Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Pháp Môn Trì Danh Niệm Phật Vãng Sanh

09/05/201222:15(Xem: 1535)
Pháp Môn Trì Danh Niệm Phật Vãng Sanh

Hoa Cuc Chau Phi (17)

PHÁP MÔN TRÌ DANH NIỆM PHẬT,

VÃNG SANH CỰC LẠC

Tác giả:Huỳnh Lão cư sĩ

Thích Viên Giáo dịch

LỜI NÓI ĐẦU

Niệm Phật tu hành bằng chơn tâm là biết được tánh trọng yếu của vấn đề niệm Phật, không quản ngại công tác nhiều, sự tình bề bộn, tuy thân bận rộn mà tâm không bận rộn, không để việc đời vướng mắc mà bị chuyển đổi. Như gương chiếu hình, hình hiện lên không chỗ nương cậy, hình mất đi không lưu dấu; cả ngày công việc đoanh vây, mà vẫn thong dong ngoài vật. Bởi vậy, hàng ngày lợi dụng những lúc: ngủ dậy, trước khi ngủ, trước và sau khi ăn, trước khi làm việc, sau khi làm việc, lúc nghỉ ngơi rảnh rỗi... Tùy thời tùy chỗ mà niệm Phật. Lúc công tác dụng tâm suy nghĩ, tạm thời gác câu niệm Phật, công việc xong rồi lại tiếp tục câu Phật hiệu. Niệm Phật nhiều để thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật thì sẽ được nhất tâm bất loạn; hiện đời này chứng được “niệm Phật tam muội” càng hay. Đó là: không làm các việc ác, vưng làm các pháp lành, tự thanh tịnh nơi ý, ba nghiệp thân, miệng, ý thanh tịnh thì lúc mệnh chung mới có thể biết trước giờ chết, thân không bệnh khổ, thần trí trong sáng thì chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo, ngồi hoặc nằm niệm Phật mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Cuộc sống hiện đời yên ổn, tốt đẹp, tự tại, vui vẻ.

Niệm Phật tu hành không chơn là không niệm Phật nhiều, hoặc cho rằng lúc mạng mất tâm còn mời người đến trợ niệm là được; lòng ham muốn phần nhiều chỉ là thành gia, lập nghiệp, mua xe, mua nhà... các điều bận rộn. Bận rộn mãi với miếng ăn, thức uống, chơi bời, dục lạc hưởng thụ bèn nói rằng không có thời gian niệm Phật. Lúc bình thường thì không biết niệm Phật, trong tâm không có Phật. Ba nghiệp thân, miệng, ý lại không thanh tịnh, lúc mệnh chung bệnh khổ rất nhiều, thần trí hôn mê, ác nghiệp hiện ra trước mặt, bàng hoàng lo sợ, sáu thần không chủ, tình ái lại không bỏ được, tà nghiệp hiện tiền, tâm sanh điên đảo, không biết niệm Phật, càng không thể nói là chuyên nhất niệm Phật được, có người trợ niệm cũng uổng vậy. Bởi vì sao? Vì thần trí của người hôn mê, tà niệm hiện tiền, tâm sanh điên đảo, không biết niệm Phật. Người không dựa vào chính mình được, dựa vào người khác cũng dựa không được. Người nhà cũng không biết thời gian người mệnh chung, người nhà chỉ trông nom bệnh tình của người, đến lúc mời đoàn trợ niệm (ban hộ niệm) đến để trợ niệm, có người trợ niệm chẳng vãng sanh, lúc không có người trợ niệm thì đã chết rồi! Người không như lời dạy, không như pháp thì nhân như thế, quả như thế đó!

Cho là việc đời bận rộn ư! Vì lúc hưởng thọ dục lạc, há có thể chẳng e dè thấy nhân sâu xa; chợt vì cái vui khoảnh khắc, chuốc lấy họa ương nhiều đời.

Cần phải biết rằng, giả như giàu có, vàng ngọc đầy nhà, gia thế rạng rỡ, cũng khó tránh khỏi lúc suy tàn già bệnh; có đủ ngàn điều khoái lạc,vô thường đến lúc kề bên, một khi mất thân người rồi, khổ ơi là khổ! Hãy xem người xưa mấy ai có được tốt đẹp trọn đời? Chỉ có niệm Phật tu hành - vãng sanh thế giới Cực Lạc. Lìa khổ được vui - chơn lạc - mới là đường chánh.

Tácgiả.

TỰA

Đức Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện nơi đời, dạy ngay cho chúng ta con đường ra khỏi sanh tử. Song pháp của Phật thì mênh mông như biển cả, rộng lớn sâu xa, các pháp môn, hạnh môn rất nhiều. Cần phải xét ngay chỗ cứu cánh, nghiền ngẫm thấu triệt, đối với kẻ phàm phu hời hợt thật chẳng dễ vậy. Đức Như Lai thương xót chúng sanh thời mạt pháp, nghiệp dày phước mỏng, khó thành đạo nghiệp, không vì sự thưa thỉnh mà tự nói “pháp môn niệm Phật”, các kinh đều rộng khen, chư Phật đều tôn vinh công đức bất khả tư nghì này. Đức Phật chỉ thẳng cho chúng sanh cửa ngõ giải thoát, phương tiện tối thắng nương vào: tự lực, Phật lực và tha lực mà thành tựu. Song pháp môn này tuy dễ thực hành được, nhưng kẻ phàm phu ngay trong khi thực hành chỉ cầu phước báo thế gian: tiêu tai, cầu phuớc... mà không biết việc thành Phật, tác Tổ của pháp xuất thế, không biết Phật là thế nào? Đức Phật A Di Đà là như thế nào mà thành tựu được trang nghiêm thanh tịnh, mà phát tâm học tập nơi Phật, thành Phật độ chúng sanh, càng không biết niệm Phật như thế nào để đạt đến “nhất tâm bất loạn”, “niệm Phật tam muội” hiện đời này thành Phật, lìa khổ được vui.

Quyển sách này tác giả là Huỳnh Lão Cư Sĩ vì từ bi, thương cảm đối với việc: khó được thân người, khó nghe Phật pháp, khó gặp thiện tri thức, nên đặc biệt soạn ra quyển: “Trì danh niệm Phật vãng sanh Cực Lạc pháp” chỉ thẳng vào tâm con người, vào chơn tâm niệm Phật tu hành. Như thế nào là niệm? Như thế nào là tu chứng? Để cùng lúc phá trừ một hạng người học Phật tu hành muốn cắt xén tâm tốt, có người ngã mạn cầu thần thông cảm ứng, có người cầu khai ngộ, có người đem tâm vọng tưởng làm chỗ tôn thờ, “dục tốc bất đạt”, cho đến nỗi tạo thành tập khí tồi tệ, tẩu hỏa nhập ma so ra đều là như thế. Quyển sách này mở bày việc cần biết để tu hành, phân đoạn giản dị, rõ ràng, dễ hiểu, trực tiếp ngay một mũi kim mà thấy máu, nương nơi pháp Phật mà tuần tự lần tiến tới, đi vào quy củ, chánh tri, chánh kiến, loại trừ tâm bệnh của chúng sanh, đoạn dứt phiền não. Như thế là học tập tu hành và diệt khổ ngay trong sinh hoạt thuờng ngày. Không đi vào cực đoan, sạch trừ sự hấp tấp trong tâm, Phật tánh mới có thể hiển hiện ra lần hồi cái tâm thanh tịnh của tự tánh. Tâm thanh tịnh tức là Phật, là tâm là Phật. Đây là một quyển sách hay để làm gương soi, nên lưu truyền rộng khắp, mong những người có tâm cùng nhau hoằng dương, đồng nguyện, đồng thực hành, đồng về tịnh độ của Phật A Di Đà.

Ngày 16 - tháng Giêng năm Dân quốc thứ 87

Nhà tịnh ở Phật đường Bảo Quang

DUY NHẤTđề.

Phật tử là người Quảng Đông, sinh năm Dân quốc thứ 18, lúc nhỏ thì không tin Phật, không bái thần, có thể nói trong rối rắm càng mơ hồ rối rắm lộn xộn, hơn nửa đời người, đến lúc sắp đậy nắp quan tài luận tội, mới tin Phật, học Phật tu hành, đáng tiếc muộn một chút, nhưng hãy còn chưa chậm. Trong bảy mươi hai năm, cơ duyên chín muồi, ngẫu nhiên gặp trên báo liên hợp xuất bản có in giúp “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa linh dị lục”, theo đó được mấy bản in giúp, sau đó nhận được quyển “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa linh dị lục”. Lại nhận được mấy tờ tạp chí của “Phật giáo tạp chí xã” từng kỳ gởøi đến, và thỉnh được mấy quyển sách Phật, được nghe Phật pháp, mới để tâm với việc lớn sanh tử, nhân quả (thiện có báo thiện, ác có báo ác). Con người từ đâu sanh ra? Chết đi về đâu? Thế giới ta bà là biển khổ! Người nghèo khổ, người giàu cũng khổ! Khổ nhiều vui ít, ra khỏi ba cõi sáu đường, lìa khổ được vui - gọi là Chơn lạc. Khái lược có nhận thức, chỉ hơi tin Phật mà không học Phật tu hành thì không ra khỏi vòng luân hồi của ba cõi sáu đường, chính như vậy mà bắt đầu học Phật tu hành.

Nhân vì cảm thấy: khó được thân người, khó sinh nơi trung tâm quốc gia, khó nghe được Phật pháp, khó gặp được thiện tri thức, khó sanh được tín tâm, lên một tầng khó hơn một tầng.

Khó được thân người: Con người đời đời kiếp kiếp đều ở trong lục đạo luân hồi, may mắùn có thể được thân người, thật chẳng phải dễ!

Khó sinh nơi quốc gia trung tâm: không phải sanh nơi có Phật giáo thôi, mà Phật giáo lại phải thịnh hành. Trên thế giới, địa phương có Phật giáo không nhiều, mà chỗ Phật giáo thịnh hành càng ít. Như ở Đại Lục ngày trước thì có Phật giáo mà lại thịnh hành, nay chỉ có Phật giáo mà không thịnh hành. Mỹ quốc ngày trước không có Phật giáo, ngày nay có mà không thịnh hành. Đài Loan là nơi có Phật giáo lại thịnh hành...

Khó nghe Phật pháp: pháp môn tịnh độ trì danh, niệm Phật lại càng khó nghe. Kinh Phật là kinh dùng văn nói, văn tả, hiện đại kinh người ta đọc là văn bạch thoại, nếu người không đọc qua văn nói, xem kinh Phật thì không hiểu, lại không thể nói được Phật pháp thông đạt, hiểu rõ nghĩa kinh. Xem kinh Phật không giống như xem sách tham khảo hay phương tiện nào đó, ưa xem thì đến thư viện để xem, nếu muốn xem lại phải mất công sức đi tìm. Người thường được nghe pháp sư giảng kinh thuyết pháp cũng chẳng có nhiều, người có thể nghe pháp sư giảng về phương pháp tu hành trì danh niệm Phật lại càng ít... Nhơn ở nơi chúng tại gia chỉ tin Phật cầu phước báo nhân thiên: ăn no, mặc đẹp, ở nhà tốt, ăn uống vui chơi tận tình, không tu hành!Vì vậy pháp sư giảng kinh thuyết pháp cho chúng tại gia, viết ra chú trọng trên vấn đề học giáo lý ở nơi Phật học, ít đề cập đến phương pháp tu hành học Phật.

Khó gặp thiện tri thức: có thể gặp được người thông đạt Phật pháp, hiểu biết lý nghĩa, lại là bậc thiện tri thức tu pháp môn tịnh dộ trì danh niệm Phật, dạy cho phương pháp tu hành, trì danh niệm Phật, rất khó rất khó!

Khó sanh tín tâm: không tin Phật! Không có gặp ma quỷ thần, chẳng tin có Phật, Bồ tát, hoặc nói Phật giáo là dạy mê tín, thậm chí hủy báng tam bảo. Tin Phật mà không chịu học Phật tu hành, sợ tu hành thì phú quý, vinh hoa, ham muốn vui, hưởng vui không thành được. Muốn tu hành mà ở trong thế giới muôn màu, một khi nghe tu hành cần phải giữ gìn tịnh giới, ăn trường chay, cuộc sống đạm bạc giản dị thô sơ, thì sợ co lại không dám tiến về trước, quay đầu ra sau mà chạy. Hoặc gấp rút ra công cho mau gần tới cái lợi, học Phật tu hành chỉ tu tự lực, tu pháp môn: khai ngộ. Khó tin tịnh độ, chẳng chịu niệm Phật.

Nay đây thân người đã được, lại sanh ở Đài Loan có Phật pháp thịnh hành, có may mắn được nghe Phật pháp, lại biết học Phật: Phương pháp trì danh niệm Phật. Sợ khó ư! Không học Phật niệm Phật tu hành, một khi mất thân người, không biết đời nào kiếp nào lại có thể được nghe Phật pháp! Đèn trước gió - ngày cuối năm sắp hết, bóng dương quang đâu còn được là bao, một khi dụ dự lầm lỗi, chỉ hơi tin Phật mà mê đắm những dục lạc hưởng thụ ở thế giới này, đến lúc mất thân nguời thì khổ thay khổ thay!

Phật tử là chúng tại gia hạ căn, chỉ lược hiểu về Phật pháp, duy có lòng cung kính chí thành, một lòng nguyện sanh thế giới Cực Lạc, y cứ nơi sự dạy dỗ như pháp tín thọ phụng hành, tin sâu thiết tha nguyện trì danh niệm Phật.

Bảy mươi tám năm đơn thân bước vào cửa sen (hạ thủ công phu tu hành), tự che nhà nhỏ, đóng cửa lại, tạ từ dứt mọi ngoại duyên, không có việc không ra khỏi cửa, không xem ti vi báo chí, chẳng nghe âm nhạc, chỉ nghe chơi tân văn rộng rãi, quá ngọ không ăn, chuyên tu trì danh niệm Phật, thời gian từng ngày qua đi được vui vẻ lắm!

Cảm nhận sâu xa kinh điển Phật giáo, sách quyển rất nhiều (ước gần vạn tập). Lúc kinh Phật từ Phạn văn dịch ra Trung văn, người lúc đó dùng văn nói văn viết, nghĩa giáo rộng rãi, lý nghĩa nói ra lúc đó từ ý rất là sâu, danh tướng rất là nhiều, khó đọc khó hiểu - Văn người đời nay đọc là văn bạch thoại, nếu chưa từng đọc qua văn nói, văn rất khó xem, hiểu được Phật pháp, càng không thể nói rõ nghĩa được. Chỗ nói rằng hiểu rõ về Phật pháp, cũng là phần nhiều nương nơi kinh mà giải nghĩa thôi, cũng có nhiều người nghiên cứu đọc tám năm, mười năm cao lắm chỉ hiểu phân nửa. Người đời nay nếu chẳng tu trì trong sạch, qua loa không dễ gì hiểu sâu được nghĩa. Tuy phát tâm nghiên cứu đọc tụng, thường khó nhập môn. Được tinh thông nghĩa, nhiều đời Tổ sư đại đức viết ra cũng chẳng phải là ít. Hiện tại trong hoàn cảnh này, người đời vì viết để làm kế sinh sống, cuộc sống càng thêm bận rộn, từ đó làm sao tìm ra thời gian để nghiên cứu đọc tụng ư? Nói gì đến hiểu rõ Phật pháp. Cũng nhân nơi cái biết không sâu, tín lại không kiên cố, nguyện càng không thiết tha, tu hành bất lực, tâm địa thô tháo, trong quá trình tu hành gặp hoàn cảnh bất lợi, hoặc là bị sự công kích của ma oán nghiệp xưa, không thể hiểu được duyên cớ.

Cảm một cách sâu xa rất nhiều đối với những bạn học Phật, chỉ biết làm thiện, cầu tài, cầu thọ, cầu bình yên... Không biết học Phật để tu hành, ra khỏi ba cõi, lìa khổ được vui, cho đến thành Phật!

Người có chí học Phật tu hành, chẳng biết Phật pháp trong đó tối trọng yếu là bộ kinh điển nào để mà đọc đây? Pháp môn tu hành lại nhiều như thế, tu pháp môn nào được? Chỉ thích tin tin Phật, tụng tụng kinh, lạy một vài lạy Phật, niệm một vài tiếng Phật qua loa. Hoặc người học về thiền tông, ngồi ngồi rồi đi, được chút ít hiểu biết lạ, linh cảm giống giống hoặc thấy ánh sáng, thấy hình ảnh... các cảnh giới biểu hiện thì cho là khai ngộ rồi. Hoặc là người học Tịnh dộ cho là niệm một vài tiếng Phật là niệm Phật, thì có thể mệnh chung về thế giới Cực Lạc rồi. Chẳng cố gắng thật sự niệm Phật, chẳng chịu niệm Phật nhiều, không có tập quán niệm Phật, trong tâm không có Phật không thể cầu sanh về thế giới Cực Lạc. Đông đảo chúng sinh, người có thể niệm Phật, có được bao nhiêu người ư? Rất ít. Người có khả năng biết phương pháp trì danh niệm Phật tu hành, lại có được bao nhiêu người ư? Càng ít!Người giàu có lại bị mê muội ở nơi giàu có, người thông minh bị mê muội ở thông minh, người ngu si bị mê muội ở ngu si.

Nếu có một quyển sách hệ thống lược đủ cho người tại gia học Phật trì danh niệm Phật tu hành, mọi người sẽ thấy được rõ ràng. Vả lại, một quyển sách dễ học dễ hành, khiến cho người có chí trì danh niệm Phật tu hành, thì cũng có khả năng vãng sanh thế giới Cực Lạc rất nhiều!

Vì cảm nhận đối với vấn đề này, đem chỗ biết viết thành: “Trì danh niệm Phật vãng sanh Cực Lạc pháp” mà đơn giản giới thiệu, để cung cấp cho người có chí học Phật niệm Phật tu hành, để giúp tham khảo và gắng kết thiện duyên.

ĐỜI NGƯỜI MONG CẦU

Giàu có, sống lâu, khỏe mạnh, vui vẻ... người người đều muốn có để hưởng, nhưng người đạt như nguyện ít lại càng ít. Có người nghèo khổ, có người nhiều bệnh hoặc tàn phế, có người đoản mạng chết sớm. Chỉ có sự vui vẻ, người người đều có thể hưởng thụ được, nhưng thật đáng tiếc, có một số người tóm lại không nhìn rõ, lệch lạc tự tìm khổ não, từ bỏ vui vẻ, lui trốn trong ba nhà, trốn lánh vui tươi thường sống lỗi lầm trong khổ não.

Vui vẻ không chỉ là sản phẩm có lợi chỉ chuyên của những người giàu có còn người nghèo khổ thì không có phần. Vui vẻ, việc đó không phân là người giàu có hay nghèo hèn, già trẻ nam nữ đều được bình đẳng, mọi người đều có thể hưởng thụ vui vẻ. Hằng ngày sự vui vẻ thường có, xem ra vì sao chỉ đối với chính mình thôi. Nhận thức chân thật mà nói thì việc tìm cầu của một đời người chính là: vui vẻ!

Vui vẻ, mà phải “thiểu dục tri túc” thì mới đầy đủ. Tiếp nhận tất cả, trong tâm tự được, tự đầy, tự đủ, ở địa ngục cũng như thiên đường, có bệnh ở nơi thân hoặc tàn phế, biết nhân quả, không oán trời trách người, có bệnh mà hay lấy vô bệänh quán sát, lại bất giác khổ, đoản mạng chết sớm cũng có thể mỉm cười mà đi.

Một người trọn đời mong cầu là cái gì? Vàng bạc, danh vị, quyền thế hoặc học vị đều là thứ yếu, vì những cái này chỉ là cái bề mặt, cái mà thấy được, chỉ là một loại cảm thọ đầy đủ tạm thời ngắn ngủi, mà chẳng phải là cái vui vẻ lâu dài; có thể lâu dài vui vẻ mới là nhân chính. Vui vẻ là một loại tâm cảnh, một loại cảm giác nội tại thần túy, cũng chẳng phải hoàn toàn nương gá vật bên ngoài có hình thể, cũng chẳng phải là hoàn toàn xa lìa ra ngoài vật bên ngoài có hình thể. Vui vẻ là một sự cảm thọ vô hình của tâm linh sâu xa, nó được chứa nhóm từ chỗ sâu thẳm của tâm linh, ngay lúc chúng ta muốn dùng nó, tâm chúng ta lại có thể cảm giác sâu sắc, vượt lên trên cái tâm, mai một đi cái chẳng vui sở hữu, cái đó chúng ta gọi là vui vẻ, một vài lúc lại biến khắp toàn thân chúng ta, thậm chí không khí chung quanh sung mãn lâng lâng cảm giác vui sướng.

Người giàu nếu không biết đủ (tri túc) thì không đầy đủ, có rồi càng muốn càng nhiều, tốt rồi càng muốùn càng tốt, được rồi lại sợ mất đi, lại sợ tai họa tới mình, lại sợ sanh bệnh, lại sợ chết mất, cả ngày tổn thương gân não, bàng hoàng không an, buồn bực lo sầu sợ sệt lúc nào mới hết? Ở thiên đường cũng như là ở địa ngục.

Chỉ cần có một khoảnh khắc vui vẻ thì những việc tham, sân, si, nghi, mạn, đấu tranh, tư riêng, sợ sệt, khẩn trương, giận, buồn phiền, lo nghĩ, tính toán... sẽ mất thôi, tâm tình có thể mở mang thoải mái trở lại! Đâu phải có tiền, có danh, có thế lực, ăn ngon, mặc đẹp, ở cao sang, mà không có tâm tình thoải mái để hưởng thụ, thì đâu phải là vui vẻ!

Người nghèo mà biết thiểu dục tri túc thì là đầy đủ, biết nhân quảø, rõ thị phi, không bạo ngược, không tự ti, không thèm muốn của người, không tham, không sân, không oán, không tranh, không ghét, không sợ thẹn, không so sánh nhà người, tự mình buôn bán bao nhiêu ăn bấy nhiêu, không tủi hổ hình vóc xấu, lại không vì không có tiền mà buồn rầu làm tổn thương gân não, mặc áo vải, ăn cơm hẩm, ở nhà tranh, đầy đủ với hiện thực, không kêu ca khuất phục, lại còn mừng vui hạnh phúc, không có lạnh lẽo đói rét thì tự mình được cái vui.

Đời người lạc quan, biết sống vui, tâm não rộng rãi, quán xem các pháp, ít ham muốn và biết đủ thì sẽ đầy đủ. Giàu từ người khác mà giàu, nghèo từ người khác mà nghèo, là vật ngoài thân, thuận với tự nhiên, không cưỡng cầu, tốt hoại, đắc thất, khổ vui, chê khen, vinh nhục, không so tính, phàm việc gì chỉ hỏi tâm không hổ thẹn, tùy gặp cảnh mà an, tâm an thì lý được, không bị hai cảnh thuận nghịch chi phối. Bình thường đời sống bất hạnh bị nghèo thiếu vây quanh, cũng có thể an bần lạc đạo, không oán trời trách người, chẳng vì nghèo khổ mà tự ti, thản nhiên mà tiếp nhận những ngằn mé bất hạnh, quên đi cái khổ nghèo thiếu, mạnh khỏe, mẻ sứt hoặc tàn phế, cũng có thể vui sống hằng ngày, chẳng thể nhân nơi bệnh khổ mà lẩn quẩn rên la, trên tâm linh là: an tường, tự tại và vui sướng.

Thật sự mà nói, vui vẻ do sự kích thích của vật bên ngoài sản sinh phần nhiều thuộc về khoái lạc cảm quan; sự vui vẻ xuất phát từ nội tâm thì là khoái lạc của tâm linh. Nguồn gốc của hai sự khoái lạc ấy không đồng, thứ lớp cũng có sai khác. Đứng một phía mà nói, sự vui vẻ của cảm quan - đến vui đi cũng vui, như ngày mùa hạ mây tụ, lại vẹt tan ngay mà qua đi; sự vui vẻ của tâm linh thì sanh lần hồi rồi chậm chạp đầy lên, giống như nước suối của núi mùa xuân nhởn nhơ chẳng khô. Ngài Trí Giả nói: “ Biết đủ có thể đem niềm vui chất chồng thành núi, càng chứa càng dày; không biết đủ, thì sẽ đem niềm vui đục khoét thành vực, càng khoét càng sâu”.

Con người, cuối cùng một đời, tìm tìm kiếm kiếm, tranh tranh nghiệp nghiệp, tóm lại chỗ truy cầu thoát ly không được sự hào hoa nơi vật chất và sự rõ ràng nơi danh lợi, chỉ tất cả cần thấu rõ lương tâm, đạo đức, nhân nghĩa, tâm mới an, tâm an! Để được vui vẻ, nếu chỉ vì thỏa mãn đầy đủ lòng ham muốn của mình, tha hồ làm điều trái lẽ, thì có cái gì mà chẳng thể làm; chẳng phải chờ đợi báo ứng đời sau mà thọ khổ, đời này cũng có thể hiển hiện tai họa trùng trùng, như thế có thể vui vẻ được chăng!

Rất nhiều người không được vui vẻ là bởi do từ lòng ham muốn ngóc ngách sâu xa. Nếu hay xem phú quý như mây nổi, danh lợi như khói sương, được mất không vinh ở nơi tâm, tự nhiên, gió mưa buồn rầu cũng chẳng xâm phạm ở trong lòng, huống gì, tiếng buồn khí thảm không giúp được đối với công việc. Sao chẳng lấy riêng một món tâm tình xem cho tất cả.

Người học Phật tu hành chuyên nhất chí thành ở nơi chân tâm, tin thọ vưng làm, chẳng cầu điều kiện hư vinh trước mắt, mà cầu ở nơi chỗ sâu xa của nội tâm, dứt bỏ dục vọng chính mình và chấp trước, giữ gìn tâm thanh tịnh. Từ việc hành trì không gián đoạn, tự nhiên được an ninh, đầy đủ và vui vẻ trong tâm linh. Nhân người tu hành có chánh kiến, chánh tư duy, tâm từ bi, làm việc thiện, không làm ác, thiểu dục tri túc, ít phiền não, có sự ký thác trên tinh thần là: Tin Phật. Có lý tưởng: Thành Phật, tự nhiên cuộc sống được vui vẻ nhiều.

Đương nhiên chẳng phải ngay khi mới bắt đầu tu thì có thể được sự vui vẻ trên tâm linh, quyết cần phải thanh trừ tập khí vô minh chính mình: tham, sân, si... Cải chánh hành vi hư hoại, sự vui vẻ mới có thể hưởng thọ được.

ĐỜI NGƯỜI VUI VẺ

Vui vẻ là hạnh phúc có thể đánh giá là vô giá.

Cuộc sống của đời người là tìm cầu sự vui vẻ.

Con người có quyền tìm cầu sự vui vẻ, nhưng vị tất có may mắn tìm được nó.

Cuộc sống của con người có hai việc: Một là cuộc sống vật chất, hai là cuộc sống tinh thần. Cuộc sống vật chất càng tìm cầu thì càng đau khổ, vĩnh viễn không thể đầy đủ. Nhưng nếu hướng về phương diện cuộc sống tinh thần để tìm cầu, thì tâm tình có thể thoải mái, tâm lý an ổn, thì sẽ được cuộc sống vui vẻ.

Vui vẻ là thứ cảm thọ vô hình, sâu sắc của tâm linh. Nó là một món cảm thọ kì diệu sâu sắc trong lòng của nhân loại. Nó là một đồ vật mà ta nhìn không thấy, nghe không được, sờ không đụng. Nó là một món tâm cảnh bất định tùy theo thời gian ảnh hưởng chúng ta mà hiện khởi hay ẩn mất. Kỳ thật, sự vui vẻ không chỉ đầy đủ ở trên cảm quan, nó là sự vui sướng không dứt đến từ nguồn nội tâm, đầy đủ có thật và yên bình; Song có một vài người trên xã hội, ý đồ của họ đem những cuồng vui gợi tình làm tê mê, đem những sự huyên náo xướng lên những điều trái lẽ để làm cho trống vắng nội tâm. Con người, duy có lúc thanh bần, muốn cầu giàu có, cho là sau khi giàu đủ nhất định vui vẻ; Lúc thấp hèn, muốn cầu vinh hiển quyền quý, cho là sau khi được quyền quý vinh hiển thì nhất định vui vẻ. Chỉ ngay sau khi có đủ tiền bạc, giàu co,ù danh lợi, địa vị thì ban đầu sẽ có cảm giác cuồng vui hưng phấn, nhưng không lâu cái đầy đủ tốt đẹp này cũng rất tiêu mau mất không hình không dấu.

Có một câu chuyện Nhi Đồøng kể rằng: “Có một người giàu có sau khi có đủ tất cả những gì anh ta muốn, ngược lại phát hiện chính mình chẳng có sự vui vẻ; mà một người dân bình thường không giàu có, ngược lại hay bình thản đạm bạc vui vẻ một đời. Người dân đó so với người giàu có vui vẻ hơn, đó là vì anh ta hiểu được tìm kiếm sự vui vẻ như thế nào, như thế nào khiến cho đời người chính mình giữ gìn được sự thoải mái; Người giàu có thì ngược lại cho là sự vui vẻ quyết cần phải tiêu hao tinh thần và sức lực mới có thể được, do đó phung phí hết tâm tư nhào vào danh lợi, vật chất mà hưởng thụ cho là sự vui vẻ, nên là như vậy!

Người hiện tại mỗi việc lấy nhẹ - nặng của lợi ích làm việc đong đo tiêu chuẩn nguyên tắc trong sinh hoạt, do đó, tuy là hưởng dụng không thiếu, trong tâm cũng khó khỏi sự mất mát. Đây cũng chính là chỗ khổ thân chẳng do mình.

Cái hoạn của con người, cho là tất cả đều là cái lý đương nhiên như vậy, mà không yêu tiếc tất cả đã có. Có rồi lại muốn thêm nhiều, tốt rồi lại muốn càng tốt, lại cố trèo lên, cố nhiên là tốt, nhưng nếu không thể lãnh hội được cảnh giới bình ổn chắc thật, có lẽ toàn thế giới vẫn vậy, không thể vui vẻ!

Bản chất của cuộc sống, kỳ thật rất đơn giản. Con người, sở dĩ không vui vẻ là do dục vọng, tham niệm quá nhiều. Con người ở trong cuộc sống vật chất càng tốt càng nhiều cũng chẳng đủ cho lòng dục vọng, dục vọng không đủ tâm sẽ không yên tịnh, tâm không yên tịnh thì không tự tại, dẫu rằng danh lợi đã được, vật chất không thiếu, cũng chưa chắc có tâm cảnh vui vẻ.

Con người cần phải đơn thuần trong cuộc sống vật chất, cần phải giản dị, mộc mạc, càng đơn thuần giản dị càng tốt, sự vui vẻ tự nhiên đến. Sự vui vẻ là tự mình tìm lấy, không thể nói trong hoàn cảnh ác liệt chịu đựng như thế nào, chỉ cần nhìn trên phương diện tốt, nghĩ rằng, có thể tri túc, thỏa mãn với hiện thực, tùy cảnh ngộ mà an, vui vẻ sẽ đến ngay. Như thế nào cuộc sống được vui vẻ? Đó hoàn toàn nắm trong tay chính mình.

Cuộc sống con người thoải mái đều chẳng khó, song anh phải cần: thiểu dục tri túc thì sẽ đầy đủ. Cuộc sống đạm bạc giản đơn, có tấm lòng bao dung rộng lớn, thái độ thành ý khiêm nhường, lại cần giả điếc làm câm, không tham, không sân, hay nhẫn nhượng, hay ăn thiếu, vô ngã, không riêng tư, đối việc không ngã chấp, đối người không so tính, phàm sự việc nghịch đến thì thuận chịu, việc không ở nơi ý vả phải coi cho rõ, hết lòng giảng giải giáo hóa phương pháp thấy được đối với vật, việc, người gặp xung quanh, gánh vác giảm nhẹ đi áp lực tâm lý, có thể yên ổn đối với tình trạng hiện tại, tiếp nạp tất cả, nội tâm tự được đầy đủ. Duy có như vậy, cuộc sống mới có thể đầy đủ thật sự, cuộc sống dạt dào, lý do: cảnh từ tâm sanh. Con người vui vẻ hay không ở nơi cảnh chẳng phải là chỉ một điều kiện, gặp cảnh tâm cảnh phản ứng, mới là mấu chốt quyết định vui vẻ hay không. Tiếp nạp tất cả một cách đầy đủ: ăn cho khỏe mạnh, mặc cho thỏa mãn, ở cho thoải mái. Người tri túc nằm ở địa ngục cũng như ở thiên đàng; người không tri túc, ở thiên đàng cũng như ở địa ngục. Đồ đạc đồng dạng với nhau, do con người không giống nhau ăn vào sẽ có mùi vị không đồng, nhà thì giống nhau, do tâm tình của con người không đồng, ở vào thì sẽ có sự khác nhau thiên đường và địa ngục. Người tri túc, một bữa một hai món đồ ăn, thì bữa bữa đều có đồ để ăn; Người không tri túc, mỗi bữa đồ ăn bày đầy bàn, mà không phải là những món kiểu này thì sẽ thấy không ngon, tóm lại là những món đó không thích thì cho là không có đồ ăn. Con người có thể yên ổn ở nơi tình trạng hiện tại, tiếp nạp tất cả, nội tâm tự đầy đủ, chỉ có như vậy cuộc sống mới có thể sung túc thật sự, cuộc đời mới dạt dào niềm vui.

Giàu và nghèo, vui vẻ hay thống khổ cũng chẳng qua là trong một niệm, tư tưởng thông rồi, rất là tự nhiên đều đem làm cái sở hữu của ta, vật ở ngoài thân, lại tranh chấp có được gì! Sanh mệnh như hoa Đàm một lần hiện ở trong vũ trụ, bực bội có được gì!

Đời người ở thế gian nên tự cầu phước nhiều; Phần nhiều hay muốn tự mình hưởng có tất cả những điều không buồn lo, không ai oán.

VÌ SAO CẦN HỌC PHẬT?

Mục đích học Phật là như thế nào? Nói một cách đơn giản: tức là “chuyển mê thành ngộ”. Nhưng MÊ là mê cái gì? NGỘ là ngộ cái gì?

Mê, tức là mờ mịt đối với chân lí nhân sinh vũ trụ, không rõ được chân tướng bản nhiên của nhân sinh, cũng không rõ được sự tướng duyên khởi của vũ trụ. Chân tướng của nhân sinh vũ trụ là:Thế gian vô thường, cõi nước nguy hiểm (nguy hiểm mỏng manh, dễ vỡ), bốn đại khổ - không, năm uẩn không tướng.

Mà chúng ta ngược lại có thói quen đối với vọng tưởng chấp trước trên chủ quan, mờ mắt liều mạng tìm theo tất cả những sự vật huyễn diệt, lầm nhận muôn pháp hư huyễn là thường trụ bất hại, và thân tâm do năm uẩn hòa hợp làm chân ngã, cho đến chấp ngã, chấp pháp, khởi hoặc, tạo nghiệp, rốt cuộc trôi chảy trong sinh tử, chìm đắm nơi biển khổ.

Ngộ, tức là đối với chân như lí tánh của nhân sinh, sự tướng duyên khởi của vũ trụ, có sự lí giải thấu triệt, biết là duyên sinh tánh không, duyên khởi vô ngã (duyên sinh, là do các duyên hòa hợp mà sinh - duyên khởi, là nói các pháp do các duyên hợp thành, tánh đó vốn không, không có tự tánh chân thật). Do đó không thể chấp trước, tự tìm phiền não, lại tạo nghiệp, để chuốc lấy quả khổ.

Nói một cách khác: Mê, tức là không rõ chân tướng của nhân sinh, một người ở trong cuộc sống vài mươi năm, nói gần, không hiểu được chính mình sinh ra như thế nào, mỗi khi lộn xộn rối rắm, giống như bịt mắt đi đường; đến già, lại không hiểu rõ lúc chết; Chết rồi, đến chỗ nào? Cho đến tất cả vạn vật bên ngoài con người là làm sao mà đến, chỗ có tất cả đây, đều là chẳng rõ sự kì diệu. Nói xa hơn, tất cả vạn hữu trong vũ trụ tại sao lại tồn tại? Phàm là không rõ được những đạo lí này, gọi là mê.

Ngộ, là rõ ràng chơn tướng sự thật, hiểu được thân thể của nó chỉ là giả tướng hòa hiệp của bốn đại: đất, nước, lửa, gió (tức là tám đại hệ thống của thân thể con người giải phẫu ra, nhục thể tổ hợp mà thành). Nhục thể giả tướng này, trải qua: trẻ nhỏ, thiếu niên, trung niên, già, có một ngày bốn đại không đều hòa thì bệnh, bệnh nặng mà chết, sau khi chết từ từ dần về tiêu diệt. Chỉ có còn trong nơi nhục thể, thật tướng con mắt kia nhìn không thấy, lại gọi là chân như (tục gọi là linh hồn) hoặc gọi là Phật tánh là vĩnh viễn tồn tại, là không sinh, không diệt. Một người như thế này, vạn vật cũng là thế này, người nếu hiểu được đạo lí này gọi là Ngộ. Học Phật tức là đem cảnh Mê của ngươi chuyển đổi đi, mà mở ra một con đường khiến ngươi đi vào cảnh Ngộ.

Nhưng mục đích của học Phật còn chưa sáng sủa là vì chưa giải thoát đau khổ cho chính mình. Càng phải vì tất cả chúng sinh mà bài trừ khổ nạn, được vui vẻ mà nỗ lực.

VÌ SAO CẦN TU HÀNH?

Vì sao cần phải tu hành? Tu hành là thế nào? Rõ được đạo lí này thì tốt rồi, tu được rồi.

Vì sao cần tu hành ư? Là vì cần: Lìa khổ được vui. Thế giới ta bà là biển khổ, người đời là kẻ khổ, khổ nhiều vui ít, người nghèo khổ, người giàu cũng khổ, lúc bận rộn khổ, lúc nhàn rỗi cũng khổ. Khổ mỗi dạng mỗi việc, mỗi loại rất nhiều rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày thường thường gặp đến, tóm lại: không hợp với lòng không yên, không tự tại, không vui thì là khổ! Anh cho là sinh hoạt hiện tại được rất xứng tâm như ý, rất vui; Vậy anh có thể giữ đời này kiếp này đều xứng tâm như ý và vui vẻ không? Muốn lìa khổ được vui, chỉ một niềm tin là tin Phật, một việc làm là làm thiện, mà chẳng chịu học Phật tu hành thì không ra khỏi luân hồi sáu đường, lìa không được khổ, chẳng được chơn lạc.

Tu hành là thế nào? Là phải ra khỏi ba cõi luân hồi sáu đường, lìa khổ được vui thành Phật. Thành Phật, đầu tiên cần phải biết TIN nhân quả, dứt ác tu thiện, tu thân dưỡng tánh, rõ sanh tử, chuyển mê khai ngộ. Thế gian là cuộc vô thường, không có sự vật hằng thường bất biến, đại địa và thân tâm chúng ta, mỗi một phút, mỗi một giây đều ở nơi biến thiên, ở trong thân tâm bất định biến thiên ảo huyễn này, anh có thể tìm được một cái CHƠN NGÃ bất biến hằng thường không? Thế giới ta bà là các hành (pháp) vô thường, tất cả hiện tượng đều là dời đổi biến hóa, sinh diệt từng sát na, mọi sự mọi vật thiên biến vạn hóa, dơ nhuốc khổ đau, khổ não lớp lớp, gọi là: uế độ (cõi dơ nhớp).

Đời người là khổ, khổ của sinh, lão, bệnh, tử trên nhục thể, trên tinh thần từng loại từng món, khổ nhiều vui ít; lấy khổ làm vui thành thói quen, cho là bình thường. Người đời phần nhiều lấy dục lạc của năm căn làm vui, khổ vui do nơi cái nhìn về nhân sinh không đồng ở mỗi người, đối với sự nhận biết và thứ lớp của bản chất khổ vui, mỗi việc cũng khác nhau, khổ vui vốn là do sự hỗ tương đối đãi mà an lập. Người đời nhân đó mà truy cầu sự vui vẻ, nhân vui vẻ mà duyên đến khổ đau; người đời, tóm lại là một cái vòng trong dòng chảy sinh tử, khổ đau và vui vẻ xen nhau mà thành. Khổ, là chỗ nhàm bỏ của người đời, nhưng người đời rốt cuộc không khỏi khổ đau rất nhiều; Vui, là chỗ tìm cầu của người đời, nhưng cái vui mà mọi người tìm cầu, ngược lại là ít ỏi mà ngắn ngủi tạm bợ như thế, ai chẳng muốn lìa khổ được vui! Hầu hết con người trên đời cái khổ thì muốn rời xa, cái vui thì muốn được, Phật dạy chúng ta, rốt ráo có gì chẳng đồng ư? Đây là nguyên ở cái nhìn của nhân sinh có chỗ không đồng, là cạn cợt và sâu sắc. Người đời cảm thọ khổ và vui chẳng qua là y cứ trên sự thuận và nghịch của thân tâm, tổn hại hay ích lợi mà nói thôi. Y cứ theo Phật Đà mà nhìn, khổ mà người đời nói, đổi lại là cái khổ chân chánh; Nói là vui, ngược lại chưa chắc là thật vui. Thường nghe mọi người nói “Tôi muốn tìm vui”. Rồi tìm cầu cả một đời, được chăng cũng chỉ bất quá là dục lạc của năm căn, nhưng ngược lại chút ít ở trong chút ít. Đức Phật đã khẳng định rằng đời người là khổ, có khổ đương nhiên cần phải xuất ly, lìa khổ thế gian, cầu vui giải thoát, xa lìa luân hồi ở ba cõi sáu đường, đây là sự nỗ lực và nhận thức nên có của nhân sinh, cũng là mục đích của Đức Phật xuất hiện ở thế gian, ở đây lấy việc lìa khổ được vui làm tiền đề của Phật pháp. Chúng ta chỉ hiểu rằng: Khổ – chơn thật là khổ, Vui – chơn thật là vui, mới có thể sanh khởi yêu thích và qui hướng chân chánh đối với Phật pháp. Phật pháp là phương pháp đứng trên căn bản khiến chúng ta có thể dẹp trừ khổ đau, mà thu được khoái lạc chân thật. Chỉ có tu trì Phật pháp, tin thọ phụng hành, hành trì không gián đoạn, tự nhiên sẽ đạt được sự đầy đủ và vui vẻ của tâm cảnh.

Đời người không có sự nhẹ nhàng và thoải mái tuyệt đối, cũng không có sự thống khổ và phiền não vĩnh hằng, có lúc “lạc cực sanh bi, khổ tận cam lai”; người đời nhân nơi khổ mà tìm cầu vui, ngược lại nhân nơi vui mà duyên đến khổ đau. Đời người gặp gỡ thường xuyên là vui vẻ ít mà buồn đau thì nhiều, lý do khổ não của đời người cũng vô cùng, vô tận.

Đời người có mấy cái khổ ư? Bao gồm có: Khổ của việc sanh ra (sanh khổ), khổ của già suy (lão khổ), khổ lúc gặp chết mất (tử khổ), khổ lúc gặp người mình oán hận (oán tắng hội khổ), khổ lúc cùng người yêu thương chia rời (ái biệt ly khổ), khổ vì sự vật muốn được ngược lại không thể đến tay (cầu bất đắc khổ)... Tóm lại, khổ về các loại, các dạng rất nhiều, chẳng an, chẳng vui vẻ cũng là khổ!

Người đời ở trên con đường đời người thoạt muôn biến đổi này, khổ bị gặp thật là khó mà tính toán hết. Đây giống như ăn một con gà kim loại lăn áo đường ở bên ngoài, bên ngoài thì ngọt, bên trong thì đắng chẳng giống sao? Mà Phật pháp chỉ ra mấy cái khổ này, đều chẳng phải ai đó đem đến cho chúng ta, mà là tự mình không rõ thị phi, mờ mắt tìm cầu, gom lấy tham ái thì quả khổ đến.

Người có trí tuệ, trước khi làm một việc, tóm lại, phải hiểu rõ trước, vì sao nên làm thế này? Sau khi hiểu rõ, mới khẳng định sự việc nên làm, tự nhiên ý nghĩ sẽ không ngược lại, bắt tay vào việc mà không có một chút e dè lo sợ. Đối với mọi người, công việc cứ y trên đạo đức mà làm, y cứ trên trí tuệ mà xử lý tất cả công việc, tức là HỌC PHẬT.

Thái độ này cũng là chỗ chú trọng củaPhật giáo. Phật giáo yêu cầu tín đồ là: TRÍ TÍN, tức là tín ngưỡng trên lý trí, không phải là mờ mắt dùng cảm tình mà tín ngưỡng. Lý do, trước khi giảng nói đạo ly ùcần phải tu hành, cần phải hiểu rõ trước: Vì sao cần phải tu hành?

Con người, vì sao cần phải tu hành? Phật giáo lấy “đời người là khổ” ra nói rõ, ắt cần phải tu hành. Vì sao nhân sinh là khổ ư? Trong “bốn thánh đế” Phật dạy có sự giải thoát khái lược cần thiết, tức là đời người có: sanh khổ, bệnh khổ, lão khổ, tử khổ, cầu bất đắc khổ... Tóm lại, trong một đời người đầy đủ các loại dạng khổ!

Hoặc có người sẽ phản đối, hiện tại ta đang cảm thọ được rất vui vẻ, sự vui vẻ này vì sao có thể là khổ ư? Kỳ thật kiến giải của người đời phần nhiều có sai lệch, thậm chí điên đảo; đối với chúng ta cho là vui, nhưng trong con mắt người có trí tuệ nhìn, tức chính là khổ! Sau khi vui vẻ qua đi, khổ sẽ đến. Vì vui và khổ nối nhau mà đến, cũng như ban ngày và ban đêm, sau khi ngày qua đi đêm tối sẽ đến, do dó, đời người là khổ, xác thật là không thể phủ nhận. Vậy thì như thế nào mà thoát ly được khổ, đó chính là việc gấp rút trước tiên con người phải làm.

Khổ cần phải như thế nào mới thoát ly ư? Đức Phật ở trong bốn thánh đế, dạy rằng KHỔ do TẬP mà có. Tập chính là ý tứ các món phiền não, hoặc và nghiệp; do nơi nghiệp con người mới có khổ. Nghiệp tuy là vô hình, nhìn không thấy, rờ không được, ngược lại là chủ tể của nhân sinh. Sở dĩ cần lìa khổ, quyết cần phải đoạn TẬP. Muốn đoạn tập lại cần phải không tạo nghiệp, không có nghiệp bèn không có tập.

Như thế Nghiệp là thế nào? Nghiệp là hành vi của chúng ta, làm nên một cá nhân, thân tâm không thể không có hoạt động, có hoạt động rồi thì có hành vi, có hành vi rồi thì có nghiệp. Sở dĩ không tạo nghiệp là không làm ác nghiệp, và chẳng liên quan đến thiện nghiệp thì không làm. Vì không tạo ác nghiệp, hành thiện là điều tất yếu. Chúng ta hy vọng hành vi chính mình là hành vi thiện. Tiến đến có thể làm được điều không tạo ác nghiệp, đối với thiện nghiệp cũng không chấp trước. Như vậy thì có thể lần lượt thoát ly khổ. Y cứ Phật pháp mà nói: Giải thoát phiền não, trong tâm thanh tịnh, an tường, tự tại, tinh thần thoải mái, tương lai khả năng thoát khỏi sinh tử.

