàn thuần túy về chuyện Thiền ứng dụng trong xã hội hiện đại, và một số rắc rối liên hệ đang xảy ra trong xã hội Hoa Kỳ, kể cả cuộc tranh luận giữa các chuyên gia giaó dục về... những bất trắc mà chúng ta sẽ phân tích nơi đây. Ðừng vội nghĩ rằng đây là chuyện của các chuyên gia hay của người quan tâm về Thiền, bởi vì những người con của bạn có thể cũng đang đọc, đang tìm hiểu và đang dò tìm thực tập. Rủi mà tập nhầm các pháp môn giáo phái đầy bất trắc, thì vừa có hại cho sức khỏe, mà lại mang tiếng oan cho các pháp môn Thiền của nhà Phật.
22/04/2013(Xem: 7854)
Xưa nay ai cũng biết Thiền là tìm về cõi tĩnh và lặng để cho tâm được an tịnh. Thãt ra Tĩnh là lúc nào cũng biết rõ ràng, còn lặng là yên lặng; tức là trong trạng thái như là thân tâm bất động, dừng mọi hoạt động của thân tâm. Làm thế nào để thân và tâm bất động? Phải biết điều thân là làm cho thân yên ổn không di động, cách ngồi cho chắc nịch như kiết gíà, bán già, hay sao cho việc ngồi thiền lâu.
22/04/2013(Xem: 9229)
Bài nầy sẽ trình bày tại sao con người không uống “thuốc tiên” không dùng các thức ăn trường sanh bất tử, nếu có, mà chỉ ngồi yên tĩnh mắt nhắm lim nhim ngày hai lần tổng cọng vài chục phút, mà có thể trị được bệnh và có được các lợi ích thiết thực khác?
22/04/2013(Xem: 10850)
Con người ai cũng muốn khỏe mạnh không bệnh hoặc ít bệnh, nhưng không ai tránh khỏi hiểm họa nầy. Bác sĩ, Y tá được đào luyện, bệnh viện được xây cất, y dược được chế biến cũng nhằm phục vụ sức khoẻ con người. Nhưng bệnh viện không phải là nơi miễn phí mà bệnh nhân luôn luôn được tự do đến đó, và thuốc cũng không phải là thần dược trị được bá bệnh và an toàn không bị phản ứng phụ (side effect).
22/04/2013(Xem: 9217)
Khoa học nhìn về thiền Phật Giáo như thế nào? Dưới đây là một cuộc nghiên cứu khoa học tại Đạị Học New York University, do phóng viên Matt Danzico tường thuật, đăng trên BBC News ngày 24-4-2011. Bản dịch Việt ngữ toàn văn như sau. Não bộ của các vị sư Phật Giáo được chụp lại bởi máy scan (máy quét) trong cuộc nghiên cứu về thiền.
22/04/2013(Xem: 9713)
Phật giáo Việt Nam, từ khi Tổ Tỳ Ni Na Lưu Chi sang truyền Đạo Phật (580-2011) tại VN, nay đã nghót nghét 1429 năm, gần 15 thế kỷ. Đạo phật là Đạo Phổ Độ chúng sanh, cứu nhân độ thế cho nên các triều đại huy hoàng Việt Nam, Đinh, Lê, L‎ý, Trần, Hậu Lê ,Tây Sơn: Mổi chùa đều có một bệnh xá Đông Y, Thuốc nam, châm cứu để giúp đỡ cho nhân dân gặp khi trở trời, gió nghịch, nhất là dân bệnh nhân nghèo.
22/04/2013(Xem: 7205)
Tôi đến với Thiền Vipassana hoàn toàn nhờ duyên số hay đúng hơn là “định mệnh” (sheer fate)! Cho đến hôm nay nghĩ lại tôi vẫn còn ngạc nhiên, thật không ngờ một người sống thiếu lập trường như tôi mà có thể chuyển hóa và tiến bộ trở thành người có ý chí mạnh mẽ.
22/04/2013(Xem: 6488)
Lần đầu tiên nghe nói về Thiền Vipassana, phản ứng của tôi cũng giống đa số thanh niên trẻ tuổi khác, “Thiền định! Điều đó chỉ dành cho người già cả.” Nhưng không hiểu sao nó lại ẩn chứa mãi trong đầu óc của tôi. Với tánh hiếu kỳ ham hiểu biết, tôi tìm cách thu thập nhiều thông tin hơn và quyết định thực hành thử xem. Một vài người khuyên cản tôi, nhưng hạt giống thiền lại được gieo vào tâm tôi.
22/04/2013(Xem: 7702)
“… Ngài Goenka được quyền cư trú tạm thời trong căn phòng y tế của nhà tù. Thời bấy giờ, các phạm nhân tội nặng phải bị còng tay và khóa xích cổ chân. Bốn tù nhân can phạm như vậy được đưa đến thiền đường (Meditation Hall - xây tạm trong tù) với các chiếc còng sắt khóa xích tay và chân họ. Khi nhìn thấy cảnh này, Ngài Goenka bàng hoàng kinh ngạc. Tôi (Ram Singh) thưa với Ngài Goenka rằng, đây là các phạm nhân ngoan cố. Ngài Goenka phản đối: “Sao có thể đưa người bị còng xích như vậy đến gặp tôi? Điều này không thể xảy ra, hãy tháo khóa xích cho họ!”