Phật pháp dạy con người cần phải dùng nhãn quan đạm bạc mà xem tình đời, thì phú quý như khói mây qua nơi mắt, dùng tâm tri túc để lấy và bỏ muôn vật, tâm thanh tịnh này không bị sự trói buộc của vật bên ngoài. Đây là dùng tâm tuỳ duyên hành xử với nghịch cảnh. Tâm địa tự bình ổn thì không bị lụy đối với vật bên ngoài. Lại tiến một bước chí thành tu hành, thì có thể đạt được niềm vui lớn Niết bàn.

Vậy quyết cần phải tu hành! Chỉ cần nương nơi Phật pháp tu hành, sửa đổi hành vi không tốt đẹp của chúng ta. Trong hành vi của chúng ta không tạo nhân khổ (ác nghiệp), mà đối với việc thiện lại không chấp trước, hơn nữa thịên - ác không lập, trong tâm không có nghiệp, tự tánh hiện tiền, khổ tức thì tiêu mất. Như vậy mới là cứu cánh. Tu hành là mỗi một người quyết cần theo sự việc mà khởi tưởng lìa khổ được vui. Đây cũng là chỗ Phật pháp khác thế pháp. Tín ngưỡng Phật giáo, như chẳng tu hành, chỉ trồng nhân thiện, không phải là pháp được lợi ích cho Phật pháp.

Lời Phật dạy và sự tu hành là không phân chia ra được, tu hành là cơ sở của tín ngưỡng, có tín ngưỡng cơ sở mới giữ gìn được lâu, nếu bỏ đi vấn đề tu hành thì Phật pháp trở thành là bàn suông thôi.

TU HÀNH LÀ THẾ NÀO?

Xác định tính trọng yếu của vấn đề tu hành, tiếp theo, thì cần phải xét nét ý nghĩa tu hành, cũng tức là nói: Tu hành là thế nào?

Trước khi xét nét tu hành, trước tiên đối với mặt trái của tu hành, đời người là khổ, làm một phen giải thoát, tin tưởng đối với ý nghĩa của tu hành sẽ có sự hiểu rõ càng lớn, liên đới, cũng sẽ dễ hiểu rõ thế nào là tu hành rồi.

Khổ ở nơi nhân sinh, đều chẳng phải hoàn toàn do trời sinh mới có, mà là sau khi tạo nghiệp mà thành, rồi lớn lên, do nghiệp cảm báo mà có. Đã vậy, khổ là do chính mình tạo nghiệp bị cảm báo mà có. Vì sao loài người lệch lạc cần thiết đi tạo các nhân ác, nhóm các nghiệp ác đến nỗi cảm thọ quả khổ ư? Mỗi cá nhân đều không thích khổ, đã không thích vì sao lại lệch lạc đi tìm? Mười hai nhân duyên phần lớn dùng để nói nguyên rõ do và hình thành sinh mệnh của loài người, nhưng cũng có thể dùng để mà giải thích làm sao biết nguyên nhân tạo nghiệp của con người.

Mười hai nhân duyên là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử. Trong mười hai chi này lấy “vô minh” làm đầu, nhân vô minh mà vọng có: sanh mạng của chúng sanh và thế giới vũ trụ, nhân tạo các nghiệp ác, theo nghiệp trôi chảy mà chịu báo, mới có sáu nẻo luân hồi _ sanh tử tử sanh, trôi nổi nơi ba cõi, vĩnh viễn không có kỳ hạn.

Vô minh, tức là ý nghĩ không hiểu rõ, ngằn mé chân chánh của đời người cũng không hiểu rõ, không biết tin nhân quả, không biết rằng tạo nghiệp ác nhóm gom lại có thể sanh khổ... Nhân nơi vô minh mà sinh vọng động, cái vọng động này tức là “hành”, kết quả, sau một bước đi sai, theo nơi tập quán tánh (cũng gọi là “tập khí”) thì từng bước sai lầm. Cho nên từ “hành”, “thức” cho đến “lão tử”, không món nào chẳng sai lầm. Xưa nay ở nơi chân tánh, trong đó có “hành”, “thức” vốn không có “sinh”, trong đó có “lão tử” không?

Nhân đây, trong mười hai chi không có món nào chẳng phải là vọng, hành vọng, thức vọng, cho đến lão tử là những món hư vọng không thật; nhưng con người ngược lại chấp lấy những cái hư vọng lưu chuyển làm NGÃ, quên mất “chơn ngã”, thật tướng, bất sinh, bất diệt, thường tự như; Do đây mà có khổ: trong khổ tạo nhân khổ, lấy khổ làm vui, giữ chặt khổ không bỏ. Đây là nguyên nhân khổ đầy đủ của đời người.

Truy cứu nguồn cội của khổ là “vô minh”; vô minh là đầu của họa, cho nên cần phải dứt khổ, thoát khổ, quyết cần phải đem vô minh mà chặt đứt hoàn toàn, chuyển vô minh làm “linh minh” mới được.

Như thế phải như thế nào chuyển “vô minh” làm “linh minh” được? Kỳ thật, vô minh cũng là món hư vọng. Đứng trên bản thể mà nhìn, cội gốc của vô minh không tồn tại, nhưng đối với chúng sinh mới hiểu và chưa hiểu mà nói, do ở chỗ chưa lìa khỏi hư vọng, cũng sẽ có sự tồn tại của vô minh; cũng như trong hư không vốn không có bông hoa, mà cái hoạn do có người bệnh nhãn hoa, ngược lại, thấy trong hư không đầy tràn bông hoa; ở trước mắt anh ta, bệnh hoạn hoa chưa tiêu trừ, nói với anh ta trong hư không không có bông hoa, thì không thể khiến anh ta tin được. Trước tiên cần phải trị bệnh cho con mắt của anh ta, nhiên hậu bệnh tiêu thì tướng huyễn mới được trừ. Cũng giống vậy, tất cần phải có phương pháp có khả năng khiến chúng sinh thoát ly hư vọng, trong tâm không có vọng niệm làm chướng ngại, lại như mây tiêu sương tan, ánh sáng mặt trời sẽ hiện ra. Linh minh là chơn tâm, từ trước về sau, mới có thể thấy được gốc của vô minh không tồn tại. Như đây chính là chuyển “vô minh” làm “linh minh”, hoàn toàn thoát ly khổ.

Vậy thì chúng sinh cần phải như thế nào mới có thể thoát ly hư vọng?

Hư vọng từ tâm sinh, tâm vì sao phải hư vọng? Do ở nơi tâm vô chủ, mất đi sự khống chế, cho nên vọng tưởng lăng xăng. Xưa nay sản sinh ra vọng tưởng là tác dụng của tâm thể, thì chẳng phải là việc xấu, vấn đề ở nơi trong tâm vô chủ, không có khả năng tác dụng khống chế, làm được việc đáng nên dùng thì dùng, đáng nên dừng thì dừng. Ở nơi vọng tưởng hỗn loạn không thể đình chỉ được, không những chướng ngại mà chúng ta nhận thức đối với chính mình, mà còn khiến cho tâm mất đi công năng chánh thường. Cũng như một món đồ chơi điện tử, nó từ trước đến nay lúc đáng nên động thì động, lúc đáng phát sinh sóng điện từ thì phát sinh sóng điện từ, để chỉ huy thao tác máy móc của nó; bỗng nhiên khoảng thời gian bị thất thường, chuyển động không dừng, luôn luôn phát sinh ra sóng điện, không những ảnh hưởng thao tác bình thường máy móc của anh ta, mà còn khiến cho người làm không hiểu nó là cái gì. Do đó chẳng thể làm cho nó hoàn toàn đình chỉ được. Ngay lúc hư vọng tiêu trừ, tác dụng của tâm sau khi đình chỉ, tâm thể lại không bị chướng ngại, lúc đó chúng ta mới có thể nhận biết nơi tâm.

Tâm, là chủ của con người cho đến tất cả, nhận thức rõ tâm là đời người có chủ. Từ sự nhận thức về tâm, cũng biết được nguyên nhân tâm mất đi sự mẫu mực ở chỗ nào, ở đó, sau khi đem chỗ mất mẫu mực điều chỉnh sửa đổi, tâm vẫn vậy, ắt cần phải hồi phục hoạt động và công tác từ trước. Chỉ là tâm lúc này và từ trước tuy là đồng một cái tâm, ngược lại cùng với từ trước không đồng; Thiền tông nói: Người khai ngộ không khác người ngày cũ, nhưng khác hành vi ngày cũ. Tâm lúc này là tâm chánh thường, việc đáng nên dùng thì dùng, đáng nên dừng thì dừng, hoàn toàn có thể làm chủ. Đối ở việc tiếp xúc được tất cả, nó đều rõ ràng trong sáng, tuyệt không thể bị dối lừa; nó biết thế nào nên làm, làm việc đáng làm, hành việc đáng hành, không thể làm sai lầm, cho nên có thể không khổ, biết sâu xa qua các hoạt động tự chủ.

Do đó tiêu trừ tưởng niệm hư vọng trong tâm, bèn là chuyển “vô minh” làm “linh minh”, giai đoạn lìa khổ được vui chắc chắc trải qua.

Như thế, vọng niệm trong tâm có phương pháp gì tiêu trừ? Thế này cần phải dùng phương pháp tu trì rồi, tức là trì tụng một pháp ở trong tâm không gián đoạn, thí như: kinh giáo, tham thiền, chỉ quán, quán tưởng, trì chú, niệm Phật,... Lấy nhất niệm thống suất vạn niệm, khiến cho số đông vọng niệm quy về ở nơi “nhất vọng niệm”, nhiên hậu, đem một vọng niệm này cũng xả đi, như vậy, trong tâm lại hoàn toàn thoát ly hư vọng. Chỉ là ý nghĩ và việc làm thuần lương, thiện căn sâu dày, ý chí kiên cường có thể không khó; nhưng đối với con người đại đa số mà nói thì không phải là dễ như thế đâu.

Xưa nay hư vọng tức là chẳng thật có, vì sao sẽ trừ không được? Đây lại là vấn đề của tập khí. Nhiều năm cho đến nhiều đời trở lại, đều là tập quán đối với tâm mà sinh ra niệm tưởng hư vọng; chính như một con chó hoang lưu lạc, một lúc nào đó bắt về nuôi dưỡng ở trong nhà, nó làm sao có được thói quen? Trừ phi chủ nhân là người có năng lực thuần phục cực lớn, có thể chế phục tánh hoang của con chó. Tu hành cũng là như vậy, đầu mối ở tại phách lực của hành giả, có thể nhất thời khắc phục được tập khí, lại có thể đốn ngộ thành tựu, chẳng vậy thì duy có tu lần hồi (tiệm tu) thôi. Tất cần phải biết phối hợp giữa sinh hoạt thường ngày và công tác tu hành, hết một thời gian dài, từng bước từng bước bỏ đi tập khí cải chánh lỗi lầm, đợi gồm các hành vi được thuần nhất, tu trì mới dễ thành tựu. Đem tính toán nhất thời không thể thành tựu; nhưng đối với việc không tái tạo nghiệp, lại không tái cảm thọ quả khổ, đời người cũng sẽ an lạc rất nhiều rồi.

Như thế tu hành là thế nào? Tu thế nào? Đem hai chữ tu hành chẻ ra mà nói: Tu tức là ý nghĩ sửa đổi. Hành tức là hành vi của chúng ta. Hành vi này bao quát có: hữu hình và vô hình; cũng tức là ba nghiệp: thân, khẩu, ý. Tu hành lại là tu chánh lại hành vi hư hoại của thân, khẩu, ý chúng ta.

Hành vi của thân, khẩu, ý sao cần cải chánh? Vì hành vi của con người, có vài lúc làm tổn thương và hại người khác hoặc sinh linh khác, trong vô hình cũng tổn hại chính mình, khiến tự mình và người khác đều cảm thọ thống khổ. Những hành vi này tức là ác nghiệp.

Ngay trong hành vi của thân, khẩu, ý con người, những cái đó thuộc ở nơi ác ư?

Phương diện thân nghiệp có: giết, đánh, tịch thu, ăn cắp và tà dâm.

Phương diện khẩu nghiệp có: nói láo, nói hai chiều, nói ác, nói chiều uốn...

Phương diện ý nghiệp: tóm lại nhiều rồi. Duy thức học phân tích tâm niệm của chúng ta đem ra đại để chính yếu quy nạp làm ba mươi bảy món, trong khi đó THIỆN chỉ có mười một món; ngược lại ÁC có tới hai mươi sáu món, cũng tức là đem: tham, sân, si làm đầu; sau đó là mạn, nghi, ác kiến, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri, vô tàm, vô quý, phẫn nộ, oán hận, phú tàng, ác nghiệp, não loạn, tật đố, gian lận, hư cuống, siểm mị, hại, kiêu. Như nếu lại đem chẻ chiết nhỏ nhặt ra nữa, thì lại càng nhiều. Tóm lại nói đó, phàm là hành vi làm tổn thương hại đến chúng sinh thì là ác, quyết cần phải hơn thế nữa để tu chánh.

Có thể tu được thân, khẩu, ý nghiệp đều không ác, tự nhiên thân tâm thanh tiïnh an lạc, tình huống ở thân tâm yên ổn rồi, vọng niệm lại ít hơn. Nếu như có thể tiến đến mà niệm niệm ở nơi thiện, thân hành ở nơi thiện, miệng nói ở nơi thiện, ý tưởng ở nơi thiện, thì là từ “tu hành” tiến đến “tu trì” rồi. Do đã đem các món tập khí bất lương cải chánh lỗi lầm rồi, tâm đã thuần nhất, chướng ngại cũng đã giảm thiểu hoặc tiêu trừ, lại thêm niệm chẳng gián đoạn danh hiệu “Nam mô A Di Đà Phật”, vọng tưởng tạp niệm giảm thiểu hoặc tiêu trừ, tình đời xem đã rõ, muôn duyên thế tục buông đi, việc vãng sanh thế giơÙi Cực lạc ở Tây Phương thì nắm chắc.

CHỖ TỐT ĐẸP CỦA PHÁP MÔN TRÌ DANH NIỆM PHẬT

Thứ nhất, rõ được sanh tử, ra khỏi luân hồi sáu nẻo, vãng sinh Cực Lạc thế giới, lìa khổ được vui - chơn lạc - thành Phật.

Thứ hai, lúc người đời chết, chết bị đau đớn khổ sở, hay chết không đau đớn khổ sở, muôn nghìn người khó được một người, càng không thể nói đứng hoặc ngồi chết được, có thể đến lúc mệnh chung biết trước giờ chết càng không thể được.

Niệm Phật tu hành đến lúc mệnh chung, thân không bệnh khổ, biết trước giờ chết, chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo, đang đứng hoặc đang ngồi mà niệm Phật vãng sinh về thế giới Cực lạc; nếu công phu niệm Phật sâu, thì ở hiện đời được nhất tâm bất lọan, căn lành sâu dày, lại có thể thân chứng niệm Phật tam muội (chứng ngộ).

Thứ ba, trên sinh hoạt tinh thần có chỗ ký thác: “tin Phật”; có lý tuởng: “thành Phật”. Sống đuơc vui vẻ, tự tại.

Thứ tư, biết tin nhân quả (thiện có thiện báo, ác có ác báo), rõ thị phi, dừng ác tu thiện, thiểu dục tri túc, cuộc sống yên ổn đạm bạc giản dị, tâm cảnh khai mở, nhìn rõ tình đời, muôn duyên thế tục buông đi, công tác hiểu rõ nợ nần mà dốt hết bổn phận, không ưa cao chạy xa, công việc được thì thoải mái, trân trọng nghề, vui với tập thể, giữ bổn phận, giao tế với người quan hệ hài hòa, ngước lên không thẹn với trời, cuối xuống không tủi với đất, phần lớn giảm nhẹ đi những việc nhọc sức trên xã hội, gia đình và công việc, tự nhiên được yên ổn, tốt đẹp, tự tại, vui sướng, nhìn các việc đều thoải mái thích hợp thuận mắt.

Thứ năm, nương giáo lý của Đức Phật mà chiếu xét tư tưởng và hành vi của chính mình, như có cái gì bất chánh thì đưa vào chỗ chánh, không nề nếp thì đưa vào nề nếp, tu dưỡng ở nơi thân tâm chính mình, rất có bổ ích, là triết học nhu yếu của xử thế; đối với chân tướng của nhân sinh có chỗ nhận thức, có nhận thức ắt có chỗ chứa nuôi, có chứa nuôi ắt không gấp rút ồn ào, không biến động giận dữ, tâm tình tốt; khi gặp vấn đề khó khăn ngay trước mặt, như không mỹ mãn về cuộc sống, khổ rầu về hoàn cảnh, thiếu sót hạn chế của xã hội hiện thực, việc con người phiền não xấu xa, các việc đều có thể mở dắt từ “thánh trí”, điều chỉnh tâm cảnh bất bình chính mình, trong tâm bình hòa, bình thuận, bình tĩnh, bình đạm. Tình tự không thể theo sự vui giận mà chìm nổi, xem phú quý như khói mây qua mắt, lấy tâm tri túc để thủ xả muôn vật. Không vọng cầu, không vọng lấy, không vọng dùng, không bị sự trói buộc của vật bên ngoài, tâm an lý được, tùy duyên qua ngày, cuộc sống sẽ được hạnh phúc vui vẻ.

GIẢI THÍCH NGHI NGỜ

A. PHẬT GIÁO KHÔNG PHẢI LÀ MÊ TÍN

Nói “mê tín” là tự mình chưa xét qua hiểu rõ ràng thì đã chạy theo và nói pháp cho người khác, tin một cách mù quáng. Bất kỳ giáo pháp nào, không có chỗ gọi là mê tín hay chẳng mê tín. Mê tín hay không là thái độ tín ngưỡng của anh. Nếu như anh đã thâm nhập và hiểu rõ, trải qua sự quan sát và suy nghĩ, cho là giáo pháp đó không có sai lầm và quan niệm của anh ăn khớp nhau, mà sản sinh tín ngưỡng, đó lại là tín ngưỡng của lý trí. Nếu như chưa rõ hiểu, chỉ nghe người khác nói là rất tốt, hoặc giả nương nơi truyền thống của gia tộc mà tín ngưỡng theo, sau khi tín ngưỡng còn chưa thâm nhập hiểu rõ, chỉ thuần túy ngay trên việc làm là “tín ngưỡng”, như thế tức là giáo pháp bị tín ngưỡng khiến anh có nhiều tốt đẹp, bản thân của anh cũng là mê tín. Nếu như anh không hiểu rõ Phật giáo, chỉ nghe người khác nói Phật giáo là mê tín, hoặc nhìn thấy một vài nghi thức biểu tượng của Phật giáo, mà chưa trải qua sự thâm nhập rõ hiểu ở nghĩa lý, thì đã bình đoán Phật giáo là mê tín, như thế thật anh mới là mê tín, rồi nói pháp mê tín cho người khác, thành kiến chấp mê tín chính mình.

Phật giáo từ chỗ không thể đồng với người mê tín, trái lại, khuyến khích con người hoài nghi, đều đem việc hoài nghi đề xuất ra để mà thảo luận. Duy có biết hoài nghi, mới có thể nhận chân để bàn xét mà có được đáp án, như đây mới có thể sản sinh ra tín tâm chân chính. Trên sự thật, không có bất kỳ tôn giáo nào như là Phật giáo chịu cho con người hoài nghi kiểu này, khai phóng kiểu này và không mê tín kiểu này.

B. PHẬT GIÁO KHÔNG ĐỒNG VỚI SỰ THẦN KỲ CỦA TRỜI ĐẤT

Kẻ sĩ trong xã hội đối với Phật giáo hiểu lầm rất là sâu nặng, chẳng qua ở nơi hai chữ “mê tín”, phần nhiều con người chịu ảnh hưởng qua “tân giáo dục” mà đối với Phật giáo không có chỗ hiểu rõ; lúc bàn đến vấn đề tín ngưỡng, quan niệm thứ nhất nhận xét là: “đây là cử động mê tín”. Trên sự thật, đều chẳng phải là Phật giáo mê tín, mà là bị kẻ sĩ có ý và người truyền đạo ngoại đạo, vì sự tiến bộ và khoa học của tôn giáo mình, vì là tự thân đánh giá, chẳng tiếc lời cố ý vu báng miệt thị, điên đảo trắng đen, đối với Phật giáo thêm lên cái mũ: lạc bầy, tiêu cực, mê tín... và một bộ phận tín đồ ngoại giáo, cho rằng “mặt trăng là vòng tròn của nước ngoài”, đã vậy, Mục sư và Thần phụ đều nói Phật giáo lạc bầy mê tín, nghĩ rằng Phật giáo đại khái là tôn giáo lạc bầy mê tín, rồi đem bao nhiêu là sự tình mê tín thêm vào ở mặt trong của Phật giáo, mới khiến cho Phật giáo bị trùm lên một lớp sắc thái mê tín. Riêng Phật giáo là một tôn giáo lấy từ bi làm gốc, nhẫn nhục làm hành động, mặc dù giới bên ngoài nói như thế nào, tín đồ Phật giáo đã không biện bác, cũng không giải thích. Đây cũng khiến cho trên xã hội hiểu lầm đối với Phật giáo càng lúc càng sâu.

Vấn đề rất dễ cùng với Phật giáo lộn xộn không trong sáng đó là “thần kỳ”. Thần kỳ trong dân tộc ở các nước trên thế giới đều có lịch sử sâu xa, nước chúng ta cũng không ngoại lệ. Nguyên lai nhân loại cổ đại, hiểu biết chưa mở mang, đối với các món hiện tượng của cõi tự nhiên, cảm được thần kỳ chẳng trắc trở. Cho là ắt phải có một loại Thần oai lực không thể so sánh hiện đang thao túng khống chế, nhơn đó thì do sợ sệt mà cầu đảo lạy lục. Họ cho là sự sống, chết, thọ, yểu của con người, họa phước tai hoạn, chẳng việc gì chẳng do Thần kỳ nắm lấy. Những Thần kỳ này, cung kính cầu đảo đó thì được phước, nghịch lại hay xúc phạm đó thì bị họa; người đời vì cầu phước diệt họa, do đó lấy lễ “tam sanh” mà cúng tế Thần kỳ, hiến thì dùng giấy tiền vàng bạc, để rộng lấy được tâm vui của Thần kỳ. Xuống đến đời sau, thần càng lúc càng nhiều. Một nhà trong nông dân Thần kỳ được kính phụng có: hoàng thiên, thổ địa, môn thần, táo thần,... đều ở trên nhà chiếm chỗ một ghế. Kiểu này trở xuống khiến trong đời người bao nhiêu trong thiên hạ thành Thần kỳ.

Mục đích của việc kính phụng Thần kỳ, mặt tiêu cực là cầu khỏi họa, mặt tích cực là cầu ban phước... trở xuống, người mê của thì cầu bằng chứng khen ngợi trong sự bảo hộ giúp đỡ của thần, như phát hoạnh tài, không nhọc sức mà được; người mê quan chức cầu giúp đỡ của thần được thăng liền ba cấp, lại có phần tử chẳng có phép tắc cầu sự giúp đỡ của thần để được bình an không xảy ra sự cố. Những người này chẳng trồng nhân thiện, mà vọng cầu quả thiện, thần nếu có linh, lại có thể nào theo chỗ ham muốn của con người cho lấy cho cầu ư?

Cần biết muôn hình tượng trong vũ trụ, mỗi cái đều có nhân quả của nó. Muốn cầu ngũ cốc được mùa, cần phải ra công canh tác. Muốn cầu nhân khẩu bình an không bệnh hoạn, cần phải cẩn thận ăn uống vệ sinh. Trong những bằng chứng khen ngợi của thần linh thì “hoặc nhiên” có thể trúng, mà chẳng phải “quyết nhiên” phải trúng; cầu thăng quan cần phải lấy trung. Cầu làm nhân, để đợi duyên cơ gặp gỡ; kẻ chẳng có phép tắc, hễ làm là việc phạm pháp, thì làm sao chẳng có việc phát ra ở cửa đông. Chẳng phải cầu thần là có thể đạt được mục đích.

Luận ngữ nói rằng: “Thông minh chánh trực chi vị thần”. Người thông minh chánh trực hãy còn không chấp nhận đối với kẻ tiểu nhân dối trá siểm mị giả dùng sắc thái, huống đâu có thần nào có thể tham đồ tam sanh tế phẩm mà làm cho nhân gian điên đảo thị phi ư? Người đời không rõ lý nhân quả mà vọng cầu không nhân mà được quả, thật là ngu si tột cùng. hành động ngu si này tức là mê tín. Bất hạnh cho kẻ sĩ trên xã hội lầm đem ngòi bút này đoán tính đến Phật giáo, thậm chí có người đem đồng cốt, tướng sao, xem phong thủy, lựa ngày tốt, những việc làm này hoàn toàn cùng với Phật giáo phải được kéo rời ra; Đây chính là giải thích sự gặp gỡ lầm lạc không trong sáng.

Phật giáo không đồng với thần đạo, chỗ tin và phụng thờ của Phật giáo là: PHẬT. Phật nghĩa là người giác ngộ; người mà tự mình giác ngộ và giác ngộ cho người khác, giác hạnh tròn đầy gọi là Phật. Thứ đến quả vị của Phật là Bồ tát; Bồ tát nghĩa là “giác hữu tình”, là giác ngộ cho tất cả chúng sinh hữu tình. Bồ tát là trên cầu pháp Đại giác, dưới độ tất cả hữu tình. Bồ tát tu thành công đức tròn đầy, cũng tức là Phật. Trong chùa viện hoặc ở gia đình ở nước ta chỗ kính thờ là Phật, có: Đức Phật là giáo chủ Thích Ca Mâu Ni, có Đức Phật là Đức A Di Đà ở tây phương Cực Lạc thế giới... Bồ tát kính thờ có: Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Đại Thế Chí, Bồ tát Địa tạng... Ngoài ra đây, cung nào, cảnh nào mà chỗ kính thờ là: thiên đế, đại đế, thiên hậu, nương nương cho đến tiên cô, chân nhân... có thể nói cùng với Phật giáo hoàn toàn tách rời không có quan hệ.

Hơn hai ngàn rưỡi năm trước, Đức thế tôn Thích Ca đã bảo rằng đệ tử không được mê tín. Trong kinh Bát Nhã tam muội nói rằng: “không được làm việc các đạo khác, không được lạy trời, không được cúng tế quỷ thần, không đuợc xem ngày tốt”. Lại nói rằng: “không được bói hỏi thỉnh thờ, phù chú yểm quái, tế tự giải tấu”.

Người đời cúng tế thần kỳ, tuy thuộc về mê tín, nhưng trong mắt trong tâm của họ rốt cuộc còn có quan niệm thần quỷ và nhân quả báo ứng. Sở dĩ người mê tín, là không gặp được thiện tri thức cửa Phật để khai mở chánh tín cho họ. Kẻ mà rất đáng thương xót, là những người căn bản họ không có quan niệm thần quỷ, họ không tin nhân quả, không sợ quỷ thần, làm việc hồ đồ vọng tưởng, chẳng sợ báo ứng. Bọn người này sau khi chết đọa lạc, không biết kiếp nào mới ra khỏi ba đường!

C. PHẬT GIÁO CHẲNG PHẢI LÀ TIÊU CỰC - TRỐN ĐỜI

Tín đồ Phật giáo lấy từ bi làm gốc, nhẫn nhục làm hành động. Đối với sắc - thanh món lợi, năm dục sáu trần, rất xa tránh. Không giống như tâm người đời không có nhàm đủ, càng nhiều càng tốt. Đây là một hạng người tự cho là tích cực tiền tiến, cho thêm lên cái mũ tiêu cực, nhận xét rằng Phật giáo không thích hợp đối với hiện tại loại cạnh tranh xã hội, trời thì lựa chọn, vật thì giành giựt này. Nhưng Phật giáo là tôn giáo tiêu cực trốn đời thật không? Không, chỉ cần con người đối với Phật pháp có chút ít hiểu rõ thì có thể biết được tinh thần tích cực nhập thế của Phật giáo. So sánh phương diện đồng nhất cách nhìn đối với sinh lão bệnh tử, bèn có sự “thanh tịnh vô vi” của Huỳnh lão ở Trung Quốc, sự “buông trôi hình hài” của các danh sĩ đời Ngụy Tấn; Mà ở nơi Phật giáo, ngược lại từ bi dũng mãnh, tinh tấn không giãi đãi. Đây là chỗ vĩ đại của Phật giáo, cũng biểu thị tánh tích cực của Phật giáo.

Cũng cho rằng có người sẽ hỏi: “tôi thường nhìn thấy hòa thượng hoặc người tin Phật, chỉ ở trong núi thẳm hoặc trong tự viện tụng kinh niệm Phật, cuộc sống này sao có thể nói là tích cực ư?”. Đây cũng là chỉ biết một mà không biết hai. Tinh thần của đại thừa Phật pháp là khắp độ chúng sinh, nếu độ chúng sinh thì cần phải học tập phương pháp độ sinh. Thí dụ như có người bị chìm trong nước, anh dẫu có lòng cứu người, nhưng do không biết bơi lội, chỉ đứng yên trên bờ hô hoán. Có người ngoài khác tuy biết bơi lội, nhưng ngược lại không muốn quản ngại nhiều đến việc nhàn nhã, anh ta chỉ đứng khoanh tay, bàng quan. Lúc này nếu có một người đã có tâm cứu người lại biết kỹ thuật bơi lội, nhảy vào trong nước thì có thể cứu được người chìm trong nước lên. Đệ tử của Phật, không câu nệ là tỳ kheo xuất gia hoặc tín chúng tại gia, những người tụng kinh niệm Phật đó, đều là người phát nguyện rộng cứu người, đang luyện tập kỹ thuật bơi lội. Không có kỹ thuật làm sao cứu người? Rất không phải là đem những lời này ra làm lời biện hộ cho đệ tử cửa Phật, trên sự thật, tinh thần của Phật giáo xưa nay như vậy.

Phật giáo không phải là chủ nghĩa chán mặt tự càn, pháp lục độ của đại thừa tuy trọng về nhẫn nhục, nhưng xả thân vì pháp, cũng là giáo nghĩa Phật giáo. Vì khiến bạo lực xâm lăng, chánh pháp có cái lo sắp diệt, lúc giáo lý ví như cảm hóa không hiệu quả, Phật tử cũng sẽ phấn khởi đại lực dõng mãnh, đứng dậy chống đối với bạo lực. Như trong kinh “Nhân duyên tăng hộ” chép rằng: “Vì hộ sinh mệnh của Phật pháp, thà bỏ tiền tài; vì cứu hộ một nhà, thà bỏ một người; vì cứu hộ một thôn thà bỏ một nhà; vì cứu hộ một nước thà bỏ một thôn”. Rắn độc cắn tay thì tráng sĩ chặt đứt cổ tay. Đoạn kinh văn ở trên, là những gì mạnh mẽ và quả cảm.

Tích cực tiến thủ của người đời nói, chẳng ngoài sự tranh đuổi trên danh lợi, say đắm trên thinh sắc. Ai đã từng nghĩ đến hy sinh chính ta, phổ độ chúng sinh, trên thì cầu Đại giác, tinh tấn không biếng nhác mới gọi là tích cực đó vậy!

D. PHẬT GIÁO LÀ TRÍ TÍN KHÔNG PHẢI MÊ TÍN

Phật pháp là pháp lớn cần con người chuyển mê khai ngộ, chuyển si sanh huệ, chuyển phàm thành thánh; nếu có người đối với Phật pháp một điều cũng không biết, hoặc chỉ hạn chế ở nơi nghe đạo nói lại, hiểu biết phân nửa, tức nhận định Phật giáo là mê tín, đây không khác nào như người mù rờ voi, ngồi dưới giếng dòm trời.

Trên sự thật, thế gian cũng có tôn giáo mê tín _ là những tín ngưỡng ngoại lực đó, đem tất cả chính mình giao phó cho tôn giáo, cho thần ở bên ngoài. Mà chẳng tín ngưỡng tự lực _ Phật giáo tin tưởng tất cả chúng sinh đều đủ Phật tánh, chúng sinh đều có thể tu trì thành Phật. Tôn giáo tín ngưỡng ngoại lực là tin thần ở ngoài loài người, đang là chủ tể tất cả nhân loại. Các việc cát, hung, họa, phước của người có thể xin cầu sức lực của thần, cầu bảo hộ cải tạo. Loại tôn giáo này có thể phân làm hai loại nguyên thỉ và tiến bộ.

Nhân loại nguyên thỉ, trí thức chưa mở mang, đối với hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ như: trời lấy gì lập, đất lấy gì chở, oai lực của điển chớp, lúc tai hại của nước lửa, đều cảm thấy sợ sệt. Ở trong sự khốn đốn mê mờ sợ sệt, huyễn tưởng đến chắc có một loại thần đủ có oai lực không thể so sánh, kẻ thao túng đang khống chế tất cả vũ trụ. Những thần này đụng đến hay nghịch đến thì chịu tai hại họa ương, thuận đó theo đó thì được tha thứ giúp đỡ. Đối với việc cúng tế thần kỳ thì thành một việc đại sự trong cuộc sống loài người, mà đa thần giáo cũng sản sinh việc này.

Nhất thần tôn giáo tiến bộ hơn so với tôn giáo đa thần. Do ở nơi kết quả sự tăng tiến trí huệ của loài người khiến cho bộ phận kẻ sĩ cảm thấy tôn giáo đa thần với sự bất hợp lý của nó. Những bí mật sâu xa của vũ trụ như: sự sanh diệt của muôn vật, đầu mối thời gian dời trôi và chân đế của nhân sinh; như sinh già bệnh chết; cùng tột sự yểu và thọ, xem ra giống biến huyễn chẳng so tính, trên thực tế lại giống như lần lượt phép tắc vận hành nhất định. Ở đó khiến người cho là trên vũ trụ, trong cái mờ mịt ấy có một cái chủ tể vạn năng là “thượng đế”. Kẻ chi phối là chủ tể của tất cả thế gian; gồm lại thì vũ trụ vạn hữu, đều là chỗ sáng tạo của thượng đế. Đây cũng là do nơi đa thần mà biến đến nhất thần. Bà la môn giáo cuả Ấn Độ, cũng như thiên chúa giáo của người Do Thái, Gia tô giáo cho đến Hồi giáo của Ả Rập đều thuộc một loại này. Xem hết giáo nghĩa của những tôn giáo này, hình thái và nghi thức có chỗ không đồng, chỉ lấy một món đối tượng làm việc sùng bái thì là một. Chẳng qua do ở nơi nhân loại tư tưởng tiến bộ, khoa học xương minh, vạn vật là chẳng phải do thượng đế tạo, thế giới là chẳng phải do thượng đế chủ tể; ở trong tâm mục của những người có lý trí có tư tưởng này đã chẳng có bất cứ giá trị nào có thể nói được.

Trừ ngoài tôn giáo tín ngưỡng về tha lực, hãy còn có tôn giáo tín ngưỡng về tự lực, đó chính là Phật giáo. Phật giáo chẳng cho là vũ trụ là do thần sáng tạo hoặc chủ tể. Đối với vũ trụ vạn hữu, hiện tượng sanh diệt đổi khác, Đức Thế tôn Thích Ca thường nói: “Pháp nhĩ như thị”; ý nghĩa là những hiện tượng này, ở nơi phép tắc tự nhiên thì xưa nay cũng đều là như đây. Phép tắc tự nhiên là cái gì? Tức là luật nhân quả của vạn hữu. Muôn pháp từ nhân duyên mà sinh, muôn pháp cũng từ nhân duyên mà diệt. Đây sinh, đây diệt, đều là quả của nhân duyên sinh. Tinh thể vận hành, đầu mối thời gian dời trôi trong đó có nhân quả; sinh lão bệnh tử, cùng tột được yểu _ thọ, trong đó cũng có nhân quả. Nhân như vậy, quả như vậy, mảy tơ sợi lông chẳng chịu mượn nhờ. Nhân đây, hiện tượng tự nhiên chắc chắn không có đủ Thần chưởng quản, nhân sinh gặp gỡ cũng chẳng phải do Thượng đế chủ tể. Tục ngữ xưa nói rằng: “họa phước không cửa, chỉ người tự chuốc”. Tự mình cũng là chủ tể chính mình, không có thần nào, có thể lấy làm chủ tể con người, cũng không có thần nào có thể đối với con người mà ban phước giáng họa.

Hơn hai nghìn năm trăm năm trước, lúc Đức Thế tôn Thích Ca ở dưới cội bồ đề mắt thấy sao sáng ngộ đạo, câu nói thứ nhất mà ngài mở miệng để nói: “Kỳ thay kỳ thay, tất cả chúng sinh đều đủ đức tướng Như Lai trí huệ, nhưng nhân vì vọng tưởng chấp trước, không thể chứng được, nếu lìa vọng tưởng thì nhất thiết trí, tự nhiên trí tức được hiện tiền”. Đức tướng Như Lai trí huệ là cái gì? Tức là Phật tánh, là người người đều có; tánh này ở nơi thánh không tăng, ở nơi phàm không giảm. Người người nương nơi pháp tu trì, chuyển mê khai ngộ, đều có thể thành Phật. Nhưng nương nơi pháp tu trì chuyển mê khai ngộ hoàn toàn cần dựa vào lực hành thật tiễn chính mình, không phải là dựa vào sự ban phát của Thần. Phật tánh _ người người đều đủ, do vì vọng tưởng chấp trước mà chẳng thể chứng được. Đây được so sánh trên cái guơng phủ bụi, quyết cần tự mình nương phương pháp tu trì, lau chùi đi bụi bặm, khôi phục lại tánh gốc _ ánh sáng nguyên có. Đây hoàn toàn dựa vào sự tu trì của chính mình, chẳng đồng với Gia tô mong nhờ tha lực nói là: “tin chúa được cứu rỗi”. Người đời không hiểu lý này, lấy tôn giáo mong nhờ thần lực giúp cứu, cho là khoa học; đem tôn giáo nhờ dựa vào sự tu trì chính mình cho là mê tín; đây há chẳng phải là điên đảo đen trắng, không rõ thị phi sao? Cái nào là trí tín? Cái nào là mê tín? Người mắt sáng đủ có chỗ lựa chọn rồi.

E. PHẬT PHÁP VÀ KHOA HỌC

Khoa học hiện đại rất là thích hợp với nhân loại; vì nó có thể đem cái học vấn trên sách vở, thực dụng vào việc hưởng thụ vật chất được cải tiến trên cuộc sống nhân loại. Trong quan niệm ở nơi con người, cho rằng khoa học là một điều mới mẻ, tiến bộ, thiết thực. Cho nên lời nói về khoa học của các nhà khoa học, và những lời khác ở trong các sách là không có giống nhau. Điểm cần yếu của nhà khoa học có ba:

Một là luật NHÂN QUẢ, là kết luận từ lý luận đến thực tại, sự tương truyền cùng giống nòi – trồng đậu được đậu.

Hai là KINH NGHIỆM THỰC TẾ, là sau khi thu nhập tài liệu, nghiên cứu chín chắn, mới viết ra lý luận để giải thích, chẳng thêm bất kỳ “không tưởng” nào.

Ba là PHÂN TÍCH, là dùng thực tế kinh nghiệm qua nhiều ngày tháng để phân tích và quan sát sự biến hóa từng cái cá thể; hoặc mổ xẻ từng cái cá thể mà xem xét cái tổ hợp đó.

Khoa học dùng ba phương pháp này để nghiên cứu vạn vật, nhiên hậu biết được sự tồn tại của vật, vì hai món: sự liên tục của thời gian và sự hòa hợp của không gian, giả tướng cấu thành, đây cùng với Phật học rất giống nhau.

Sự tổ chức của Kinh Phật chia làm ba phần lớn: Phần tựa - phần chánh tông - phần lưu thông; mỗi đại đoạn lại phân ra làm bao nhiêu tiểu đoạn, thứ lớp, sự phân chia nghiêm cẩn này cũng hợp với tinh thần khoa học.

Mỗi một bộ Kinh Phật bắt đầu đều có sáu món chứng tín đầu mối: TÍN, VĂN, THỜI, CHỦ, XỨ, CHÚNG, lại nói rõ điểm trọng yếu về thời gian, địa điểm, thính chúng... mà Phật nói kinh đó, đây họp với “lục hà” (sáu việc được hỏi) trên tân văn học ngày nay: - hà nhơn (người nào?) - hà sự (việc gì?) - hà thời (lúc nào?) - hà địa (chỗ nào?) - vi hà (làm gì?) - như hà tương tự (giống cái gì?). Lại tương đồng với người làm công tác khoa học viết về báo cáo thực nghiệm. Báo cáo thực nghiệm bắt đầu cần phải viết: Người chủ trì, những người cộng đồng thực nghiệm, thời gian, điạ điểm, mục tiêu thực nghiệm, phương tiện sử dụng (đồ vật sử dụng).

Quá trình của con người học Phật, có bốn phương pháp hợp với khoa học: 1. - tin, 2. - hiểu, 3. - thực hành, 4. - chứng.

TIN, là tin phương pháp Đức Phật dạy cho con người là CHƠN CHÁNH. Đức Phật nói con người có Phật tánh, nhưng bị phiền não ngăn che, cho nên ở nơi cảnh mê. Con người nếu dọn trừ mê vọng, thì sanh khởi giác ngộ, tương lai cũng được thành Phật. Nếu anh đối với những lời nói của Đức Phật mà không hoài nghi, thì anh tức là có chánh tín đối với Phật giáo rồi.

HIỂU, là anh tuy tin những lời nói của Đức Phật đúng, nhưng anh cần xác định thực tế có thể hiểu rõ ý nghĩa bao hàm trong một câu nói đó hay không. Không có được hồ đồ không có chỗ rõ ràng, không có thể hiểu một nửa hoặc không hiểu, hoặc là có chỗ hiểu lầm.

THỰC HÀNH, là đối với câu nói của Phật “ngươi sẽ thành Phật” này, anh đã tin sâu sắc rồi; anh lại hiểu được làm thế nào mới có thể thành Phật; như thế hiện tại là anh cần phải đem phương pháp thành Phật của Đức Phật dạy, từng bước từng bước luyện tập một cách thiết tha và chắc thật. Nhưng có nhiều đệ tử là tri thức cửa Phật, tin pháp của Phật giảng, lại có thể hiểu rõ chân nghĩa của nó, song vì Phật pháp không dễ không theo việc làm thế tục hoặc gấp rút công sức để mau gần cái lợi, thực hành được một thời gian thấy không công hiệu thì chẳng làm nữa; kiểu này tuy là có tin có hiểu, nhưng rốt cục là ngang bằng với sự chẳng tin chẳng hiểu; bởi vì học Phật đối với TIN và HIỂU, thì HÀNH càng trọng yếu hơn.

CHỨNG, là phương pháp lúc Đức Phật còn tại thế dạy người thành Phật có tám vạn bốn nghìn pháp môn, bất kỳ một pháp nào, hễ có hằng tâm mà chí thành tu trì, có như vậy tức thân có thể thành A La Hán, thành Bồ tát, thành Phật. Chỉ riêng đem nước Trung Quốc ra nói, caÙc bậc cao tăng, đại đức, nhiều đời thành đạo (đắc đạo thành Bồ tát hoặc thành Phật), như ở trong “Cao tăng truyện” hay “Hiền thánh lục” đã nói đến, trải qua rất nhiều trong đây không nói lại.

Nói một điểm thực tế hơn, ngày nay bao nhiêu sự phát hiện trên khoa học, kinh Phật hơn hai nghìn năm trăm năm trước đã sớm có ghi chép rồi.

Quá khứ, thế giới trong quan niệm của người đời, chẳng ra khỏi phạm vi địa cầu, như bình thường được gọi là “đi vòng quanh thế giới”, chẳng qua là nhiễu một vòng xung quanh địa cầu; gọi là “đại chiến của thế giới”, cũng chẳng qua là chiến tranh quốc tế đại quy mô trên địa cầu. Mà Đức Phật đã từng nói trong kinh: “tam thiên đại thiên thế giới”. Tam thiên đại thiên thế giới, thật chẳng phải là ba nghìn cái thế giới, mà là tập hợp một nghìn thế giới làm một tiểu thế giới, tập hợp một nghìn tiểu thế giới làm một trung thế giới, tập hợp một nghìn trung thế giới làm một đại thế giới. Do trong đó bao hàm bội số có ba cái nghìn, cho nên gọi là tam thiên đại thiên thế giới”. Trong kinh nói rằng: “Hư không vô tận, thế giới vô lượng, quốc độ chúng sanh vô lượng”, cho nên tam thiên đại thiên thế giới cũng rất vô lượng. Địa cầu chỗ ở của chúng ta, chẳng qua là một hạt bụi trong không gian to lớn. Lời nói của pháp này ở lúc trước khi khoa học chưa phát đạt, thật khó được con người tiếp nhận. Nhưng do nơi sự phát triển của thiên văn học, đã chứng minh tinh cầu trong hệ ngân hà nhiều đến nỗi không thể đếm hết, cự ly rộng của khoảng cách tinh cầu cũng tính không hết. Ví dụ như địa cầu khoảng cách với thái dương là tám phút rưỡi năm ánh sáng (cự ly của một năm ánh sáng, mỗi giây là ba mươi vạn dặm, nhân lên số giây của một năm). Mà cự ly giữa sao Ngưu Lang và Chức nữ đến mười hai ngàn năm ánh sáng. Lại có những tinh cầu cách địa cầu tới khoảng vài chục năm ánh sáng... Do đây có thể biết so với khoa học, Phật pháp càng khoa học.

ĐƠN GIẢN NÓI VỀ PHÁP NGHĨA GIÁC NGỘ

GIẢI THÍCH SƠ LƯỢC VỀ PHẬT HỌC

A - Ý NGHĨA VÀ LƯỢC SỬ ĐỨC PHẬT

Phật, chữ này là tiếng Phạn, là tiếng gọi tắt của hai chữ “Phật Đà” mà Hán văn đã dịch âm ra (lại gọi là Như Lai, Thế Tôn...), ý nghĩa đó là bậc Giác ngộ. Giác ngộ nhân sinh và tất cả vạn vật khác, xa cho đến thật tướng và chân lý của cái thể vũ trụ và chư thiên. Nhiên hậu đem chân lý này nói cho những ngïười không hiểu được nghe, khiến người không hiểu cũng hiểu. Mọi người hiểu rồi, mọi người sẽ nương theo phương pháp dạy ở trong Phật học mà tiến đến thực hành, lấy việc liễu thoát tất cả khổ đau mà hưởng thọ vui vẻ.

Người noi theo lời dạy trong Phật học mà tu trì thành Phật rất nhiều. Đức Phật mà chúng ta đang nói là Đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài đản sinh ở nước Ca Tì La Vệ, thuộc bắc Ấn Độ (ngày nay là Nêpan), niên đại ngài đản sinh đến nay chưa có thuyết nhất định, nhân vì Ấn độ xưa không chú trọng về việc lịch sử, đại khái suy định là sáu thế kỷ rưởi trước kỷ nguyên. Lúc nhỏ tên là Tất Đạt Đa, là thái tử của vua Tịnh Phạn, mẹ Ngài là Ma Gia phu nhân, khi Ngài sinh ra không lâu thì bà qua đời, nhờ di mẫu thay thế nuôi Ngài thành người. Khoảng mười sáu tuổi, Ngài cùng với Da Du Đà La kết hôn và sinh được một con trai là La Hầu La. Theo quá khứ thời gian, Ngài thấy được những hình ảnh sanh, lão, bệnh, tử... các điều đau khổ và chúng sinh tàn sát lẫn nhau của loài người, Ngài quyết ý cần phải tìm ra một phương pháp để giải quyết các việc khổ đau của thế gian. Năm mười chín tuổi quyết chí xuất gia, tìm kiếm đáp án, hỏi đạo sáu năm, tu trì sáu năm, dưới cây bồ đề của thành Già Da, tinh tấn nhập thiền định khai sáng chính mình, cuối cùng được đại giác ngộ chánh giác, bắt đầu giảng dạy. Một đời nói pháp bốn mươi chín năm, lúc viên tịch là tám mươi tuổi. Hầu như Ngài đi khắp cả xứ bắc Ấn Độ, dạy dẫn dắt tất cả nam - phụ - lão - ấu các giai tầng, ngài đều xem bình đẳng không khởi tâm phân biệt, đả phá thành phần giai cấp của xã hội đương thời, đề xướng chúng sanh bình đẳng.

B - PHẬT CHẲNG PHẢI LÀ THẦN

Đức Phật THÍCH CA MÂU NI là nhân vật chánh trên lịch sử, chẳng phải là vị thần mượn gá hoặc hóa thân của thần. Mười phương ba đời tất cả chư Phật đều là từ con người ở tại nhân gian thành Phật, mà không phải là ở trên trời hoặc chỗ nào khác mà thành Đẳng Chánh Giác, có thể thấy địa vị của con người là tôn quý vô thượng. Do đó có thể nói rằng con người có đầy đủ một cách hoàn toàn nhân cách tức là Phật đà, tức là Phật giáo lấy sự “hoàn thành nhân cách” làm mục tiêu, nên nói rằng “nhân thành tức Phật thành”; người người đều có thể thành Phật, tức là ý tứ của đạo lý này vậy. Thành Phật hoàn toàn quy cả nơi trí tuệ và sự nỗ lực ở con người, mà không phải là chịu nơi bất cứ thần linh nào hoặc sự cảm ứng của lực bên ngoài. Hoàn toàn nương nơi tự lực và chân lý (chánh pháp) mà không nương gá ở nơi tha lực; chỉ cần chịu phát nguyện, tinh tấn, cuối cùng đều có thể thành Phật; cho nên nói rằng Phật giáo là nơi mọi người đều có thể dựa vào. Người người thành Phật rồi giáo hóa, không phải là chỗ chuyên chỉ lợi phẩm của Đức Thích Ca Mâu Ni, cũng chẳng phải là như thần tự xưng: “chỉ có ta là cao tột vô thượng, con người tuyệt đối không thể đạt đến địa vị của ta”, nói pháp như thế cũng là phủ định quan niệm bình đẳng “Người người đều có thể thành Phật”. Ấn Độ trong thời đại của Đức Phật, ngài thấy được giai cấp của xã hội (Bà La Môn, quý tộc, bình dân, nô lệ), phân chia um tùm không hợp lý; Ngài mạnh mẽ chủ trương đối lập phế trừ giai cấp, đề xướng chúng sinh bình đẳng, trồng lên cái cây mà về sau này là sự tồn tại của tinh thần Phật giáo, thẳng tắp lưu truyền về sau.

C - PHẬT HỌC

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, với tâm đại bi thiết tha, một đời Ngài cố gắng thuyết pháp độ sinh; xưa nay trong ngoài chỉ có một Khổng Tử răn dạy người chẳng biết mỏi mệt giống như Ngài. Cái học của Phật giảng đương thời chỉ dùng lời nói, không có viết thành văn chương. Sau khi Phật diệt độ, chúng đệ tử sợ rằng thời gian trải qua lâu, học lý của Đức Phật dạy sẽ từ từ bị loài người bỏ mất; cho nên chúng đệ tử, do Đại Ca Diếp lãnh đạo, nhóm họp năm trăm người tại một nơi tên gọi là “Diệp thọ nghiêm”, khai ra hội nghị kết tập. Trong hội do một người đệ tử của Phật có sức nhớ rất mạnh mẽ và số lần nghe pháp cũng rất là nhiều, đó là: A Nan, tụng lại chân lý thật tướng của nhân sinh và vũ trụ mà Đức Phật đã giảng, đó gọi là “Kinh tạng”. Tụng ra phép tắc, quy củ hành trì của chúng đệ tử, Phật đặc biệt lập ra, gọi là “ Luật tạng”. Ngoài ra do Phú Lầu Na dùng phương thức vấn đáp, tụng ra giải thích và phát huy chân lý của Phật, gọi là “Luận tạng”. Kinh, Luật, Luận này hợp lại chung gọi là “Tam tạng”. Nhưng người học nhiều thời đó hãy còn có giới hạn, chưa từng tham gia; bên ngoài hội (ở ngoài hang) do Bà Sư Bà lãnh tụ riêng kết tập năm tạng: Kinh, Luật, Luận, Tạp và Chú cấm. Ngoài ra, hãy còn có các vị Bồ tát như: Văn Thù, Di Lặc... và A Nan tôn giả kết tập Thánh điển “đại thừa tam tạng”, tổng quát những sự kết tập ở trên gọi là “Đại tạng kinh”. Phật giáo với sự viên mãn của giáo lý, sự tinh mật của luận bàn, trên thế giới bất luận kinh điển của một tôn giáo nào không thể cùng với đó so sánh được.

D - MỤC ĐÍCH HỌC PHẬT

Tam tạng kinh điển, không luận là nói về lý, nói về hành, hoặc nói như thế nào đi nữa, mục đíchø ở chỗ là khiến chúng sinh chuyển mê khai ngộ, lìa khổ được vui - khiến chúng sinh đồng thành Phật đạo. Mà chúng sinh chúng ta, nghiên cứu kinh điển giáo lý, tụng kinh niệm Phật, giữ năm giới mười thiện nghiệp, thực tiễn sáu pháp Ba La Mật, mục đích đó cũng là mong cầu chuyển mê khai ngộ, lìa khổ được vui, - cứu cánh sau cùng cũng là mong cầu đồng thành Phật đạo.

E - CHUYỂN MÊ KHAI NGỘ

Một con người ở trong cuộc sống vài mươi năm, nói gần, không hiểu được đời mình như thế nào, cứ lộn xộn hồ đồ qua đi, giống như người bịt mắt đi đường, đến lúc già rồi lại không rõ không hiểu rồi chết đi, chết rồi đi đến chỗ nào? Cho đến tất cả vạn vật ở bên ngoài cá nhân là thế nào mà đến, chỗ có tất cả này, đều thì chẳng rõ được sự kỳ diệu. Nói xa, tất cả vũ trụ vạn hữu lại là thế nào mà tồn tại? Phàm không hiểu được đạo lý này gọi là MÊ. Ngược lại, hiểu được thân thể của nó chỉ là giả tướng của bốn đại hòa hợp: địa, thủy, hỏa, phong mà thành (tức là hệ thống tám đại của thân người giải phẫu, nhục thể tổ hợp mà thành), nhục thể giả tướng này, trải qua các giai đoạn: trẻ nhỏ, thiếu niên, trung niên, lão niên; rồi có một ngày bốn đại không điều hòa mà bệnh, bệnh nặng mà chết, sau khi chết tạm quy về tiêu diệt dần dần. Chỉ còn ở lại nơi nhục thể cái “thật tướng” con mắt nhìn không thấy đó, lại gọi là chân như (tục gọi là linh hồn), hoặc gọi là Phật tánh là vĩnh viễn tồn tại, là không sinh không diệt, một con người như thế này, vạn vật cũng là như thế này, người nếu hiểu được đạo lý này, tức là trụ ở nơi cảnh Ngộ. Phật học tức là đem cảnh Mê của anh, chuyển cho qua đi mà mở ra một con đường khiến anh đi vào cảnh Ngộ làm mục đích thứ nhất.

F - LÌA KHỔ ĐƯỢC VUI

Người đời nghèo cùng khổ, giàu có cũng khổ, lấy khổ làm vui, quen rồi cho là thường! Một con người ở trong cuộc sống vài mươi năm, sự tình lãnh thọ các loại, các dạng rất nhiều rất nhiều, trong mười phần thì tám chín phần là không như ý. Việc bất như ý này khiến cho thân thể và tinh thần của con người chịu lấy nhiều điều đau khổ, như: sanh, lão, bệnh, tử, cầu không được, khốn đốn kinh tế, bất hòa nhân sự khó tìm kiếm... Cái khổ của các kiểu các dạng rất là nhiều. Cần đối phó với những đau khổ phải chịu trên tinh thần và thể xác, Phật học dạy con người nên dùng nhãn quang trí tuệ xem thế tình, thì phú quý cũng như khói mây qua trước mắt, dùng tâm tri túc để giữ và bỏ vạn vật, tâm thanh tịnh này sẽ không bị ngoại vật trói buộc. Đây là dùng tâm tùy duyên ở nơi cảnh nghịch, tâm địa tự bình, chẳng bị ngoại vật làm lụy, lại tiến đến một bước tu trì thì có thể đạt đến niềm vui lớn của Niết bàn.

G - HỌC LÝ CỦA PHẬT HỌC

1. TAM PHÁP ẤN

Tam pháp ấn, là Đức Phật từ vấn đề: sanh, lão, bệnh, tử, hiện thực đời người, nghiên cứu ra kết quả, xét nét ra chân lý, chân lý hiện thực từ quan sát mà có; chân lý này tức là: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tịnh. Đây là nhân “tất cả hành khổ” có thể được bao quát ở trong “chư hành vô thường”; nhưng vì chư hành vô thường rốt cuộc sẽ phát sinh lý do đau khổ.

Pháp ấn tức là: “ấn chứng chân lý” cũng tức là “tiêu chí của Phật pháp”

CHƯ HÀNH VÔ THƯỜNG; “Hành” của chư hành là ý chỉ “hiện tượng” sanh diệt biến hóa. Chư hành vô thường là nói tất cả pháp thế gian sanh, trụ, dị, diệt, sát na không trụ. Việc mà quá khứ có, hiện tại khởi lên rồi biến khác; hiện tại có thì tương lai chung quy huyễn diệt. Tất cả việc này đều thuộc vô thường. Chỗ có tất cả hiện tượng đều là đổi dời không dứt, không có hằng hữu bất biến, xét cho cùng phải sinh diệt, hưng suy thôi! Việc này ở trong sinh hoạt thường ngày, chư vị đều có thể kinh nghiệm được, cho nên bất tất phải chứng minh mà tự rõ, Phật pháp tức là từ sự thật “tự rõ” này mà xuất phát ra.

Do nơi vô thường, con người sẽ sanh, lão, bệnh, tử hoặc dẫn đến sự biến động sự vật mà hóa xấu; nhưng cũng nhân nơi vô thường, sự vật cũng có hiện tượng chuyển tốt, ví dụ như người nghèo biến thành kẻ giàu, người yếu biến thành kẻ mạnh mẽ, người ngu biến thành người hiền, người mê khổ đạt được niềm vui tịnh ngộ, đây đều là vô thường của thế gian. Nhưng vô thường trong Phật pháp chỉ là biến diệt, mà không phải là đoạn diệt. Món biến diệt này là trước diệt sau sinh, nối nhau không dứt. Mà tình huống sinh diệt thay thế, tương tục không dừng, tức là chân lý trong nhân sinh và trong vũ trụ, tất cả hiện tượng.

CHƯ PHÁP VÔ NGÃ, chữ “pháp” ở trong chư pháp là ý chỉ sự vật tồn tại. Mà “ngã” của vô ngã là ý “thật thể vĩnh viễn bất biến”. Chư pháp vô ngã là nói tất cả sự vật tồn tại đều không có thật thể vĩnh cửu bất biến, sự vật thế gian có hiện tượng tồn tại, đều là nhân duyên hòa hợp mà có, rồi đến lúc nhân duyên ly tán, thì lại tiêu mất không sót lại, cũng không có thật thể thường trụ bất hoại.

Muôn pháp thế gian, trên thời gian mà xét, thì sanh, trụ, dị, diệt, sát na chẳng thấy được, tìm không ra vĩnh hằng và thường trụ; nơi không gian mà nhìn, pháp nhân duyên được sinh, nhờ các duyên hòa hợp mà thành, muôn vật không chân thật, cũng không có “ngã” chân thật.

Đứng trên Phật pháp mà nói, chỗ gọi là NGÃ, chỉ là cái thể hòa hợp của: địa, thủy, hỏa, phong – Năm uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đại thể mà nói, chỗ gọi là Ngã, chẳng ra ngoài hai phần là tinh thần và nhục thể. Mà ngã con người chấp trước đó, cũng tức là lấy cái giả tướng tinh thần và nhục thể này làm Ngã. Nhưng chín chắn mà phân tích, ở trong giả tướng này, rốt cuộc thì tinh thần là Ngã ư, hay nhục thể là Ngã?

Ngã chơn chánh, chỉ là chơn như Phật tánh của chúng ta, nhưng chơn như Phật tánh này bị vọng tưởng chấp trước ngăn che, rồi chấp trước cái tướng giả hợp của năm uẩn này làm Ngã. Mà tướng giả hợp của năm uẩn này, không thể thường trụ, không có tự thể, cho nên đối với bốn đại, năm uẩn mà cầu Ngã ở trong đó, rốt cuộc chẳng thể có được.

Vô ngã cùng với không, không tánh, vô, là đồng nghĩa ngữ, chư vị lúc đọc tụng kinh điển Phật giáo, nghìn vạn chẳng nên đem “không” cùng với “vô” mà giải thích là hư vô, mà nên lấy quan niệm của “vô ngã” để mà tư duy về nó.

Chư hành vô thường, mọi người đều rất dễ tiếp thọ; nhưng chư pháp vô ngã thì là mọi người không thừa nhận, mà là học thuyết riêng có của Phật pháp. Mọi người cho là tất cả sự vật, đều có bản thể vĩnh cửu tồn tại, đây tức là “bản thể luận”; Phật pháp không bàn về bản thể luận, nhân vì vô ích đối với tu hành giải thoát, cho nên đối với loại vấn đề này nói là “vô ký” (không nhân duyên có thể nói).

NIẾT BÀN TỊCH TỊNH, Niết bàn ý chỉ “sự suy diệt” hoặc là “trạng thái suy diệt” tức là thổi tan diệt đi lửa phiền não. Chỗ gọi là Niết bàn tịch tịnh, tức là đạt đến cảnh địa lý tưởng không khổ, an ổn và tự tại.

Chúng sanh vì lý do ngã chấp, khởi hoặc tạo nghiệp, nhân nơi nghiệp mà thọ báo, cho nên ngã chấp là cái gốc của sinh tử lưu chuyển. Nếu không có ngã chấp thì hoặc nghiệp không khởi, ngay sau đó có thể hiểu chân chánh thật tướng các pháp, tất cả tức là Niết bàn tịch tịnh.

“Chư hành vô thường”, “chư pháp vô ngã”, hai pháp ấn đó là ấn chứng tất cả pháp hữu vi của thế gian đều là pháp sinh diệt. Pháp ấn “Niết bàn tịch tịnh” là ấn chứng pháp vô vi của xuất thế gian, đó là pháp bất sinh bất diệt.

2. MƯỜI HAI DUYÊN KHỞI (Mười hai hữu chi)

Đem ba ấn tổng hợp lại tức là thuyết duyên khởi. Duyên khởi (còn gọi là nhân duyên) tức là nương nơi duyên mà khởi; nương duyên là chỉ sự chứa nhóm điều kiện. Khởi, là ý chỉ cho năng lực phát sinh. Do đây, duyên khởi tức là chứa đựng các món điều kiện mà sản sinh ra nguyên lý của hiện tượng. Hiện tượng là vô thường, thường hay sinh diệt biến hóa, nhưng sự biến hóa của nó là sự biến hóa nhất định ở một điều kiện nhất định, pháp biến hóa này thì cũng tức là duyên khởi.

Trung tâm của Phật pháp tức là duyên khởi cũng gọi là nhân duyên, cũng là chỗ không đồng về triết học giữa Phật pháp và các tôn giáo khác, đó là cái đặc sắc riêng có của Phật pháp.

Có thể đem duyên khởi (nhân duyên) nói một cách rất cụ thể đó là thuyết mười hai duyên khởi; thế nào gọi là mười hai duyên khởi, tức là: vô minh - hành - thức - danh sắc - lục nhập - xúc - thọ - ái - thủ - hữu - sanh - lão tử, mười hai chi phần. Mỗi chi phần đều có sự quan hệ hỗ tương ràng buộc thành vòng, tức là nói vô minh duyên với hành... sanh duyên với lão tử, đây cũng tức là “lưu chuyển duyên khởi”, đau khổ tạo thành phiền não mà sản sinh ra. Lại nói do vô minh diệt, thì hành diệt... cho đến sanh diệt thì lão tử diệt, đây cũng tức là “hoàn diệt duyên khởi”, diệt hết phiền não thì là cảnh giải thoát.


Mười hai duyên khởi (nhân duyên) là giáo lý của người học Phật rất phải nên xem trọng, chín chắn mà xem xét mười hai duyên khởi, mới có thể ngộ được sự lưu chuyển ba đời của sinh vật, chỉ là sự nhào lộn ở trong một cái lưới nghiệp lực.

Nay đem mười hai duyên khởi phân chia đơn giản ranh giới như sau:

2.1.Vô minh: tức là không hay biết. Chỉ trong tâm con người không rõ phiền não, mờ mịt nơi cảnh không, không chỗ rõ hiểu, mê chấp chấp tướng, bởi vì một niệm ban đầu của tâm tánh gọi là “sanh tướng vô minh”; vô minh làm nguồn gốc của phiền não thô và tế mê hoặc vọng tâm, là nguồn gốc của “phần đoạn sinh tử” và “biến dịch sinh tử”; đồng thời cũng là căn bản của Niết bàn giải thoát và Bồ đề tịch tịnh.

2.2. Hành: tức là ba hành: thân – ngữ – ý, cũng gọi là ba nghiệp. Nhân vì có vô minh mê hoặc vọng tâm, vô ngã vọng chấp có ngã, bèn khởi hoặc tạo nghiệp, bèn có hành động của nghiệp, sản sinh ba nghiệp thân - ngữ - ý sai lệch. Hành này không những là chỉ hành vi sai lầm, cũng là bao quát tập quán lực của hành vi, nhân vì bất kỳ hành vi, kinh nghiệm nào của chúng ta, rõ chẳng phải là sau hành vi thì sẽ tiêu diệt, mà là nhất định sẽ có lực lưu giữ, tác động làm trí năng, tánh cách... Các tố chất mà bảo tồn, chứa nhóm.

2.3. Thức: là ý chỉ “chủ thể nhận thức” tức là tâm nhận thức chủ quan. Nhân do ở sự lưu chuyển của nghiệp lực mà hình thành chủ thể sinh mệnh.

2.4. Danhsắc: tức là năm uẩn. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn là chỉ phương diện tinh thần danh; sắc uẩn gọi là sắc, là chỉ phương diện nhục thể hoặc vật chất. Tất cả hữu tình đều là do “danh - sắc” hòa hợp mà thành, do sự phát triển và tích tụ của thức mà có sự tác dụng của sinh lý và tác dụng của tinh thần.

2.5. Lục nhập: chỉ sáu căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; ý tức là cảm giác, năng lực biết. Danh sắc tiếp tục phát đạt mà hoàn thành nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, cảm thọ được cơ quan kích thích từ bên ngoài đến.

2.6. Xúc: tức là sự hòa hợp của ba món: sáu căn, sáu cảnh, sáu thức; cũng tức là do: căn, cảnh, thức mà có tác dụng nhận thức cảm giác. Nhân vì có sáu căn, nó sẽ có thể cảm thọ và xúc đối cảnh giới sáu trần; xúc là một chi trọng yếu mười phần trong mười hai duyên khởi. “Năng xúc” là căn, “sở xúc” là cảnh, hoàn cảnh tốt xấu, thì sẽ liên hệ cảm thọ nơi căn của chúng ta.

2.7. Thoï: Căn và trần xúc đối với nhau, nhất định sẽ tiếp thọ cảnh trần bị xúc đối (sở xúc). Thí như “nhĩ căn” của chúng ta đối với “thinh trần” thì sẽ tiếp thọ các thứ âm thinh, thân căn tiếp xúc lạnh nóng (trần) thì biết cảm thọ lạnh nóng. Trở lên, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ là năm chi quả khổ của đời hiện tại.

2.8. Ái: Ái là tham ái, sáu căn lãnh thọ sáu trần như vậy, đối với cảnh bị tiếp nhận, vọng sanh suy tính phân biệt, đối với việc vui thích nơi tâm lại sinh tâm tham ái, không thích nơi tâm thì khởi tâm nhàm ghét. Tâm tham ái và nhàm ghét này, nó là cội nguồn sanh tử luân hồi của sáu đường chúng sinh. Phát tâm Phật học tu hành, tức là cần phải tu cái tâm vọng tưởng. Tác dụng của ái rất là lớn, ái có bảy món tình niệm: hỉ (mừng), nộ (giận), ai (buồn), lạc (vui), ái (yêu), ố (ghét), dục (ham muốn).

HỈ: thành tựu được việc ta yêu thích, trong tâm sẽ hoan hỉ.

NỘ: bị tước đoạt việc ta yêu thích, trong tâm sinh giận.

AI: bị mất đi cái ta yêu thích, trong tâm sinh buồn rầu.

LẠC: được cái ta yêu thích, trong tâm vui vẻ.

ÁI: tất cả hoàn cảnh hễ có lợi đối với ta, thì trong tâm khởi sinh tham ái, vọng niệm tham đến mức không nhàm chán.

Ố: việc trái với sự yêu thích của ta, trong tâm sinh nhàm ghét.

DỤC: Thuận theo sự yêu thích của ta, trong tâm sẽ sinh ham muốn.

Nương đây mà xem, thì Ái đích xác là căn bản của sinh tử, món ác hàng đầu của phiền não.

2.9. Thuû: Đã Ái rồi cảnh giới năm dục bị tham, thì nghĩ cho hết cách thu lấy nó về mình, theo sự ham muốn của tâm làm cho ta được hưởng thụ, càng nhiều càng tốt, chẳng nghi vấn một chút nào, rồi sẽ làm ra món món nghiệp ác, nếu như cảm thấy hoàn cảnh trái lại sự yêu thích của ta, thì phát sanh phẫn hận, không kể gì cả, mặc ý vọng làm ra rất nhiều nghiệp tội lỗi; cho nên nói rằng Thủ là đứng đầu của tội và là đầu mối của họa, chúng ta nên từng giờ từng khắc nắm chặt lấy cái miệng cột của Thủ, có thể đoạn trừ được cái nhân phiền não, khả dĩ khỏi thọ khổ sinh tử, Thủ này và Ái, cho đến Vô minh, ba chi này gọi là “nhân mê hoặc của phiền não”.

2.10. Hữu: tức là cái hữu “bất muội của nhân quả”, đối với cảnh bị ái, đem nó mà giữ gìn, đối với cảnh chẳng ái xả trừ nó đi, nhân đó bèn làm ra các món nghiệp, thật là biển nghiệp mênh mông, khổ não vô lượng, có nhân nghiệp nhất định báo cảm lấy quả nghiệp.

2.11. Sinh: Chỉ là do tình sanh đối với một bộ loại hữu tình nào đó, hoặc chỉ cho luật sống ngày thường, có kinh nghiệm sinh ý. Trước ấy là cậy các lực (tri năng, tính cách thể chất) toàn bộ kinh nghiệm trong quá khứ của hữu tình mà sinh, cho nên mỗi con người đều đủ có tố chất nhất định. Sau ấy là chỉ cái tố chất (hữu) của con người làm cơ sở, mà có kinh nghiệm mới sẽ được phát sinh. Tóm lại, cả hai việc ấy đều là từ nơi Hữu mà sản sinh ra sự sống mới.

2.12. Lão tưû: Từ Sinh về sau phát sinh ra lão, bệnh, tử, buồn rầu khổ não,... cuối cùng bước lên con đường tử vong. Lão và tử là đại biểu cho cái khổ não của tất cả.

Lợi dụng nguyên lý của 12 duyên khởi, có thể giải dịch ra hiện tượng luân hồi của ba đời. Nói một cách tổng quát, tức là HOẶC (duyên), NGHIỆP (báo), KHỔ (báo); tức là nhân nơi Hoặc (phiền não) ắt tạo Nghiệp, do nơi tạo Nghiệp nhất định thọ báo mà sinh Khổ, nhân nơi Khổ mà sinh ra phiền não mới. Như vậy ba món này xoay vần xen nhau làm nhân duyên, mãi luân hồi trọn không dừng dứt. Cũng tức là nói, do nơi Vô minh, Ái, Thủ duyên với các món phiền não, bèn có cái nhân đó mà tạo thành Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, lão và tử v.v... các khổ báo.

Mười hai duyên khởi (nhân duyên) là đạo lý dùng để giải thích con người vì sao ở trong biển khổ sinh tử vần xoay luân hồi. Mười hai duyên khởi xem ra là từ vô minh... cho đến lão tử, nương nơi thứ loại mà tìm chọn. Nhưng nó chẳng phải là một đường thẳng mà là một hình vòng tròn mắc xích với nhau. Mạng sống tức là như thế này, đầu mà cuối, cuối mà lại đầu, lưu chuyển luân hồi không dừng, giống như gà... trứng..., trứng... gà...

Sự suy lão, tử vong của chúng sinh tức là nhân vì chúng ta có sinh, có sinh mới có chết. Mà chúng ta sở dĩ đầu thai đến nhân gian, đây là chúng ta đã vì ngu xuẩn và vô tri, không rõ thị phi, vọng loạn làm ác. Do đó chúng ta đời này cần nỗ lực làm thiện, đoạn tuyệt tất cả nhân ác, học Phật tu hành, thường thường trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, về sau khỏi phải thọ lấy luân hồi khổ báo.

Mười hai duyên khởi chỉ bảo chúng ta cái nguyên nhân sinh tử, đánh thức chúng ta cần phải tiến một bước nghiên cứu như thế nào liễu thoát khỏi sự uy hiếp của sinh tử, chẳng vậy thì sống say chết mộng, khổ nạn vĩnh viễn, không có ngày ngừng nghỉ.

3. BỐN THÁNH ĐẾ:

* Bốn thánh đế - nói chung:

Thuyết mười hai duyên khởi (nhân duyên) là viết ra chú trọng ở việc nói rõ khổ trên “duyên khởi lưu chuyển” sản sinh như thế nào, mà đối với diệt khổ “duyên khởi hoàn diệt” cho đến khi đạt đến giải thoát, chỉ có thuyết minh tiêu cực mà không cụ thể. Liên quan với duyên khởi hoàn diệt là đạo đế ở trong bốn thánh đế, tức là tám món chánh đạo (bát chánh đạo), có thuyết minh cụ thể rõ ràng. Do đó, vì muốn khảo sát toàn diện thuyết duyên khởi để thấy, không chỉ cần nói rõ duyên khởi, đồng thời cũng cần nghiên cứu đạo lý thực tiễn của bốn thánh đế.

Thuyết mười hai duyên khởi là pháp môn “tự nội chứng”, cũng tức là “tự hành pháp môn”. Căn cứ thuyết Đức Phật Đà quán sát sở đắc từ thiền định tư duy lúc thành Phật đạo dưới cội Bồ Đề, chỗ đối nhau, thuyết bốn thánh đế là “tha hóa pháp môn” nêu bày làm người khác hiểu rõ thuyết duyên khởi. Tức là lời dạy bốn thánh đế của Đức Phật ở tại vườn Lộc dã thuyết pháp cho năm vị tỳ kheo, đây là bắt đầu Đức Phật độ chúng sinh.

Bốn thánh đế thật sự là cơ sở của Phật giáo, cũng là tư tưởng trung tâm của phật pháp.

Bốn thánh đế là bốn pháp: khổ, tập, diệt, đạo. Đế ý là “chân thật bất hư”; đế này là chỗ biết của bậc thánh, cho nên gọi là “thánh đế”.

THÁNH, cùng với “Phàm” đối nhau, chỉ cho người ngộ được xuất thế gian vô lậu vượt khỏi sinh tử luân hồi. ĐẾ, tức là chân lý. “Khổ đế” là chỉ cho hiện tượng của sinh mạng, đều là quả khổ. “Tập đế” là nói rõ nguyên nhân tạo thành quả khổ. “Diệt đế” là nói rõ trạng thái lý tưởng diệt hết tất cả phiền não mà vào Niết bàn. “Đạo đế” là nói rõ phương pháp dẫn dắt diệt hết tất cả phiền não đau khổ.

Bốn thánh đế bao gồm hết hai lớp nhân quả của thế gian và xuất thế gian: Tập là nhân, khổ là quả, đó là nhân quả của cõi mê. Đạo là nhơn, diệt là quả, đó là nhân quả của cảnh ngộ. Đức Phật nói pháp, trước tiên nói “khổ”, sau đó nói “tập”, bèn là muốn khiến cho chúng sinh trước tiên phải nhàm chán ở sự bức bách đuổi rượt của các khổ và các nguyên do của các khổ, bèn liên hệ chỗ chiêu cảm của tập, khiến chúng sinh biết khổ mà đoạn tập, trước nói “diệt”, sau nói “đạo” là muốn chúng sinh, trước mừng ở nơi diệt, của sự an lạc thanh tịnh, truy tìm nguyên nhân của diệt, bèn phát ra sự tu tập của đạo, khiến chúng sinh tu đạo mà chứng diệt. Chỗ nói rằng khổ phải biết, tập phải đoạn, diệt cần chứng, đạo phải tu là vậy.

* Bốn thánh đế – chia ra nói:

3.1 KHỔ ĐẾ:

Khổ, là chỉ sự bức bách. Chỗ tạo ra vô số ác nghiệp của chúng sinh từ vô thỉ trở lại đây, ắt chiêu lấy khổ báo, như có ba khổ, tám khổ, vô lượng các khổ. Trạng huống thực tế tất cả sinh mạng ở trong cõi mê, đều chẳng có điều gì không là đầy dẫy những nhiễm ô và khổ não, tuy trong đời người cũng có lạc thú, nhưng cảnh vui này rốt cục sẽ ở nơi vô thường thay đổidẫn đến tạo ra đau khổ, không có ai có thể trốn được, liên hệ đối với chủng loại và hiện tượng của khổ sẽ thuật nói ở sau.

Bức bách thân tâm gọi là khổ, tức là phạm vi của khổ đế. Một hạng người đối với Phật giáo cực lực cường điệu thuyết pháp: “tất cả hiện tượng thế gian đều là khổ”, hiểu được mà không thể tiếp nhận, nhân vì ở trong hiện tượng giới, không những có khổ, cũng có vui và không khổ không vui, đây là sự thật trước mắt, vả lại khổ vui là thuộc ở nơi tình cảm, tuy nhiên phương diện đối với sự vật, hoàn cảnh đồng dạng. Nhưng do sự không đồng của nhân con người và nhân thời gian, cảm thọ chủ quan của cá nhân cũng thường có chỗ không đồng, cho nên không thể nhận chung hiện tượng giới là tất cả khổ. Thậm chí cho hiện tượng này là điểm cơ bản, quở trách Phật giáo là tôn giáo yếm thế bi quan. Những việc này đều là chẳng hiểu rõ giáo lý Phật giáo mà hiểu lầm lạc rồi dẫn nêu ra. Đức Phật nói thế gian có khổ nạn, nhưng đều chẳng phải là phủ nhận đời người cũng có lạc thú, như cái vui của loài trời, cái vui của năm căn và cái vui của thiền định... Nhưng những cái vui này là vô thường, biến dời không ở, rốt rồi vui quá sanh buồn, do đó mà đều bao trùm trong khổ. Cho nên chư vị về sau, lúc xem đọc tụng kinh điển Phật giáo thấy nói khổ đều là chỉ “vô thường tức là khổ”, mà không phải là khổ nạn chỗ gọi thông thường.

Bản thân của đời người tức là khổ, là giáo thuyết cơ bản của Phật giáo, gọi là “khổ thánh đế”, gọi tắt là “khổ đế”, là cụ thể thuyết minh hiện tượng của khổ. Liên quan đến chủng loại của khổ rất là nhiều, trong sinh hoạt hằng ngày thường gặp đến, chẳng làm sao kể xiết, nhân đó đưa ra “tất cả hành khổ” trong một pháp ấn “chư hành vô thường” của ba pháp ấn, thì đã bao hàm. Như từ kinh văn của “kinh chuyển pháp luân” thuộc kinh điển nguyên thủy mà nói, có thể đem khổ nói làm tám khổ, tức là: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Nay lần lượt giải thích ở sau.

3.1.1. Sanh khổ: Sanh không phải là chỉ cuộc sống (sinh hoạt) mà là sinh ra đời (đản sinh). Nhưng ra đời chẳng phải là chỉ cho sát na ban đầu (kết sinh) lúc mang thai từ thai mẹ, mà do nơi việc tái sinh, nhất định chịu khổ luân hồi.

3.1.2. Lão khoå: Lão, trong thơ của người đời Đường nói: “Công đạo nhân gian duy bạch phát, quý nhơn đầu thượng bất tằng nhiêu” nghĩa là (chỉ việc bạc tóc cũng là công đạo của nhân gian, trên đầu của kẻ cao quý cũng chẳng thể dung cho được), thì bất kỳ người nào cũng không thể tránh khỏi cái già. Con người sau khi lao khổ, bôn ba mấy mươi năm, ngoài ra, các cơ quan sinh lý khả năng suy thoái, nhân thể lực và sức đề kháng suy nhược thì các món tật bệnh xâm lấn hoành hành, đều khiến cho con người khó mà nhẫn chịu được đau khổ, dắt theo cái khổ trên tinh thần, da gà tóc hạt, trạng thái già nua lẩm cẩm, ai có thể trốn ra khỏi “công lệ già” này.

3.1.3. Bệnh khổ: Con người từ lúc cất tiếng khóc chào đời, thì đã cùng với bệnh kết duyên không giải được. Bệnh lúc nhỏ thì đậu mùa, bệnh sởi. Bệnh lúc trung niên như loét dạ dày, nhọt phổi, kết hạch... Bệnh lúc già như cao huyết áp, tim tạng bệnh... không thể kể xiết, tóm lại, sinh bệnh thì là khổ.

3.1.4. Tử khoå: Các cơ của thân thể hoàn toàn không có năng lực hoạt động, tiêu tan mất tác dụng mà trước khi chết đã có. Bốn đại: Đất như: xương, thịt, lông, tóc... Nước như: máu, nước dịch, nước tiểu... Lửa: như nhiệt năng ở trong thân, Gió như là: sự hô hấp, chia cắt ra khiến cho trên nhục thể và tinh thần gặp đau khổ tột cùng.

3.1.5. Ái biệt ly khổ: Thanh xuân chia lìa đôi lứa, trung niên con bị chết non, hoặc vì cầu y thực, hoặc nhân sự bức xúc hình thế, cùng với người thân yêu chia lià, khổ về sanh ly, tử biệt.

3.1.6. Oán tắng hội khổ: Cùng với những kẻ đáng ghét gặp mặt, lời nói thiếu vị. Xung đột lợi hại, cả hai người chẳng bao dung nhau, lại còn gặp việc: cùng sống cộng đồng hoặc cùng công tác, nên dẫn đến cái khổ.

3.1.7. Cầu bất đắc khổ: Đồ gì muốn thu được, lực lượng kinh tế đạt không được, muốn mưu cầu một vị trí, “người nhiều mà cháo ít”, mưu không được, công việc chỉ muốn cho chính mình không được, vì là ăn không được cơm thì chẳng làm việc, dục vọng chẳng thể đủ đầy, tức là có sở cầu mà cầu không được, há chẳng khổ não ư?

3.1.8. Ngũ ấm xí thạnh khổ: Năm ấm tức là năm uẩn, năm uẩn nhóm tụ thành thân, như lửa cháy mạnh, bảy món khổ trước đều do đây mà sinh; “Sắc ấm” xí thạnh (hừng hẫy) bốn đại không điều hòa mà có khổ về tật bệnh; “Thọ ấm” xí thạnh, lãnh nạp phân chia, khiến cho các gốc chuyển thêm mạnh; “tưởng ấm” xí thạnh, tưởng tướng tìm cầu, mà có ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, các điều khổ; “Hành ấm” xí thạnh, khởi tạo các nghiệp, lại là các nhân về sau chịu báo, vả lại nhân nơi hành mà dời đổi không dừng, nên có khổ về lão suy; “Thức ấm” xí thạnh thì khởi hoặc tạo nghiệp ba đời lưu chuyển mà có khổ sinh tử.

Ngoài 8 món khổ trên ra còn riêng có 3 khổ: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.

- Khổ khoå: Thân thể này của chúng ta là thân nghiệp báo, xưa nay trải qua rất là khổ rồi, lại thêm sự kích động từ bên ngoài đến, như: đói, khát, lạnh, nóng, đánh, hại... càng tăng thêm nỗi đau khổ, tức là trên khổ lại thêm khổ, đây là chuyên chỉ cho sự đau khổ trên nhục thể.

- Hoại khoå: Chỉ cho lúc hiện tượng vui vẻ phát sinh biến đổi, tạo thành đau khổ. Nhân đó mà gọi là khổ biến đổi (biến dịch khổ), đây là món đau khổ cảm thọ trên tinh thần.

-Hành khoå: Tức là tất cả hành khổ, chữ “Hành” của hành này là chỉ cho tất cả hiện tượng không thể có hiện tượng trốn khỏi, dời đổi, biến hóa, mà tất cả các hiện tượng lưu chuyển đều là khổ. Món khổ này cùng với “ngũ ấm xí thạnh khổ” (của 8 khổ) là ý nghĩa giống nhau.

Ở trên thuật lại các hiện tượng khổ, chỉ là đối với phàm phu mê hoặc, mới phát sinh tác dụng. Đối với bậc thánh giả đã giải thoát mà nói, là không cảm thọ khổ đó. Song phàm phu chúng sinh thẳng đến hưởng chịu các món khổ, nhưng chỉ cần có thể kịp thời tỉnh giác, tiến tới tu hành, do ở nơi khả năng chân chánh thấy được khổ - KHỔ ĐẾ - lại có thể quán sát ra nguyên nhân của khổ - TẬP ĐẾ - tiến tới muốn đem khổ tiêu diệt - DIỆT ĐẾ - dẫn đến tìm được phương pháp tiêu diệt khổ - ĐẠO ĐẾ. Như vậy cũng có thể khổ giảm thiểu tác dụng cho đến không còn.

3.2 TẬP ĐẾ:

Tập, là chỉ cho sự chiêu tập. Phiền não và đau khổ, chúng sinh thọ lãnh, là từ hoặc nghiệp tham, sân, si của ngã tướng nương nơi nghiệp thọ báo chiêu gom lại. Chiêu tập cái nhân tất cả pháp khổ, cũng chính là căn nguyên của biển khổ sinh tử ba cõi. Tập lấy nghiệp làm nhân, lấy phiền não làm duyên; nghiệp có ba nghiệp: thân, ngữ, ý. Phiền não có: tham, sân, si lại khiến cho thân, ngữ, ý làm việc bất thiện. Cho nên có cái khổ luân hồi ba cõi, tạo thành nguyên nhân sanh tử luân hồi không dứt và tất cả thống khổ tức là “khát ái”. Ý nghĩa một từ “khát ái” này không chỉ là đối với tham cầu và chấp trước của dục vọng; cũng là bao quát đối với sự tham cầu và chấp trước của ý niệm, lý tưởng, quan điểm, ý kiến, lý luận, khái niệm, tín ngưỡng...

3.3 DIỆT ĐẾ:

Diệt là không khác nào chỉ cho khổ được diệt. Diệt trừ phiền não sinh tử. Cắt hết nhân TẬP, diệt trừ đau khổ. Đem cái “khát ái” sở hữu mà diệt đi toàn bộ. Khát ái có thể là đại biểu cho tất cả phiền não, do đó diệt là diệt hết tất cả phiền não, không có nhiễm trước, vắng lặng ẩn mất, cũng tức là Niết bàn. Niết bàn chẳng phải là “diệt không”, mà là xả ly món món chứa nhóm, diệt bỏ tất cả đau khổ, giải thoát khổ não sanh tử của ba cõi.

3.4 ĐẠO ĐẾ:


Đạo là chỉ chung cho Hành. Cần diệt đau khổ, dứt hết nhân tập, chứng được Niết bàn. Đạo là tu hành dẫn đến Niết bàn, có thể lìa luân hồi sinh tử mà vào ở nơi Niết bàn. Đạo này lấy trung dung mà cầu giải thoát, cũng gọi là chánh đạo. Như thế ở trên cuộc sống tu hành cần làm thế nào mới phù hợp với trung đạo ư? Thế thì ắt cần nương lần theo “bát chánh đạo” mà tu trì.

4. TÁM CHÁNH ĐẠO

Người cầu đạo, vì đạt đến giác ngộ thật rốt ráo, nên phải tu học tám món chánh đạo.

Không tà gọi là chánh, thông đạt không trở ngại gọi là đạo. Chánh đạo âý có thể khiến chúng sinh trọn dứt khổ và tập, đạt đến cảnh giới của thánh hiền niết bàn tịch tịnh, cho nên tám món chánh đạo ấy cũng được gọi là tám món “thánh đạo”

Trong tám chánh đạo lấy “chánh kiến” làm cần thiết đầu tiên, đối với thế giới mới có thể nhận thức chính xác, cũng mới có thể phá trừ được cái biết cái thấy của thế tục một cách lầm vọng sai lệnh, mà ngộ nhập chánh đạo. Trừ chánh kiến ra, bảy món chánh đạo kia được phân chia là: chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

4.1. Chánh kiến(thấy chân chánh): là thấy hiểu chính xác, phá trừ vô minh. Đối với đạo lý duyên khởi và bốn thánh đế cũng như thế giới quan và nhân sinh quan của Phật pháp đã giảng khả năng chính xác gia dĩ lý giải và tín thọ phụng hành, chẳng phải là chỗ mê lầm (hoặc) thấy biết của thế tục.

4.2. Chánh tư duy(suy nghĩ chân chánh): Một khi suy nghĩ được phát ra, phần nhiều do vọng tưởng mà khởi. Nếu người tu hành đã thấy bốn thánh đế, dùng chánh kiến tương ứng, phá trừ tưởng pháp tà ác, mà khiến cho chơn trí tăng trưởng, đoạn trừ mê hoặc, xa lìa tất cả niệm ác.

4.3. Chánh ngữ(nói lời chân chánh): lấy lời nói chánh đáng mà tu khẩu nghiệp, lìa các món nói láo, nói ác, nói luồn lách, nói hai chiều. Chỉ nói lời khả ái (ái ngữ) thì khẩu nghiệp tự tịnh.

4.4. Chánh nghiệp(nghiệp chân chánh): Người ta khởi tâm động niệm, không gì chẳng tạo nghiệp. Tu thân, cần phải không tạo sát sinh, trộm cắp, tà dâm, không làm hành nghiệp hại chúng sinh dù trực tiếp hay là gián tiếp; như nghiệp sát sinh, nghiệp dâm, nghiệp đánh bạc, buôn lậu... các hành nghiệp xấu ác.

4.5.Chánh mạng(cuộc sống chân chánh): mạng gọi là nhờ lấy sinh kế của cuộc sống, thanh tịnh những việc cuộc sống hổ thẹn, mà đem công việc chính đáng mưu lấy cuộc sống.

4.6. Chánh tinh tấn(siêng năng chân chánh): Hướng đến phương trời xuất thế, đạo niết bàn, nỗ lực tiến tới, đưa ba nghiệp được thanh tịnh. Chẳng từ việc đối nơi thân miệng khổ nhọc mà khổ hạnh, hoặc mê tín của thế tục và pháp không rốt ráo (cứu cánh) của ngoại đạo.

4.7. Chánh niệm(niệm chân chánh): Niệm từ tâm khởi, tâm chẳng lìa đạo, xa lìa tà niệm, chỉ niệm chân như thật tướng, vả lại từng lúc từng lúc không quên lời giảng của Đức Phật: vô thường, khổ, vô ngã... Không luận làm việc gì, đều cùng với chánh pháp tương ưng, tâm không có động mất.

4.8. Chánh định(định một cách chân chánh): Chánh định là xa lìa bất định, tà định, lấy chánh niệm vô thượng giữ gìn tâm, an việc thiền định ở trong trí vô phân biệt mà được.

Đạo diệt khổ gọi là “bát chánh đạo”. Tu bát chánh đạo (tám món chánh đạo), làm nhân cho “Diệt đế”, đó gọi là kim chỉ nam của người tu tập đạo pháp, khiến tâm tham ái và chấp trước không xả đó sẽ bị diệt yếu đi và diệt hết, để lợi ích cho việc tu hành.

5. BA QUY Y

Phật, Pháp, Tăng là tam bảo (ba ngôi báu) trong cửa Phật. Quy y tam bảo tức là quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng. Quy là ý quay về, y là ý nương nhờ.

Phật, là nói tắt của chữ “Phật đà” của Ấn Độ ngữ, Trung Quốc dịch thành là Giác, tức là người chứng ngộ chân lý. Hàm chứa ý tự mình giác ngộ và lợi ích cho người khác, cả hai việc ấy viên mãn đầy đủ.

Pháp, Ấn độ gọi là “Đạt ma”, nói theo nghĩa hẹp, tức là ý chân lý, nghĩa rộng là ý tất cả sự vật tồn tại. Tổng quát là Đức Phật nói bày giáo pháp chơn nghĩa của toàn thể vũ trụ.

Tăng, là tiếng nói tắt chữ “Tăng già” của Ấn Độ, là đoàn thể có hành vi đạo đức đầy đủ.

Nương Phật làm thầy, nhân vì Ngài hay dạy rõ cho chúng ta chân lý tuyệt đối chính xác không lầm, mà dẫn dắt chúng ta tiến vào cõi cảnh không có phiền não. Cho nên quy y Phật, có thể khiến chúng ta giác mà không mê, nên người học Phật lấy Phật làm bổn sư quy y, mà bỏ ngoại đạo.

Nương Pháp làm thuốc, nhân vì Pháp (chân lý) có công dụng hiệu quả bỏ trừ được phiền não, khiến chúng ta Chánh mà chẳng Tà, đều gọi là chúng sinh chuyển mê khai ngộ, lìa khổ được vui, không nương nơi tà pháp của ngoại đạo.

Nương Tăng làm bạn, nhân vị họ có thể đem chánh pháp sắp truyền bá mà truyền trao cho chúng ta, khiến chúng ta lìa khổ được vui, nên người học Phật quy y Tăng, có thể khiến cho chúng ta tịnh mà không nhiễm. Đây chính là chánh tín mà vào chánh giác, không nương nơi đồ chúng ngoại đạo.

Bao quát mà nói, tức là tam bảo Phật, Pháp, Tăng hay khiến cho chúng sinh xa lìa biển khổ sinh tử, được Niết bàn (giải thoát), cho nên nói là chỗ của chúng sinh rốt cuộc phải quy y.

Người ban đầu học Phật, tín tâm chưa kiên cố, lực lượng chưa sung túc, nên cần phải quy y tam bảo, được sự giúp đỡ, mới thành tựu đạo nghiệp, song thì sau cùng đệ tử ắt cần phải nương nơi sức chính mình, mới có thể thành Phật; đây là chỗ không đồng nhất giữa Phật giáo và các tôn giáo khác. Phật Đà (Thích Ca Mâu Ni) trong lúc nói pháp, đều dạy răn thẳng cho đệ tử cần phải “tự y”, “pháp y” và “bất dị y”; tức là nương cậy tự lực, nương chánh pháp để tu học và không nương nhờ ở các lực lượng khác. Cho nên nghĩa sâu xa sau cùng của quy y tam bảo tức là quay về chính mình, tự tâm vốn có Phật, tự mình có thể thành Phật, tâm mình ngay nơi thể, tức là đầy đủ chánh pháp (chân lý); tự mình nương nơi pháp tu học, tự thân và Tăng già “nhất thể”. Như thế tam bảo Phật, Pháp, Tăng đều là không lìa tự thân, tức là chính thân tâm mình tam bảo có thể hiển hiện. Nhìn từ bên ngoài, quy y là sự dẫn dắt tha lực “tín nguyện”. Nhưng nhìn sâu, đây chỉ là “tăng thượng duyên” (điều kiện giúp đỡ tiến bộ). Trên thực tế, dốc sức chính mình, thực hiện lý tưởng, đây mới là ý nghĩa chân thật của vấn đề quy y tam bảo.

Cửa Phật giáo đều hướng đến chỗ có nhân loại mà mở bày. Phàm là người đối với Phật Pháp có hứng thú vả muốn học tập, không luận: sang, hèn, già, trẻ, nam, nữ, đều biểu hiện sự chào đón, vả lại nhất luật bình đẳng, không có phân biệt giai cấp, nhưng có chỗ trước sau thứ lớp tôn kính. Đây là đứng trên nguyên tắc tu hành thềm bậc thứ lớp mà nói, tức là người tu hành chứng ngộ quả vị thấp cần phải tôn kính người có quả vị cao, vả có nghĩa vụ tiếp thu sự chỉ dẫn, chỉ có thứ tự trước sau như đây, hoàn toàn không có bất kỳ sự phân chia đẳng cấp trên dưới nào, hoàn toàn phát huy cái nhìn bình đẳng của nhân tính.

Mục đích của học Phật, tuy nhiên là ở chỗ siêu phàm nhập thánh giống nhau, nhưng nhân vì phương pháp nghiên cứu và tu hành không đồng mà phân thành rất nhiều phương pháp tu hành. Tịnh độ tông (pháp môn trì danh niệm Phật) là một phương pháp trong đó.

Tam quy y tổng kết mà nói: quy y Phật tức là “giác ngộ không mê”, quy y Pháp tức là “chánh mà không tà”, quy y Tăng tức là “tịnh mà không nhiễm”.

Đức Phật dạy chúng ta cần phải từng thời khắc quán tưởng đến: Giác - Chánh - Tịnh; cần dùng Giác - Chánh - Tịnh mà tu tư tưởng, kiến giải, lời nói, việc làm của chính chúng ta, đây gọi là “tam quy y”, là quy y chân chính, Giác - Chánh - Tịnh, ba nguyên tắc này tức là quy y “Tam bảo”.

6. BỒ ĐỀ TÂM

Hai chữ “Bồ đề” là tiếng Phạn của Ấn Độ, dịch là Giác, ý là “chánh giác”, giác chính mình, giác người khác và giác ngộ viên mãn. Giác ngộ Phật đạo cũng tức là ý nói thành Phật. Bồ đề tâm tức là tâm giác ngộ, tức là tâm học tập Phật pháp, là thường ở trên hiện tượng mà rõ ràng và thông đạt, cũng tức là tâm thành Phật.

PHÁT TÂM BỒ ĐỀ, phát ấy là phát tâm, cho nên phát tâm bồ đề, lại là phát khởi tâm thành Phật. Vì sao cần thành Phật ư? Là vì lợi ích tất cả chúng sinh.

Phát tâm bồ đề tức là phát tâm thành Phật, “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh”, rộng tu tất cả thiện hạnh, ngộ triệt để pháp tánh bình đẳng, quyết không kiến chấp ta và chúng sinh có sai biệt gì, như thế mới cùng tâm bồ đề tương ứng.

Như thế nào mới có thể rộng tu các thiện hạnh ư? Lấy “bốn vô lượng tâm” làm cơ sở căn bản, lấy “bốn nhiếp tâm” mà hành trì.

Phát tâm bồ đề, đức Phật muốn chúng ta bồi dưỡng tâm bồ đề, chủ yếu thành trách nhiệm của một cá nhân, cho nên mới có lời cảm là: “Nhân thành Phật thành”, đây là quy củ mô phạm làm người xử thế.

Không phát tâm bồ đề thì không có tâm thành Phật.

Tâm bồ đề tức là tâm giác ngộ, tâm từ bi, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm đại nguyện.

Phát tâm bồ đề, nói một cách đơn giản, tức là anh xem chúng sinh chỗ có, đều cùng với tự mình giống nhau, không có ta lớn anh nhỏ, ta mạnh anh yếu, chỉ một mực bình đẳng. Cần tận khả năng của mình giải thoát đau khổ của chúng sinh tức là lợi tha.

Tâm bồ đề không phải lấy Ngã làm trọng tâm xuất phát, mà là kiến lập ở trên một tướng bình đẳng của tất cả chúng sinh cho nên không có bỉ thử, phân biệt bạn thù, cũng không sát hại, không làm việc si mê tham ái, cần ở lúc làm bất kỳ việc gì, hay thức tỉnh chính mình, việc này rốt ráo đối với việc giải trừ mọi người hoặc chúng sinh trầm mê có giúp ích thế nào?

Tâm bồ đề thật chẳng phải là ngay khi gieo hạt giống thì có thể mọc lên liền, chỉ đuợc tăng tiến từ từ.

Bước thứ nhất, không nên còn tâm hại chúng sinh. Bước thứ hai, thường thường tỉnh thức chính mình, ta làm việc này cùng với chúng sinh có ích hay không có. Bước thứ ba, nghĩ muốn là chẳng có thể giúp đỡ người khác thoát ly các nỗi khổ đau của nhân sinh. Đối tượng lúc bắt đầu, qua loa là rất hẹp hòi, chậm chậm mới phổ cập được một nhóm người, nhận thức của anh, lại lần hồi đem tâm từ bi tìm mở rộng ra, siêu vượt ranh giới và giới hạn quốc gia phổ cập mọi chúng sinh.

Tâm Bồ đề sản sinh có hai món: Một là xưa nay đầy đủ; một là huân tập mà có. Chúng ta mỗi người đều có tâm giác ngộ, vì sao chẳng giác ngộ ư? Nhân vì không có sự khởi phát. Khởi phát về sau, cái tâm này tức là tâm giác ngộ. Đối với tất cả vũ trụ đều là giác ngộ, đây cũng là căn bản tâm Bồ đề, tâm xưa nay đầy đủ. Cho nên chúng ta cần do từ sự dẫn dắt của thầy và kinh điển, chầm chậm học tập và huân tu, dùng tâm “như minh” này khởi phát sau khi tăng trưởng trí tuệ, mới có thể giác ngộ xưa nay. Trước kia chưa nhận thức bản tâm, thường thường hiểu rằng có giá trị thế nào mà tu, mà biết? Nhưng phát tâm Bồ đề tức là muốn chúng ta triệt để giác ngộ pháp của tất cả chẳng lìa tự tánh, tất cả tánh tức là tự tâm, điều này chẳng người khác bảo với anh mà có, mà là tự mình xưa nay đầy đủ, không có bất kỳ mê hoặc nào. Cho nên nói mọi người đều có trí huệ và đức tướng của Phật tánh, chỉ nhân nơi vọng tưởng và chấp trước mà mê hoặc.

Hóa độ chúng sinh, trước phải độ chính mình, “kỷ sở bất dục, vật ư chúng sinh” (việc mình không muốn chớ đem cho chúng sinh), bất luận là thân, miệng, ý đều chẳng thể được, lại chẳng thể có tư tưởng và hành vi làm tổn hại chúng sinh, nghìn vạn việc khác chớ làm tùy tiện, phóng túng, buông lung, mượn cớ lót miệng mà làm, trong tâm thường còn lòng từ ái và sự bao dung, khiêm tốn hiền hòa, nghĩ đến chúng sinh. Chờ có lúc trí huệ sinh khởi, lời của anh nói sẽ có ích cho chúng sinh, nói được chúng sinh miệng tâm đều phục, chúng sinh tự nhiên sẽ tự động gần gũi anh, chẳng cần anh nhọc sức quảng cáo tuyên truyền; cung kính anh, lúc đó chúng sinh sẽ nghe lời dạy răn của anh; Anh không có trí tuệ, lời nói không viên dung, làm sao dẫn khởi sự hứng thú cho chúng sinh? Dẫn pháp cần phải khế cơ, lời nói không gieo vào căn cơ, nói rách da miệng cũng không tác dụng.

Khắp độ chúng sinh có hai việc: 1. Cứu huệ mạng cho người, trừ si mê cho người, khiến cho họ được minh giác, tự mở mang ra, chuyển thức thành trí,triệt ngộ rốt ráo, tự tại không ngại, giải thoát luân hồi sinh tử, an trụ cảnh tịnh cực lạc, vĩnh hằng thọ dụng. 2. Cứu thân mạng con người, làm chút việc tốt, cho người ít tiền bạc hoặc y thực, hoặc lên núi xuống biển để cúng một chút công sức nhọc nhằn mà phục vụ, cứu nhân mạng, chẳng qua là trăm năm, rốt cuộc cũng chết, công hiệu ngắn tạm.

Phát tâm Bồ đề phổ độ chúng sinh chẳng phải cần là anh hiện tại độ bao nhiêu chúng sinh mà là cần có thành tâm độ chúng sinh, chẳng phải làm cho mình rồi than thở.

Độ chúng sinh rất là khó! Nhân vì Phật pháp không theo nơi thế tục (không theo cái tâm tục của người đời, theo tâm tham muốn), không giống như kiểu của ngoại đạo theo thế tục mà dụ người. Không có trí tuệ mà khuyên người tin Phật đã chẳng phải dễ, còn có thể nói được cho người đời miệng tâm đều phục mà học Phật tu hành, phát khởi sức lực tu hành sao? Trước mắt chỉ có đủ thật chính mình, chờ có một ngày trí tuệ phát ra mới độ chúng sinh, trước mắt chỉ có miệng nói ái ngữ, lượng sức tùy duyên mà làm việc thiện; giữ gìn thiện tâm, tùy duyên tùy sức mà làm việc thiện.

Luận đại trí độ nói rằng: “Bồ tát chưa được sinh pháp nhẫn, chẳng thể độ chúng sinh; dụ như phá bỏ thuyền mà cứu người chết đuối, mình và người đều bị chìm”.

Bồ Tát đất qua sông, tự thân khó bảo tồn! Làm sao độ được người!

7. LUẬT NHÂN QUẢ (Nhân duyên quả báo)

Phật pháp giảng: vô thường, khổ, không, vô ngã, ý tứ là tất cả muôn việc muôn vật trên thế gian đều là vô định tánh, nhân duyên hòa hợp thì sanh, nhân duyên ly tán thì diệt, tất cả tùy duyên mà tận lực, không nên cưỡng cầu.

Duyên khởi, tức là nói rõ tất cả các pháp đều là nơi nhân duyên mà sinh khởi. Nói một cách đơn giản, tức là sự sinh khởi tất cả sự vật trên thế giới hoặc tất cả hiện tượng, đều là tương đối, quan hệ và điều kiện nhất định của nó xen nhau tồn tại. Nếu như không có quan hệ và điều kiện này, bất kỳ sự vật và hiện tượng nào, đều không có pháp sinh khởi. Tại sao gọi là nhân duyên?

Nhân duyên cũng là điều kiện quan hệ. Trên kinh Phật đã từng nói: “Nếu đây có thì kia có, nếu đây sinh thì kia sinh, nếu đây không thì kia không, nếu đây diệt thì kia diệt”; đây là định nghĩa về duyên khởi. Nói rõ “quan hệ đồng thời” nương nhau tồn tại của sự vật, đạo lý “khác thời” xen nhau tồn tại.

Thế nào là đạo lý “khác thời” xen nhau tồn tại? Thí dụ sự quan hệ của hạt giống và mầm. Nhân vì quá khứ có hạt giống cho nên hiện tại mới có sự nảy mầm, chính nhân vì hiện tại có nảy mầm, hạt giống của quá khứ mới gọi là hạt giống, đây tức là đạo lý của quan hệ “khác thời” xen nhau tồn tại. Nhìn riêng một phương diện, lúc hạt giống diệt cũng chính là lúc mầm sinh, lúc mầm sinh cũng chính là lúc hạt giống diệt, đây là chứng minh hiện tượng sinh diệt của mầm và hạt giống, lại là một loại quan hệ “đồng thời” xen nhau tồn tại.

Loại quan hệ cùng thời xen nhau tồn tại và khác thời xen nhau tồn tại này kỳ thật cũng tức là chỗ gọi của Phật giáo: “quan hệ nhân quả”; ví dụ như hạt giống là “nhân”, mầm tức là “quả”, vì trước có hạt giống nên sau mới có sự phát triển của mầm, đây là quan hệ nhân quả khác thời xen nhau tồn tại. Cũng như lấy thầy giáo đó làm chính, thầy giáo đó tức là nhân, học sinh tức là quả; ngược lại lấy học sinh làm nhân, thầy giáo là quả, đây là quan hệ cùng thời xen nhau tồn tại. Quan hệ nhân quả này rất là lẫn lộn phức tạp. Cho nên muôn sự muôn vật trên thế giới, đứng trên thời gian mà nói, do ở sự quan hệ liên tục nhân quả khác thời vô số; đứng trên không gian mà nói, quan hệ xen nương nhau tồn tại vô số, tổ chức thành một cái mạng lưới lầm lạc cùng nhau rất là lộn xộn, phức tạp. Đây tức là nhân nhân quả quả tương tục không dứt, tức là quy luật nhân quả. Cũng tức là giống như quay vòng lửa lưu chuyển không dừng, cuối mà lại đầu.

Phật pháp nói rõ pháp nhân duyên quả báo (nhân quả) chỗ sinh có hai lực lượng: 1. Lực có thể nghĩ bàn. 2. Lực không thể nghĩ bàn. Như nương nơi nhân nào thì được quả đó, tạo nghiệp nào thì thành báo đó, có cảnh nào thì khởi tâm đó, có tâm nào thì rõ cảnh đó, do hiện tượng nào thì khởi quán đó; đây là phép tắc thông thường của nhân quả.

Trên Phật pháp, sự sinh thành và hoàn diệt của vũ trụ vạn hữu, phải đều do hai chữ nhân duyên. Nhân và duyên, trên Phật pháp chưa từng có ranh giới nghiêm cách mà nói, nhưng từ sai biệt tương đối mà nói, nhân ước chỉ đặc tính mà nói, duyên ước chỉ lực tác dụng mà nói. Nhân là chỉ một điều kiện chủ yếu sanh diệt của sự vật, duyên thì là trợ giúp điều kiện, hai chữ “nhân duyên”, nếu dùng ngôn ngữ hiện đại để nói thì ước chừng tương đương với hai danh từ “điều kiện” hoặc “quan hệ”. Nói như thế, sự sinh diệt của mỗi sự vật trong vũ trụ ắt cần phải đầy đủ những điều kiện nào đó; sự tồn tại của mỗi sự vật, cũng quyết cần quan hệ xen nhau cùng với sự vật khác mà có. Cho nên phàm khiến cho điều kiện hoặc quan hệ của một sự vật sinh diệt, hoặc một sự vật tồn tại, tức gọi là “nhân duyên” của sự vật này.

Sinh thành của vũ trụ không phải là thần sáng tạo. Sự thay đổi của vạn vật cũng không phải là do Thượng đế chi phối; chỉ là sự nhờ gá các duyên (tức là đầy đủ các mức điều kiện sinh thành đổi khác của vật đó) hòa hiệp mà sanh. Việc này sanh khởi từ không đến có, tức nhân lời nói giới hạn, gọi là “duyên khởi”, tức nói trên quả gọi là “duyên sinh”. Cho nên trên Phật pháp gọi sự sự vật vật tồn tại ở trong vũ trụ là “pháp nhân duyên được sinh” mà gọi sự sinh khởi của sự sự vật vật “muôn pháp nhân duyên sinh”.

Vạn hữu trong vũ trụ, đã nhờ các duyên được sinh, tự nó chẳng khỏi sự biến hóa bại hoại. Cho nên từ tình thế gian đến khí thế gian, từ hiện tượng tinh thần đến hiện tượng vật chất đều là ở nơi sự vận động lưu chuyển, sự sinh diệt biến hóa, sát na không dừng. Nhưng ở trong khoảng lưu chuyển sinh diệt này là chẳng có một quy luật tuân theo ư? Có, đứng trên Phật pháp mà nói, phép tắc cơ bản có hạng mục chi phối muôn hình tượng của vũ trụ sinh diệt biến đổi, tức là luật nhân quả của vạn hữu.

Gọi là luật nhân quả, tức là phép tắc nghiên cứu nguyên nhân kết quả của sự vật. Hiện tại trong khoa học cũng có luật nhân quả, duy luật nhân quả của khoa học chỉ thích hợp dùng ở sự biến hóa của vật lý. Mà luật nhân quả của Phật pháp, ngược lại, thích nghi dụng ở sự biến hóa của tâm, sự biến hóa của sự vật, và sự biến hóa của tâm – vật hỗn hợp. Phật pháp đem phép tắc này gia dĩ phân tích rõ ràng chín chắn và chi tiết; căn cứ phép tắc này sáng lập ra nhân sinh quan ba đời; lại gom đem nghiệp báo luân hồi... các vấn đề liên quan lại, mà sáng lập ra nhân quả thiện ác chung với tư tưởng luân lý ba đời.

Nhân quả, nên nói một cách đầy đủ “nhân duyên quả báo”. NHÂN là nguyên nhân, DUYÊN là trợ duyên, sự vật do nhân duyên hòa hợp được sản sinh gọi là QUẢ, quả này đối với việc tạo nhân gọi là BÁO.

Thế, xuất thế gian, từ chúng sinh cho đến thành Phật, từ “căn thân” cho đến “khí giới” (tức là từ thân và căn cho đến đồ vật và nơi cõi), tất cả những việc sinh diệt đổi dời... chẳng có việc gì là chẳng chịu lấy sự chi phối của phép tắc này.

Chỗ gọi là ba đời, là chỉ cho đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Phạm vi đời quá khứ bao quát là từ trước hiện tại một đời cho đến quá khứ vô cùng lâu xa, đoạn thời gian này đều thuộc ở nơi đời quá khứ. Đời hiện tại là chỉ cho đời hiện tại này. Phạm vi đời vị lai bao quát là từ sau đời hiện tại cho đến tương lai vô cùng xa vời, đoạn thời gian này đều thuộc đời vị lai.

Chỗ gọi là nhân quả thông ở “ba đời”, ý nghĩa có hai: 1. Quả báo phát sinh từ việc làm thiện hoặc làm ác, thời gian cần phải có mau hay chậm; nói mau, ngay đời này được quả báo, nói chậm có thể nhân từ đời quá khứ tạo đời này mới thọ báo hoặc nhân đời này tạo đời vị lai mới thọ báo; nói càng chậm, thì từ nhân đến quả, vượt qua đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, trải qua thời gian vô cùng lâu xa mới phát sinh quả báo. 2. Sau khi phát sinh quả báo, thời gian thọ báo cũng có ngắn dài; nói ngắn chỉ có mấy ngày, mấy tháng, mấy năm; nói dài từ bắt đầu thọ báo cho đến lúc báo hết dừng lại, vượt qua đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, thời gian vô cùng lâu xa.

Bất kỳ sự vật nào, quyết không thể không nhân mà sinh; nhưng có nhân mà không duyên cũng không thể sinh. Thí như một hạt giống (nhân) nếu không trải qua sự gieo hạt đem nó chôn vào trong đất, lại thêm các duyên trợ giúp của ánh sáng mặt trời, mưa, sương... thì không thể nảy mầm sinh trưởng, mà nhân duyên hòa hợp hình thành quả báo. Chẳng những sự sinh trưởng của sự vật như đây, tức sự biến đổi và hoại diệt của sự vật cũng chẳng như vậy.

Trên luật nhân quả cũng có vài điểm đánh giá được chú ý:

7.1. Trong luật nhân quả không có nhân thứ nhất, cũng không có quả cuối cùng. Trước nhân lại có nhân, cho đến vô thủy. Sau quả lại có quả dẫn đến vô chung. Thí như cha là nhân của con, cha lại có cha, cha... cha... vô thủy; con là quả của cha, con lại có con, con... con... vô chung.

7.2. Nhân và quả trong luật nhân quả là tương đối, mà chẳng phải là tuyệt đối. Thí như sợi vải là nhân của tấm vải, ngược lại là quả của bông vải. Do nhân Giáp mà sinh quả Ất, đương nhiên Ất là quả của Giáp. Nếu từ Ất lại phát sinh ra quả Bính thì Ất lại là nhân của Bính.

7.3. Là chỉ cho quá khứ, hiện tại, vị lai, trên thời gian; cho nên không tự diệt, không luận là sự lâu – tạm thời gian, hễ gặp duyên tức khởi hiện hành.

7.4. Bản chất nhân quả là một. Nhân có thể sinh, ắt là quả sinh. Quả có thể sinh ắt là cái nhân được sinh. Đứng trên sắc pháp mà nói, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậâu, hạt đậu lớn chẳng phát sinh từ dưa ươm, hạt dưa lớn cũng chẳng phát ra từ mầm đậu. Đứng trên tâm pháp mà nói, tự làm nhân, tự thọ quả.

Nhân thiện không sinh quả ác, quả ác không từ nhân thiện, dù mảy mún nhỏ nhặt cũng chẳng thể cậy nhờ.

Luật nhân quả là quy luật tự nhiên của vũ trụ nhân sinh; Phật giáo chủ trương nhân quả ba đời, tức là chỉ cho quá khứ, hiện tại, vị lai của con người đều là trực tiếp chịu sự chi phối của của “luật nhân quả”, đây cũng gọi là nhân duyên quả báo. Thành Thánh thành Phật, lên thiên đường hay xuống địa ngục, hoặc thành công hoặc thất bại của một sự nghiệp, hạnh phúc hay bất hạnh của một cá nhân đều lìa không khỏi luật nhân quả. Tại sao gọi là nhân quả? Nhân ấy là so như hạt giống, gieo vào trong ruộng, tương lai có thể trưởng thành làm quả thật. Quả như là quả thật, từ hạt giống nảy mầm, lần lần thay hoa đậu trái. Như tôi đánh anh là nhân, anh lại dùng tay đánh trả tôi là quả. Như người làm công vụ tham ô là nhân, bị phát hiện rồi pháp quan kêu án ngồi tù là quả...

“Giả sử trăm ngàn kiếp, chỗ tạo nghiệp không mất, lúc nhân duyên gặp gỡ lại tự thọ quả báo”. Từ đoạn văn tự này, chúng ta có thể hiểu được chúng ta đời trước tự mình hành vi các món nghiệp thiện ác chỗ tạo tác là một món NHÂN nghiệp, mà tạo các nhân nghiệp này tuy nói thời gian quá khứ rất lâu, rất lâu, ở trước lúc không thọ quả báo, vĩnh viễn đều tồn tại, không thể tự động tiêu mất hoặc tiêu diệt. Những cái nhân các món nghiệp thiện ác quá khứ hoặc đời trước chỗ tạo ra chỉ cần gặp được điều kiện sinh trưởng thích hợp, thì sẽ thành và sinh trưởng tích cực làm quả, cho nên thiện ác phước họa của tất cả thế gian, hạnh phúc hay không hạnh phúc, không có việc gì chẳng phải là “tự tác hoàn tự thọ” (tức là tự mình làm, tự mình chịu), chẳng thể có đạo lý do anh làm, người khác lại chịu, hay do người khác làm mà anh lại chịu.

Luật nhân quả đặc biệt chú trong về “DUYÊN”, nhân vì phép tắc nhân quả trực tiếp thông ở nơi đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai của con người. Điều chỉnh tất cả sự sự vật vật của nhân sinh vũ trụ đều là do ở nơi duyên mà khiến tất cả sự vật thành là sự tồn tại tánh cách tạm thời. Thí như nói anh trồng một cây dưa, đây tức là “nhân” của hành vi, nhiên hậu anh lại mỗi ngày tưới nước cho dưa, bón dinh dưỡng, đây là “trợ duyên”. Sau đó cây dưa này trồng một cách thuận lợi sẽ lớn lên kết thành quả, chắc chắn là quả “dưa”. Tuyệt đối không là một chủng loại nào khác, cho nên nói rằng: “trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”.

Cho nên lý luận của nhân quả cho là: “quả báo” ắt cần phải có NHÂN DUYÊN hòa hợp mới kết quả. Nên nói mình tạo nhân gì chắc chắn được quả đó, trừ phi mình không tạo tác thì không thể phát sinh ra quả.

Câu nói: “nhân duyên sanh vạn pháp” là một điều trung tâm học lý trong Phật học cũng gọi là “luật nhân quả”. Vạn pháp là chỉ tất cả sinh vật và không sinh vật, chúng đều là nhân duyên hòa hợp mà sinh. Nhân là phát sinh ra động lực gốc của một vật nào đó. Duyên là nhiều yếu tố giúp trợ một vật nào đó sinh thành. Chúng ta lấy việc trồng hạt đậu làm ví dụ, có thể dễ hiểu. Một hạt đậu là một hạt giống thực vật họ đậu, hạt này tức là tương lai phát sinh cái nhân của thực vật thuộc loại cây đậu đó, hạt giống gieo vào trong đất màu lại thêm ánh sáng mặt trời, không khí, nước... tức là trợ giúp hạt giống đó sinh trưởng là có duyên lớn lên (tăng thượng duyên) của thực vật. Thời gian nhân duyên hội họp, tức sự sinh khởi thực vật này là hiện tượng phổ thông vạn vật sinh khởi. Nhưng đây còn một vấn đề cũng là trọng yếu; thế thì người nông phu nương theo thời gian thích đáng mà gia công, tưới nước, nhổ cỏ, bón dinh dưỡng, như thế hạt giống đó tức sẽ kết thành “quả” chắc tốt. Trái lại hạt giống gieo vào trong đất mà những duyên đó thiếu ít rồi, hoặc nông phu không thi công, như thế cây thực vật kia, không những không thể phát triển, thậm chí sẽ chết mất. Thực vật là kiểu này, nhân loại chúng ta cũng như vậy. Sự vật sở hữu cũng là như vậy.

Nghiệp có: thiện nghiệp, ác nghiệp và chuyển nghiệp. Vạn vật là do nhân, duyên hội họp được sinh, nhân giống như hạt giống của thực vật, như thế chúng ta lại tiến thêm một bước thử hỏi: “hạt giống của thực vật từ đâu mà có? Chúng ta biết rằng: Một đóa hoa hoàn toàn có nhụy cái và nhụy đực, ở trong bầu nhụy có một cái phôi tròn, mặt trong có một cái tế bào cái gọi là noãn, thuốc hoa của nhụy đực có bốn cái túi, bên trong mỗi cái túi chứa tế bào đực rất nhiều, gọi là phấn hoa. Nếu hoa phấn có cơ hội được gió thổi đi hoặc côn trùng mang đến trên hoa cái thì phát triển thành ống phấn hoa, tế bào đực với ống phấn hoa phối hợp, về sau thì phát triển thành hạt giống của quả chắc.

Chúng ta đã hiểu rồi, muôn pháp là do nhân duyên hội họp mà sinh khởi. Nhân là tại sao tạo thành? Phật học nói: nhân là do quả tạo thành. Như vậy thế nào là nghiệp? Nghiệp tức là nơi thân người có chỗ tạo tác hành vi. Lời cửa miệng nói; ý có tư tưởng cảm phát; đây tức là nghiệp. Ở trong một đời người, phổ thông có mười món thiện nghiệp. Như thân không tạo ra: sát - đạo - dâm. Miệng không tạo ra: nói láo - nói ác - nói chiều uốn - nói hai chiều. Ý không tạo ra: tham - sân - si. Một cá nhân như có thể hằng ngày tạo ra thiện nghiệp nhiều như thế thì trong một đời của họ, chân - thiện - mỹ đầy đủ tất cả, huống chi đời trước của họ, xưa nay thiện nghiệp chứa nhóm rất nhiều, lại thêm một đời này thiện nghiệp được tạo, hết đời này về sau, thiện nghiệp của họ và duyên hòa hợp, đời sau thì có thể chuyển làm trời người hoặc Tiên hoặc Thần, hoặc người giàu có... Đây là luật nhân quả “tự tác tự thọ”, là một cái hiện tượng của vạn vật, nhưng người hiểu được thì rất ít, cho nên người tốt cũng sẽ ít.

Về mặt tương phản, nếu như một người thân hàng ngày tạo ra: sát - đạo - dâm; miệng tạo ra: nói láo - nói ác - nói chiều uốn - nói hai chiều. Ý tạo ra: tham - sân - si, các món ác nghiệp. Họ sẽ cấu thành nhân ác, ở đời này, hoặc đời sau, lúc cùng duyên hòa hợp y theo luật nhân quả mà nói, người này chậm mau gì cũng sẽ thọ lấy các món ác báo đau khổ. Tục ngữ nói rằng: “thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì” (Thện và ác cuối cùng cũng có báo ứng, chỉ là sớm hay muộn mà thôi!). Câu nói này là không sai vậy. Nhưng chư vị nhớ rằng một hạt giống được ánh sáng mặt trời, không khí, nước, sẽ nuôi lớn lên, nhưng người nông phu nhổ cỏ, bón phân... các việc là sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và thu hoạch của thực vật đó. Nghiệp lực cũng như thế này. Chúng ta có thể dùng sức lực chính mình để chuyển biến sự gặp gỡ đời này của chúng ta như: giàu, nghèo, vinh, nhục... Tuy nhiên là đời trước nghiệp lực được tạo phát triển đến, nhưng chúng ta không ngộ được đạo lý “chuyển nghiệp”, một mặt sám hối cái ác nghiệp đã tạo từ quá khứ không hiểu biết, riêng một phương diện hằng ngày suy nghĩ, nói năng, hành vi đều phản tĩnh chính mình, nỗ lực hướng con đường thiện mà đi. Như thế cá nhân này lớp ác nghiệp đã tạo trong quá khứ gọi là định nghiệp, xưa nay là phải thọ quả báo ác, lúc này chuyển thành nghiệp nhẹ, hay nghiệp bất định. Lại thêm sự trì giới, học định, tu huệ, như vậy thân này có thể vào hàng Thánh, là rất có khả năng. Cho nên một cá nhân phần lớn có thể bất tất vì ác nghiệp đã tạo từ quá khứ không biết mà lo phiền lòng, chỉ cần hiện tại nỗ lực tạo thiện nghiệp để chuyển biến nó, “nhân lực thắng thiên”, thì có thể lấy câu nói này “thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”, biến đổi nhiều nhiều hơn.

Chúng ta sở dĩ đến thế gian làm người không có cái gì chẳng phải là do các món nghiệp thiện ác đời trước hoặc quá khứ của tự chúng ta luân hồi mà đến, (chúng sinh vì các loại nghiệp tạo tác khác nhau, thế nên luân hồi sinh tử trong sáu đường: trời, người, a tu la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục). Đó là quá khứ của mỗi cá nhân ở trong thời gian và không gian chẳng giống nhau, nhân nghiệp tạo tác đều không đồng. Cho nên mỗi người ở đời này các món cảnh ngộ phải chịu lấy cũng sẽ tự nhiên có chỗ không đồng, chính mình ở ngày nay chỗ thọ lãnh, điều là chính mình thọ lấy nhân nghiệp của quá khứ bị chiêu cảm, chắc chắn như vậy.

Thí như có người ngược lại có thể có đời sống được thông minh trí tuệ, gia đạo lại giàu sang, một đời như ý, bước tiến thong dong cho đến năm phước đến cửa hoặc giả một chút cũng không phí sức, ngồi hưởng vinh hoa. Mà có người thì đời sống kém hèn, linh đinh cô khổ, một thân cùng khổ, còn lại gặp gỡ tai biến hoặc bệnh tật, khổ không kể xiết.

Có người một đời huy hoàng thắng đạt, có người một đời cùng đường chao đảo, đời người có lúc đắc ý nhưng cũng có lúc thời khắc thất ý. Có những người sinh ra là con nhà giàu, từ lúc sinh ra hưởng thụ thẳng đến già, không buồn không rầu. Có người sinh ra ở gia đình nghèo khó, từ sớm bận rộn cho đến chiều, vả một đời nhọc nhằn khổ sở. Có người lớn lên có tướng đoan chính, có tài hoa có học vấn, một đời không tai không họa. Có người ngược lại tai họa trùng trùng, có người làm kiến trúc sư, giáo thọ, có người buôn bán, có người làm công việc tốt xấu giàu sang... các món sai biệt và cảnh ngộ đều mỗi cái có chỗ không đồng. Thậm chí anh chị em cùng sinh ra từ một gia đình cùng cha mẹ, không luận là phương diện thân thể, phương diện tiền đồ, phương diện sự nghiệp, thậm chí một người con gái sinh ra từ gia đình nghèo khó, gả đến một gia đình giàu hoặc ngược lại.Chúng sinh hàng trăm trạng thái, thiên sai vạn biệt, đây là đạo lý gì? Những vấn đề này đều là từ quá khứ hoặc đời trước chính mình mỗi người nhân nghiệp đã tạo ra mà cấu thành; bởi nhân nghiệp không đồng, nên nhân duyên đời này gặp gỡ, cho nên bất cứ một cá nhân nào tình cảnh đời này thọ lấy, cũng đều riêng khác không đồng. Cảnh ngộ đời này không tốt, đều là do ở nơi quả báo của ác niệm và ác hạnh dẫn đến từ quá khứ bao quát cả đời trước chúng ta đã tạo ra.

Người mà đời này nhiều bệnh tật cũng là cùng với nghiệp chính mình đã gieo trồng từ quá khứ đến chỗ liên hệ; Nguyên nhân của tất cả bệnh tật cũng là tâm chúng ta kéo vin ngoại cảnh tạp niệm phát sinh. Xét một cách tột cùng mà nói, con người ở các ngằn mé gặp gỡ trong đời người, tất cả chỗ thọ chịu, đều là do ở nơi “vọng niệm” chính mình từ quá khứ tạo thành, nhân vì mỗi người có tạp niệm: tham ái - oán giận - ngu si, cho nên tập trung cả ở trên thân thể, trên lời nói, trên ý niệm chính mình; rất nhiều nghiệp nhân tạo tác chẳng đồng, mà món nghiệp nhân này thì sẽ có thế lực tiềm ẩn rất lớn, đó là vì sự quan hệ với chúng ta lúc tạo tác các món nghiệp có “tâm niệm rất lớn”, do đó đời này gặp được “duyên” tự nhiên khai hoa kết quả; cho nên nói rằng “dục tri tiền thế nhân, kim sinh thọ giả thị, dục tri lai thế quả, kim sinh tác giả thị” - (Muốn biết nhân đời trước, nhìn nơi sự thọ chịu đời này, muốn biết sự thọ chịu quả đời sau, nhìn việc làm đời này).

Cho nên chúng ta cần phải biết rõ các điều khổ nạn cảnh ngộ phải chịu, thì không nên oán trời trách người, ở trong đời này chúng ta càng cần phải từng giờ làm được các điều: “các việc ác chớ làm” (chư ác mạc tác), chẳng nên tái lại làm bất cứ nhân ác nào; Tiến tới thì phải làm được: “nên làm các việc thiện” (chúng thiện phụng hành), tuy nhiên chính mình đối với cảnh ngộ trước mắt vẫn khổ, nếu như thiện duyên kết nhiều, ác duyên tức chẳng thể tăng trưởng.

Một con người muốn sự nghiệp thuận lợi hoặc đạt được hạnh phúc, hành vi bản thân quyết cần phải lấy quan niệm “nhân quả” làm điểm xuất phát, người mà có được cái nhìn “nhân quả” thì từng lúc đều có thể cảnh giác chính mình, kìm chế chính mình, phân biệt thị phi, rõ biết nhân qủa báo ứng biến hoá, cho nên có thể theo từng con đường chánh mà đi, trọn có thể đạt đến lý tưởng chính mình. Một con người có quan niệm nhân quả, thì họ sẽ thật tế, quan niệm tư duy chính xác đời người vô thường, chỗ thọ chịu tất cả khổ, mà tất cả những cái đời này thọ chịu đều do chính mình từ quá khứ các món nghiệp nhân được tạo tác mà cấu thành; cho nên họ có thể đoạn trừ tất cả ác, tích cực hành thiện, kết thiện duyên, tiến đến mà thể ngộ được ý nghĩa và mục đích chân thật của vấn đề tu hành học Phật, cho nên nói là người có quan niệm nhân quả (nhân quả quan) có thể theo con đường chánh mà đi.

Người không có quan niệm nhân quả, thông thường chẳng dễ tuân thủ quy củ phạm vi xã hội, pháp luật quốc gia, xã hội bốn phương tám hướng ngay trước mặt, mỗi ngày chỗ thấy các việc như giết người, buộc tội, cướp giật,... hoặc phạm tội vì danh lợi, những người này có thể nói là những hạng người không quan niệm nhân quả, hoặc nói là nhận thức về nhân quả chưa sâu.

Người không có quan niệm về nhân quả hoặc đối với nhân quả nhận thức chưa sâu, tuy cũng thọ nghiệp lực chiêu cảm, nhưng xét cho cùng hãy còn tự mình ở trong cuộc sống ngày thường không có quan niệm chính xác, hoặc chánh tri (hiểu biết chân chánh) chánh kiến (cái nhìn chân chánh); lại thêm một phương diện khác có những người là người xấu, suốt ngày không làm các nghiệp chánh, thậm chí không ác gì là không làm, mà ngược lại cuộc sống hưởng thụ rất nhiều... nào là: thăng quan, phát tài, thành đạt, huy hoàng, khiến người thèm muốn; do đó chính mình sẽ hoài nghi phép tắc nhân quả. LaÏi có những người thường nói: “Thiên hạ làm gì có việc nhân quả báo ứng, nếu có việc nhân quả báo ứng thì thế gian sẽ không có người xấu”. Nhân đó tham tâm càng trỗi dậy, không biết hậu quả đáng sợ, cho nên lời nói này đều là tà tri, tà kiến tạo thành. Trong kinh Phật nói rất rõ ràng, chỉ vì người đời phần nhiều không có xem đọc, nghe hiểu thâm nhập kinh Phật để lý giải, để thâm tín mà thôi.

Kinh Phật nói rằng: “Nghiệp ác chưa chín mùi, người ác cho là vui, nghiệp ác lúc chín mùi, người ác mới thấy ác. Nghiệp thiện chưa chín mùi, người thiện cho là khổ, nghiệp thiện lúc chín mùi, người thiện mới thấy vui”. Đoạn kinh văn này là nói duyên cớ những người không có ác nào chẳng làm đó, không thọ đến báo ứng đời hiện tại, mà vả lại còn hưởng thụ lấy cái vui; đó là vì lý do nhân thiện đời trước hoặc quá khứ của họ, đến đời này gặp được duyên đã chín mùi từ trước; cũng tức là nói họ tất cả những gì hưởng thụ ở hiện tại, chính là nhân thiện của quá khứ, hoặc đời trước họ đã gieo trồng, tất cả quả báo đó là từ trước chín mùi mà được; nếu đời này họ tạo tác các món nghiệp ác (nhân nghiệp ác), nhân đó vì trồng chưa được lâu, chưa chín mùi, đợi đến lúc nhân duyên nghiệp ác chín mùi, chắc chắn thọ báo; cũng tức là nói đợi nhân thiện đã trồng ở đời quá khứ của họ - phước báo chỗ được ở đời này sau khi đã hưởng thọ xong, tự nhiên phải thọ báo, mà nhận lấy thọ báo các món nhân ác đã tạo ở đời này, do đây khổ đau liên tiếp, khổ nạn triền miên, tai nạn dẫy đầy, đến lúc đó, tự nhiên người làm ác sẽ thấy được kết thúc của việc làm ác. Trên sự thật, một con người làm việc ác chẳng có thể trốn chạy hết đời, trải qua khoảng giữa đường thì đã khổ nạn trùng trùng, chẳng sanh bệnh thì cũng chẳng được chết tốt.. Có thể thấy việc “quả báo hiện đời” này xác thực rất là đáng sợ, nếu đời này không thọ báo thì ở đời vị lai, giống như vậy, phải thọ báo, “ác nghiệp chín mùi ở đời sau” tức là cái đạo lý này vậy.

Người mà mỗi ngày thường hay giúp đỡ người khác, làm việc thiện, đời này ngược lại vẫn vậy thọ chịu khổ nạn trùng trùng, tự cho là việc thiện làm hết, hoặc thường thường làm việc thiện, vẫn vậy lại còn thọ chịu quả báo khổ. Trên sự thật, những người làm việc thiện đó, nguyên nhân đời này vẫn vậy mà còn phải chịu các điều khổ nạn, chính là vì nhân ác họ đã trồng từ quá khứ hoặc đời trước, duyên do nhân nợ rất nhiều rất nặng, mà những nhân nợ, nhân nghiệp này, ở đời này gặp trước được “duyên”, do đó tự nhiên chín mùi trước, cho nên có tình huống tự nhiên phải trả, còn phải khổ nạn trùng trùng. Mà đời này nhân thiện được trồng, mà vì trồng chẳng lâu, cho nên chưa được chín mùi, đợi đến lúc nhân thiện chín mùi, cũng tức là nói, đợi đến lúc nợ đời quá khứ trả hết, tự nhiên được phước báo, hoặc đợi đời sau chín mùi, do sự nhẹ nặng của nhân nghiệp ở mỗi người, hoặc các điều kiện chưa phối hợp mà định. Chỗ gọi là các điều kiện chưa có thể phối hợp là chỉ: sự thiếu sót chân thành phát ra của tâm từ bi, tâm khoan dung, tâm sám hối, tâm hành thiện từ nội tâm, hoặc làm thiện mà thiện hạnh tích chứa chẳng đủ. Cho nên người làm việc thiện đến một lúc nào đó sẽ bắt đầu biết được làm việc thiện sẽ được cái vui chân chánh.

Chỗ gọi là: “có nhân như vậy, được quả như vậy” là đạo lý tuyệt đối; cho nên có câu: “Thiện có báo thiện, ác có báo ác, như nếu chẳng có báo tức là chưa tới lúc, lúc đến rồi, nhất định thọ báo”.

Cho nên nói chính mình trong quá khứ trồng nhân nghiệp gì, hiện tại sẽ phải thọ lấy quả báo ấy; hiện tại tạo nhân nghiệp gì, vị lai sẽ phải gặt lấy quả báo ấy. Tóm lại, có nhân nhất định sẽ dẫn đến quả nhất định, cho nên nói “nhân quả” là một loại chân lý “bất định tánh”, luật nhân quả là một định luật bất biến vĩnh cửu của nhân sinh vũ trụ.

Tóm lại, tâm còn thiện lương tức được báo tốt, tâm mà bất lương tức mắc báo ác. Đức Phật nói: “Tất cả thiện ác đều xuất phát từ tâm, tự tâm tu thiện khiến tâm an lạc, tự tâm tạo ác khiến tâm chịu khổ”, “Phước do tâm tác, họa do tâm sinh”. Do đây có thể thấy, con người tất cả những việc được phước hoặc mắc hoạ, đều là chính mình ở trong cuộc sống thường ngày ở chỗ thi vi tạo tác mà quyết định, cho nên muốn được phước thì cần phải trước đem nội tâm của mình tất cả những vọng tâm, ác tâm mà trừ bỏ, trừ bỏ tất cả các ác của nhân loại; các ác của nhân loại là những gì? Đó là mười ác nghiệp (tức là mặt trái của mười thiện nghiệp), mười thiện nghiệp phạm rồi thì là mười ác nghiệp.

Sở dĩ nhân loại có mười ác nghiệp này đều là do tham - sân - tà kiến của ý nghiệp tạo khởi, mới có thể tay tạo tội nghiệp, hoặc ý nghiệp biểu hiện ở nơi miệng, thì sẽ tạo tác khẩu nghiệp, hoặc ý nghiệp biểu hiện ở nơi thân thì sẽ tạo tác thân nghiệp, cho nên ý nghiệp lại gọi là “tâm nghiệp”; cho đến ngay trong xã hội phạm tội án kiện mà nói, cũng đều rời không khỏi mười món nghiệp này.

Tóm lại, cần trừ các ác của nhân loại, thì quyết cần phải trừ bỏ tâm riêng tư, tâm tham, tâm sân và tà kiến của chính mình. Một con người nếu có thể trước nhất trừ bỏ tâm riêng tư chính mình, thì có khả năng “chẳng làm các việc ác”, do đây có thể giảm thiểu các việc khổ phải chịu, vì ở nơi tình huống mà chẳng làm các việc ác, thì ở trong ruộng tám thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na và a lại da thức) của mình không thể tăng thêm ác duyên, tiến đến thì có thể “Vưng làm các việc thiện”, do ở nơi làm nhiều các việc thiện, lại có thể chận đứng tất cả các việc làm ác, thiện duyên tự sẽ tăng thêm nhiều, ở nơi tình huống này, các món nhân ác từ quá khứ - duyên ác, tự nhiên sẽ thối lui.

Cho nên Phật giáo tuy nói: “nhân quả ba đời” nhưng lại chú trọng “nhân quả hiện đời này”. Vì quả báo đời hiện tại là chỗ đặt để của đời trước chiêu cảm, mà cần phải giảm nhẹ các vấn đề khổ báo, chỉ cần ở đời này tu thiện, tích đức tích cực, thì có thể giảm chuyển nghiệp báo (báo thì nặng mà thọ thì nhẹ); Cũng tức là nói các món nhân nghiệp đã tạo tác ở thời quá khứ của chính mình, hoặc nhân ác từ xưa tới nay phải chịu lấy khổ nạn trùng trùng, chỉ nhân nơi đời này không tạo lại các nghiệp ác, đồng thời làm thiện tích cực, tu thiện, báo nặng đáng lẽ phải chịu, tự nhiên chuyển thành việc nhẹ.

Cho nên con người chỉ có nhận thức triệt để quan hệ “nhân quả”, và chỗ chỗ đều lấy “nhân quả” làm điều kiện cần thiết cơ bản của đời người, tiến đến “chẳng làm các việc ác, nên làm các việc lành”, mới có thể cuộc sống tinh thần của nhân loại vươn lên, khôi phục được quan niệm đạo đức, tiến đến kiến lập thế giới tâm lý trang nghiêm của đạo đức, mới đi đến con đường khang trang sáng lạng. Vì lý tưởng và mục tiêu của con người bao gồm là: giải trừ phiền não và khổ đau, vượt thoát luân hồi sanh tử. Cho nên con người chỉ có thấu suốt được thực tiễn Phật pháp, thâm nhập kinh Phật, tiến đến nhập vào thế giới lý tưởng giải thoát của tâm linh, mới có thể đến được cuộc sống vĩnh viễn hạnh phúc, khoái lạc, tự do tự tại.

Học Phật là giúp chúng ta hiểu rõ cội nguồn của khổ, sau khi đã hiểu thì không sợ sệt; học Phật có khả năng an bình được ma phiền trên cuộc sống. Tất cả niệm đều được tạo ra từ không tánh, quả báo phát ra đều được chính mình thừa nhận không phải là người khác, cho nên bất cứ cái gì đối với niệm đầu bất lợi cho người khác, cũng tức là bất lợi chính mình. Niệm đầu tốt mới có chỗ tốt với chính mình, niệm đầu xấu thì đối với chính mình có chỗ xấu, niệm đầu không thì đối với chính mình vô quái ngại. Cần phải rõ lớp đạo lý này mới có thể nắm được nhân quả trong bàn tay, biết nhân quả tức là biết tiến thối. Duyên tất cả sẽ không có quái ngại, tốt nhất tâm khởi động niệm liên miên đều phải đình chỉ (không suy tưởng), trong tâm không cả cái không, “nhân” cũng không có.

Pháp môn tuy là bước đầu vào cửa Phật pháp, nhưng rất là trọng yếu, không luận người nào, cũng đều cần phải tin sâu xa. Không nên không thấy qua quỷ thì không tin có quỷ thần; chưa từng thấy qua con người làm ác mà thân hiện tại chịu lấy ác báo thì không tin tưởng “nhân quả báo ứng”, rồi vọng làm hành vi hồ đồ (vọng tác hồ vi). Người ác trên xã hội hiện tại chịu lấy xử lý về pháp luật, tức là báo ác, tức là cái báo của thân hiện tại.

Học Phật tu hành thì phải hiểu rõ “nhân quả”, tin sâu nơi “nhân quả”. Không tin nhân quả, thì phàm sự việc theo tâm ham muốn, vọng làm hồ đồ, như thế thì chẳng cần phải học Phật, chẳng cần phải tu hành làm gì! Như vậy là duyên cớ gì ư? Vì “lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt”, chúng sinh ở cõi ta bà, dù ai có bản lãnh thông thiên, đều không thể trốn khỏi phán xét của nhân quả. Cho nên nói: “Nhân quả dù đường tơ kẽ tóc không sai”. Phải, trái, cong, ngay.. tất cả đều ở dưới sự phán xét của nhân quả, sẽ khiến mọi người tâm phục, khẩu phục.

Sự tạo tác thi vi của chúng ta trong một đời có thiện có ác, báo ứng tương lai không ra khỏi việc:

- Trồng cây đào, cây lý, trưởng thành là cây đào, cây lý (làm thiện được báo thiện)

- Trồng cây gai trưởng thành là cây gai (làm ác chịu báo ác)

Cho nên chúng ta muốn tránh hung được cát, tiêu tai được phước, thì quyết cần phải trồng sâu nhân lành (thiện nhân), nỗ lực sửa lỗi thành thiện, tương lai mới có thể được quả tốt phước đức cát tường. Như thường làm nhân ác mà muốn miễn trừ được hung họa tai nạn, như thế có thể được đâu.

Cho nên khuyên mọi người phải tin sâu nhân quả, hiểu rõ báo ứng thiện ác, một đường tơ một kẽ tóc không thể sai lệch. Không nên làm một người mang danh “Phật giáo đồ” mà không tin nhân quả, không hiểu rõ nhân quả.

Phật Đà có Phật nhãn có thể thấy vạn tượng vũ trụ, dạy chúng sinh nên biết tin nhân quả, “làm thiện được báo thiện, làm ác chịu báo ác”, khuyên người đời phải dừng ác làm thiện, mới được quả báo tốt. Người đời chỉ có nhục nhãn nhìn không thấy vạn tượng vũ trụ, như không thấy qua quỷ thần thì cho rằng không có quỷ thần, người đời nếu học Phật tu hành công phu tới mức được thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn thì có thể thấy được vạn tượng vũ trụ, được thiên nhãn rồi thì thấy được quỷ thần. Người đời phần nhiều không học Phật tu hành, hoặc học Phật tu hành mà công phu chưa sâu, chỉ có nhục nhãn, đương nhiên nhìn không thấy vạn tượng vũ trụ, lại huống hồ gì nói đến biết vạn tượng vũ trụ.

Luật nhân quả, là sự chứng ngộ đặc biệt của Đức Phật, là phép tắc sinh diệt vạn tượng thế gian. Nói một cách khác, đây mới là chân lý vĩnh viễn bất biến, bất luận tin Phật cũng tốt, không tin Phật cũng tốt, nói chung không có người nào có thể chạy thoát khỏi phép tắc phạm trù nhân quả. Đói cần phải ăn, buồn ngủ cần phải ngủ, nhất cử nhất động của chúng ta, không có một kiểu nào không là sự hiển bày của nhân quả; riêng khác chỉ ở người tin Phật, hiểu rõ nhân quả, tin tưởng nhân quả, không dám vọng làm hành vi hồ đồ, sợ gặp khổ báo; người không tin Phật, không tin hiểu nhân quả, càng không thể nói hiểu rõ nhân quả được, kém cỏi thì nên nghĩ lại một chút mới được.

Theo lý mà nói, làm một người đệ tử của Phật, nên phải tất nhiên quan hệ của nhân quả đều phải hiểu rõ, nhân là cái gì, lại thêm duyên là cái gì, tất nhiên sẽ chiêu đến quả là cái gì, khoảng giữa này, tuyệt đối không có mảy mún khả năng cầu may, không có một chút sai lầm, tuyệt đối công bình. Cho nên ở trong pháp nhân quả căn bản không có các từ vựng kỳ tích, xảo họp, ngẫu nhiên, ngoại lệ... Phàm sự việc có nhân trước, chắc chắn có nhân trước mới có quả sau.

“Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”, “Nhược hữu bất báo, thời thần vị đáo”... những câu nói này, không những là bốn chúng đệ tử trong cửa Phật, không người nào chẳng hiểu, ai ai cũng có thể biết, tức là tất cả những nhân sĩ trong xã hội, không được nghe nói, sợ rằng cũng không tìm ra mấy người, thật là đáng tiếc; Người thật có thể tin sâu xa không nghi, ngược lại không gặp nhiều; đệ tử của Phật nếu không thể tin sâu, cũng nói là chưa được.

Kinh Phật nói rằng: “Nhược vấn tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị; nhược vấn lai thế quả, kim sanh tác giả thị” (Nếu muốn biết nhân đời trước, thì hãy nhìn kết quả lãnh thọ đời này; nếu muốn biết kết quả đời sau, hãy nhìn nhân đời nầy làm ra). Nếu như chí thành học Phật tu hành, tin sâu báo ứng nhân quả, đích xác là chút mảy không sai. Như vậy chịu ở trên cái nhân mà dụng công, nếu chỉ ở trên cái quả mà so tính được mất, không biết cầu quả vui thì chắc chắn trước tiên phải trồng nhân lành, nhân ác chắc chắn chiêu lấy quả ác, đây là nhân quả vững chắc. Đời sống này nghèo cùng nhiều tai nạn là khổ báo của đời trước đã làm ác, báo ứng qua rồi mới được báo lành; Người ta giàu có vinh hoa, hồ đồ làm hành vi sai trái, nhưng ngược lại trăm việc hanh thông, đó là người ta đời trước làm thiện, đời này hưởng phước, đợi phước hết rồi thì phải chịu khổ báo. Nếu nhơn theo sự sai khiến của tham tâm và tư tâm, rốt cuộc quên mất đạo lý này, cưỡng cầu vọng làm, nhân ác từng niệm, việc làm cũng là nhân ác, ngược lại hy vọng kết quả tốt đẹp, khác nào ngược đường mà chạy. Không tin! Nếu ở dưới tòa sen của đức Phật, mắt lạnh bàng quan, chỉ là lợi dụng Phật pháp dối đời trộm danh, rộng thu lấy tiếng tăm lợi dưỡng một mình, ham muốn vui say hưởng dụng, tàn cuộc mấy người tốt đẹp, vả lại phần nhiều là hoa Đàm một khi xuất hiện, theo đó thân bại danh liệt, khổ nạn thật sự, sợ sệt mà còn chẳng chịu dừng lại từ đây ư?

Chúng ta quy y tam bảo, học pháp xuất thế, xưa nay là vì việc lớn sanh tử, vì sao vẫn vậy ở trên danh, lợi, sắc, miếng ăn của thế tục làm kế sống? Phóng túng tham, sân, si mà tạo các ác nghiệp? Như chân chánh quy y tam bảo, thành tâm học Phật, có chí nơi đạo nghiệp, tin sâu nhân quả, cố siêng tự tu, ngàn vạn chẳng thể chịu người khinh gạt, tuỳ hỉ nơi nghiệp ác. Trên việc nhân quả, quyết không thiên tư, cũng không được chống đối. Cho nên đã là đệ tử Phật, phàm có sự thi vi, thì nhất định cần nghĩ đến hậu quả, mới có thể bắt tay, việc tự lợi lợi tha có thể nói có thể làm, đối với người có lợi, đối với mình không tổn, cũng nên làm nhiều; việc mà tổn người lợi mình, quyết không được làm, việc tổn người mà không lợi mình càng không được làm. Nguyện đệ tử của Phật chúng ta đều có thể tin sâu nhân quả, cầu Bồ Đề được Bồ Đề.

Đức Phật chỉ bày luật nhân quả, chủ yếu nhất là muốn chúng ta không được tạo các nghiệp ác, để khỏi phải thọ báo khổ trong tương lai, quả báo đã đến đối mặt, thì nên ngộ rõ là cái ác tạo tác đời trước đã đến, thản nhiên mà tiếp nhận, trả lại nợ nần; như con cái bất hiếu, gia đình không hòa, sự nghiệp chẳng thuận, quan hệ ác liệt của con người, phá tài sản, sinh bệnh, thủ thuật dao cắt... tức là trả lại nợ nần.

Nếu đọc xem kinh luận, có thể đưa ra “Phật nói báo ứng luân hồi năm con đường phước”, hay “Kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện” xin đọc tụng vài quyển, chắc chắn biết được tu hành phước huệ ra sao.

Tuy mọi người đều biết quan hệ nhân quả, nhưng người có thể khởi quán tu nhân lại rất là ít, người nhờ vào sự xung động làm việc chiếm đa số, hai chữ “nhân quả” chỉ là “hai chữ” thế thôi, căn bản phát không ra sức, khởi không được tác dụng, không thể dùng sức nhân quả để khống chế ý thức chính mình, lúc trạng thái tình huống đến, điều thứ nhất nổi lên ở trong tâm không phải là nhân quả, mà là riêng tư và cừu hận... những tình tự xung động này, ngay những tánh tình thiêu đốt này sau khi phát tác xong, từ ký ức sâu xa “nhân quả” mới từ từ tỉnh lại, cuối cùng phát hiện ra tính nghiêm trọng của sự tình, nhiên hậu trở lại thu gom hậu quả tàn phá, lý do, mọi người không phải là không hiểu được đạo lý nhân quả, chỉ là không chịu tu hành, chỉ dừng lại ở giai đoạn “biết”, mà thường thường sức biết thì mười phần đơn lẻ mỏng manh, chống lại không được sự xung động của dục vọng. Bình thường người ta rất chiếu cố các niệm đầu: tham - sân - si, một khi có trạng huống phát sinh, thì trước tiên ở trong gân não lựa chọn một cái gì đó đối phó trạng huống, căn bản không muốn ý được yên tĩnh, khiến tham - sân - si từ trong niệm đầu trượt qua, mà đem nhân quả dừng lại dùng nhân quả quán sát, khiến “cái nhìn nhân quả” thành là một món lực lượng, kiểu này mới có thể ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi con người, lấy luật nhân quả làm một loại nhân sinh quan, ở trong một nhân sinh quan này, làm người xử việc, mà bất tất khiến tâm linh đối với sự bất an đợi chờ phán xét, tâm tình cũng mở sáng không được, theo thời gian sợ hãi mãi Thần minh ba thước trên trời và phán quan địa ngục đến dẫn người. Do đây, cần làm tốt công tác “dự phòng”, cũng cần có thể trước tiên hiểu rõ nhân quả biện biệt thị phi, mà làm cương lãnh cần thiết của tu trì; Tóm lại: 1. – Biết tin nhân quả. 2. – Ở trong sinh hoạt thường ngày khởi lên quán sát nhân quả. 3. – Sau khi quán chiếu thì cần nỗ lực khống chế xung động, khiến “nhân quả” thành là lực lượng, có lực lượng mới tu thành “nhân quả quán” được.

Một người hiểu rõ được nhân quả, gặp việc trước nhất biết được kết quả sau khi phạm sai lầm, sẽ hại, sợ chuốc lấy việc xử lý của pháp luật, cho nên sẽ kiểm thúc hành vi chính mình, kiểu này cũng giống như phương pháp phòng bệnh của y học. Nhưng ngược lại có rất nhiều người biết rõ hậu quả của sai lầm, họ kiềm chế chưa được xung động của chính mình mà nung nấu ra đại họa, thậm chí mất đi sinh mạng quý báu, khó bảo rằng chính họ có quý tiếc sinh mạng hay không?

Kỳ thật, “nhân quả” chỉ là một quan niệm, đã được tri thức giáo dục đưa ra, không nhất định là cái năng lực; không có năng lực thì không có khả năng cùng với hành vi đối kháng xen nhau, động lực của hành vi vĩnh viễn mạnh hơn tri thức chính mình, như thế, họ vẫn sẽ “trang điểm” cái nhìn nhân quả và đạo đức đầy đầu mà đi phạm sai lầm, vì “cái nhìn” của họ trọn không có “lực nhìn”, chẳng giống tập tánh bản thân: tâm tham, cừu hận... cũng có một món năng lực, cái năng lực này là từ nhỏ đã bị nuôi nấng mà ra, mỗi ngày đều dùng đến, mỗi lúc đều nghĩ đến, nên nói rằng họ có thể nào mà chẳng phát sinh ra năng lực to lớn? Cũng vậy, chúng ta cần đem quan niệm nhân quả hoặc đạo đức làm thành một cái năng lực, có thể nói trực tiếp đem ra khắc phục hành vi, cũng như vậy mỗi ngày làm, mỗi lúc nghĩ, ở trong cuộc sống tuỳ thời khởi quán để quán sát con người và sự việc, sau khi quán lâu rồi, sự quán sát đó cũng sẽ phát sinh ra năng lực chỉ huy hành vi; Chú ý! Không nên một mạch dừng lại ở nơi “quán” mà chẳng chịu “hành”, cần phải vừa quán vừa hành; mới bắt đầu tất nhiên quán nhiều mà hành ít, hoặc là một mặt thì quán còn một mặt vẫn phạm sai lầm, (lúc này nên phối hợp tu sám hối), nhưng chỉ cần kiên định ý chí không sợ khó, thì có thể khiến sự quán lần hồi mạnh hơn sự xung động của tham sân si, nhiên hậu phát sinh ra cái gọi là “chánh quán lực”; lúc này chỉ cần niệm loé lên, cũng sẽ có luật nhân quả ở trong tâm mạnh mẽ chuyển vận, hành vi sở hữu của anh đều tiếp nhận lấy lề lối của nhân quả như thế thì tính ra làm việc xấu cũng rất khó.

Bất cứ người nào cũng biết đạo lý: thiện có báo thiện, ác có báo ác, nhưng ở trên thế giới này vẫn có rất nhiều người không thể khống chế hành vi chính mình, tạo ác hoặc làm thiện thường thường không phép tắc mà cứ theo tâm ham muốn; trong tâm tuy nghĩ là phải làm thiện, mà trên thực tế hai chân ngược lại, thường thường không nghe sai khiến, đổi chỗ chạy đi tới nơi không đáng đi mà tạo ra ác nghiệp, đợi đến lúc lương tri thức tỉnh, mới phát hiện tự mình căn bản không có năng lực để gánh vác tất cả những ác quả này, giống như có một luồng khói sương vô hình ngăn cản con đường trước mặt, sau đó là một đôi tay vô hình, dẫn người mê hoặc đi đến tuyệt lộ; luồng khói sương này là “nghiệp lực” của chúng ta, mà đôi tay vô hình đó cũng tức là năng lực của nhân quả. Nếu như chúng ta không trừ dọn sạch nghiệp lực trước mắt, thì khó thấy mình bị dẫn dắt đến loại cảnh giới nào? Cho nên chúng ta cần xử lý nhân quả về trước của mình, thì trước tiên nên nỗ lực chuyển đổi nghiệp lực của chính mình, trừ dọn sạch khói sương trước mắt; sáng tạo thiện duyên thiện nhân mới, cải thiện quả báo bất lương, đem việc tổn thương tai hại mà đè bẹp đến mức tối thiểu.

Nghiệp lực của con người đương nhiên cũng là cái nguồn nhân quả đã tạo ở đời trước, nhân quả thiện khiến người được nghiệp lực thiện đi chế tạo quang minh và thánh khiết của đời người; mà nhân quả ác thì chứa đựng sự xung động chúng ta không thể khắc chế, khiến lý trí và lương tri của ta, trong sự xung động, bị che đậy mà mang đến khổ đau và tổn thương. Phật pháp tuy vô biên, ở trước nghiệp lực của con người, hãy còn một cái hạn chế không thể nhảy vượt. Cho nên có rất nhiều bạn bè học Phật, tuy học đầy kinh luận, tuy vào cửa bái thầy tập thiền định, nhưng chỉ cần nghiệp lực một ngày không chuyển biến, thì Phật pháp cũng chẳng thể xuyên thấu nghiệp lực của chúng ta mà khai ngộ minh tánh. Cho nên nghiệp lực tuy đáng sợ nhưng chỉ cần công phu chuyển đổi làm tốt rồi, ác nghiệp cũng có thể lập tức bị đóng chặt ở chỗ sâu xa của tâm linh, khiến nó không thể khởi ra hiện hạnh, mà nhường cho nghiệp thiện đến làm chủ, như thế chúng ta xem đầy bao nhiêu là kinh luận, khiến cho chính mình có thể “chớ nên làm các ác, các điều thiện vưng làm, tự tịnh nơi tâm ý”, một mấu chốt tức là cần niệm nhiều: Nam mô A Di Đà Phật! Nhờ Phật lực ép chế nghiệp lực, niệm Phật càng nhiều, lực niệm Phật càng lớn, lực niệm Phật càng lớn thì nghiệp lực càng thu nhỏ cho tới không còn; nghiệp lực bị ép chế rồi không thể phát sinh tác dụng, tu hành sẽ không có nghiệp lực trở ngại, đồng thời ác niệm một khi khởi lên thì biết, bèn quở trách mà chẳng thể tạo ác nghiệp. Niệm Phật đến khi trong tâm có Phật, lúc miệng chẳng niệm tâm vẫn ở tại niệm, chẳng niệm mà tự niệm, Phật chẳng rời tâm, tâm không rời Phật, ác niệm không từ chỗ nào mà sinh khởi.

Người biết (tin) nhân quả chẳng ước ao, càng không thể oán trách người.

Quả thiện ác ở trong khoảng nhất niệm.

Đức Phật chỉ bày nhân quả, điều rất chủ yếu là muốn chúng ta phàm phu không tạo các ác nghiệp, để tương lai khỏi chịu báo khổ, lúc khổ báo đã đến đối mặt, thì đầu tiên nên liễu ngộ là việc làm ác ngày trước đã đến, mà thảng nhiên tiếp nhận, trả lại nợ nần, như là con cái bất hiếu, gia đình bất hòa, sự nghiệp chẳng thuận, quan hệ con người ác liệt, phá tài, sinh bệnh, uống thuốc đắng, thủ thuật đao cắt... đều là các phương thức trả lại nợ nần.

Như thế làm ác, hành thiện được báo ứng gì? Thế giới ta bà chia ra sáu đường, tức là: trời, A ta la, người, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.

Cõi trời hưởng phước, thọ mạng cũng dài; A tu la phước báo giống như trời, nhưng có tâm sân; loài người có nghèo, giàu, khổ, vui... nói chung khổ nhiều vui ít; súc sinh thì là khổ, chúng ta đều thấy đó, trở xuống một đường khổ hơn một đường.

Hành thiện hợp với đạo trời, sanh vào cõi trời hưởng phước, phước báo hưởng hết rồi, đoạ lạc vào cõi người hoặc súc sinh, hành thiện hợp với nhân đạo lại chuyển sinh làm người, sinh nhà giàu có; làm ác hợp với nhân đạo, sinh nhà nghèo cùng hoặc thấp hèn chướng nạn thọ khổ; hợp với súc sinh đạo thì đoạ lạc làm súc sinh thọ khổ. Trở xuống các loài nên xét biết.

Như thế, thế nào là ác? thế nào là thiện?

Ác là phàm tư tưởng, ngôn ngữ hay hành vi của tất cả chúng sinh tổn hại, trái với luân lý đạo đức, lương tâm, trái lại với pháp luật quốc gia... đều là ác; trái với mười nghiệp thiện tức là ác.

Kinh Vô Lượng Thọ, Phật nói thế nào là năm điều ác?

  • ­ Một là loại nhân dân manh động của chư thiên, muốn làm các ác, chẳng lúc nào chẳng làm như vậy. Kẻ mạnh hiếp yếu, xoay vần đánh nhau, tàn hại giết chóc, đắp đổi cắn nuốt nhau, không biết tu thiện, ác nghịch vô đạo. Sau chịu lấy tội ương tự nhiên đưa đến. Thần minh nhớ biết người phạm không tha thứ. Cho nên có việc: nghèo cùng hạ tiện, ăn xin cô độc, đui điếc ngọng câm, ngu si tệ ác, cho đến lúc luống cuống chậm chạp. Lại có kẻ tôn quý giàu có, tiền của thành đạt, đều là do đời trước từ hiếu, tu thiện tích đức dẫn đến.
  • ­ Hai là nhân dân thế gian, cha con anh em, nhà cửa chồng vợ, đều không nghĩa lý, không thuận khuôn phép, ham muốn quá đỗi, kiêu căng buông tuồng, đều ưa khoái ý. Mặc tâm tự lung càng dối gạt nhau. Miệng và tâm đều khác, lời nói và suy nghĩ không thật. Nịnh xiểm không trung, xảo ngôn dối lừa. Ghét hiền chê thiện, hãm hại oán cuồng. Vua trên không minh. Mặc dù dùng tôi: tôi dưới tự tại, dối lừa nhiều kiểu. Bước qua nên đi, phải biết hình thế. Lúc tại vị không chánh dễ bị dối gạt, vọng làm tổn hại kẻ trung lương chẳng đúng với lòng trời. Tôi dối vua, con dối cha, anh em vợ chồng, kẻ tri thức trong ngoài lại dối gạt lẫn nhau. Ôm lòng tham dục, sân nhuế ngu si. Muốn vun vén chính mình, muốn tham có nhiều. Sang - hèn - trên - dưới tâm đều đồng vậy. Phá nhà mất mạng, không nhìn trước sau. Thân thuộc nội ngoại, ngồi đó mất dòng họ. Hoặc lúc nhà cửa tri thức, bè làng bạn chợ, dân ngu người quê, cùng theo việc họ. Lại lợi hại với nhau, giận thành oán kết. Kẻ giàu có thì lẫn tiếc, không chịu bố thí, ôm giữ tham lam, nhọc tâm khổ thân. Như vậy rốt cuộc, không chỗ cậy nhờ, riêng đến riêng đi, không mộ ai theo, thiện ác họa phước, tìm chỗ sinh ra mạng, hoặc ở chỗ vui, hoặc vào chỗ khổ độc, nhiên hậu sám hối làm sao cho kịp.
  • ­ Ba là nhân dân thế gian nhân với nhau mà sống gởi, cùng ở trong khoảng trời đất. Năm tháng trôi đi thọ mạng không bao nhiêu. Trên có những bậc hiền minh, trưởng giả, tôn quý, giàu có; dưới có những người nghèo cùng, hà tiện, yếu kém, ngu si; giữa có những kẻ bất thiện, thường ôm lòng tà ác, chỉ nghĩ ham muốn nhẫy đầy, phiền chật trong lòng, ái dục loạn xạ, ngồi đứng chẳng yên, ý tham giữ tiếc, chỉ muốn được khống. Trông liếc sắc mịn, trạng thái tà vạy, biểu hiện ra ngoài, vợ mình nhàm ghét, riêng vọng ra ngoài, phí tổn của nhà, việc làm phi pháp. Giao kết tụ tập, khởi binh đánh nhau, đánh đập giết hại, cưỡng đoạt không đạo lý. Tâm ác ở ngoài, chẳng chịu tu nghiệp. Trộm cắp cho được, ham muốn phải làm cho thành việc. Sợ thế lực ép sát bên hông, quy cho vợ con, thích tâm khoái ý, cố sức làm vui. Hoặc đối với thân thuộc, không kiêng dè tôn ti. Trong ngoài nhà cửa, hoạn nạn khổ sở, cũng lại không sợ phép vua lệnh cấm.
  • ­ Bốn là nhân dân thế gian không nghĩ tu thiện; chuyển dạy kéo nhau cùng làm các việc ác: nói hai chiều, nói ác, nói nịnh hót, chiều uốn. Nói gièm sinh giặc đấu tranh lộn xộn, ganh ghét người lành, bại hoại người hiền, đứng một bên thích thú. Bất hiếu song thân, khinh mạn sư trưởng, bạn bè không tin, khó đựơc sự thành thật. Khi tôn quý thì tự cho mình lớn, tự cho mình có đạo. Hoành hành uy thế, xâm lấn đối với người. Chẳng thể tự biết làm ác mà không hổ thẹn. Tự lấy sự mạnh mẽ muốn người kính sợ. Không sợ trời đất thần minh nhật nguyệt, không chịu làm lành, khó có thể giáo hóa. Thi nhau nằm ngửa tự dụng, có thể cho là bình thường, không có lo sợ, thường ôm lòng kiêu mạn.
  • ­ Năm là nhân dân trong thế gian luống ỷ lại lười nhát, không chịu làm thiện sửa thân tu nghiệp; nhà cửa quyến thuộc đói lạnh khốn khổ, cha mẹ dạy răn trừng mắt giận dữ, lời nói bất hòa trái lệ ngược lại, thí như oan gia, chẳng bằng như không con; giữ lấy sự vô phép, đều là các hoạn nhàm chán; phụ ơn trái nghĩa, không có tâm đáp trả. Nghèo cùng thiếu thốn không thể được lại, lỗi lầm mặc tình đoạt lấy, buông tuồng trôi xuôi tản mất. Kể suốt chẳng được gì, dùng của giúp cho, mê rượu ham đẹp, ăn uống không độ lượng, tâm buông lung phóng đãng, đần độn theo sau, chống cự xúc phạm; không hiểu nhân tình cưỡng muốn ức chế. Thấy người có điều tốt thì ghen ghét xấu xa, vô lễ vô nghĩa không chịu hỏi han, tự cho là biết, không chịu hỏi rõ. Lục thân quyến thuộc giúp hay không chẳng buồn nghĩ đến. Chẳng nhớ ơn cha mẹ, chẳng giữ nghĩa thầy bạn. Tâm thường nghĩ ác, miệng thường nói ác, thân thường làm ác, không từng có một điều thiện; không tin Kinh Pháp chư Phật, chư Thánh; không tin làm đạo có thể độ đời được, không tin chết rồi Thần minh lại sinh, không tin làm thiện được thiện làm ác được ác; muốn giết người chơn, đấu loạn chúng tăng, muốn hại cha mẹ anh em quyến thuộc. Lục thân ghét nhơ mong muốn cho nó chết. Người đời tâm ý đều như vậy, ngu si mông muội mà tự cho là trí tuệ, không biết chỗ từ đâu sinh đến, chết sẽ về đâu, rồi cũng sẽ phải chết.

Thế nào là thiện? Tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi, làm việc đều hợp với luân lý đạo đức pháp luật quốc gia không tổn hại đến tất cả chúng sinh, tâm giữ công chánh ưa giúp con người, làm tức là thiện của mười thiện nghiệp.

Kinh Vô Lượng Thọ Đức Phật nói rằng: “... Một ngày một đêm chánh tâm chánh ý, trai giới thanh tịnh, thì hơn ở nước Vô Lượng Thọ làm thiện một trăm năm. Lý do vì sao? Vì cõi nước Phật kia đều toàn các điều thiện, không có mảy may ác. Ở cõi này tu thiện mười ngày mười đêm, thì hơn trong nước chư Phật phương khác làm thiện ngàn năm. Lý do vì sao? Nước Phật phương khác người làm thiện rất nhiều, người làm ác rất ít, phước đức tự nhiên không tạo nhân địa ác. Chỉ ở cõi này ác nhiều, không có tự nhiên, khổ nhọc cầu muốn lại dối ngờ nhau, tâm thân mỏi mệt, uống đắng ăn độc, những việc dữ ác như vậy chưa từng dừng dứt. Nhất tâm chế phục ý, thẳng thân chính niệm, lời nói và việc làm hợp nhau, việc làm chí thành, chỗ nói như lời, tâm và miệng không chuyển đổi, riêng làm các việc lành, không làm các việc ác, đó là món thiện lớn vậy.”

Chúng ta muốn lìa tai khổ nạn, được phước bình an cát tường, thì ngoài việc không làm “ác” ra, phải cần làm “thiện” cho nhiều.

Sáu đường luân hồi là chính chúng ta tạo ra vậy. Nhân nơi mê hoặc mà tạo ra nghiệp, tạo nghiệp rồi chắc chắn phải thọ báo; quả báo thiện ác mảy may không sai. Như muốn vượt khỏi sáu đường luân hồi, thì chẳng nên tạo nghiệp. Không tạo nghiệp rất khó, mà không mê hoặc lại càng khó hơn. Dứt hết hoàn toàn mới có thể ra khỏi ba cõi, vấn đề này không phải một đời mà có thể làm được. Nếu muốn được phước báo nhân thiên thì so ra dễ, Thánh Hiền của thế gian và các tôn giáo đều có thể khiến người làm được; nhưng ra khỏi luân hồi thì người thế gian làm không xong được.

Nhân quả báo ứng bèn là chân tướng của sự thật, như làm rõ sự thật này thì tâm an được ở lý, chẳng oán trời trách người vì tâm đã an rồi. Tâm an thì là định, định có khả năng sinh huệ, từ đây bỏ ác mà hướng thiện, sửa đổi cho vị lai.

8. SÁM HỐI

Tu hành là sửa đổi cho chính hành vi không hợp lý của chúng ta, cũng cần phải trước tiên tìm cho ra nguyên nhân lý do có những hành vi này ở đâu? Ngoài “vô minh” ra, tức là do “tập khí”. Như vậy, chủ yếu của tu hành là ở việc bỏ trừ tập khí. Có thể đem tập khí xấu xa mà sửa đổi, thân - miệng - ý của chúng ta cũng chẳng thể lại có tư tưởng lời nói và hành vi không hợp lý; Cũng vậy, cần phải trừ bỏ tập khí, quyết cần phải biết là nguyên nhân nào dẫn đến cho chúng ta có tập khí xấu xa này? Tìm ra nguyên nhân để rồi tiêu trừ nguyên nhân, nhiên hậu mới có thể dọn trừ được rễ dây dưa của tập khí. Thế này cần phải nương vào công phu “phản tỉnh” và “sám hối”. Phản tỉnh là công việc trước tiên của tu hành, Sám hối là đã tu hành, không có công phu phản tỉnh làm sao biết hành vi của chúng ta không đúng ư? Không có sám hối (sám lỗi trước, hối lỗi sau chẳng làm) làm sao có thể trừ bỏ tập khí? Chúng ta đã biết rằng mục đích của tu hành là cần phải thân - miệng - ý đều không ác, thế này cần phải phản tỉnh, từng lúc phải “hồi quang phản chiếu” (coi lại chính mình), mới có thể phát hiện cái xấu ác, nhưng chỉ phát hiện thôi cũng chưa đủ, quyết cần phải dừng lại tiêu diệt nó, cho nên phản tỉnh và sám hối cùng là trọng yếu.

Như thế nào là phản tỉnh và sám hối? Phản tỉnh là hỏi lại và tự xét, rõ biết chính mình trong quá khứ đã tạo việc ác gì, nhiên hậu đem việc ác bày tỏ ra sám hối. Sám hối cũng tức là nhận lỗi lầm, biết được các việc về trước làm là không đúng, ta cần sửa lỗi, nhiên hậu không nên làm như thế nữa. Trên phương diện sửa đổi, lại cần phải chú ý vấn đề tập khí, những hành vi từ lâu cũng có thể nuôi dưỡng thành thói quen, thói quen đã nuôi dưỡng thành, thường thường không dễ gì một ngày bèn có thể sửa đổi chân chánh được, do đó, lúc tu tập sám hối, sửa đổi lỗi lầm, cần có tâm nhẫn nại và thường xuyên, không thể vì thất bại một hai lần mà nản tâm, thối chí. Người đời nói rằng: “trường thành vạn dặm không phải là xây một ngày xong”, có thể nào nhân thất bại một hai lần mà nản lòng thối chí sao! Song ngược lại đây chính là tâm bệnh của con người, cũng có thể nói là nguyên nhân vốn có của chúng sinh ở mãi nơi luân hồi, không thể giải thoát. Do đó, Cổ Đức vì muốn ngừa trị nhược điểm này của phàm phu, lại nói sám hối quyết cần có tâm hổ thẹn. Vì cho rằng ta sinh ra là con người “vạn vật chi linh” (khí tinh anh của muôn vật) rốt cuộc sẽ tạo ra ác nghiệp không đúng đối với người khác, cũng như đối với chính mình, khó mà hiểu biết được, hổ thẹn không? Có thể nào chẳng sám hối? Từ trong tâm thường sinh hổ thẹn (tàm quý tâm), và sợ cái khổ sinh tử. Như vậy mới có thể giữ gìn tâm nhẫn nại và thường xuyên, không dứt sám hối, cho đến khi tội được diệt nghiệp được dừng.

Con người chẳng phải là thánh hiền, khó khỏi không lỗi lầm, lỗi lớn không có - lỗi nhỏ khó tránh khỏi, trong sự vô ý làm ra, chính mình còn không biết, sau đó không lâu xét lại mới biết là mình phạm sai lầm, có sai lầm thì cần phải sám hối sửa đổi.

Con người thường hay phạm sai lầm mà không tự biết; Nhưng người hiền chân chánh, phạm sai lầm mà biết sai lầm đó, tiến tới một cách mạnh mẽ việc nhận sai lầm mà sửa lỗi mình. Có thể thấy con người phạm sai lầm là điều thường tình, quý là ở chỗ có thể sửa đổi, đó là dũng khí đáng mừng khen! Nếu lầm lỗi mà không tự biết đó là kẻ ngu mê chìm đắm đáng thương xót! Nhưng có người ngược lại, biết rõ sai lầm mà vì các việc mượn cớ lót miệng, hoặc nhân tốt đẹp cho mưu đồ yểm hộ chính mình, xô đẩy trách nhiệm đến người khác, hãy còn mưu toan lời lẽ giảo quyệt, tự tha thứ việc đã sai lầm bèn khó tránh khỏi, đây thuộc về tội ác, không đủ làm phép tắc.

Chúng ta đã biết nhân quả “thiện có báo thiện, ác có báo ác”, nhưng vì có lợi ích tự thân, tập tánh ghét yêu chứa nhóm khiến như vậy, nên còn tạo các nghiệp ác. Nếu đã làm các nghiệp ác mà không biết sám hối, thì một lần lầm lỗi lại một lần càng lầm lỗi, cho nên đã làm ác thì phải sám hối cải chánh.

Sám hối, “sám” là sám lỗi ngày trước, đối với tội nghiệp đã phạm, sanh tâm “đại tàm quý” (hổ thẹn nhiều). “Hối” là sửa đổi quá khứ, tu chỉnh vị lai, lập định dứt khoát chú ý, sửa lỗi tự được mới mẻ, chẳng tái phạm. Sám, nếu có lỗi lầm, cầu xin đối phương rộng thứ bỏ qua, đây là bổn ý của “sám”. Hối tức là đã phạm sai lầm, nên nhận lỗi với đối phương, và nói ra sai lầm đã phạm, đây là bổn ý của “hối”.

Sám hối như trừ bỏ đồ nhơ, có thể trừ bỏ bụi nhơ tội ác trong tâm chúng ta. Chỉ cần tâm sinh niệm sám hối, tội sẽ không trở lại làm tội. Nếu như chẳng chịu nhận lấy sai lầm mà sửa đổi, thì tội nghiệp vĩnh viễn thêm lên ở nơi thân, như bóng theo hình. Sám hối chỉ là làm kiểu mà thôi, không có ý sám hối, cũng không có lòng hồi tâm hướng thiện, tâm kia không ở yên, sau lại làm theo việc ác, làm sao có thể tiêu trừ tội nghiệp!

Người tu hành quyết cần phải từng lúc phản tỉnh lời nói việc làm, ý niệm của mình, để cầu không hổ với mình, không thẹn với người. Nếu không có tâm tàm quý, lời nói việc làm đối với mình không gánh vác nổi, thì tâm này đầy đủ tội ác. Thường ôm lòng phản tỉnh tàm quý, mới có thể hiếu thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, giữ gìn hòa vui trong anh chị em, hoà khí với bạn bè và mọi người.

Nếu chúng ta không sám hối, như thế tội nghiệp của chúng ta tạo tác, sẽ khiến chúng ta đoạ lạc, không biết chừng nào mới hết, mà chẳng biết dừng lại. Tất cả tội ác đều do vô minh vọng tưởng mà sinh ra; nếu có tâm sám hối thường xuyên niệm Phật trong sự tĩnh toạ thì tội nghiệp vốn có giống như sương bị mặt trời trí tuệ tiêu tan, khả năng hối cải quay về làm thiện như ánh sáng chiếu phá ở nơi thế giới tối tăm. Sám hối không nhất định vì lỗi hiện có của mình, cũng là vì đời quá khứ mà sám hối, đồng thời cũng vì tất cả chúng sinh mà sám hối!

“Sám hối” - Nghiệp chướng là việc mà con người vốn có đều có. Con người khởi tâm động niệm thì là tạo nghiệp, nhất định phải sinh ra chướng ngại. Chướng thế nào ư? Là ngăn che bản tánh của chúng ta. Ở trong bản tánh chân thật của chúng ta, có trí tuệ vô lượng, công đức vô lượng; hiện tại trí tuệ, khả năng công đức không thể khởi tác dụng. Nguyên nhân tại sao? Cũng là có chướng ngại. Vọng tưởng, chấp trước cũng gọi là chướng ngại.

Sám hối – Dọn trừ nghiệp chướng đến nay chẳng được, sao lại dám hưởng thụ danh lợi, tiền của, ăn uống, nam nữ... những việc thế gian tham ái ư? Lại tạo ra ương họa mới! “Pháp chỉ” ở trên hội Linh Sơn của Đức Phật: “Sám hối nghiệp chướng, tin sâu nhân quả, tu trì phước huệ, là phương thuốc thần diệu trị được vạn bệnh”. Sám hối có thể khiến chúng ta trong lúc tu hành trừ dứt nghiệp chướng.

Sinh mạng của chúng sinh là thông nơi ba đời, do sinh mạng đời quá khứ đã tạo nghiệp, cảm báo mà có sinh mạng đời này, đã vậy có đời quá khứ, đời quá khứ cũng đã tạo nghiệp. Như đây, nghiệp đời trước đã tạo, tự nhiên cũng nên sám hối thôi. Bởi phàm phu chúng ta không có “túc mạng thông”, không có cách nào biết chính mình ở đời quá khứ tạo những nghiệp ác gì, không chịu sám hối. Chỉ là đời này, đến trước mắt là dừng, các nghiệp ác đã được tạo ra đã qua, ngược lại có thể tìm biết, cũng tức là biết các ác nghiệp tự mình đã tạo, như vậy thì dễ dàng thêm cho việc sám hối.

Nếu còn có những ác nghiệp nhỏ nhặt chưa sám hối, ngay lúc nó hiện khởi ở trong tâm, thì có thể khiến tâm cảm thấy bất an mà chướng ngại cho việc tu hành. Do đó, một người trước khi phát tâm tu hành, ngoại trừ quả báo có thể thấy và sám hối nghiệp tội đời trước ra, cần phải thường thường phản tỉnh rằng: “đời này từ lúc nhỏ thẳng đến ngày nay, tạo ra những ác nghiệp gì? Phàm nhớ lại một vấn đề nào khiến tâm cảm thấy hành vi đó bất an, thẹn xấu xa lâu ngày, lại là ác nghiệp, đều quyết cần phải phát lồ ra sám hối, quyết cần phải sám hối đến khi trong tâm thật bình yên thanh khiết, mới nói là nghiệp tội tiêu mất.

Sau khi đã nói qua nghiệp tội đã nói ở trước, nội tâm lại có thể thanh tịnh, yên ổn, như vậy tu hành, thì không thể lại có nghiệp chướng đến tìm; do đây quyết cần phải cố gắng, giữ gìn cho được sinh mạng sám hối thuần khiết quá khứ này, không có thể khiến nó trở lại cảm nhiễm thói ác, để khỏi trở lại tạo các ác nghiệp. Giữ gìn như thế nào? Trước cần phải đối với tất cả các việc thiện, bất luận là mắt thấy hoặc tai nghe, trong tâm đều phải sanh lòng tuỳ hỉ; đối với việc ác, ngược lại phải ghét như thù oán, tốt nhất là đem tâm an trụ ở nơi “tứ chánh cần”; Tứ chánh cần là:

1. Ác đã sinh, khiến đoạn diệt.

2. Ác chưa sinh, khiến không sinh.

3. Thiện chưa sinh, khiến sinh khởi.

4. Thiện đã sinh, khiến tăng trưởng.

Bốn việc cần thiết chân chánh này tức là đạo lý “các ác chớ làm, các thiện nên làm” (chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành), chúng ta lấy trí tuệ để quán sát, chính là khéo tinh tấn siêng năng tu hành ba học: giới - định - huệ, trừ diệt ba độc: tham - sân - si; đem bốn việc cần thiết chân chánh làm pháp môn trợ đạo để siêng tu khổ luyện, dứt ác sinh thiện.

“Luật nhân quả” nên cùng với “sám hối” một lúc tu hành, càng giúp cho nỗi đau của tâm linh sau khi phạm sai lầm. “Sám hối” không nên dùng làm hành vi giao dịch, bởi vì chỉ cần giao một số tiền cho chùa viện để tham gia pháp hội, thì có thể tiêu được nghiệp tội vốn có ở trong đáy của tâm đã được giữ kín của mình sao? Tiền, không phải là vạn năng, đến pháp hội bái sám là giải quyết vấn đề tâm lý chính mình, rất thực tại là giải quyết phiền não; Thậm chí tiền đã giao, sám đã bái, vận tốt đã đến rồi, kết quả nếu ngược lại khiến người mất đi chỗ mong cầu, ở đó cũng sẽ mất đi tín tâm đối với Phật và Bồ Tát, lại chẳng gieo vào trong nguyện tu thân dưỡng tánh bằng sự nhiệt tình thiết tha.

Tác dụng của sám hối trước Phật và Bồ Tát tức là cần tìm chân tâm và thiện tâm chính ta, vả lại phải cầu mong chân chánh Phật và Bồ tát làm chứng rõ ràng, chứng minh tâm của ta là chơn vậy, thành ý gánh vác việc làm lỗi lầm của chính ta, vả lại không dẫm đạp che dấu. Việc đời này kiếp này có thể giải quyết được thì nên giải quyết, không nên trốn ở trong nhà sám hối với Phật và Bồ Tát, mà trên thật tế, người thù của anh, cứ như vậy, ở một nơi nào đó đau hận việc làm của anh; như nếu là anh rất khó làm được điểm này, thế thì ít nhất đối với người thân cận bên cạnh phải làm trước, trước sửa đổi được cá tánh, làm được một con người có ý nguyện sám hối nhận lỗi với người.

Ngay lúc nhân quả hiển bày năng lực, phương thức anh có thể làm tức là nhận tội của sự chân tâm thành ý, bình thản chân thành với việc làm tội lỗi mà sám hối hành vi của mình, cần phải phát xuất từ nội tâm, ở trước tượng Phật hoặc mặt hướng về phương tây, đem lỗi lầm đã phạm, tất cả nói ra và phát nguyện về sau không tái phạm. Không thể ban ngày tạo ác, ban đêm sám hối, cho là nghiệp tiêu, mà rốt cuộc là tạo nghiệp, mà lại sám hối không thôi.

Ngay khi anh muốn nhận lỗi, ý muốn sám hối (bất luận là lỗi lớn lỗi nhỏ) ngang bằng với việc tu “nhân quả quán”, hành mười thiện nghiệp. Cũng có thể chứng minh nhân cách Bồ Tát của anh đã đầy đủ làm việc khó làm.

Chân tâm hối cải, tâm địa tức được trong sạch, tâm chúng ta nếu không thanh tịnh, không bình đẳng, thì “giác tâm” cũng mất đi, lập tức phát khởi sám hối. Sám hối không phải là bảo người ta hàng ngày nghĩ lỗi đã làm, việc này là sai lầm, nghĩ như thế này tức là trở lại tạo tội, càng nghĩ một lần là lại tạo một lần. Lỗi lầm đã làm biết rồi, về sau không làm lại gọi là sám hối.

Cần làm tới khi nghe lỗi thì vui, trong lòng cảm tạ, cảm ơn, từ trong tâm nhận điều không đúng, chẳng phải là trên cửa miệng nhận điều không đúng, nên phải trong nội tâm sám hối; không phải nghe lỗi thì nóng lên, càng không phải nghe lỗi thì giận.

VĂN SÁM HỐI:

“Đệ tử tên là.... (đem lỗi lầm đã phạm, tất cả nói ra), ngày trước đã tạo các ác nghiệp, đều do vô thuỷ tham - sân - si, từ thân - miệng - ý mà sinh ra, tất cả con nay đều sám hối.”

Phương thức sám hối, trước tiên cần phải sạch cái tâm, tịnh ở ý, chính ở hình, cung kính ở thân, nghiêm túc ở nơi dung mạo, tóm lại là cần cầu thân - miệng - ý thanh tịnh.

9. NĂM GIỚI

Năm giới là giới điều rất cơ bản của bốn chúng đệ tử Phật. Không luận là xuất gia hay tại gia đều phải tuân thủ. Người tu hành “ năm giới không giữ, dứt đường nhân thiên”.

Năm giới, mười thiện nghiệp là tiêu chuẩn đạo đức nhân loại, mỗi điều giới luật đều là “chẳng làm các ác” biện chứng thống nhất “vưng làm các thiện”. Đạo đức Phật giáo là một đường lối rất chú trọng động niệm và hiệu quả, bất luận người khác nói như thế nào và làm như thế nào đều là một lối. Ngược lại, như riêng tư, tự lợi, tạp niệm nảy sinh, thì bất luận người khác nói nhiều, đẩy đưa nhún nhường động tiếng thế nào cũng đều là giả, đây là nguyên tắc cơ bản của đạo đức Phật giáo cân lường.

Năm giới, mười thiện nghiệp của Phật giáo là cùng với luân lý xã hội và pháp luật Quốc gia gần giống nhau, cho nên vấn đề lý tánh nhân từ thuần khiết, là tập trung tinh hoa đạo đức xã hội loài người, mọi người có thể làm được năm giới, mười thiện nghiệp của Phật giáo cũng có thể đạt đến tư tưởng đẹp, hành vi hay, thế nầy quan hệ người và người cũng sẽ hoà mục và an khang. Đạo đức Phật giáo, chủ yếu là vưng làm năm giới, mười thiện nghiệp, khiến cho hoàn thành một con người tốt lương thiện.

Năm giới là: không sát sinh - trộm cắp - không tà dâm - không nói vọng - không uống rượu.

KHÔNG SÁT SINH

Luận Đại trí Độ nói: “Trong các tội nghiệp, sát nặng nhất; trong các công đức, không sát thứ nhất”. Động vật bay lên trời, bơi trong nước, có bản năng sinh tồn của nó, có tự do sinh tồn của nó; Con người tại sao tự tàn sát nhau? Hoặc vì miệng thèm giết nó để ăn, tạo thành “oan oan tương báo” thời gian không thể không kết.

“Không tranh giành” thì chẳng thể sát sinh, lấy tâm bình đẳng mà đối đãi với chúng sinh thì chẳnh thể tranh giành; nếu khởi lên cái niệm ta mạnh hơn người, ta làm hơn người, ta lớn hơn người thì sát sinh cũng là nhân ở nơi tâm tranh chấp mà tác quái, một khi tranh chấp thì sẽ mày chết tao sống... chết và bị thương vô số.

KHÔNG TRỘM CẮP

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy rằng: “A Nan! lại nữa thế giới, sáu đường chúng sinh, tâm không trộm cắp, thì không nuôi lớn sự tương tục sinh tử. Ông tu Tam Muội vốn ra khỏi trần lao, tâm trộm nếu không trừ thì trần lao không thể ra. Dù có đa trí và thiền định trong hiện tiền nếu như không dứt trộm cắp, thì quyết phải rơi vào tà đạo”.

Của không cho chẳng lấy, là nói chẳng chuyên chỉ trộm cắp tài vật của người khác, tức là ở nơi tâm hành sự có loại giống như trộm cắp ấy, cũng gọi là trộm cắp: như lời nói và việc làm dối trá khác là: Phỉnh dụ mê hoặc người không biết, mong lấy lợi dưỡng, tổn người lợi mình, cậy thế lấy tiền của, dùng kế mưu của v.v...

“Không tham” thì không thể trộm cắp, vì sao phải trộm cắp tiền của người khác? Tức là do vì tham. Nếu người không có tâm tham, thì kể ra người ta cho anh, anh cũng không cần, cho nên cần phải đem tâm tham mà trừ bỏ mới không thể trộm cắp.

KHÔNG TÀ DÂM

Đức Phật chế cho hàng đệ tử tại gia, nếu không phải là vợ chồng hợp pháp thì tuyệt đối nam nữ không thể hành dâm – chẳng dâm, là chẳng riêng chỉ hành dâm mà nói, lại còn bao quát niệm dâm khởi lên trong tâm, lời dâm ở nơi miệng nói. Vì dâm là cội rễ của vạn vật sinh tử. Người học Phật tu hành thì cần phải đoạn dứt dâm! dâm không đoạn thì Phật đạo không thành!

“Không cầu” thì chẳng thể có tâm dâm, tâm dâm dục tức là cầu cái sở hữu, nữ cầu người yêu nam, nam cầu người yêu nữ đều là cầu khác tính không chỉ rịêng cầu lại còn “truy” cầu; Giả như không cầu thì dâm thế nào?

Trong kinh Lăng Nghiêm nói “dâm” là giới đầu; Người tu hành không thể đoạn trừ tâm dâm và việc làm dâm, thì không cách nào đoạn trừ cội rể sinh tử. Nhân đây không luận người ta tinh tấn tu hành như thế nào, tuyệt đối không cách nào ra khỏi ba cõi. Dẫu người nầy khéo nói pháp yếu, có biện tài, hiện tiền thiền định hữu lậu, anh ta vẫn là qua lại với ma quỷ, không những Tam muội chân thật (định) không thể hiện tiền, ngược lại lấy trí thiền nuôi giúp tâm dâm khiến dâm tăng trưởng lẫy lừng, rốt rồi khiến mình rơi vào ma đạo. Kinh nói rằng:

“Cho nên A Nan! nếu không đoạn dâm, tu hành thiền định, như đem cát đá muốn nấu thành cơm, trải trăm nghìn kiếp, chỉ là cát nóng. Bởi vì sao vậy? Chẳng phải gốc cơm, mà là cát đá thành vậy. Ông lấy thân dâm, cầu diệu quả Phật, dù cho được ngộ, đều là rễ dâm, cội rễ thành dâm luân hồi ba đường quyết chẳng ra khỏi: Như Lai niết bàn, đường nào tu chứng? Phải khiến thân tâm, cơ dâm đều dứt, tánh dứt cũng không, Bồ đề chư Phật có thể cầu mong. Lời ta nói đây, gọi là Phật nói, không như đây nói, tức Ba tuần (Ma vương) nói”.

Trên đây là đức Phật đối với người không như pháp, không như luật mang lấy dâm mà tu hành, vốn mong tu chơn, ngược lại thành ma nghiệp, sau khi mệnh chung, ắt phải rơi thứ nhứt ma đạo mà Ngài dạy răn phải sáng suốt xét nét thanh tịnh. Bốn chúng Phật tử muốn cầu thành tựu đạo nghiệp đối với lời dạy răn của đức Phật, lý phải tin thọ phụng hành, như vậy mà tu hành.

KHÔNG NÓI VỌNG

Lời nói rỗng vọng là nói mà không có tin, không xuất phát từ hư vọng vậy. Nếu thấy nói không thấy, không thấy nói thấy: lấy hư làm thật, lấy thật làm hư: lấy có làm không, lấy không làm có: Phàm là tâm và miệng không tương ứng nhau, muốn lừa dối với người, đều là như vậy cả.

Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật nói rằng:

“A Nan, như vậy thế giới sáu đường chúng sanh, tuy thân tâm không có báo của sát – đạo – dâm, ba hành nghiệp đã mãn, như nếu đại vọng ngữ, tức là “Tam ma đề” không được thanh tịnh, thành thọ kiến chấp ma, mất đi hạt giống Như Lai”.

Thế nào gọi là đại vọng ngữ? Là tự mình chưa đựơc Bồ đề vọng nói tự mình đã được Bồ đề, mình chưa chứng niết bàn vọng nói đã chứng niết bàn. (chưa được nói là được, chưa chứng nói là chứng), giả Phật lộn xộn mê hoặc chúng sinh đời sau, hoặc giả được quả vị Bồ tát... đó là ma ba tuần, là tạo đại vọng ngữ.

“Không tư riêng” thì không thể dấy lên lời nói vọng. Mọi người nói vọng cũng nhân vì sợ mất đi lợi ích của chính mình, tâm riêng tư tác quái cho nên nói dối lừa người, muốn khiến người không nhận biết mình.

KHÔNG UỐNG RƯỢU

Các loại rượu một ngụm cũng không nên uống, uống một ngụm thì sẽ có ngụm thứ hai, rồi tiếp ba, bốn... khói cũng không nên hít, đồ độc cũng không nên ăn dùng.

Uống rượu là một phương thức giao tế của người hiện đại, nhân uống rượu mà sự việc lầm lạc so ra đều như thế, từ rất sớm hơn hai nghìn năm trăm năm trước trong kinh điển Phật cũng đã rõ ràng nêu chỉ chỗ xấu của uống rượu, ngày nay xem ra chỗ nói đó không phải hư rỗng. Uống rượu xong mà niệm Phật tụng kinh, ngang với không tụng không niệm, không thể không biết.

“Không tư lợi”, thì chẳng thể phạm giới rượu. Người ta vì sao phải uống rượu? Tức là muốn mê loạn thân tâm mình, làm cho nó mơ mơ màng màng, làm cho tự mình thành tiên, thành thần, tiêu diêu ở trên trời. Uống rượu say sẽ chửi người cho rằng là việc muốn làm, lại tăng trưởng dâm dục, lại muốn dùng rượu để giúp cho huyết khí lưu thông nhanh một chút, uống rồi quên đi tất cả, như hít vào rồi chẳng phải mạng khác mà một kiểu phiêu phiêu. Đây đều là tâm tự lợi tác quái, cho nên không uống rượu.

Đức Phật nói: “Ba nghiệp thân - miệng - ý làm ác, chỉ rượu là căn bản”.Uống rượu say loạn, tâm không chừng mực, dùng phung phí vô độ vậy. Đó là cửa của các bệnh, gốc của đấu tranh. Cho nên các loại rượu đều không nên uống.

Đức Phật nói: “Người uống rượu có sáu việc tổn thất: tài vật dể tổn thất, dễ sinh bệnh, ưa thích đấu tranh, chuốt bày tiếng xấu, dễ giận dữ táo bạo, càng lúc càng không có trí tuệ”.

Kinh Ưu Bà Tắc nói rằng: “Nếu lại có người ưa uống rượu, người đó hiện tại thường mất của, thân tâm nhiều bệnh, thường thích đấu tranh, tiếng xấu nghe xa, tản mất trí tuệ, bị xấu nhan sắc và sức lực, chỗ làm đáng trách tất cả, người ta không ưa gặp, không thể tu thiện, đó gọi là báo ác hiện đời của người uống rượu.”

10. MƯỜI THIỆN NGHIỆP

A. PHẬT NÓI KINH “THẬP THIỆN NGHIỆP”

Tín đồ Phật giáo báo ân hoằng pháp cần phải từ mười thiện nghiệp bình thường làm lên. Mười thiện là tôn chỉ lớn, hạnh môn của Phật giáo. Chúng sinh thăng trầm nơi sáu đường, đã thấy sự nhẹ nặng của thiện ác để mà xét đoán: Thánh hiền trải qua ở tam thừa cũng lấy sự cạn sâu tu thiện diệt ác làm chổ quyết định. Do đây thấy rằng pháp “mười thiện nghiệp” là sự cân nhắc thánh phàm cao thấp, kim chỉ nam cho cuộc sống của Phật tử.

Đạo mười thiện nghiệp, đã là căn bản của tất cả thiện pháp, thì bất luận làm người hoặc sinh ở cõi trời, thậm chí cần quả thánh ba thừa xuất thế, đều phải lấy mười thiện nghiệp làm cơ sở, nhiên hậu từng bước từng bước tiến lên, thì có thể đạt đến quả Phật tối cao.

Gốc làm người ở nơi mười thiện, nguồn thiện cũng ở nơi mười thiện, và cơ sở của năm thừa cũng ở nơi mười thiện.

Chúng ta cần phải làm việc thiện, tốt nhất có thể hiểu rõ định nghĩa của thiện, như mà đối với chân nghĩa của thiện không rõ, thì có lúc điểm xuất phát là thiện, nhưng kết quả ngược lại việc làm ra và thiện trái nhau, thực tại nầy thật là không sửa đổi được.

“Thiện” căn cứ sự chỉ bày của Đức Phật cho chúng ta, định nghĩa đó có thể từ ba phương diện nói ra:

1/ Từ sự động niệm của tâm mà nói:

Sự thuần khiết và không thuần khiết của hoạt động tâm lý. Hoạt động tâm lý thuần khiết là không có phiền não xen lộn ở bên trong mà chỉ cùng với thiện tâm: không tham, không sân, không si, tàm và qúi tương ứng, tức là việc thiện. Ngược lại mà nói, hoạt động tâm lý tạp nhiễm không thuần khiết, thường cùng với các phiền não: tham, sân, si, mạn, tà kiến, không tàm, không quí trói buộc nhau, tức là ác; phân biệt thiện – ác, hoàn toàn là xem sự thanh tịnh hay không thanh tịnh của nội tâm.

2/ Từ sự ảnh hưởng của hành vi mà nói:

Chúng ta biết rằng, giữa người và người đều có sự tương quan, nhơn sự biểu hiện của bất cứ hành vi nào đều sẽ ảnh hưởng đến các người khác, từ ảnh hưởng tốt hoặc xấu đó, thì có thể phân biệt thiện hoặc ác. Cho nên sự thiện ác của hành vi chủ yếu là sự lợi hại của ảnh hưởng xã hội mà phân biệt.

3/ Từ sự trước sau của thời gian mà nói:

Người đời một số chỉ coi trọng hiện thực, nắm lấy hiện thực, nhưng Phật pháp giảng rằng: Không những có thời gian hiện tại mà còn có thời gian vị lai, làm người không thể nhìn ngắn ngủi chỉ có hiện tại thôi. Nên còn phải nghĩ đến vị lai, như một khi nghĩ đến vị lai, thì hành vi hoạt động của hiện tại cũng không dám tùy tiện. Hành vi hoạt động của chúng ta là chẳng những đối với hiện tại, mà vị lai cũng đều có lợi ích. Như vậy tức là thiện. Giả sử cho rằng chỉ đối với hiện tại có chỗ tốt đẹp, nhưng đem phương pháp không chính đáng cầu được sự đầy đủ trên cuộc sống hiện tại, mà đối với sinh mạng sống mới của vị lai không những không có chổ tốt đẹp mà ngược lại cảm đến sự đau khổ rất lớn, tức là ác.

Nghiệp tức là hành vi, tức là ước nói động tác của thân tâm, song mỗi một động tác của hành vi thân tâm sau khi qua đi, không phải qua đi thì nói xong, ắc còn có sự lưu giữ lại năng lực; Phật pháp nói là “nghiệp lực”. Cho nên chữ “nghiệp” nầy, ở trong Phật pháp là ước giảng hai phương diện: một là ước nói ở ngay nơi hoạt động, hai là ước nói sau khi hoạt động chỗ lưu lại lực dụng. Nghiệp dụng lúc động làm, trở thành quá khứ rất mau; nghiệp lực giữ lại, trải qua trăm nghìn kiếp đều không mất. Đưa ra ví dụ để nói, như tôi đánh anh một cái, hoặc chửi anh một câu; hoặc đánh hoặc chửi đều là một món nghiệp dụng, đem năng lực đánh chửi này lưu giữ lại, lại là nghiệp lực. Nghiệp lực cũng giống như chủng tử (hột giống) mà người ta nói, chủng tử trước lúc chưa bại hoại, không luận đến lúc nào, chỉ cần có trợ duyên (đất, nước...), tự nhiên sẽ phát sinh ra mầm; “nghiệp” của chúng ta thu chứa ở trong đó, gặp được nhân duyên nào đó, tất nhiên cũng sẽ cảm thọ riêng một mạng sống mới.

Do đây, chúng ta đối với hành vi sở hữu của mình, đều phải tự mình gánh vác trách nhiệm, không phải bởi vì làm rồi thì tính rồi, nếu anh tự cho là xong rồi, nghiệp lực có thể không chịu tha thứ cho anh, đến lúc tương đương, nhất định sẽ tính sổ với anh, quyết không thể dễ dàng buông tha.

Nghiệp, không phải là túc mạng luận, tuy nhiên đối với hiện tại có chỗ ảnh hưởng, ngược lại không thể chi phối. Nghiệp, cũng giống là hạt giống (chủng tử), một ngày kia phát mầm thành thục, thì ắt phải kết quả. Đạo lý của nghiệp rất đơn giản, tức là “phép tắc nhân quả” mà thôi.

Cung kính ghi chép (trích) từ trong “Kinh Phật nói đạo mười thiện nghiệp”:

­ “Pháp này tức là đạo mười thiện nghiệp. Thế nào là mười? Nghĩa là có thể trọn xa lìa: sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói vọng, hai lưỡi, miệng ác, lời nói chiều uốn, tham dục, sân nhuế, tà kiến (ngu si).”

Từ sát sinh đến tà kiến, thông thường gọi là mười ác, hoặc con đường mười ác nghiệp. Nay đây trên mỗi ác nghiệp, lại thêm hai chữ vĩnh ly (vĩnh viễn rời xa), tức là vĩnh ly sát sinh... đến tà kiến, đó tức thành là mười thiện. Cho nên trong đoạn kinh văn này, chúng ta cần phải biết hai chữ rất trọng yếu đó là “vĩnh ly”. Đương nhiên, vĩnh ly kiểu này là bậc thánh mới có thể làm được, không phải chúng ta một hạng phàm phu có thể làm được. Tuy là như vậy, chỉ cần chầm chậm học, thường thường tu, từ nay không làm việc sát sinh... cho đến tà kiến, tóm lại có làm thì có một ngày “vĩnh ly”.

B. THẬP THIỆN NGHIỆP

­ Không sát sinh

- Không trộm cắp

­ Không tà dâm.

­ Không nói vọng

_ Không nói hai chiều

­ Không nói ác

­ Không nói thêu dệt

- Không tham dục

­ Không sân nhuế

­ Không tà kiến (ngu si)

Thế nào gọi là sát sinh? Cắt đứt mạng sống là sát, có tình gọi là sinh; dứt đi sinh mạng của loài hữu tình gọi là sát sinh. Phàm là động vật có sinh mạng: bay trên không trung, chạy trên đất, bơi trong nước, bất luận là lớn hay nhỏ, trên từ chúng ta, dưới từ côn trùng nhỏ nhít, đều không thể có ý sát hại, hoặc khiến sảy thai, tự sát, cũng là sát sinh. Bất luận là dùng phương pháp công cụ nào, dù trực hay gián tiếp đến nỗi khiến cho sinh mạng của loài hữu tình tử vong gọi là sát sinh.

Thế nào là trộm cắp? Của vật công cộng, của vật riêng người, không luận là nhiều hay ít, lớn hay nhỏ, không được xâm chiếm, chưa trải qua sự đồng ý của họ, không cho mà tự lấy, gọi là trộm cắp. Vấn đề trộm cắp trên xã hội, có khi trực tiếp, có lúc gián tiếp, có hình thức hoặc không hình thức. Thí như ăn trộm, ăn cắp, cướp giật là trực tiếp; tham ô nhận hối lộ, chiếm dụng của công, riêng nuốt tiền của của người khác là gián tiếp; trói buộc dối gạt lấy, mạo phạm nhờ đỡ công việc là có hình thức; giả công giúp tư, “nuớc đục thả câu” là không hình thức. Tóm lại, không cho mà tự lấy, hoặc dùng thủ đoạn không chánh đáng mà đoạt lấy tiền bạc của cải, đều là trộm cắp.

Thế nào là tà dâm? Tình nhiễm phóng đãng, giao cấu ô uế gọi là “hạnh bất tịnh”. Ngoài vợ chồng chính thức ra, có bất kỳ hành vi dâm uế nào, làm loạn quan hệ nam nữ, phạm hạnh bất tịnh, thì gọi là tà dâm. Đồng tính cẩu thả giao hợp, tự an ủi cũng thuộc về tà dâm, niệm dâm trong lòng khởi lên, miệng nói lời dâm cũng là tà dâm.

Người tu hành có nam có nữ, thì cần phải đoạn dâm, sự liên tưởng đều không nên nghĩ đến, vợ chồng chia phòng mà ngủ. Tu hành như vậy không dứt được dâm, thì phẩm vị vãng sanh cực lạc cũng không thể cao được.

Không dâm dục, là người tu hành có niệm đầu không dâm dục, như có mảy mún niệm tưởng dâm dục, thì không thể vượt khỏi ba cõi, mà vẫn ở trong luân hồi chịu lấy sinh tử. Ý niệm dâm dục này, tức là cội rễ của sinh tử. Nếu có thể đoạn được nó, bèn ra khỏi ba cõi mới có thể chứng quả thành Phật.

Một bệnh sắc dục cũng đã nêu lên bệnh chung của người đời. Chẳng riêng gì người trung căn, hạ căn bị sắc mê hoặc, mà người thượng căn nếu không tự giữ gìn chiến đấu, thiếu cẩn thận ở niệm, thì khó khỏi bị sự mê hoặc. Thử xem từ xưa đến nay bao nhiêu hào kiệt vượt trội, cố gắng làm thánh hiền, chỉ do phá không được cửa này, trở lại làm kẻ hạ ngu thấp hèn, lại còn vĩnh viễn rơi vào đường ác, bởi vì khó thắng số. Người tu hành vốn là ra khỏi sinh tử, nếu không gắng trừ bệnh này, thì cửa sinh tử khó ra khỏi. Tức là pháp môn niệm Phật, tuy mang nghiệp vãng sanh, nhưng nếu tật dâm kết chặt thì là cách xa với Phật, khó ở việc “cảm ứng đạo giao” vậy. Phải cố gắng trừ sạch tập khí ác nghiệp, mới có thể có phần tự do.

Người tu hành không nên có tư tưởng tình ái, càng không thể có hành vi tình ái, đối với bất kỳ người nào không nên sinh ra tâm tình ái; có tình ái thì rễ khổ không dứt, có tình ái thì sinh tử không thể mất. Có người nói “Con người là động vật có tình cảm, cho nên có tính dùng sắc chất”. Bởi do thế này nên cần tu hành.

Giả như anh có thể buông bỏ một cách triệt để tất cả sắc dục, như thế thì một cái xong tất cả đều xong. Anh hùng hảo hán trong thiên hạ cho đến kẻ tu hành, không biết bao nhiêu đều bị cửa sắc đẹp làm mê. Những vấn đề trên thế gian và phiền não cũng gốc là ở đây.

Đối với việc sắc tình, chưa thấy thì không nên nghĩ, thấy thì không nên tưởng, đã thấy thì không được loạn. Nếu xem, nghe, nghĩ, tưởng, tâm niệm khởi lên, tánh hiền xung động, vượt qua nghĩ tưởng và xung động, thì lửa dục đốt thân, muốn không phạm giới cũng không thể được. Cho nên chưa thấy thì không nên nghĩ, thấy rồi, nghe rồi thì không nên tưởng, càng không được có động tác, nếu tâm niệm khởi lên tức liền quở trách, thì không muốn vào chỗ si quấy. Nếu sinh lý xung động, thì nghĩ tưởng lúc tức giận hiện tướng hung ác, lúc bệnh hoạn hiện tướng suy bại, lúc chết hiện tướng khó nhìn, từng việc quán sát chắc chắn. Như thế chỉ cần cấu uế đờm tửa, lông tóc răng móng, xương thịt máu mủ, mọi thứ gớm nhờm giống như tử thi, dơ như nhà xí; ai đối với vật này mà sinh tham ái? Tham ái đã dứt, niệm dục tiêu mất, tâm địa thanh tịnh; không nên nghĩ tới sắc đẹp của nó, chỉ nghĩ đến chỗ xấu xa của nó, như vậy tánh dục không thể xung động được.

Dâm dục dễ sinh ra sự đố kỵ, chê bai người khác, chiếm hữu, vướng mắc, ân oán, tranh giành quấy rối... những tranh chấp và phiền não, ngăn ngừa thì đẩy lùi đi được nhiều phiền phức, vui được yên ninh. Dâm dục dễ phát sinh quan niệm gia đình, gia quyến; từ đó sinh ra niệm quan hệ, riêng tư, trói buộc, gánh vác, kết tình, làm phương hại cho việc tu hành. Ở thế giới này, dục lạc là cội rễ luân hồi của chúng ta nhập thai.

Thế nào là lời vọng? Miệng phải mà tâm trái, dối gạt không thật, điên đảo trắng đen, lộn xộn thị phi, nói chung đều là lời nói vọng.

Thế nào là lời nói ác? Đem lời thô bạo, ác độc, tổn thương người, khinh người, làm khốn đốn người, hơn người, lời ô uế... để chửi mắng nhục mạ người, làm tổn thương lòng người, lời trù yếm rủa quở, khiến người phát sinh áy náy lo lắng trong lòng, không thoải mái, sanh giận đều là ác khẩu. Đối với súc sinh cũng không nên chửi nó.

Thế nào gọi là nói lưỡi hai chiều? Tạo lời bịa đặt sinh sự, xúi dục thị phi, khiêu khích ly gián, ly gián cảm tình giữa người và người, khiến người kia – đây không hòa, gây chuốt oán; đó gọi là nói lưỡi hai chiều (đâm bị thóc, thọc bị gạo).

Thế nào gọi là lời nói thêu dệt? Nói lời dâm đãng tầm thường, nhơ uế không chánh, khêu gợi tình cảm, lời không ra gì, lời không ý nghĩa, lời ngon tiếng ngọt, cái đáng phê bình ngược lại khen đẹp, cái việc tốt đẹp lại đem phỉ báng, mỗi nơi một khác không hợp với nghĩa, những lời như thế đều gọi thêu dệt. Ba bốn người bạn tụ lại một chỗ, cao hứng bàn luận, vui cười đắc ý rất dễ phạm phải lời thêu dệt, phải nên cẩn thận.

Con người rất dễ bị phạm về nghiệp miệng. Cho nên đối với chúng sinh có lời làm tổn thương hại người, ngược đãi, ô uế, thô bạo, ác độc, nói lời dối gạt, nói khoác lắm lời, miệng tâm trái nhau, đều không nên nói; dẫu bị người cho là kẻ câm, cũng không nên làm tổn hại đến khẩu nghiệp.

Thế nào gọi là tham dục? Tham dục còn gọi là tham ái tham luyến. Chúng ta không chỉ yêu thương thân thể sinh mạng chính mình, mà còn yêu thương các món tài sản quyền thế, danh dự, người thân của mình, tham luyến không xả được. Không có muốn cho có, có rồi lại càng muốn có nhiều càng tốt; tại sao đều muốn có? Tại sao đều không đủ? lòng tham không bao giờ đủ, đó là tham dục. Vì thoả sự ham muốn chính mình, chỉ cần đạt được mục đích, bất chấp thủ đoạn, công lý thế nào, nhân tình thế nào quên hết.

Tâm tham khởi lên, ở ngay nơi lúc khởi tưởng về trước không có nó, không phải là sống tốt đẹp sao, vì sao quyết phải phí sức tranh cầu? Nghĩ vậy tâm sẽ tiêu mất.

Thế nào gọi là sân nhuế? Sân nhuế là phát giận, thịnh nộ, oán hận. Có chút ít không như ý thì phát giận, não phiền không thoải mái, trong lòng ôm lấy điều không vui, oán đây hận kia. Đối với người, sự việc, vật, lúc mà gặp mặt tất cả nghịch cảnh không như ý, thì sự giận ở bên trong phát ra bên ngoài, đó gọi là sân nhuế. Sân nhuế đối với người tu hành có chướng ngại chẳng nhỏ, có câu rằng: “Một việc ác phá chín việc thiện”.

Đang lúc gặp việc không như ý phải biết lúc cơn giận nổi lên, không nên nói, cũng chẳng ức chế, cũng không nên phát tiết ở trên thân người khác. Còn nói, giải quyết không xong vấn đề; ức chế thì sẽ làm tổn thương đến thân thể; phát tiết trên thân người khác thì tìm cái nhỏ mọn đối với anh, phát tiết trên thân thể họ, tức là anh làm tổn thương đến họ, đối với mình thì cũng chuốc lấy điều không tốt. Phẫn nộ là chất độc, thân thể cần phải chuẩn bị kháng cự, trong máu mủ đầy cả chất độc, nếu không được phát tiết ra ngoài, như thế sẽ chịu khổ, vì sự phẫn nộ đó tồn tại mà chẳng thể giận! Nay đây xin đưa ra một phưong pháp: Chầm chậm hít dài một hơi, ngước lên trời từ từ thở ra, như vậy làm vài lần, hoả khí liền tiêu mất; hoặc tìm một chỗ, một tay nắm cú đánh một cái, hoặc vẽ trên miếng giấy, hoặc vào trong phòng đánh bị bông, hoặc cái gối... để tiết lần khí giận. Phương pháp tốt nhất là: coi như gió bên tai, coi như đang biểu diễn ca múa, như nó đang tự chửi mắng nó, không nên lý sự với nó, không khởi tâm động niệm, khí sẽ không sinh khởi (không giận) được.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Một niệm tâm sân khởi, trăm ngàn cửa chướng ngại mở”, “Lửa sân nhuế có thể đốt cháy rừng công đức”.Có thể chẳng sợ sao?

Thế nào gọi là tà kiến (ngu si)? Ngu si không phải là ngu thật, là có một chút thông minh nhỏ; bởi vì tư tưởng lầm lạc (tà kiến), tất cả kiến giải hoặc tập tánh không hợp lý, dẫn đến sự điên đảo trên hành vi, không rõ biết phải quấy, mặc tánh vọng làm, không rõ đạo lý, không tin chánh đạo, không tin nhân quả báo ứng, không tin Phật, Bồ tát, thần quỷ. Tự cho là phải, cuồng vọng tự đại, trong mắt không có người, kiêu căng ngạo mạn đó là ngu si.

­ Thập thiện nghiệp - không trái phạm, mới là thập thiện nghiệp (mười nghiệp thiện); trái phạm rồi thì là thập ác nghiệp (mười nghiệp ác). Tóm lại, phàm là việc tổn hại chúng sinh thì thân không nên làm, miệng không nên nói, ý không nên nghĩ.

Sau khi biết đạo lý của mười thiện nghiệp, thì không nên giống như kiểu trước kia làm việc theo chỗ muốn của tâm, ưa gì làm nấy; trước khi làm việc hay nói cần phải nên nghĩ là có tổn hại đến chúng sinh hay không, có vi phạm đến mười thiện nghiệp hay không?

Người tu hành phải tin Tam Bảo, biết nhân quả, giữ năm giới, làm mười nghiệp thiện và nhẫn nhục, đây là việc người tu hành quyết cần phải đầy đủ. Đức Phật do đó dạy bảo cho tín chúng cái việc hợp tình nhập lý, trừ phi người không muốn làm điều tốt, những việc này làm tiêu chuẩn phép tắc mới thành sự răn ngừa của con người.

Chúng ta làm con người không thể không nói đến luân lý, đạo đức và lương tâm. Mà mổ xẻ đạo đức hay không cũng là ở trên sự đoan chánh hay không của hành vi. Người có hành vi đoan chánh thì làm mười nghiệp thiện, người không có hành vi đoan chánh thì làm mười nghiệp ác. Một cái hành vi của nhân dân tốt là đoan chánh, huống chi chúng ta là Phật tử, là người tu hành.

Xa lìa vĩnh viễn mười nghiệp ác, nhất định sẽ được công đức rất nhiều.

Kinh chép rằng:

­ “Này Long Vương, nếu lìa SÁT SINH, tức thành tựu được mười pháp lìa não phiền. Thế nào là mười? 1. Đối với các chúng sinh khắp ban cho sự không sợ sệt. 2. Vì chúng sinh khởi tâm đại từ. 3. Vĩnh viễn xa lìa tất cả tập khí sân nhuế. 4. Thân thường không bệnh. 5. Thọ mạng dài lâu. 6. Thường được phi nhân thủ hộ. 7. Không có ác mộng ngủ thức vui vẻ. 8. Diệt trừ oán kết, các oán tự giải. 9. Không sợ đường ác. 10. Mệnh chung được sanh lên trời, đó là mười việc.

­ “Lại nữa Long Vương, nếu lìa TRỘM CẮP tức được mười món tín pháp có thể giữ gìn. Thế nào là mười? 1. Tài sản chứa đầy, vua, giặc, nước, lửa không phải là con yêu, không thể làm tản mất. 2. Nhiều người yêu thích. 3. Người không khinh rẻ. 4. Mười phương khen ngợi. 5. Không buồn tổn hại. 6. Tiếng lành đốn khắp. 7. Ở trong chúng không sợ. 8. Tiền tài, sinh mệnh, hình sắc, sức lực đều an lạc, biện tài đầy đủ, không khuyết thiếu. 9. Thường ôm lòng bố thí. 10. Mệnh chung được sanh lên trời; đó là muời.”

­ “Lại nữa Long Vương, nếu lìa TÀ HẠNH, tức được bốn món đức trí đáng ca ngợi. Thế nào là bốn? 1. Các căn điều hòa và thuận nhau. 2. Vĩnh viễn xa lìa ồn ào. 3. Người đời ngợi khen. 4. Vợ chẳng lấn quyền. Đó là bốn.”

­ “Lại nữa Long Vương, nếu lìa NÓI VỌNG tức được tám pháp chư Thiên khen ngợi. Thế nào là tám? 1. Miệng thường thanh tịnh thơm mùi hoa Ưu Bát. 2. Làm các điều thế gian tin phục. 3. Phát lời nói chân thành chứng thật, trời người kính yêu. 4. Thường dùng ái ngữ (lời khả ái) an ủi chúng sinh. 5. Được vui thù thắng nơi ý, ba nghiệp được thanh tịnh. 6. Lời nói không sai lầm, tâm thường hoan hỉ. 7. Phát lời tôn trọng, trời người phụng hành. 8. Trí tuệ thù thắng, không có thế lực nào chế phục. Đó là tám.”

­ “Lại nữa này Long Vương, nếu xa lìa LƯỠI HAI CHIỀU, tức được năm pháp không thể hại. Thế nào là năm? 1. Được thân bất hoại, không thể hại được. 2. Được quyến thuộc bất hoại, không thể phá hoại. 3. Được niềm tin bất hoại, thuận với gốc vậy. 4. Được phép hành bất hoại, sở tu kiên cố vậy. 5. Được thiện tri thức bất hoại, không đảo điên vậy. Đó là năm.”

­ “Lại nữa Long Vương, nếu lìa ÁC KHẨU, tức được tám món thịnh nghiệp. Thế nào là tám? 1. Nói không trái với chừng mức. 2. Nói đều là lợi ích. 3. Nói ắt hợp với lý. 4. Nói từ ngữ hay tốt. 5. Lời nói được thừa lệnh. 6. Nói ra thì được tin dùng. 7. Nói ra không cần bàn cãi. 8. Lời nói đều được yêu thích. Đó là tám.”

­ “Lại nữa này Long vương, nếu lìa LỜI NÓI THÊU DỆT, tức được thành tựu ba món quyết định. Thế nào là ba? 1. Nhất định làm cho người trí yêu thích. 2. Nhất định có thể dùng trí như thật để trả lời. 3. Nhất định có oai đức tối thắng đối với người – trời, không có hư vọng. Đó là ba.”

­ “Lại nữa này Long Vương, nếu lìa THAM DỤC, tức có thể thành tựu năm món tự tại. Thế nào là năm? 1. Ba nghiệp tự tại, các căn đầy đủ. 2. Tài vật tự tại, tất cả oán tặc không thể cướp đoạt. 3. Phước đức tự tại, từ tâm ưa muốn, vật đều đầy đủ. 4. Vương vị tự tại, của báu cũng như vật, đều phụng hiến dâng. 5. Vật có được hơn cả mong cầu hơn cả trăm lần thù thắng do lúc xưa không lẫn tiếc vậy. Đó là năm.”

­ “Lại nữa này Long Vương, nếu lìa SÂN NHUẾ, tức được tám pháp vui tâm. Thế nào là tám? 1. Không có tâm tổn hại não phiền. 2. Không có tâm sân nhuế. 3. Không có tâm giành giật. 4. Có tâm nhu hòa chất trực. 5. Được tâm từ của bậc thánh. 6. Thường làm lợi ích, an được tâm chúng sanh. 7. Thân tướng đoan nghiêm. 8. Vì bởi hòa nhẫn nên mau sinh cõi phạm hạnh (thanh tịnh). Đó là tám.”

­ “Lại nữa này Long Vương, nếu lìa TÀ KIẾN, tức được thành tựu mười pháp công đức. Thế nào là mười? 1. Được ý vui chân thiện, bạn bè chân thiện. 2. Tin sâu nhân quả, dẫu có hy sinh thân mạng quyết không làm điều ác. 3. Chỉ quy y Phật mà không phải các trời nào khác. 4. Trực tâm, chánh kiến, trọn xa lìa tất cả lưới nghi tốt xấu. 5. Thường sinh về nhân thiện, không quy về các đường ác. 6. Vô lượng phước huệ lần lữa tăng trưởng thù thắng. 7. Trọn lìa tà đạo, làm nơi Thánh đạo. 8. Không khởi thân kiến, xả các nghiệp ác. 9. Trụ nơi vô ngại kiến. 10. Không đọa lạc ở các nạn. Đó là mười.”

“Thập thiện nghiệp” nên cùng với “luật nhân quả” và “sám hối” đồng thời tu hành, sau khi rõ biết luật nhân quả thì không thể phạm mười thiện nghiệp; nếu phạm mười thiện nghiệp tức phải dùng sám hối càng giúp cho tâm linh sau khi phạm sai lầm mở được nỗi đau.

Giữ miệng, nhiếp ý, thân không phạm, như vậy hành giả được độ sinh.

Có thể nương nơi phương pháp mười thiện nghiệp thực tiễn là sáu pháp “Ba La Mật”, tu được sáu pháp Ba La Mật, mới càng thù thắng hơn.

11. SÁU PHÁP BA LA MẬT VÀ BỐN PHÉP NHIẾP

Ngoài ba học là: Giới - định - huệ, cộng thêm: bố thí - nhẫn nhục - tinh tấn, hợp thành sáu độ, cũng gọi là sáu độ Ba La Mật (sáu pháp Ba La Mật).

Chữ Ba La Mật là tiếng Phạn, nghĩa là “Đáo bỉ ngạn” (đến bờ bên kia). Người qua sông cần phải nương nơi thuyền bè mới vượt qua giữa dòng để tới bờ bên kia; người học Phật ở bờ sinh tử luân hồi, vượt qua dòng ở giữa là phiền não, đến bờ bên kia tịch tịnh Niết Bàn. Sáu pháp Ba La Mật thì có thể vượt qua biển khổ sinh tử luân hồi, đến được bờ bên kia giải thoát: Niết Bàn.

Hàng Bồ Tát của Đại thừa Phật giáo vì thành tựu Phật đạo tối hậu, quyết cần phải thực tế bước lên sáu pháp Ba La Mật. Mỗi một người tu hành học Phật, đều cần phải phát “tâm Bồ Đề”, đầu tiên đều cần phải tự mình đầy đủ thực tế, tích cực làm cho được hành vi: “tạo phước cho nhân loại, lợi ích cho chúng sinh”, mới có thể đạt được đầy đủ cho chính mình, chỉ muốn ngóng trông tìm cầu thì phiền não, thất vọng, đau khổ càng nhiều. Vì cần đạt được dục vọng chính mình, tự nhiên sẽ bất chấp mọi thủ đoạn đối với bên ngoài để tham cầu tất cả, do đó, cũng tạo nên nghiệp ác rất là nhiều, dẫn khiến phiền não, thất vọng, đau khổ tiếp tục đến; tóm quy một câu nói: đều là vì danh lợi hư huyễn không thật, phiền não thống khổ mang lại, cội gốc sanh tử mang lại. Song pháp môn “Lục độ Ba La Mật”, chính là Đức Phật vì chúng sinh giải thoát phiền não thống khổ, khiến con người đạt được cảnh giới lý tưởng an lạc: Niết Bàn; Đồng thời khiến con người thẳng đến thăng hoa cuộc sống tinh thần; Pháp môn này tu hành viên mãn sáu món, tự lợi lợi tha, thành công sự nghiệp.

Sáu pháp Ba La Mật: Bố thí - trì giới - nhẫn nhục - tinh tấn - thiền định - trí tuệ.

Bố thí có thể giải thoát độ được tâm “xan tham” của thân tâm. Trì giới có thể giải thoát độ được “tà hạnh” của thân tâm. Nhẫn nhục có thể giải thoát độ được “sân hận” của thân tâm. Tinh tấn có thể giải thoát độ được “giải đãi” của thân tâm. Thiền định có thể giải thoát độ được “tán loạn” của thân tâm. Trí tuệ có thể giải thoát độ được “ngu si” của thân tâm. Khiến người đạt được cảnh giới giải thoát “thật tướng vô tướng”. Cũng tức là: 1. Vô ngã tướng; không phải ngã là một cá nhân rất sai lạc và cứng cỏi, không phải chỉ biết có ngã mà không biết tâm trạng của người khác. 2. Vô nhơn tướng; trong cuộc sống hằng ngày, không có quan niệm cảm giác điểm đối lập người và ta. 3. Vô chúng sinh tướng; trong quá trình sinh hoạt, không thọ trở lại các món ái dục, dục vọng mê mờ, si ám, trói buộc, tạo các món nghiệp ác, thọ các món khổ, mà cuộc sống an ninh tự tại. 4. Vô thọ giả tướng; không đem sinh mạng ngắn ngủi tạm bợ hiện thời cho là vĩnh hằng, không đem sinh mạng vô thường hiện đời cho là thế giới trường cửu. Tìm đến mà phá trừ “ngã chấp, pháp chấp” của con người, đạt được cảnh giới: từ - bi - hỉ - xả, ngã - pháp cả hai đều không.

A. BỐ THÍ (vưng làm các điều thiện)

Trong đại thừa Phật pháp, vì sao bố thí được kể là đầu của sáu pháp Ba La Mật? Bởi vì bố thí là một hành vi có thể thăng hoa nhân tính, nó có thể phát sinh năng lực của sự vượt qua (gọi là ĐỘ); đem sự nhỏ mọn, cố chấp đóng kín, tật đố, bi quan mà vượt qua, đến bờ bên kia của sự nhiệt thành, thoải mái, rộng rãi, tri túc và giàu có.

Bố thí tức là phát tâm Bồ Đề, rộng lợi ích tất cả chúng sinh, giải thoát khổ nạn của chúng sinh, giúp cho chúng sinh an lạc.

Mục đích của bố thí: thương xót chúng sinh, vì khiến chúng sinh an lạc. Không ở việc mong cầu, không mong báo đáp, không ở nơi rộng thu lấy tiếng tốt xa bay.

Bố thí (làm thiện) cần phải thành tâm, không được phân chia đối tượng, oán thân, kia đây, ôm lòng nặng đây nhẹ kia, bố thí thế này thì không phải là bố thí.

Bố thí không khó, khó ở chỗ đạt được cảnh giới “thể của ba luân đều không”. Ba luân đều không là: không có cái “ta” bố thí; không có “người” thọ của bố thí; cũng không có “vật” được thí.

Bố thí tức là “thí xả”, vấn đề thí xả có nhiều phương diện, và chẳng cuộc hạn ở nơi nắm tiền bạc tài vật mà đưa ra. Tức là dùng trí huệ, học vấn, hoặc thể lực, năng lực của mình tuỳ thời tuỳ chỗ đều có thể giúp đỡ cho người cần chịu giúp đỡ.

Bố thí chia ra: tài thí, pháp thí và vô uý thí.

­ Bố thí tài (tài thí), đem năng lực tài sản của mình mà thí cho. Không chỉ là đem ra một ít tiền quyên giúp chùa chiền hoặc nhà nghèo khó, mà là cần phải ở trong sinh hoạt hàng ngày, mỗi niệm mỗi niệm vì người khác, không phải vì tự kỷ.

­ Bố thí pháp (pháp thí), đem Phật pháp giáo hoá dẫn dắt chúng sinh, khiến nhân đó mà được độ. Phàm là người khác muốn biết, muốn học tập, chỉ cần ta biết, ta có thể, thì nhiệt tình dẫn dạy họ. Không điều kiện, không kể trả công; nếu là có giá thay thế, thu phí dụng... như thế không phải là bố thí. Cho nên bố thí pháp không nhất định giảng kinh, nói pháp.

­ Bố thí không sợ sệt (vô uý thí), cứu độ khổ nạn cho chúng sinh, nên lấy tinh thần an ủi giúp đỡ, khiến họ xa lìa lo lắng, không sợ không hãi, trừ khỏi sự bất an.

Lúc thân tâm ở chúng sinh bất an, sợ sệt, lo âu, có thể giúp họ tiêu trừ được sự lo sợ, bất an của họ.

Bố thí là giữ thiện tâm, làm thiện hạnh. Thế nào là thiện? Tức là tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi, làm việc hợp với luân lý đạo đức của xã hội, luật pháp của quốc gia, không làm tổn hại đến tất cả chúng sinh, tâm giữ công chính, vui đối với việc giúp đỡ người, tức là thiện.

Giữ tâm làm thiện cần có tâm lợi ích chúng sinh, tâm ý cần chân chính thiết thực, lượng sức mà làm, bố thí bởi lòng từ tốt đẹp. Giả như nói ta không có trí tuệ lại không có năng lực, càng không có của tiền vật chất, làm sao mà thí? Ở nhà hiếu thuận cha mẹ, bên ngoài tôn thầy kính lão, hiếu đễ trung tín, kính trên hòa dưới, tâm giữ chân thành, hiền hậu, lấy sự ôn hòa nhẹ nhàng, nhân từ đáng mến, diện mạo hòa vui, thái độ cởi mở đãi người tiếp vật, rất ít xem đến thành công của người ta, hoặc làm việc thiện có thể sanh khởi tâm tuỳ hỉ, khen ngợi người khác, nhà người có việc xấu cần nên an ủi họ, đối với kẻ mất chí hướng nên nói lời khích lệ, đối với người buồn đau nói lời an ủi, như ở trên đường bắt gặp vỏ cây giấy vụn... kiểm tra nó, những việc này chịu khó động tay, kịp thời phục vụ lạc quan, đều có thể làm, không phải là thí cho bao nhiêu tiền, bao nhiêu vật mới là làm thiện. Chỉ cần giữ tâm thiện mới là thiện, không phải là làm được bao nhiêu thiện mới là thiện.

Chỗ làm được ít trên tiền tài, có thể mỗi tháng bố thí mười phần trăm chỗ được; chỗ làm được nhiều thì có thể bố thí nhiều, làm việc cúng dường tam bảo, in (giúp) kinh sách, phóng sinh, cứu giúp nạn gấp, kẻ nghèo, người bệnh, người cần giúp đỡ.

Đối với việc thí xả tài vật (hành thiện) cho người, đừng còn có một chút tâm hư vinh dứt không được, ôm giữ lấy tâm kiêu mạn, tự đại, tật đố, phải hoàn toàn phát tâm chân thành, đồng tình từ nội tâm. Như anh bố thí được một vạn đồng, có người khác chỉ bố thí được một trăm đồng, như thế anh sẽ cảm thấy chính anh so với người kia, người bố thí một trăm đồng, anh rất là to lớn. Có tưởng pháp kiểu này sẽ sinh ra tâm lý kiêu mạn tự đại, việc làm thiện của anh sẽ cùng với sự kiêu mạn xen lộn với nhau rồi. Ngoài việc bỏ tiền ra rồi, chúng ta phải chăng cũng nên xét nét hiểu động cơ tâm lý thái độ lúc làm thiện của chúng ta, có phải là chân chính có thể phát sinh ra công năng của “Ba La Mật” hay không? Hay là khiến cho việc làm thiện của mình ngược lại mà trở thành một cái duyên nhiễm, bất tịnh, tâm tham danh cầu công đức của thế tục đó là “nhiễm”, khiến cho người bố thí và người thọ thí đều không cách nào được đại lợi ích chân thành.

Sau khi bố thí lại sinh tâm hối hận, hoặc khoe việc làm thiện của mình, đây không phải là bố thí tốt nhất. Sau khi bố thí hoan hỉ trong lòng, vả lại không đem việc thí xả của mình để mà nhận lấy đối tượng thí xả, và đồ vật được thí dính mắc trong lòng, đây mới là bố thí đỉnh cao.

Chỉ cần lấy sự bố thí của tâm chân thành, dẫu là mười đồng, cũng hơn là công dức của trăm vạn đồng mà không chân thành. Bố thí không có tâm chân thành là vì cầu lấy công đức hoặc được danh tốt rộng rãi, dù cho bố thí mấy mươi vạn đồng cũng chẳng được công đức mấy mươi đồng.

Đại phàm nghĩ thiện làm thiện, người thường phần nhiều biết làm, muốn làm, nhưng nếu chẳng thể “tịnh không” ngã kiến, ngã chấp, ngã tham, ngã hận, ngã dục, ngã tư (riêng)... chứa nhóm thành kiến, thì gặp việc thường tình thấy trước mắt nhất là tâm riêng tư (ngã tư) làm trọng, nhân đầu mối tình cảm dấy động mà việc làm và chí nguyện trái nhau, nhân tu dưỡng chẳng đủ mà xử trí không thoả đáng, cái biết và việc làm khó đem mà phối hợp, chứa nhóm lại thường sanh khốn đốn buồn lo, ham muốn riêng tư thường trở ngại việc thiện, vọng niệm tăng thêm phiền não, cho nên nhờ “không quán” giúp cho việc tu dưỡng.

Niệm Phật cần tịnh tâm tịnh ý, xử sự cần phải tịnh tâm, đương nhiên mục đích của bố thí cũng phải cần từ trong tâm xả mà cầu tịnh tâm, xả được thì tịnh, không thể xả được thì nhiễm. “Chấp trước” là kẻ địch lớn của sự tu hành. Sau khi bố thí anh nên “tướng lìa tâm lìa”, không nên ôm giữ trong lòng sự tình đó, tâm mới có thể lìa, đây mới là ‘bố thí của vô tướng”. Nếu như anh làm việc bố thí nhiều năm, ở trong tâm vẫn còn một mực chấp trước công đức, như thế thì nên phải cẩn thận kiểm thảo trạng thái của tâm này.

Làm thiện, trong trăm việc thiện “Hiếu” là trước nhất, không hiếu thuận với cha mẹ, không thể nói là làm thiện. Làm người, con trai hay gái, phải nên phụng dưỡng kính thuận cha mẹ. Hiếu thuận cha mẹ mà chỉ lấy cơm áo, tiền bạc để lo là chưa đủ đâu. Hầu hạ mẹ cha cần phải cung kính, phải nhẹ nhàng, một lời nói một việc làm đừng khiến cho cha mẹ phải thương tâm khó lòng, cần phải làm cho cha mẹ sinh tâm hoan hỉ, việc chính đáng cha mẹ làm không nên ngỗ nghịch, cha mẹ dè răn không được trái ngược, dắt dẫn cha mẹ tin Phật, học Phật tu hành mới là báo đáp ơn cha mẹ chân chính.

Bỏ người nhà cuộc sống gian khổ, không đoái hoài mà đi làm thiện, chẳng được công đức.

Tu thiện như thế chia ra có: Chân thiện - giả thiện, dương thiện - âm thiện, thị thiện - phi thiện, bán thiện - mãn thiện, đại thiện - tiểu thiện, nan thiện - dị thiện.

Những món thiện này mỗi cái đều có mỗi đạo lý, ắt cần phải tiến tới mà giải rõ, chẳng như vậy, làm thiện mà không rõ lý, thì tự khoe mình làm được việc thiện, làm được công đức gì, như thế biết rằng không phải làlàm việc thiện, mà kỳ thật tạo hành vi xấu, uổng phí khổ tâm, không được chút tốt đẹp nào!

Thế nào gọi là chơn thiện – giả thiện?

Phàm làm việc có ích đối với người tức là chơn thiện (thiện chân chánh); chỉ cần làm lợi riêng mình, làm thiện như vậy tức là giả thiện (thiện giả dối). Làm thiện mà không có sở cầu, thiện mà lợi người mới là chơn thiện, như thế sợ rằng chửi người đánh người cũng kể là chơn thiện. Giả như chỉ vì lợi ích chính mình,tức khiến cho anh cung kính người khác, lễ nhường người khác, dùng của tiền thí cho người khác, giúp đỡ người khác cũng gọi là giả thiện. Cho nên gọi là loại người cố ý nói tốt, tạm gượng, dèm xiểm dối lừa đó vậy.

Tu hành trọng yếu nhất là xuất phát từ sự chân thành mà không có sở cầu, giữ tâm lợi ích xã hội quốc gia, làm cho tất cả chúng sinh tạo phước, làm thiện không cần báo đáp, không lộ bày dấu vết, việc thiện như thế là “chơn thiện”; làm việc thiện vì đại chúng xã hội, tất cả chúng sinh tạo phước mà mình còn muốn sự báo đáp tương đương, hoặc mục đích lợi ích nào đó, mưu đồ có chỗ được, đây là trong cái thiện có xen lộn với cái ác (thiện không thuần chất), không phải là chơn thiện. Thiện mà muốn người thấy biết, không phải là “chơn thiện”, ác mà sợ người biết mới là “đại ác”.

Thông thường con người là phàm phu mắt thịt, tục tình và tâm địa của họ không sạch sẽ, tức là vọng tưởng chấp trước còn rất nhiều, không có huệ nhãn, Phật nhãn, nhìn không rõ sự thật chân tướng. “Nhận thiện là ác, cho ác là thiện”, thiện ác đảo điên, đây cũng gọi là mê hoặc điên đảo, người thế này ở thế gian lại rất nhiều. Thế nào là chơn thiện? Chúng ta cần phải khảo sát cho rõ ràng từ tong tâm địa, mới biết mình hành thiện hay không. Thiện ác ở tâm địa, chứa thiện nhiều, lập công to đều là tu trên tâm địa, thuần tuý là lợi cho người giúp cho đời, không có lợi cho mình hay tâm riêng tư.

Thế nào gọi là dương thiện - âm thiện (Thiện bày ra ở bên ngoài - thiện ẩn ở bên trong)?

Phàm làm việc thiện mà người ta biết, thì là dương thiện; làm thiện mà không bị người ta biết thì gọi là âm thiện. Việc thiện của anh làm mọi người đều biết, người người nhìn thấy khen anh tốt, thì chỉ có thể rộng thu loại tiếng khen (danh dự), Khen tốt tức là phước, chính phủ biểu dương (anh là người tốt, làm được rất nhiều việc tốt), quả báo đều báo rất rõ ràng. Cho nên chư vị nên hiểu rằng, không luận là làm bao nhiêu việc thiện, bất tất phải để cho người khác biết, thì việc thiện vĩnh viễn chứa ở trong đó, mà không cầu báo hiện khởi, gọi là “tích đức”. Người khác biết rồi, thiện sẽ không chứa được, làm bao nhiêu thì báo trả bấy nhiêu, về sau quả thiện không còn chút nào, ngược lại tạo rất nhiều ác. Hành thiện mà không bị người khác biết, “âm đức’ trời ắt ban cho đức dày. Do đó dương thiện và âm thiện thì chỉ chia phân giữa sự sáng suốt và ám độn thôi.

Thế nào gọi là thị thiện - phi thiện (thiện phải - thiện quấy trái)?

Đã làm việc thiện tại sao lại có việc phân ra “thị thiện” và “phi thiện”? Phàm người làm thiện không luận sự hiện hành mà luận sự dẫn đến cái xấu, không luận nhất thời mà luận dài xa, không luận một thân mà luận thiên hạ. Trước mặt thấy là thiện, trên thực tế chẳng là thiện. Đối với một người là thiện, đối với nhất thời là thiện; mà đối với quốc gia xã hội là phi thiện, đối với đời sau là phi thiện. Cho nên đối với thiện – ác không thể chỉ xem hiện hành trước mắt, cần phải hiểu được ảnh hưởng đối với quốc gia xã hội, đối với hậu thế lâu xa về sau, là mặt chính hay là mặt trái. Hiện hành giống như thiện, kỳ thật kết quả đủ để hại người, thời in tuồng là thiện mà thật thì phi thiện, kết quả đó có ích cho đại chúng, thì tuy là chẳng phải thiện mà thật là thiện.

Nêu lên một ví dụ có thể hiểu thông, như không nên khoan dung tha thứ được, khen ngợi người khác quá đáng, vì giữ tín nhỏ mà sai lầm đại sự, sủng ái con cái mà dung dưỡng đại hoạn... đều gấp mong chúng ta lắng tịnh kiểm thảo mà cải tiến.

Thế nào gọi là bán thiện - mãn thiện (thiện một nửa - thiện đầy đủ)?

Bố thí trăm nghìn vạn đồng, nhưng tâm ý ngược lại không chân thành; Bố thí một hai chục đồng, nhưng tâm ý chân thành; Lấy đây làm thí dụ, thì là trăm nghìn vạn đồng kia là “bán thiện”, một vài chục đồng đó là “mãn thiện”. Thí như đem của tiền mà giúp đỡ cho người khác, không phải ở nơi tiền nhiều hay làm nhiều, mà là thành ý nơi chân tâm, hết lòng hết sức mà làm, tức là mãn thiện; Nếu bố thí của tiền mà lòng xót xa, thi ân mong báo đáp, hoặc có mưu đồ, thí tiền mà không quên được, như thế dẫu cho thí trăm nghìn vạn đồng, cũng chỉ có một nửa thiện mà thôi!

Thế nào gọi là đại thiện - tiểu thiện?

Lập chí làm việc thiện lợi ích cho chúng sanh, quốc gia xã hội, thì thiện tuy nhỏ mà công đức lớn, nếu chỉ vì lợi ích cho mình hay gia đình, như thế tuy lớn mà cũng là nhỏ.

Thế nào gọi là nan thiện - dị thiện (Thiện khó làm - thiện dễ làm)?

Cũng giống như tu thân khắc kỷ, cũng cần khắc phục từ chỗ khó khắc phục, thì lỗi lầm nhỏ cũng không thể phạm. Như mười năm tích góp nhịn ăn nhịn tiêu, trả nợ thay cho người khác, cứu sống vợ con người ta, ở trên nói việc dốc túi giúp nhau, nghĩ tưởng người khác, vì việc người khác nghĩ tưởng, đây là vấn đề tốt có thể nói là khó xả mà có thể xả, việc thiện này rất khó làm mà rất đáng quý, mà phước cũng rất là hậu. Người có tiền tài thế lực, làm việc thiện rất là dễ, dễ mà không chịu làm, tức là thiện dễ làm mà không làm thì giàu mà bất nhân.

Bàn về cái thiện, lấy “chủ nghĩa công lợi” là điểm xuất phát, làm bất kỳ việc thiện nào, trước tiên xét cái gốc thành công hiệu quả tác dụng, quả báo và danh lợi..., xác nhận sự thu hoạch được, rồi mới làm; hạng người này không phải bình thường vô cớ cho anh của tiền, họ nhất định có mưu đồ rồi.

Thiện - thương người như mình; do hạng người này đã phá trừ được “ngã chấp”, cho nên có thể quên mình, mà đạt đến cảnh giới thương người như mình, nhưng vì họ chưa phá trừ “pháp chấp”, cho nên lúc làm việc thiện, trong tâm vẫn còn có quan niệm trừu tượng, vì họ mang lấy danh - tướng, cho nên chưa làm được sự tự tại tuyệt đối.

Thiện - rất hoàn mỹ; làm thiện không những không cầu đáp trả, mà còn không phân biệt người và ta, thậm chí cũng không gánh vác bất kỳ một danh – tướng nào. Tâm từ bi của hạng người này là không có điều kiện mà không có hạn lượng. Vì lúc họ hành thiện, ngay cả một chút danh tướng mang lấy cũng không có, cho nên rất chân thành, rất tự nhiên, cũng rất là vui vẻ, đây tức là cả ba vòng cái thể đều KHÔNG (tam luân thể không).

Người bước đầu học Phật hành thiện, thì khó tránh khỏi sẽ có chấp trước, đợi sau khi công phu tu dưỡng thuần thục, thì có thể vượt qua sự trói buộc và dẫn dắt của danh tướng.

Lớn hay nhỏ của thiện nghiệp đều xem nơi gốc trình độ trong sạch chân thành của tâm con người mà định. Như tâm có thể chân thành trong sạch đến cực điểm (tức là dừng ở nơi chí thiện), không có một chút cặn bã, tức là đại thiện. Nếu tâm không trong sạch, dừng ở nơi tính toán gọi là tiểu thiện. Ví như người giàu có bố thí tiền làm việc thiện, hết sức xuất ra mấy trăm vạn đồng, nếu có một chút ơn huệ bố thí nào mong được báo đáp dù là tiếng khen, tâm cầu phước làm công đức đó, nhân thiện cũng không chân thành thiết tha, như có một người khác, của tiền ít ỏi, chỉ có thể thí vài mươi đồng, thuần tuý phát ra từ tâm từ bi, không xen lộn mảy may một ý niệm khác, thiện nghiệp của người này so với người kia, người mà xuất ra mấy trăm vạn đồng, thì người này lớn hơn nhiều. Nhưng cái tâm rất chân thành thanh tịnh này nói đến rất khó. Cho nên tâm thiện chơn thiết, một việc làm có thể muôn việc thiện.

Thiện mà có tướng tức chẳng phải chí thiện. Cho nên nói rằng người dừng được ở nơi chí thiện, vô niệm vô tướng, mà từng giờ từng phút vẫn không lìa tâm đại bi, không xen lộn tâm tư kỷ, tức là “không giữ ở nơi tướng, như như chẳng động” ở trong kinh đã nói.

Hơn muôn việc hành trì của Đức Phật dạy, lấy bố thí làm thứ nhất. Thí tức là xả, tức là làm thiện; người hiền minh ở trong xả sáu căn, ở ngoài xả sáu trần, tất cả đều có thể xả, thông thường con người đương nhiên làm không được cảnh giới này, thế thì làm thiện không nên mong muốn làm lợi mình mà phải mong muốnvì lợi người, lợi chúng sinh thì bên trong có thể bỏ trừ căn tánh hạ liệt so kè riêng tư, bên ngoài có thể giúp người nạn gấp, thì đem công vốn có đối với việc làm thiện mà tu trì. Tuy nhiên ban đầu sẽ cảm thấy miễn cưỡng, nhưng lần lần thì sẽ cảm thấy tâm lý yên ổn.

Nói rõ bố thí là giúp đỡ người khác, thật ra vì mình, bởi vì anh làm cái gì thì thu hoạch cái ấy. Của tiền anh bố thí càng nhiều, chính anh cũng càng có thể thăng hoa cuộc sống tinh thần, “chánh nhân” là làm việc thiện bố thí rồi, do đây chỗ được mới là giàu có chân chánh (chánh quả); cho nên nói là bố thí có phước hơn thọ dụng, tiến đến mới có thể hiểu rõ một cách thuận lợi và “trì giới” một cách thực tiễn.

Cái mà anh giao ra có hình hay vô hình mà sự thu hoạch nhìn không thấy; anh bố thí rồi một khoảng thời gian, như con cái trái lời, thì đã ít phiền anh, nhà người cũng lễ độ đối với anh, làm việc cũng dễ dàng nhiều... Anh nói: tiền của tôi không đủ xài lấy đâu bố thí? Nếu như anh có thể tiết kiệm một chút, tính nhập để mà xuất, lấy một gia đình mà dự toán, trừ những phí dụng tất yếu trong sinh hoạt ra, cái gì đang dùng thì dùng, phải nhón gọn lại thì nhón gọn, không phải là những khoảng phí tổn tất yếu mà không được dùng, như là không có việc gấp ra ngoài nên đi xe buýt, chẳng nên đi taxi... Như vậy không những có tiền để bố thí, mà còn dư tiền để cất giữ! Anh bố thí mấy trăm đồng, số mục tuy nhỏ, nhưng đây là tiền nhịn ăn nhịn dùng, công đức đó lớn hơn đại phú ông quyên giúp hơn mấy trăm vạn đồng. Thông thường con người không có khả năng có thể có nhiều tiền để bố thí, nhưng có thể giữ thái độ xử thế “chớ vì thiện nhỏ mà không làm”, thiện trong một niệm tức là tu hành. Con người, không có tâm bố thí, tức khiến giàu có trở lại cũng chưa chắc thấy được khả năng bố thí. Không thể xả được, nắm đưa ra một phần của tiền cho người khác, vật ngoài thân, đều xả không được cho người, cần bàn gì đến Bồ tát tâm!

Có người thường nói: “Đợi lúc ta có tiền mới bố thí làm việc thiện”. Bố thí không hạn cuộc ở nơi cầm tiền đưa ra, tức là dùng trí tuệ hoặc thể lực của mình, tuỳ thời đều có thể giúp đỡ người cần giúp đỡ, mà tuỳ duyên bố thí. Bố thí ở nơi tâm thương xót, tâm đồng tình và tâm cung kính.

Tài thí có thể độ người khốn đốn ách nạn, không thể độ người thoát ly sinh tử. Pháp thí có thể độ huệ mạng của người, có thể siêu xuất luân hồi. Lúc bố thí tâm giữ bình đẳng, lúc tài thí nên giữ tâm cứu độ, không nên giữ tâm thi ân; lúc pháp thí, phải giữ tâm giúp đời, không nên giữ tâm danh lợi.

Bố thí cũng tức là giữ tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt; phàm không có tâm, lời, việc lợi ích chúng sinh, đều không giữ, không nói, không làm.

B. TRÌ GIỚI (không làm các việc ác)

Tu hành trọn dứt sinh tử, ngoài vấn đề trì giới ra chẳng có thể nói lời dứt sinh tử, dứt sinh tử thì phải giữ gìn cấm giới cửa Phật! Trì giới trước tiên cần phải biết nhân quả, thì mới biết vì sao cần phải trì giới? Trì giới tức là khiến hành vi không vượt qua quy củ, không tạo các món ác nghiệp.

Ý nghĩa của giới tức là “dừng ác sinh thiện”, dừng mà trừ bỏ tội ác của mười ác, năm nghịch, giúp lớn thiện pháp gọi là nghĩa giới.

Đức Thích Tôn lúc sắp Niết Bàn, ngài A Nan thưa hỏi Đức Phật lúc còn tại thế, tôn Phật làm thầy, sau khi Phật nhập diệt lấy gì làm thầy? Đức Phật dạy rằng: “Lấy giới làm thầy”.

Cho nên chúng ta là đệ tử của Phật, hành trì giới luật, mới có “đạo sư”, nếu không có giới hạnh, cũng như không có thầy truyền.

Trong luật tạng của Phật giáo, liên quan đến giới tướng của luật học rất nhiều, tại gia có: ngũ giới, bát quan trai giới, thập thiện giới... xuất gia có tỳ kheo giới... Tóm lại,đều lấy năm giới làm căn bản mà trì cho được tịnh thì những cái nhánh cành (chi mạt giới) cũng dễ hành trì vậy.

Công đức của trì giới, thế tục nói rằng: “Thọ giới dễ, trì giới khó”, xác định là có lý. Nhưng cũng ở nơi thiện căn của chúng ta mà có cạn - sâu, quan hệ nghị lực của tín tâm có hay không? Nếu như đệ tử của Phật giới luật nghiêm tịnh, thì ai chẳng kính ngưỡng? Chư Phật, Bồ Tát hãy còn hộ niệm, huống gì trời, rồng quỷ thần và con người? Luật Tứ Phần nói “trì giới có mười món công đức”:

1. Đầy đủ chí nguyện, có thể giữ gìn cấm giới, thì thân tâm thanh tịnh, huệ tánh sáng suốt, tất cả trí - danh - thệ - nguyện, không món nào là chẳng đầy đủ.

2. Như Phật mà học, Đức Phật lúc ban đầu tu hành, lấy giới làm gốc, mà được chứng quả, hay trì giới kiên cố, đó cũng là học như Phật.

3. Trí không huỷ hoại, giới hạnh thanh tịnh, thân miệng không lỗi, phàm người có trí vui ưa khen ngợi, mà không chê bai.

4. Thệ nguyện không thối lui, kiên trì cấm giới, cầu chứng bồ đề, thệ nguyện tinh tấn, được bất thối chuyển.

5. An trụ hạnh chân chính, kiên cố giữ cấm giới, cầu chứng được Bồ Đề, ba nghiệp thường thanh tịnh, mà ở nơi chánh hạnh, an trụ không xả bỏ.

6. Xả bỏ sinh tử, thọ trì cấm giới, thì không sát, đạo, dâm, vọng các nghiệp, có thể lìa xa sinh tử, trọn thoát quả khổ luân hồi.

7. Ưa thích Niết Bàn, kiên trì cấm giới dứt các vọng tưởng, cho nên nhàm chán khổ sinh tử, ưa thích vui của Niết Bàn.

8. Được tâm không trói buộc, giới đức được tròn sáng, tâm thể được trong sạch, tất cả nghiệp duyên phiền não thảy đều giải thoát, không có hoạn trói buộc.

9. Được tam muội thù thắng, trì giới thanh tịnh, tâm không tán loạn, thì được thành tựu tam muội, định tánh hiện tiền, siêu các hữu lậu.

10. Không thiếu của cải tín tâm, trì giữ giới luật, đối với Phật pháp đủ tâm chánh tín, thời có thể sinh ra tất cả công đức, pháp và tài không hết.

Phải biết rằng giới của Phật không thọ thì thôi, thọ thì không nên huỷ phạm, không phạm thì thôi, phạm thì rốt cuộc đoạ lạc. Cho nên người trì giới không nên vì “danh” mà động, không bị “lợi” dụ, không vì uy vũ khuất phục, thân này có thể nát, giới này không nên phá, cho nên gọi là: giữ giới như đỉnh cao núi thái, đứng một mình chót vót mà không thể động, đây mới là trì giới.

“Giới”, là một quy luật, cách luật; trong Phật giáo có giới luật, cũng có thể nương pháp mà làm; trì giới vốn là phần trọng yếu của tín đồ Phật giáo tu hành, cho nên gọi “giới là gốc của Bồ Đề vô thượng”. Lúc Đức Phật còn tại thế, ngài dẫn dạy hàng đệ tử rằng: “lấy giới làm thầy, giới còn thì pháp còn”. Nói rõ tánh trọng yếu và địa vị “giới”. Trì giới là duyên tăng thượng. Giới như trăng sáng lớn, hay tiêu tối tăm của đêm dài. Lấy giới làm thầy, nên cần tôn kính giới, cần siêng hộ giới, tôn trọng chánh pháp, làm các việc thiện.

Giới, giúp cho chúng ta tu thành thiện pháp, phòng ngăn việc quấy, dừng dứt cái ác, là đạo ngăn cấm cho thân tâm, khiến thân tâm không làm việc tổn hại chúng sinh, cũng tức là nghĩ ác, làm ác của mỗi kiểu, mỗi loại từng chút đều không nên có, không nên làm.

Cần được tất cả thiện pháp, thì quyết phải cần trì giới, vì tất cả thiện pháp thanh tịnh chỗ có, đều ắt phải bắt đầu từ giới luật. Cho nên trì giới chỉ là một thủ đoạn, phương tiện mà thôi, không phải là mục đích. Song nguyên nhân của trì giới chính là thông qua mình lề lối trang nghiêm, mới có thể đả phá, bỏ trừ được tất cả tậc chứng của bản thân, triệt để mở bày giải thoát mê hoặc của tất cả ngoại cảnh, mà đạt đến Niết Bàn. Giới cũng giống như pháp luật của quốc gia. Quốc gia có pháp luật, mọi người tuân thủ pháp luật, xã hội mới có thể tốt đẹp, hòa bình, an lạc. Cho nên nói rằng “giới mà không giới”.

Giới là dẫn dạy chúng ta tránh sao để khỏi phạm lỗi lầm, và cảnh tỉnh chúng ta nếu vượt qua phạm vi giới luật, phải chịu sự báo ứng của nhân quả. Giới không phải là dùng để trói buộc người tu hành. Là giống như pháp luật của quốc gia, là muốn chúng ta chẳng nên phạm, nếu phạm rồi, thì sẽ phải chịu sự khống chế, khiến cho anh phải chịu sự báo ứng của thân hiện tại.

Giới, không những biểu hiện quy củ mô phạm của hành vi tình cảm đối với con người mà còn biểu hiện quy củ mô phạm của sự thật và tư tưởng đối với con người.

Cuộc sống ngày thường của chúng ta tuỳ tiện một câu nói, một việc làm có thể khiến chúng ta cao hứng, cũng có thể khiến chúng ta giận dỗi, đều là do người khác nắm giữ chúng ta, ngay cả ưa, giận, buồn, vui cũng đều không có cách nào đối trị, tu hành làm sao có sự thành tựu!

Đệ tử Phật cần phải khéo hộ giữ giới luật, không như vậy thì ở nơi giới pháp tức khiến có sự rò rỉ mà lọt mất, cũng có thể khiến cho hành giả trở lại nơi biển khổ sinh tử đoạ lạc luân hồi không thôi, đây là tánh trọng yếu của giới luật, người có tâm học Phật tu hành không thể không xem trọng giới luật.

Giới, là đình chỉ cái ác, thì tại sao là ác? Phàm là bồng bột ở nơi luân lý xã hội và lương tâm đạo đức, trái phạm pháp luật quốc gia, tức là ác; tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi làm tổn hại chúng sinh, tức là ác, trái phạm mười thiện nghiệp tức là ác.

Trì giới lấy sự “nhiếp tâm” làm gốc, thân và miệng tuy không phạm giới mà tâm buông lung, chẳng gọi là trì giới, ắt cần phải thu nhiếp tâm ý, thân và miệng cố không phạm, vọng niệm cũng không sinh, mới gọi là trì giới. Trì giới tức là thủ phép, giữ quy củ, giữ trật tự. Không chỉ là giữ năm giới, mười nghiệp thiện.

Nhiếp tâm không động như gió ngừng sóng lặng. Nghe được thấy được cái gì tốt, cái gì xấu đều không mong muốn. Một khi muốn thì tâm liền động, chẳng thể yên tịnh, không tịnh thì chẳng thể định, không định thì huệ không phát.

Người bước đầu nghe Phật pháp, phần nhiều sanh tâm sợ sệt, nói rằng: “ái ái da, Phật pháp nghiêm quá! Thế này cũng phạm giới, thế kia cũng phạm giới!”; cho nên hãi sợ, chẳng chịu thọ giới, chẳng chịu trì giới. Nếu trong lòng không giữ tâm riêng tư tự lợi, không giữ niệm tâm tổn hại chúng sinh, có gì mà sợ lắm vậy! Pháp luật quốc gia nhiều như thế, anh không phạm luật, pháp quan làm gì được anh, anh không phải là sống tự do tự tại sao? Trì giới, thọ giới, có gì mà sợ lắm vậy? tức là sợ anh không muốn làm người tốt, nên mới sợ thọ giới! Cách thường nói, sáu đường chúng sinh là đồng đẳng đối đãi cũng còn tốt, tức là khổ – vui không phải một kiểu; nếu học Phật mà không trì giới, một khi mất thân người, rơi rớt trong ba đường ác chịu khổ, thế mới đáng sợ! Trì giới chính là “thuốc kim đơn” cứu pháp thân huệ mạng của chúng ta. Nếu hiểu rằng sinh tử có số phần đã định, đó là con ma cháu ma. Nếu không cam tâm đoạ lạc trong ba đường ác, thì nên cẩn thận trì giới! Giới vốn không dễ trì, vì không chạy theo thế tục, nên phát không được tâm trì giới. Trì giới cũng giống như rèn sắt, nung rồi nung, đập rồi đập, bỏ những sái vụn (sái vụn tức là tập khí) thường thường đưa vào lửa, thường thường đập rèn... đâu phải làm một cái là xong sao? Ngồi dưới tam bảo của Như Lai, đều không ăn thịt, ngay lúc ban đầu không phải là không muốn ăn đâu! Nhưng tập lâu rồi không ăn được. Nếu tâm niệm một khi sinh ra tức liền quở trách, như rèn sắt đánh hết những sái vụn. Tất cả đều là từ từ mà mài luyện, thọ không được miễn cưỡng thọ, trì không được miễn cưỡng trì, chẳng sợ trì không được mà chỉ sợ không phát tâm. Chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, đưa chung ra không phải e dè chúng ta phạm giới, nhưng các thần hộ giới, họ thì không dung cho người phạm giới. Phạm nhiều không bằng phạm ít, phạm ít không bằng chẳng phạm. Chư Phật, Bồ Tát từ bi với chúng ta, tự chúng ta không từ bi với mình.

“Thọ được giới”, thì cần phải nhận rõ vấn đề “trì giới”. So như anh không sát sinh, anh muốn là không thọ giới, anh không sát sinh thì là không tạo lỗi xấu, đành vậy, nhưng anh cũng chẳng tạo công đức gì khác, anh lại không cứu người, anh có công đức gì? Những việc anh thọ năm giới, anh không sát sinh, anh cũng có công đức trì giới. Ngược lại mà nhìn, nếu là người không thọ giới, giết người rồi tức là một tội báo, anh thiếu người ta một mạng, tương lai sẽ phải trả người ta một mạng. Anh giết con vật mà ăn, tương lai người ta sẽ đem anh ra giết thịt để mà ăn, đây là bình đẳng; nhưng không có tội phá giới. Nếu là thọ giới rồi, sau khi anh bắt vịt để giết thịt ăn rồi, đời sau anh bị biến thành vịt bị người ta giết ăn, ở đây anh còn thêm một tội phá giới. Tội phá giới thì càng lớn nhiều, cho nên trì giới tức là thế này, anh trì được ổn định, công đức rất là lớn.

Trong vấn đề phạm giới, điều rất tệ hại là phỉ báng pháp. Ví dụ như Phật pháp là giả, vấn đề huỷ báng này chúng ta chẳng nên, nhưng chúng ta vẫn cứ huỷ báng. Anh nói theo người khác, nói kinh điển nào là giả, hiểu rõ người nào là thiện tri thức, có người chê bai người khác, anh theo nơi cái nghe phụ hoạ nói người khác là thiếu công đức; đây đều thuộc về vấn đề huỷ báng. Khoe khoang không khác gì là tăng thêm sự huỷ báng, giữ trong lòng không nói ra là giảm ít sự huỷ báng, tội của sự huỷ báng rất là nặng.

Đối với giới, người thọ giới rồi nếu làm việc xấu thì thảm hại hơn nhiều so với người chẳng thọ giới. Cho nên chúng ta thọ giới rồi không thể không hiểu rõ về giới. Cần giữ gìn không phạm. Giới bị phá rồi, anh cũng như vật bị lủng lọt. Như cái bát bị lủng, đổ nước vào một hồi sẽ chảy mất hết. Cho nên “kiên trì giới luật”mấy chữ này phải ráng ghi nhớ lấy trong lòng.

Không giữ cấm giới, thì chẳng thể giữ tâm, không tu trí tuệ, buông lung ý niệm, chỉ cầu danh tốt, không thuận lời dạy đạo, chẳng chịu siêng năng ưa chuộng nghĩa độ đời.

Nhưng mà giới luật của Phật giáo rất nhiều, như là Tỳ kheo giới, Tỳ kheo ni giới... rất cơ bản là năm giới, chúng tại gia trì năm giới mười thiện nghiệp.

Trì giới quyết cần phải không thời khắc, tuỳ thời tuỳ chỗ đều nên phải sinh khởi chánh niệm (niệm chánh đáng), quyết cần phải dứt khoát đủ niệm đầu và lý tưởng chân chánh, nên lấy đại từ và đại bi làm nguyên tắc, do đó ở trong tình huống xấu ác niệm không theo đó mà sinh khởi, tự nhiên có thể ngăn dừng ý nghiệp; đã không có ý nghiệp, tức không có thân nghiệp và khẩu nghiệp, ba nghiệp tức được thanh tịnh.

C. NHẪN NHỤC

Nhẫn là tâm có thể nhẫn, nhục là cảnh được nhẫn. Tức là nhẫn nại tất cả khổ đau, chịu được sự khinh khi lăng mạ, không tranh đấu với người khác. Thường tình rất là khó nhẫn, chẳng gì bằng bị hiếp đáp nhục nhã, nhục mà nếu có thể nhẫn, thì nhẫn với cái khác so ra cũng dễ làm được. Đối với sự nhục mạ gia hại của người khác, không sinh tâm sân hận, gọi là nhẫn nhục. Nhẫn nhục cũng là nhẫn nại, không luận làm công việc gì, đều cần có lòng nhẫn nại.

Nhẫn nhục: đối với việc lợi dưỡng, suy tàn, chê bai, khen ngợi, xứng ý, quở trách, khổ não, vui vẻ – tám việc ấy đều để ra bên ngoài, đối việc trái ngược tâm tư, đều an tâm nhẫn chịu, tức gặp người chửi mình, đánh mình, thậm chí giết mình, nên giữ lấy sự báo ơn ở nơi tâm Bồ Tát, xem những việc này, dùng để tiêu trừ nghiệp chướng đời trước của ta, giúp nhân duyên cho ta thành Phật, lại nữa Bồ Tátcũng chẳng phải giả trau chuốt diện mạo bên ngoài, bướng bỉnh chịu lấy sự ăn thiếu thốn, để rộng chứa danh nhẫn có thể so sánh.

Pháp môn nhẫn nhục, từ cạn đến sâu có năm việc không đồng:

1. Sanh nhẫn:

Tức là mỗi khi bị nỗi nhục đến, không cách chạy trốn, không cách chống cự, chỉ nên kiên cường một lòng nhẫn nại với nó, nhưng tâm lý cảm thấy khó thọ nhận, đau khổ mười phần, cho nên gọi là sanh nhẫn.

2. Lực nhẫn:

Chúng ta đối với nỗi nhục khi nó đến, không để cho người khác bàn bạc, dùng sức khả năng rất lớn, lui một bước, nhường ba phần, đem nó đè ép xuống, một lòng xưng niệm danh hiệu Phật, nhờ sức từ của danh hiệu Phật, đem tâm phẫn hận mà an định, cũng giống như đè bình hồ lô trên mặt nước, chẳng thể buông tay, một khi buông ra thì hồ lô lập tức nổi trở lại, nên gọi là lực nhẫn.

Hai việc nhẫn trên đây gọi là sự nhẫn

3. Duyên nhẫn:

Ngay lúc nỗi nhục hiện ra, chúng ta dùng trí tuệ một mực “hồi quang phản chiếu” (chiếu rọi lại tự thân tâm mình), tu phép quán nhân duyên. Chín chắn mà nghiên cứu vì sao vô cớ lại chịu nhục, bị đòn, bị chửi mắng, trong đó nhất định có những nguyên nhân. Bị ngừơi hiếp đáp làm nhục đều là nhân duyên đời trước mà quả ác bây giờ cảm chiêu lấy, nên đời này theo nghiệp mà thọ báo. Là cho ý tưởng thọ báo trở thành ý tưởng trả nợ, tự nhiên lấy nỗi nhục khó có thể nhẫn thọ, ngược lại là thọ một cách thuận tiện, tâm tình thoải mái, không sinh sân hận, cho nên gọi là duyên nhẫn.

Người xưa nói rằng: “có tâm bao dung thì đức mới lớn, không tham muốn thì khí mới trùm”.

4. Quán nhẫn:

Mỗi khi ngay lúc nỗi nhục phát sinh, thì dùng trí tuệ “không quán” ra để mà chiếu rọi quan sát, rõ được tâm, thân, thế giới, tất cả các pháp, xưa nay “vô ngã” để được (không có cái gì ta có thể được). “Ngã” là không, thì trong đó còn có ngã nào bị hiếp đáp nhục nhã ư?cho đến cảnh giới bị nhục? Đây tức là “tướng ngã” có khả năng KHÔNG và “nỗi nhục” được KHÔNG, cả hai cái hoàn toàn là KHÔNG, cho nên “tướng nhục” ở khoảng giữa, đương nhiên cũng là trọn không thể có được. Cũng vậy, tâm sân hận của muôn việc ác đó tự nhiện sẽ không thể phát sinh. Cho nên gọi là quán nhẫn.

5. Từ nhẫn:

Bồ tát mỗi khi gặp nỗi nhục đến, không những không sinh tâm sân hận, mà ngược lại phát tâm từ bi, thương xót nghĩ tưởng người này thực tại ngu si đáng thương, vô lý chuốc lấy ồn ào, vọng sinh nhánh nhóc. Hiện tại đánh chửi, làm nhục ta, ta có thể nhẫn thọ, như không có việc đó, chẳng thể báo trả lại. Nếu đối với người khác mặc ý huỷ nhục, nhất định phải chịu đến lúc đáp trả lại, chửi nhau, đánh nhau, đây kỳ thật cũng tức là mượn miệng người khác chửi mình, mượn tay người khác đánh mình. Càng nghiêm trọng thậm chí phát triển đến thương tật tàn phếnhân mạng, chịu lấy sự phán xét của pháp luật, tương lai khó trốn khỏi sự báo ứng của nhân quả, do đó khởi “vô duyên đại từ” phát xuất “đồng thể đại bi”, tuỳ nghi phương tiện giáo hóa, khiến cho người khác hiểu rõ qua lại, biết lỗi phải sửa đổi, dứt ác tu thiện, cho nên gọi là từ nhẫn.

Ba món nhẫn này gọi là lý nhẫn.

Nhẫn nhục không những là nhẫn cái nhục của người khác đem đến cho mình, đồng thời càng phải nhẫn cảnh chính mình gặp gỡ. Nếu ở trong nghịch cảnh khốn cùng bệnh khổ, nhẫn khiến cho niệm suy đồi, thấp hèn không sinh; ở trong thuận cảnh giàu sang, nhẫn khiến cho niệm kiêu căng, mê đắm không khởi; ở trong thường cảnh không thuận không nghịch, muôn pháp sinh diệt, nhẫn khiến cho niệm dời theo sự di dịch không sinh, chịu sự hiếp đáp nhục nhã không sinh sân hận, gặp sự khen ngợi không sinh hoan hỉ.

Nhẫn nhục không chỉ là nhẫn sụ hiếp đáp nhục nhã, giết hại, hai cảnh thuận nghịch trên tâm lý, mà cần phải nhẫn đói khát, lạnh, nóng, thương đau, các khổ trên sinhlý. Nhẫn nhục là chiến đấu cùng với phiền não của nội tâm, phiền não từng lúc máy độngở nơi tâm của ta và người, nếu một lòng không chịu nhẫn, tức phiền não sẽ chiếm cứ vị trí trên tâm của người ta.

Nhẫn nhục chủ yếu bao hàm: 1. Tâm nhẫn nhục phi thường. 2. Nghị lực kiên cường. 3. Xa lìa phẫn nộ. 4. Xa lìa tất cả xung động. 5. Lúc chịu nhục có thể vượt khởi tâm khoan dung tha thứ.

Đây là năm món nội tâm nhẫn nhục, mới là nhẫn nhục chân chánh. Quyết cần phải phát khởi tâm từ bi từ nội tâm, khoan thứ tất cả, nếu như việc khởi tâm sân hận thì khổ não khó mà kham chịu.

Nhẫn nhục là một loại biến chiến tranh thành giao hảo, biến hung ác thành tốt hòa, tiến đến hiện bày đại từ đại bi, đồng thời cũng là pháp môn chủ yếu”trên cầu phật đạo, dưới giáo hóa chúng sinh”.

Nhẫn nhục là: nhẫn cái khí, nhẫn cái khổ và nhẫn cái vui.

“Nhẫn cái khí”, là nói ngay người khác hiếp đáp nhục mạ, làm tổn thương, chẳng khởi tâm oán hận, phẫn khí. Không đi kể lể, không khởi tâm trả báo, chẳng cùng đối phương thường hay gặp biết, là muốn lui một bước, bất kể người khác đối với ta như thế nào, đều cần phải nhẫn cho được, tức là chẳng nên phát nóng giận, thêm nữa dùng tâm từ bi để nhìn và tiếp đãi đối phương, vui vẻ hít vào mà tiêu mất khí nóng; Như người đời: bôi nhọ, khinh khi, làm nhục, chê cười, dối gạt, khinh tiện, ghét... các việc đối với ta, phải có cách gì? Nhẫn nhịn, chịu đựng, tránh né, cung kính, không lý sự đối với họ; đây gọi là cái nghịch đến mà thuận thọ nhận, không nên châm chọc với nhau, mới là nhẫn khí.

Người đời hiếp đáp nhục mạ ta, chê bai ta, là tự mình còn có khuyết điểm,nên phản tĩnh tất cả việc làm của mình, nếu có khuyết điểm thì dốc sức sửa đổi để tiến bộ. Lúc chịu nhục còn cảm được vận may, cảm tạ người ta xét nghiệm ta, khiến ta có cơ hội tu “nhẫn nhục”, cảm tạ họ cho ta tiêu được tai ách. Anh nhẫn rồi, việc không còn, được thái bình. Nếu nói ta cũng nhẫn không được khẩu khí này, như thế ta làm sao? Cần phải có cái tư tưởng như thế này: họ chửi ta - còn tốt không đánh ta, họ đánh ta - thật là vận may họ không giết ta, ngón tay bị đâm một cây gai - còn may mắn không đâm trong tròng mắt, thì chẳng thể buồn bã hay giận dữ được. Nếu gặp lúc giận, thì phải nhẫn, biến nhẫn thành tha thứ, tha thứ rồi tha thứ! Cần chuyển xoay tư tưởng đến chỗ tốt đẹp, nếu chuyển đến chỗ xấu xa, thế thì thảm lắm, khổ não nhẫy đầy!

Nhẫn khí, không phải là nhẫn thọ, càng không phải là đem cái khí căm phẫn, buồn phiền ở trong tâm mà đè nén ức chế chính mình; mà là đối cảnh (chẳng hiểu được) có cảnh, đây mới gọi là nhẫn khí, như người khác chửi ta, mà không hiểu họ đang chửi ta, mà họ đang chửi chính mình, hoặc là đang biểu diễn ca múa.

“Nhẫn cái khổ”, là nhẫn áo mặc, đồ ăn, ở, đi, lạnh, nóng, đói, khát, bệnh, đau... các điều khổ. Ăn được no, mặc được ấm, ở có nhà, đây không kể là khổ. Ăn, chủ yếu là bụng không đói, miệng không khát, có thể duy trì được thân thể khỏe mạnh, có sức sống, có khí lực. Ăn vật ngon dở là xem đối với sức khỏe của thân thể được lợi ích lớn hoặc nhỏ để phân biệt đó là ngon hay dở, không phải là phân cao thấp ở trên giá trị và cách thức, nghĩa là giá tiền cao là tốt mà giá tiền thấp là không tốt. Áo, đồ nhãn hiệu, đồ mặc đẹp dùng để đi lại, mà y phục phổ thông cũng là đồ mặc; áo chủ yếu là để chống lạnh che thân. Ở, nhà to hoa lệ gọi là chỗ ở, mà nhà nhỏ bình thường, nhà lá cũng là chỗ ở; ở chủ yếu là ngăn gió che mưa, không rọi mặt trời, tối đến ngủ được.

Người học Phật tu hành ở trên cuộc sống vật chất là làm sạch nỗi khổ, tuy nhiên có tiền, có địa vị trên xã hội, có danh vọng, cũng không thể giống như ngoại đạo làm ra vẻ của chốn phồn hoa như thế, bày biện giàu có, chạy theo mốt, chất đầy cửa, ưa sĩ diện. Ăn, không cầu sơn hào hải vị, miệng muốn hưởng thụ. Áo mặc, không cần áo lụa hàng bông hoa. Ở, không cầu lầu cao nhà lớn.

“Nhẫn cái vui”, là ngăn trừ tất cả vật phục sứctrên thân và hưởng lạc trên cảm quan, như không hút thuốc, không uống rượu, ít giao tế qua lại, chẳng ca múa xướng vui, chẳng bước chân tới chỗ trường hát, cờ bạc, ngay cả ti vi cũng ít xem, để tâm khỏi bị tán loạn không chuyên nhứt, ngăn ngại việc tu hành. Có tâm dục lạc, tâm cũng không dễ gì yên tĩnh, tâm không yên tĩnh làm sao có thể định. Cuộc sống bình thường không cầu buông thả và khoái lạc, thì cũng không ưu não và cũng không sợ sệt.

Nhẫn nhục, nhân vì tập khí nên nhất thời khó nhẫn nại, chỉ cần hạ quyết tâm, có nghị lực, có tâm thường xuyên, thì có thể làm được thôi.

D. TINH TẤN

Tinh tấn, không xen tạp, gọi là TINH, không thối lui gọi là TẤN. Ý của tinh tấn là: tinh là tinh thần, chỉ tâm không xen tạp cái ác. Tấn là không thối lui, không giãi đãi, không buông lung, là ý nói sự nỗ lực, đủ có ý chí kiên cố, chỉ có sự cố gắng tiến tới trước không dứt, không có tâm lùi về sau, nghịch lý và ý chí có thuỷ có chung.

Tinh tấn; phàm người tu hành Phật đạo, như nông phu làm ruộng, không nên sợ cần khổ, mới có thể có thu hoạch; lại như người buôn kinh doanh sự nghiệp, không được gián đoạn, mới có thể được lợi. Nông phu nếu sợ khổ thì ruộng kia sẽ bị hoang phế, người buôn nếu bị bể việc thì làm sao có thể mong doanh nghiệp được lợi, đạo lý trong đây mọi người đều biết. Tu học đạo, nông phu làm ruộng và người buôn bán, là một kiểu đạo lý, nên chẳng được làm biếng, không được gián đoạn. Ở ngay trong vô lượng pháp môn, điều phải nên là “thâm nhập một cửa”, mới có thể thành tựu. Nếu muốn các cửa đều học, là tuyệt đối không thể thành tựu được. Các cửa đều học, đó là việc sau khi “một cửa” thành tựu, một cửu thành tựu rồi, thì vô lượng pháp môn khác một khi xem, một khi nghe lập tức đều thông đạt hết.

Tinh tấn có thể đối trị ma chướng giãi đãi (lười biếng), phá phiền não ác, trừ các phép ác, não phiền, bức bách.

Người tinh tấn ở trong vấn đề dứt ác tu thiện mạnh mẽ cố gắng, vì thể tánh đối trị biếng lười, hoàn thành đầy đủ việc thiện để làm chỗ dùng của nghiệp.

Cho nên “đoạn ác tu thiện”, trước tiên chỉ cần đoạn trừ tất cả pháp ác, siêng tu tất cả pháp thiện, mới có thể đạt đến chỗ gọi là “tinh tấn”, dõng mãnh mạnh mẽ. Đó chỉ là dứt các pháp ác đã có, mà trong tu thiện quyết cần phải trực tiếp dứt trừ, ý chí kiên cường đã tinh càng muốn tinh thêm, không ngừng gắng tiến về phía trước, vì không sợ khó, không sợ khổ, và quyết xả tinh thần lớn mạnh có thể xả, mới có thể đối trị được giãi đãi, và làm cho tròn đầy một cách tích cực tất cả việc thiện thế gian và xuất thế gian. Chỗ gọi rằng: “hoàn thành đầy đủ việc thiện” là chỉ cho trong quá trình tu hành, cần phải tích cực nơi việc thiện để khắp độ chúng sinh.

Tu tập Phật pháp, không có thể lúc làm lúc nghỉ, hôm qua như vậy, nay lại là như vậy, tu hàng ngày - tu hàng năm - tu trọn đời, không nên quá gấp, không phải một năm hay muời năm thì có thể tu xong, quá gấp dễ sinh mỏi mệt nhọc nhằn, làm thương tổn sức khỏe, cũng không nên quá kéo dài, nhiệt tình chỉ có năm phút, ngày nay không tu còn có ngày mai, năm này không tu còn có sang năm, kéo dài quá, dễ khiến thân tâm biếng lười buông lung, trong tất cả nên phải thích ứng. Tinh tấn như giọt nước chảy lâu làm xuyên đá núi.

E. THIỀN ĐỊNH

Thiền định độ cho sự tán loạn: chúng sinh thì tâm tính tán loạn, vọng tưởng lăng xăng, tâm như vượn, ý như ngựa, luôn nghĩ đến sự ruổi dong, từng sát na dừng niệm, sinh niệm, niệm niệm không dừng, nên tu thiền định để thoát thân tán loạn.

Thiền định tức là đem tâm này an trụ, không buông thả nó tản ra, nghĩ đông nghĩ tây tạp loạn không rõ ràng.

Thế nào gọi là thiền? Tức là nhất tâm xét vật là thiền. Thế nào gọi là định? Tức là tĩnh lặng tư duy một cảnh là định. Ý nghĩa và mục đích chân chánh của thiền định là ở trong “tịnh lự” (tĩnh lặng tư duy) tập trung tinh thần, thống nhất tư tưởng, trừ bỏ tất cả vọng tưởng tạp niệm, tình tự không xung động, cảnh tịch tình không, thoát ly thế giới huyễn tưởng chủ quan, mà nhập vào thế giới an bình tĩnh lặng chân chánh.

Thiền định, mục đích chủ yếu là “nhiếp các tâm loạn”; do vì con người ở nơi cõi dục, chỗ chỗ tâm loạn nhẹ thổi, có lúc như lông chim hồng bay lên, đều là dong ruổi phân tán không dừng, chẳng thấu rõ sự chế ngự của thiền, chẳng dễ gì được định, chỉ có thấu suốt thiền định, mới có thể triệt để rửa hết và tiêu diệt ma chướng tán loạn trong tâm, ma được trừ bỏ, trí huệ tự nhiên tăng trưởng. Chỉ có thấu suốt thiền định - tịnh lực, mới có thể giải thoát phiền não căn bản của sinh tử, cũng tức là nói “thiền dịnh có thể thống nhất tinh thần - dừng, lặng, yên, định, sau tiến đến mà thay đổi, chuyển tĩnh lặng để đoạn trừ các chướng mê hoặc: tham, sân, si, mạn, nghi của nhân loại”. Cản trở phiền não xâm lấn, không bị trở lại cái mê, cái hoặc của ngoại cảnh, không theo cảnh mà khởi sinh diệt.

Thiền định tức là lìa tất cả tướng ở bên ngoài, tâm tánh bên trong không loạn. Nếu chấp trước tướng của ngoại cảnh, tâm tánh bên trong cũng sẽ hỗn loạn. Có thể lìa được tất cả các tướng ở bên ngoài, tâm tánh ở bên trong cũng có thể bất động.

Tâm niệm đối với tất cả cảnh giới thiện ác không khởi, tịnh không phải là chỉ giống đầu đá, người gỗ không hay không biết khi đối mặt với ngoại cảnh, mà là niệm không chấp trước. Gặp duyên đối cảnh, lý vả đáng có chỗ phản ứng vẫn vậy có chỗ phản ứng. Ví như lái xe trên đường, gặp đèn đỏ thì dừng, đèn xanh thì đi, tâm không trở ngại, tức là “ứng với không chỗ trụ mà sinh tâm đó”. Nhưng phải thiết tha mà nhớ rằng: ứng với không chỗ trụ mà “không” sinh tâm đó, như thế càng hay.

“Ứng với không có chỗ trụ mà sinh”, cũng chẳng qua là niệm niệm không chấp trước mà thôi! Con người, xưa nay là Phật, ngược lại nhận đồng với mình là phàm phu, trái lại cho là Phật cao không thể vin tới được! Chỉ có đả phá chấp trước nhận thức mình là phàm phu, bản lai diện mục của Phật mới có thể “nước trong cá hiện”, nếu như nhất định có chỗ chấp trước, thì không được nhận đồng: tự mình là Phật.

Người bước đầu học tập Phật pháp, thô tháo náo loạn ở nơi tâm rất nhiều, định lực không đủ, trong một sát na niệm trước diệt, niệm sau khởi, niệm niệm liên tục với nhau, trọn không dừng dứt, nên phải khởi được chánh niệm, từ từ có thể khiến cho tâm niệm thanh tịnh, mà đạt đến vô niệm; công phu này việc cần thiết là phải chu đáo tỉ mỉ, thời gian lâu, mới có thể vào định, đạt tới cảnh giới vô niệm. Tốt xấu, chê khen, mừng giận đều không khởi tâm động niệm, mới có định lực.

Niệm Phật cũng là một phương pháp thiền định. Có thể niệm cho tới khi miệng không niệm mà tâm ở nơi niệm, chẳng niệm mà tự niệm, niệm Phật có công phu rồi, cách “niệm Phật tam muội” không xa.

F. TRÍ HUỆ (Bát Nhã)

Trí huệ được chứng đắc từ thiền định, tức được gọi là: trì giới mà được định, từ định mà phát huệ. Nhưng trí huệ này tịnh mà không phải là trí hữu lậu: thông minh, đa văn, bác học của người đời; mà là chánh trí viên dung vô ngại. Trí tuệ này có khả năng chiếu phá tất cả khách trần phiền não, hiển bày bản tính chân như rõ biết tất cả chân tướng của vũ trụ. Có được trí huệ đối với tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian, vạn tượng vũ trụ, là không chỗ nào chẳng biết, không chỗ nào chẳng hiểu, có thể thông đạt sự lý, phân biệt thị phi, phá trừ các món mê hoặc. Chính xác rõ hiểu chơn tướng các pháp và khế hợp nhận thức chính xác của chân lý, vì sao có thể làm, rất rõ ràng nên lời nói cũng viên dung.

Tu sáu pháp Ba La Mật quyết cần phải cùng giúp cùng làm, không được thiếu một pháp. Vì huệ mà không có định chưa có thể thọ dụng, định mà không có huệ chưa khỏi trầm mê, mà chẳng trì giới bèn trở ngại cho việc chứa nhóm thiện pháp. Ba món học gồm đủ mà không bố thí lại không thể nhiếp hoá chúng sinh, bố thí mà không tu ba món học thì chỉ trồng phước báo trời, người. Trì giới mà không nhẫn nhục thì khó điều hòa khí sân nhuế. Có tinh tấn mà không có các pháp (độ) khác thì luống uổng công phu. Có các độ mà không có tinh tấn thì ban đầu siêng năng mà sau giãi đãi. Cho nên nhất định phải sáu độ cùng tu, mới có thể hành hai việc lợi (tự lợi, lợi tha) của hàng đại thừa Bồ Tát một cách viên mãn.

Hành giả tu Bồ Tát, ngoài việc siêng tu trì sáu độ BaLaMật ra, còn cần phải hành “ Bốn phép nhiếp”, mới có thể vào sâu trong nhân loại mà cứu độ chúng sinh.

G. BỐN PHÉP NHIẾP

Bốn phép nhiếp tức là: Bố thí nhiếp - Ái ngữ nhiếp - Lợi hành nhiếp - Đồng sự nhiếp.

Bố thí nhiếp: Nếu khắp độ chúng sanh quyết cần phải đi sâu trong nhân sinh, tiếp cận cùng với người được độ thì mới có thể đạt đến nguyện vọng của mọi người

1. Bố thí nhiếp: Là đối người nhu cầu tiền tài dùng “tài” để bố thí; đối với người cầu biết tâm làm trọng thì dùng “pháp” để bố thí. Thích hợp với thời gian, không gian đầy đủ nhu cầu của chúng sinh, khiến cho tâm kia được hoan hỷ, do cảm cái ơn mà tiếp nhận sự giáo hóa, mà đạt được mục đích hóa chúng sinh.

2. Ái ngữ nhiếp: Thường đối với người nói lời hòa vui từ ái, lời nói hài hòa đáng thân, khéo nói tiếp đãi với người, nói lời mà khiến người nghe sinh tâm hoan hỉ, nguyện ước muốn nghe, cũng vì đạt đến mục đích hóa độ chúng sinh. Ái ngữ không phải là lời nịnh hót, hoa mỹ hoặc nói dèm pha.

3. Lợi hành nhiếp: Dùng các việc làm của thân, miệng, ý đều có lợi cho người, toàn tâm toàn ý vì mọi người mà phục vụ, khiến cho họ vui vẻ, cam tâm tình nguyện cùng tu đạo Phật, nương theo lời dạy mà vưng làm, cũng vì đạt đến mục đích độ người.

4. Đồng sự nhiếp: Vào sâu trong xã hội, công tác cùng với mọi người, cùng sinh hoạt, gần gũi với nhau, khiến cho bên kia bên đây tình như thủ túc, ở nơi hoàn cảnh khế cơ họp duyên mà hóa độ họ.

Thông thường nói rằng: Bồ Tát vì thành tựu Phật đạo tối hậu mà tu: Sáu độ “Balamật “ và pháp môn lợi tha “bốn phép nhiếp”; Quyết cần phải lấy “bốn tâm vô lượng” làm căn bản, mới có thể chân thật phát huy mục tiêu lợi tha.

12. BỐN TÂM VÔ LƯỢNG

Tâm vô lượng là không có phép hạn lượng, ý là rất khó mà giới hạn suy lường. Bốn tâm vô lượng còn gọi là “bốn đẳng tâm”. Ý là chỉ lấy tâm bình đẳng mà không sai biệt để giáo hóa lợi ích tất cả chúnh sinh. Ở đây nói đơn giản như sau:

1. Tâm từ: Từ là chỉ niệm ái, tức cho ta an lạc. Tức là nghĩ yêu chúng sinh mà cho chúng sinh an lạc.

2. Tâm bi: Bi - là chỉ sự thương xót, tức là tâm dẹp đi khổ. Cũng là nghĩ thương chúng sinh chịu các điều khổ, mà thường ôm lòng bi, cứu giúp chúng sinh thoát ly khổ đau.

3. Tâm hỉ: Thấy người ngăn ác làm lành, sinh tâm hoan hỉ; thấy người lìa khổ được vui, sinh hoan hỉ; tâm nầy khắp duyên nơi chúng sinh.

4. Tâm xả: Xả là bỏ xả tâm từ, bi, hỉ đã làm, đều không để ở trên tâm, xả mà không còn dính mắc, oán, thân, ghét, yêu thảy đều buông bỏ.

Vui vẻ cùng chúng sinh gọi là Từ, cứu khổ chúng sinh gọi là Bi; thấy chú ng sinh lìa khổ tâm sinh vui sướng gọi là hỉ; Một mực bình đẳng đối với chúng sinh, kẻ oán người thân đều xả mà không còn dính mắc gọi là xả. Tu trì bốn tâm trên còn khả năng: không sinh chấp trước.

13. TỰ TỊNH KỲ Ý (Tâm thanh tịnh)

“Tự tịnh kỳ ý” tức là tự tâm được thanh tịnh, tâm không động niệm. Không vọng tưởng, không tạp niệm, không phiền não, việc ác không nghĩ tưởng, việc thiện cũng không nghĩ, việc của hiện tại ( trừ việc đang công tác ) không nghĩ, không nghĩ việc của vị lai; Đem muôn niệm tập trung nơi một niệm - chỉ niệm Phật. Có thể làm được như thế này tức là cảnh giới tâm bất loạn, không có công phu tương đương thì làm không được. Có thể làm được việc không có phiền não thì chỉ chánh niệm, không phải là tà niệm, chỉ có thiện niệm, không phải là ác niệm; Tức là đúng vậy.

Tâm thanh tịnh không phải là chỉ nói, nói thì không có thể làm được, có người tu đến vài mươi năm ngay cả một chữ “tham” cũng không quên được, một chữ “ái” cũng còn thường tại ở tâm đầu. Nếu muốn tâm được thanh tịnh, chẳng hạ một lần quyết tâm thì chẳng thể được! Có thể xả - là có thể xem cho rõ, buông cho rời; Nếu rốt cuộc ở nơi tình đời việc thế tục cứ lay chuyển, tâm làm sao có thể tịnh được?

Tâm thanh tịnh không phải là giống như người bằng đá, thế nào đi nữa đều không nghĩ tưởng; mà là nhất tâm chế ý, gặp việc không mê, chỉ có chánh niệm, không có tà niệm, tức là lúc ăn cơm nhất tâm ăn cơm, ăn rồi lại nghỉ ngơi, lúc công tác nhất tâm công tác, công tác rồi lại nghỉ ngơi, không đình trệ ở trên niệm đầu, không dừng giữ ở nơi niệm quán, cũng như chim bay qua bầu trời không để lại dấu vết.

Ví dụ như: Gặp có người đang bán chim, mà anh muốn mua chim để phóng sinh, nhưng tiền trong túi không đủ, việc mua không thành, trong lòng nghĩ rằng ngày hôm nay có thể mang nhiều tiền hơn một chút thì tốt hơn nhiều, đây tức là vọng tưởng. Lúc ăn cơm thì nói rằng đồ ăn của ngày mai ngon, đây cũng là tạp niệm. Con cái có việc ra khỏi nhà bảo nó về trước hai mươi mốt giờ, nhưng qua hai mươi hai giờ chưa thấy nó về, anh lại đợi nó mà không đi ngủ, tức là buông không rời. Gặp cảnh thuận thì cười híp mắt, gặp cảnh nghịch, bị cảnh chuyển mặt mày ủ rủ khổ sở, tức là phiền não.

Tu tâm thanh tịnh, nhất định cần hạ quyết tâm rất lớn, tâm thường xuyên tâm nhẫn nại, cũng tức là nói “đắm nhiễm tình đời” (nghĩ tưởng bận tâm về người, việc, vật của thế gian), chúng ta nên xả ly càng nhiều càng tốt, rốt cuộc cũng chẳng cần nghĩ tưởng bận tâm, đem cái niệm nghĩ tưởng bận tâm chuyển biến thành cái niệm: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT; Đem lợi ích nhà và thân của mình (thân là người gốc, nhà là gia đình của ta) cũng là khởi tâm động niệm, đều là cái niệm lợi ích cho nhà và tự thân (chỉ là nghĩ tưởng mình, không nghĩ tưởng chúng sinh) đem niệm đầu nầy chuyển biến làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, không nghĩ tưởng mình, thế nầy tâm chúng ta cũng thanh tịnh nhiều rồi; có thể làm được vấn đề khởi tâm động niệm chỉ là ADIĐÀPHẬT, tịnh không có niệm khác, nhất tâm chỉ có ADIĐÀPHẬT, không bị ngoại cảnh chuyển. Như vật tâm chúng ta cũng thanh tịnh.

A/ NHÌN RÕ – BUÔNG RỜI

Nhìn rõ, tức là nhìn xem tất cả giả tướng của thế gian, tất cả vô thường, như sinh không mang gì lại, tử không mang gì đi, có người khác cũng tốt, không người khác cũng tốt; người có tiền cũng là người, người không tiền cũng là người; người có tiền ăn nhiều cá nhiều thịt gọi là ăn no, người không tiền ăn rau xanh, đậu hũ cũng là ăn no; người có tiền nhiều người khác gặp đến nể mặt, người không tiền, người ta không gặp không nể mặt. Nhưng người có tiền có được bao nhiêu việc không khổ não buồn lo? Người không tiền tự mình nhìn thấy mình, không đi phân biệt có tiền hay không có tiền, tốt xấu được mất, không thể vì không tiền thì không có sĩ diện mà tự ti, cuộc sống được mãi vui vẽ, tự tại ở chỗ cảnh thuận thì vui, gặp cảnh nghịch cũng vui, tâm vui thì cảnh thường vui. Biết (tin) lý nhân quả thì “nhìn được rõ”. Bi thương, sợ sệt, buồn lo, bận tâm, tham lam, phẩn hận tức là nhìn không rõ.

Buông rời tức là không chấp trước: người, việc, vật các món của thế gian, như tiền vàng, tài sản, người thân, nam nữ, ăn uống, ngọc ngà châu báu, bảo vật... Không đem nó mà để ở trên tâm, có cũng như không, chẳng mong ngóng nó, chẳng vì nó mà bận tâm, so tính lo buồn.

Đem người, vật, việc của thế gian từng cái, từng cái nắm trên tay mà quẳng đi, buông đi buông càng nhiều càng nhẹ, buông càng triệt để thì càng không bận tâm, cái đồ ở trong tâm không còn (hiện thực thì hãy còn) chỉ là trong tâm không có nó mà thôi, tâm mới có thể bình tĩnh, bình được tâm thì mới đầy đủ, đầy đủ thì mới buông được rời. Việc hôm qua không hối, không oán, việc của ngày nay không tham không cầu, việc của ngày mai không lo không sợ.

Nhìn cho rõ, tức là nhìn tất cả giả tưởng, tất cả vô thường của thế gian, đây có thể học tập từ trong văn tự, lời dạy trong kinh điển rất nhiều đạo lý của phương diện nầy đều đưa ra cho chúng ta “nhận thức nhìn được rõ”.

Nhưng buông cho rời, cũng không đơn giản, nói thì dễ mà làm thì rất khó, không có niềm tin kiên cường, càng không nên phí một phen, cố sức mới có thể dẹp thoát sự ràng buộc kìm hãm này; như gặp lúc khó khăn trọng đại, ô nhục hoặc vấp ngã, hoặc những việc không như ý, thì nên không có ngày tiếp tục trở lại việc này.

Buông cho rời tức là buông rời việc thế gian như: tham, sân, si, mạn, nghi, như tiền bạc, tài sản, sự nghiệp, người thân... của chúng ta; Nói chung là căn tánh thấp hèn của con người, việc này thì không dễ dàng. Nếu đối trị với căn tánh thấp hèn này thì cần dùng một cái khác “Tịnh”, để đối trị. Như bố thí, trì giới, sám hối, những việc này không phải là lý Phật cao siêu, tức là cần việc làm. Cũng như bố thí, tức là đối trị tham dục, bố thí càng lớn, càng triệt để, thì càng có thể giảm thấp đi dục vọng của con người, tâm tình sẽ ngày càng nhẹ nhàng sảng khoái, cảm thấy nợ nần ít đi, trong lòng thoải mái, đây tức là kết quả của việc làm bố thí. Ngược lại, nếu bố thí rồi mà khiến cho anh càng thêm chấp trước công đức, rồi truy cầu, tham đắm danh tiếng của bố thí, hư vinh đầy đủ cho tự tâm, đây cũng là biểu thị trạng thái của tâm không đúng rồi, đây cũng là “buông không rời”. Ngoài ra những việc khác như trì giới thì phải thanh tịnh, nếu như không có thì phải điều chỉnh thêm nữa, lý tánh thì nhiều, cảm tánh thì ít, hoặc là bài trừ tâm sở cầu mà làm việc thiện.

Buông được rồi, cần tâm đầy đủ, tâm đầy đủ mới có thể buông được, tâm đầy đủ là tâm địa tự bình. Tâm không đẩy đủ là buông chẳng rời, như không có tiền thì muốn có tiền, có tiền rồi lại muốn có nhiều hơn, càng nhiều càng tốt, tâm làm sao có thể bình. ( Tâm đẩy đủ không phải là đầy đủ cho tâm tham vọng ham muốn của mình, mà làm tâm “thiểu dục, tri túc” vậy). Nếu như chấp dính việc thế gian mà không buông xả, thì ở nơi việc vãng sinh là một món chướng ngại lớn.

Người đời nhiều đời nhiều kiếp, tâm sinh chấp dính cái được ở thế gian, chỉ sợ mất đi, tham luyến mà buông xả không được, lại còn tìm cầu cho đầy đủ đời này, thì ắc sẽ chuốt lấy khổ não càng nhiều cho chính mình, cũng sẽ ngăn trở con đường vãng sinh thế giới Cực Lạc.

B/ TÂM BÌNH THƯỜNG

Tâm bình thường tức là: Trực tâm, tâm dài xa, không tạo tác, không an bài, không phân biệt, việc để trong nội tâm là yên ổn tĩnh lặng và bình hòa, cả một năm, suốt một đời, thường thường như vậy tức là bình thường. Ví như: Người đời tiếp khách quen, chỉ dùng trà cơm bình thường không bày biện sắp đặc, tiếp đãi thế nầy có thể dài lâu, tức là bình thường; Như có quý khách đến bày ra bao nhiêu kiểu đồ ăn ngon, đây thì không bình thường, chỉ có thể tiếp đãi mười ngày nửa tháng, nhà không lễ thường, cho nên tiếp đãi chẳng bình thường, thì chẳng dài lâu được.

Tâm bình thường là tâm hàng ngày biểu thị việc nên làm tự nhiên trong cuộc sống ngày thường, không bị niệm lăng xăng, cố chấp,lộn xộn làm trở ngại, không miễn cưỡng công tác liều mạng chính mình, mà có thể làm việc một cách yên ổn thỏa đáng thuận lợi theo lệ thường ngày, khiến cho sinh hoạt chính mình không bị trói buột.

Chúng ta chỉ cần lấy tâm bình thường để đối mặt với cuộc sống hiện thực, không phân biệt tốt xấu, được mất, giàu do người khác giàu, nghèo do người khác nghèo, bệnh do người khác bệnh, già cũng do người khác già, tùy thuận tự nhiên không cưỡng cẩu, mở thoát những việc trói buộc buồn tình này, mặc cho bốn mùa biến đổi, đều là thời tiết tốt tươi.

Tâm bình thường là một cái tâm giữ được sự quân bình mà thuần khiết, có trí huệ viên dung vượt thoát nổi lòng ôm ấp, không bị sắc tướng cõi dục làm mê, không bị huyễn tưởng trần lao làm lầm lạc ( dối gạt ), tâm trong sáng tự tại, bình thảng vui tươi, trải qua cuộc sống vui vẻ đơn thuần.

Con người có tâm chân thật, nhẫn nhịn, bình ổn và tha thứ, thì gặp việc từ nơi tự bao dung mà ổn định, nên không thể vì con người, sự tình, vật chất làm cho suy nghĩ phiền não. Cho nên tâm bình thường tức là cuộc sống bình đạm, bình thường, bình bình thường thường, chẳnh vì vật vui, chẳng vì mình buồn, hiểu rõ tại ta, tiếp nạp người khác, lấy tâm từ ái mà bao dung tất cả.

14. SANH TỬ VÀ NGHIỆP

Sanh tử vô thường, thường đem đến sự sợ sệt và bất an rất nhiều cho chúng sinh. Mọi người cho là người chết rồi thì trăm việc hết, cái gì cũng đều không có. Đây là con người chỉ có nhục nhãn, không có huệ nhãn, không thấy được chân tướng của vạn tượng vũ trụ, nên mới nói thế này. Nhưng Đức Phật không những có nhục nhãn, huệ nhãn mà còn có Phật nhãn, chân tướng của muôn hình tượng vũ trụ Ngài thấy rất rõ ràng. Ngài nói sinh mạng của con người không phải là chết rồi thì kể như xong hết, nếu như đơn giản như thế này, đời ngừơi cũng có cái tâm tham muốn, thích làm cái gì thì làm cái nấy! Lại nữa sao cần phải nói cái việc có nhân quả báo ứng thiện ác, nếu rõ sinh tử như thế nào là phiền rồi! Kỳ thật, sinh mạng trước khi chưa sinh thì đã có rồi, cũng không phải chết rồi là hết - đơn giản như thế! Không phải nói qua loa vài ba câu thì có thể nói được vấn đề rõ ràng, đồng thời cũng là vấn đề rất khó giải quyết. Do đó với nhu cầu học Phật tu hành, là để giải quyết đại sự sinh tử đời người này.

Hành giả học Phật đối với cái chết, cần thiết phải ghi nhớ hai điều đạo lý:

1. Đời người vô thường, tuỳ theo thời gian đều có khả năng chết, hoặc tuổi thọ hết, hoặc phước hết, hoặc chết đột ngột.

2. Không nên cho rằng thọ mạng là trời sinh có chủ định về số tuổi thọ, thực tại là đa số nghiệp ác hiện đời, việc không nên làm đi làm, không khéo giúp nuôi tốt tự thân. Chớ nên cho là nhất định tuỳ thuộc ở tuổi thọ hết mà chết, còn có việc chết đột ngột thì sao, nào là tai nạn về nước, lửa, hung sát, xe cộ, trúng độc... tử vong không chính đáng, tình huống bất thường tạo thành.

Trước chưa rõ sinh tử, chết rồi lại sinh, sinh rồi lại chết, chết chết sinh sinh, sinh sinh chết chết luân hồi không dứt, mà nhân tố chủ yếu tạo thành luân hồi sinh tử này tức là NGHIỆP.

Nghiệp, tiếng Phạn gọi là “yết ma”, nghĩa là “tạo tác”, ta và người ở trên tư tưởng, hoặc nhân tư tưởng phát ra tạo tác các ác ở nơi ngôn ngữ và thân thể, giả gọi là “nghiệp”. Bất luận có hành động thế nào, Phật pháp đều gọi là NGHIỆP.

Nghiệp có ba tánh: thiện, ác và vô ký. Thiện nghiệp hay chiêu lấy thiện quả, ác nghiệp hay chiêu lấy ác quả, vô ký nghiệp đã không phải là thiện lại không phải là ác, cho nên không cảm quả.

Liên quan với “nghiệp”, hơi khó khiến cho người hỏi hiểu rõ, nhân vì nó không hình không tướng, không chất không lượng, nhưng người ta khởi tâm động niệm, đều thành nghiệp chủng, vả lại trọn không thể mài dũa hay diệt đi, nó tồn tại hằng hữu, gặp duyên thì khởi hiện hạnh. Chúng ta nếu miễn cưỡng làm một phép so sánh, thì không ngại nói là ấn tượng trong ý thức của ta và người. Ta và người mỗi khi có khởi tâm động niệm, cho đến ngôn ngữ hành vi, không kể là thiện hay ác, trong ý thức tất có lưu giữ ấn tượng, đây tức là nghiệp chủng vào trong ruộng thức thứ tám, ruộng thức thứ tám là thức A Lại Da. Ta và người ở nơi ngôn ngữ và hành vi của thân tâm cho ấn tượng lưu giữ trong ý thức, tuy có cạn có sâu, nhưng đều không do sự lâu hay tạm của thời gian mà xóa diệt. Đối với một sự vật nào đó, ấn tượng sâu sắc, cố nhiên trọn đời khó quên; vả mỗi khi nhân đối với ấn tượng việc này mà ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của người ta, dẫu cho là ấn tượng của người rất mỏng cạn nhỏ nhặt, cũng sẽ giữ gìn vĩnh cửu ở trong ý thức. Hiện tại các nhà tâm lý học giải thích “mộng” là hoạt động ẩn chứa trong ý thức đồng thời cũng biểu thị cho chúng ta thấy nghiệp lực cũng là bất diệt.

Nghiệp, lấy hiện tại để giải thích đại khái là mỗi người đều nhờ vào kết quả phản ứng hoạt động ý lực không dứt của chính mình, tạo thành tánh cách của mình, tánh cách này lại tạo thành gốc gác của hoạt động tương lai, chi phối vận mệnh chính mình. Từ sự chi phối vận mệnh một điểm đó mà nói, gọi là “nghiệp quả hoặc nghiệp báo”. Nghiệp là vĩnh viễn không diệt, trừ phi nghiệp tận - ý chí đình chỉ hoạt động. Hoạt động nếu chuyển một phương hướng, nghiệp bèn cũng chuyển phương hướng mà tồn tại, nghiệp quả nghiệp báo chẳng phải lấy một thời kỳ tử vong sinh mạng mà hết đâu, tử vong bất quá là “sắc thân” này (thân thể vật chất cấu thành) theo phép tắc vật lý mà có tụ có tan. Sinh mạng thật ra không phải là thuần tuý vật chất, cho nên mỗi người tạo nghiệp, đều không nhân nơi tử vong của thân thể vật chất mà tiêu diệt. Sau khi tử vong, cái lực của nghiệp khiến mình đuổi dẫn chính mình đổi thành một phương hướng khác, hình thành một cái sinh mạng mới, cách chuyển đổi trạng thái này gọi là “luân hồi”. Hiểu được đạo lý luân hồi, lại có thể chứng minh nguyên tắc nghiệp lực không diệt.

Nghiệp lực đều không nhân nơi sự tử vong của nhục thể mà tiêu diệt, sau khi nhục thể tử vong, nghiệp lực gởi gắm ở trong thức của A Lại Da, thức này lại chịu sự chi phối của nghiệp lực, trở lại kết hợp cùng với vật chất riêng thành một sinh mạng mới. Nhưng riêng sinh mạng mới hình thành là người, là súc, là thần, là quỷ, thức A Lại da không thể tự chủ, toàn dựa vào sự dẫn dắt của nghiệp lực. Trên kinh Phật có nói tình hình nghiệp lực dắt dẫn A Lại Da thức là: “ví như đòi nợ, kẻ mạnh dẫn trước”. Thế thì nói nghiệp lực, một phương diện nào đó sức nó nặng, thì lệch rơi về phía đó.

Nghiệp lực tức là sau khi tạo tác thi vi (khởi tâm động niệm), năng lực giữ gìn liên tục mà dẫn phát. Thọ báo nhân gian đời này là nghiệp lực đời trước. Nghiệp lực đời trước cùng với nghiệp lực đời này, lại quyết định cho tiền đồ đời sau; đây tức là nhân quả báo ứng ba đời.

Y cứ nơi luật nhân quả của nghiệp lực mà nói, thời gian nghiệp báo phát sinh có ba việc:

1. Thuận với hiện tại thọ nghiệp; tức đời này tạo nghiệp, mà đời này cũng thọ báo.

2. Thuận đời kế thọ nghiệp; tức đời này tạo nghiệp, mà đời kế đến thọ quả báo.

3. Thuận đời sau thọ nghiệp, tức đời này tạo nghiệp, mà hai hay nhiều đời sau mới thọ quả báo.

Đây cũng tức là từ ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai mà nói rõ nhân quả là vấn đề không thể tiêu diệt; chỉ cần nhân duyên đầy đủ, rốt cuộc cũng phải chịu báo ứng, mà tạo thành quả báo cho đời sau, cuối cùng là do một vấn đề nghiệp lực đó xúc tác mà thành ư? Ở đây không có ba sự phân biệt:

- Một là theo nơi sức nặng; không luận thế nào, người đến lúc chết, nghiệp lực nhất định sẽ hiện ra, việc tốt xấu lúc bình thường làm đều rất nhiều, ngay lúc này có một cái sức mạnh nghiệp lực đặc biệt (không luận là thiện hay ác), sẽ so kè thế lực mà hiển hiện ra, con người sẽ nương theo cái năng lực này mà thọ báo. Một người sát nhân, trong tâm thường ghi nhớ sự việc ở trong tâm, quên không được, tức khiến cho quên mà lại mạnh mẽcàng tồn tại cái lực; đến lúc chết, những việc làm tội lỗi này sẽ hiện tiền. Cũng vậy, một người làm việc thiện một đời cứu người đến lúc mạng chung, thiện nghiệp đó cũng sẽ tự nhiên hiển bày trước mắt. Đây cũng như người mắc nợ đến cuối năm, chủ nợ đều đến, một người chủ nợ mạnh mà có sức lực hơn trong số đó, bắt đem về đặc biệt ngược đãi làm hại, không thể không trả trước cho người đó.

- Hai là theo nơi tập khí, như có người không có nghiệp rất tốt rất xấu, bình thường làm việc, thói quen cho là thường, cũng có thể sản sinh ra năng lực vĩ đại, tuy là ác nhỏ, cuối cùng phải mắc ác báo, thiện nhỏ cũng có thể được thiện báo, tức là nói ngay khi trồng nghiệp gì, thì đã định về sau, cuối cùng ắt phải theo nghiệp định này mà thọ báo.

- Ba là theo sự nhớ nghĩ; bình thường cuộc sống không có thiện ác gì trọng đại, cũng không có sự tình chứa nhóm, cuối sau bỗng nhớ tới cái gì đó, thì lấy niệm thiện hoặc niệm ác này mà thọ báo. Phật pháp lúc bình thường chỉ nêu đối đãi người nặng bệnh, tất nhiên bảo họ niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, lúc bình thường xưng tán công đức bố thí, trì giới, khiến họ nhớ khởi lên công đức, tâm sinh thiện niệm, nương nơi công lực này thì sẽ đi lên tiền đồ tốt đẹp. Có người tuy có nghiệp thiện, nhưng lúc lâm chung chịu sự đâm chích đau khổ trong lòng, niệm ác hiện tiền đến nỗi đoạ lạc. Cho nên người đời nay đến lúc lâm chung, không luận già trẻ, đều không nên kêu khóc và xô động thân thể của người chết, chẳng như vậy thì làm phiền tâm thần của họ, khiến họ sinh khởi phiền não. Nên khuyên họ vất đi buông rời, chuyên tâm niệm Phật, niệm công đức... nhưng rốt cuộc lúc bình thường trọng ở nơi lúc lâm chung, như lúc bình thường tạo nên cái ác nặng, nên lúc họ lâm chung khởi một niệm thiện là không thể khởi được; Trừ phi anh ta đời trước có nghiệp thiện, lúc bình thường hay có nghiệp thiện to lớn, hoặc tập thiện thành tánh, mà vả ở lúc lâm chung có trợ niệm thêm, thì có thể quyết định qua nơi cõi lành.

Như y nơi lập trường “thiện có báo thiện, ác có báo ác” mà nói, mỗi con người ở mỗi đời đều có thiện nghiệp và ác nghiệp, như thế không phải là vĩnh viễn không có cách nào liễu thoát sinh tử hay sao? Nói một cách chơn thật, riêng chỉ mỗi nghiệp lực còn không nhất định có thể khiến chúng ta sinh; ngoài nghiệp lực còn có điều kiện của phiền não, trong đó “khát ái” là tối trọng yếu. Tham luyến thế gian, hy vọng sinh tồn, tức là nên dứt đi cái “ái” sinh mạng này; như không khát (ái) các thứ nước thấm (phiền não), cũng sẽ không thể trở lại cảm lấy mầm (khổ của sinh) đâu.

Phật pháp cũng là bảo người: “dứt phiền não, xong sinh tử”.

15. BA CÕI VÀ SÁU ĐƯỜNG.

Hữu tình trong ba cõi, nhân nơi mê hoặc mà tạo nghiệp, nhân tạo nghiệp mà thọ khổ, rồi nhân thọ khổ lại mê hoặc. Ba món: hoặc – nghiệp – khổ này, tức hình thành ra tánh ác tuần hoàn. Nhưng nghiệp mà hoặc tạo ra, có chia ra nghiệp thiện, nghiệp ác, nghiệp nhẹ, nghiệp nặng. Do đây quả báo nhận được cũng có phân ra làm sáu đường. Nghiệp thức ở trong sáu đường mà sinh đây tử kia thì gọi là luân hồi sáu đường.

Thế nào là sáu đường? Sáu đường là: trời, A Tu La, người, ngạ quỷ, súc sinh và địa ngục. Ba đường trước gọi là đường thiện, ba đường sau gọi là đường ác.

Trong đó trời phước báo rất nhiều, thọ mạng cũng dài. A Tu La phước báo giống trời, mà tâm sân rất là nặng, đấu tranh không dừng. Người thì khổ nhiều vui ít. Súc sinh thì là toàn khổ thôi. Ngạ quỷ thường chịu đói lạnh, nên gọi là ngạ quỷ, địa ngục thì khổ đau cõi đó rất nhiều kiểu. Song ở trong sáu đường này, phước báo khổ vui trong mỗi đường cũng phiền phức khác lạ muôn mối, như cõi người có giàu sang và nghèo hèn, chia ra thành đạt và cùng khốn, thọ và yểu... Ba cõi, trong đó chia ra: cõi sắc, cõi dục và các cõi trời vô sắc. Tóm lại, đều do nghiệp lực chiêu cảm, thiện thì đi lên mà ác thì đoạ lạc, lý cố nhiên như vậy.

Biểu đồ ba cõi, sáu đường như sau (chúng sinh sáu đường luân hồi):

Ba cõi:

Dục giới: thế giới dục, có đủ nam nữ, ăn uống.

Sắc giới: thế giới tâm thức, lìa nam nữ, ăn uống.

Vô sắc giới: thế giới tâm thức, không có hình sắc.

Sáu đường:

Trời

......... A Tu La

....................... Người

....................... Súc sinh

....................... Ngạ quỷ

....................... Địa ngục.

CON NGƯỜI – Sanh từ đâu đến và chết đi về đâu?

Con người, sinh ra từ đâu đến, chết rồi đi về đâu? Anh biết rồi, thế thì quá tốt.

Con người, đời này làm người, là đời trước do phước báo cõi trời hưởng hết nên đọa lạc vào con đường làm người; hoặc ở nơi nhân đạo sau khi chết hợp với việc trở lại làm người mà trở lại sinh làm người; hoặc do khổ báo ba đường ác chịu đủ rồi chuyển sinh làm người.

Người chết, chẳng phải là một khi chết là trăm việc hết, chết rồi thì xong; mà người chết là nhục thân chết thôi, người đời nói “linh hồn”, cái đó vĩnh viễn không thể chết, đó là theo chỗ tạo tác thi vi lúc sinh tiền; làm thiện thì thăng thiên hưởng phước hoặc sinh trở lại làm người, nếu làm ác, thì đoạ lạc trong ba đường chịu lấy khổ báo, tức là chết đây rồi lại sinh, sinh rồi lại chết, sinh chết, chết sinh xoay vần luân chuyển, trọn không dừng lại, đây tức chỗ gọi là luân hồi sáu đường. Cũng tức là báo ứng nhân quả thiện có thiện báo, ác có ác báo.

Con người, thần thức (linh hồn) sau khi chết trở lại chuyển sinh là thật đúng không? Thế nào là không đúng; Từ xưa trở lại trên sách sử chánh kinh ghi chép việc sau khi chết chuyển sinh và mượn thây chết hoàn hồn không biết là bao nhiêu, tức là bảo hiện tại cũng thường có vấn đề này, anh cho là vì đánh lừa người phải không? Hành giả tự sức tu hành, được khai ngộ, có thiên nhãn huệ nhãn, việc trong sáu đường thì có thể xem xét rất rõ ràng; chúng ta là phàm phu chỉ có nhục nhãn, chỉ có thể nhìn thấy việc của phàm phu và súc sinh, còn thiên đạo, ngạ quỷ đạo và địa ngục đạo đương nhiên không thấy.

Tự nhiên bất toàn là việc đánh lừa người, nhưng không biết rốt cuộc là việc gì? Ở đây không có gì khó rõ, ở đây cũng tức là “nhân quả”. So như anh việc làm đời này hợp với thiên đạo, như thế đời sau (sau khi chết) sẽ thăng thiên hưởng phước; nếu như anh đời này việc làm hợp với nhân đạo, như thế đời sau tái sinh làm người; ngoài ra các đường khác đều là như vậy. Đây tức là giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, đều là việc tự nhiên, không lạ lẫm gì cả. Như món anh trồng là dưa, thần không thể biến nó thành một cây đậu; (nếu có, thì đó chỉ là giả thuật không chân chánh). Như thế việc anh làm là nhân “thiên đạo”, thần tự nhiên không thể cưỡng bách anh đoạ lạc vào địa ngục; đây là vấn đề rất hiển nhiên. Trở lại nói đơn giản một chút, tức là làm thiện được phước, làm ác bị hoạ.

Sáu đường thì đường nào tốt nhất? Đương nhiên đường Trời (thiên đạo) là tốt nhất; kế tới là Atula, rồi đến người. Còn các đường khác thêm một đường không bằng một đường, thêm một đường thì khổ một đường.

Chúng ta nhờ dựa nơi lương tâm, làm nhiều việc thiện, không thể ra khỏi luân hồi sao? Không! thế thì không làm! Người làm việc thiện thì sau được báo ứng tốt sinh vào thiên đạo, chờ cho báo ứng xong hết trở lại chuyển đến các đường khác, cũng như vậy có thể chuyển sinh đến đường súc sinh; Nếu muốn thoát ly luân hồi sáu đường mà riêng nhờ vào việc làm thiện thì không đủ đâu, chẳng học phật tu hành chẳng thể được, chí thành chuyên nhất tinh tấn không biếng lười, không phô bày, không lơ là, mới có thể ra khỏi luân hồi sáu đường; Không phải nói qua loa ta tu hành học Phật là xong, thì là ra khỏi luân hồi sáu đường xong rồi, đơn giản như thế sao, thật đơn giản như thế thì bốn chúng của Phật giáo đều ra khỏi luân hồi rồi.

Khổ vui sáu đường luân hồi đều là một kiểu cũng được, song thì khổ và vui là không giống nhau. Nếu anh cho thế giới Ta bà là biển khổ, đời người là khổ, khổ nhiều vui ít, làm ác dễ làm thiện khó, cơ hội sanh Thiên hưởng phước ít, cơ hội rơi vào ba đường ác thì nhiều. Một khi mất thân người rơi vào ba đường ác thì không phải là việc giỡn chơi. Không muốn ở trong sáu đường luân hối, muốn thoát ly ra khỏi luân hồi của sáu đường, thì cần phải học tu hành.

16. PHIỀN NÃO

Phiền não cũng gọi là: Hoặc, trần lao, nhiễm ô v.v... Do vì nó nhiễm loạn sự thanh tịnh thân tâm chúng sinh hữu tình, không được giác ngộ, làm chướng ngại lý tưởng Niết Bàn.

Phiền não chủ yếu không hiển bày bề mặt mà là tiềm ẩn tánh cách tà ác và cố tật ở chỗ sâu xa nội tâm, một khi có cơ hội liền hiển bày biến hóa.

Phiền não, có thể riêng phân ra: “căn bản phiền não” và “tuỳ phiền não”. Tuỳ phiền não lại có thể từ lớn tới nhỏ về phạm vi nhiễm ô mà chia ra: tiểu tuỳ phiền não, trung tuỳ phiền não và đại tuỳ phiền não. Nay đem các món phiền não mà phân biệt một cách đơn giản để lần lượt nói ra:

Căn bản phiền não.

Căn bản phiền não có sáu việc: tham - sân - si - mạn - nghi - kiến, được giải thích từng việc như sau:

Tham: là chỉ cho tham dục hoặc tham ái. Tham tức là đối tượng và sự yêu thích đối lòng ưa thích, càng nhiều càng tốt, tham lam không bao giờ biết đủ.

Sân: là nguyện vọng đối với mình, khi yêu thích rồi mà có lúc trái ngược, thì tâm tình phẫn nộ liền sinh khởi.

Si: tức là “vô minh” của mười hai duyên khởi, không rõ thị phi, không tin nhân quả, mà khởi lên các món tà kiến, tà hạnh.

Mạn: nâng cao chính mình mà xem thấp người khác, lấy tự “bản ngã” mà tình kết trong tâm.

Nghi: hoài nghi luật nhân quả, hoài nghi thiện ác báo ứng, hoài nghi chơn lý Phật nói; nó làm ngăn trở sự tăng trưởng của huệ căn.

Kiến: tức không giữ được chính niệm, lấy tà kiến, tà hạnh làm pháp đạo để tu.

Trong sáu món phiền não, năm món trên là sự mê hoặc tình ý chấp trước trên tập quán, gọi là TƯ HOẶC (tu hoặc). Đối với phiền não tư hoặc này dù cho có thể hiểu biết trên lý luận nó là loại sai lầm, nhưng hãy còn rất khó sửa đổi, loại tập quán này mê hoặc ngoan cố, cần phải dựa vào sự nỗ lực tu hành thời gian dài mới có thể lần hồi dứt trừ. Tư hoặc cũng gọi là “độn sử” (phiền não nặng nề chậm lụt)

Món Kiến, là sự mê hoặc trên tư tưởng, cũng gọi là KIẾN HOẶC. Loại phiền não này như có thể nghe lý luận chính xác mà lãnh ngộ, thì có thể lập tức trừ bỏ mê hoặc, do đó cũng gọi là “lợi sử” (phiền não nhạy bén). Như có thể đoạn được kiến hoặc, cũng là thấy được vị trí đạo, tức là KHAI NGỘ. Như nếu dứt được kiến hoặc và tư hoặc, tức là chứng quả A LA HÁN.

Tiểu tuỳ phiền não

Tiểu tuỳ phiền não có mười món: 1. Phẫn, giận dỗi kịch liệt. 2. Hận, do sân giận tích chứa kết ở trong tâm. 3. Phú, chính sự che đậy của mạng sống thường xuyên mà thành lớn. 4. Não, ác não, phiền muộn. 5. Tật, sự đố kỵ ganh ghét. 6. Lận sắc (khan), lòng dạ hẹp hòi. 7. Cuống, dùng lời nói dối lừa người khác. 8. Siểm, dùng lời nói để đánh dò người mà vui sướng. 9. Kiêu, kiêu ngạo (món này cùng với “mạn” của căn bản phiền não có sự khác nhau, là sự tự hào chưa trải qua sự so sánh bản thân mà sinh khởi). 10. Hại, là từ nơi sự sân hận phát sinh ra hành động thêm hại cho tâm người khác. Sự tàn nhẫn cũng là gần như hại.

Trung tuỳ phiền não

Trung tuỳ phiền não có hai món: 1. Vô tàm, không có sự hổ thẹn đối với nội tâm. 2. Vô quý, không có sự hổ thẹn đối với thế giới bên ngoài.

Đại tuỳ phiền não

Đại tuỳ phiền não có tám món: 1. Hôn trầm, tâm tình nặng nề không mở mang. 2. Điệu cử, tâm tình bềnh bồng không định. 3. Bất tín, không tin có báo ứng nhân quả. 4. Giãi đãi, không có sự nỗ lực. 5. Phóng dật, tức là mặc tình lung tánh vọng làm. 6. Thất niệm, mất đi chánh niệm (có muốn cũng không khởi ra). 7. Tán loạn, tâm không chuyên nhất. 8. Bất chánh tri, không có sự thấy hiểu chính xác.

Tiểu, trung, đại; ba món “tuỳ phiền não” ở trước, đều là chi mạc phiền não (phiền não cành nhánh), theo nơi sáu món căn bản phiền não mà sinh khởi. Tóm lại, cũng là phiền não nhiễm ô, trở ngại cho việc thực hiện chứng ngộ.

17. HỒI HƯỚNG

Hồi hướng là qui hồi công đức của mình tu, thảy đều hướng chuyển về Phật đạo, để xu hướng nơi đối tượng được kỳ vọng, để cầu được vĩnh viễn thóat ly biển khổ sinh tử, gọi là hồi hướng.

Nếu không thể làm việc “hồi hướng” như đây, thì khiến cho một đời trì giới, một đời tu Phật đạo, cũng khó giải thoát sự trói buộc của sinh tử. Hồi hướng là một việc làm trọng yếu trong cuộc sống tu hành của người Phật tử, các công sức trong một ngày làm được, cuối cùng đem đức hồi hướng. Chỗ gọi là hồi hướng, bèn là lấy công đức nhỏ của mình để vào việc to lớn, thế này tích chứa hàng ngày, trong tâm, trong cái nhìn và trong tư tưởng của người này đều sẽ theo phương diện tốt đẹp mà rộng lớn, khiến người phàm nuôi dưỡng trong tâm thành bậc Thánh, công đức đó là do từng việc nhỏ biến thành chẳng phải gọi là lớn. Người ta mỗi ngày niệm Phật, lạy Phật, tụng kinh và các công đức thiện hạnh, đều hay hồi hướng cho tất cả chúng sinh, đồng sinh tịnh độ, đồng gặp Phật Di Đà.

Công đức không nhất định phải xuất tiền xuất sức mới có công đức. Như giảng kinh nói pháp, nghe pháp, tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật, thậm chí nói một câu ái ngữ cổ động khích lệ hoặc lời an ủi, khiến cho đối phương hướng thiện, hướng thượng, những việc này đều là công đức, đều cần nên “hồi hướng”. Mỗi thời khóa ngày đêm niệm cung kính: “đệ tử tên... nguyện đem tất cả công đức của ngày hôm nay hồi hướng: trang nghiêm tịnh độ Phật, trên trả bốn ơn nặng, dưới cứu độ ba đường khổ, nếu có người thấy nghe, đều phát tâm Bồ Đề, hết báo thân này rồi, đồng sinh nước Cực Lạc”. Đây là hồi hướng lớn, nếu ở trong nhà có người sức khỏe rất kém, hoặc sự nghiệp của mình không thuận lợi... cũng có thể làm hồi hướng nhỏ. Chúng ta có thể nói: “Lấy tất cả công đức này hồi hướng cho (việc, ai đó) khiến họ thân thể khoẻ mạnh trở lại”... Hoặc nói: “đệ tử.... nguyện đem công đức đã làm trong ngày hôm nay hồi hướng cho cha mẹ đời trước, kẻ oán người thân, chủ nợ đời trước của (ai đó).. thảy đều phát tâm bồ đề, đồng sinh nước Cực Lạc”. Nhưng phải nhớ rằng: nhất định trước tiên phải làm việc hồi hướng lớn, rồi sau đó mới làm hồi hướng nhỏ.

Văn hồi hướng

“(Ai đó) nguyện đem công đức này (hoặc công đức đã làm ngày hôm nay), hồi hướng cho tất cả oán, thân, chủ nợ từ vô thuỷ kiếp đến nay của đệ tử, cha mẹ và lục thân quyến thuộc đời đời kiếp kiếp oán thân bình đẳng, giải oan mở buộc, nghe kinh chú này, thảy đều lìa khổ được vui, vãng sinh tịnh độ”.

Nếu học Phật, trên cuộc sống không thuận tiện, thất ý hơn trước, là nghiệp trước nhiều đời, kẻ oán người thân, chủ nợ đến đòi nợ. Đã học Phật tu hành, thì kẻ oán, người thân và chủ nợ chỉ sợ đòi không được nợ mà đưa ra trước để đòi, còn gia thêm bố thí, niệm Phật, hồi hướng cho tất cả oán, thân, chủ nợ; thế thì oán, thân, chủ nợ mới có thể tan hết. Có khổ nạn cũng nên phải tự rõ, đây là do nhân ác đời trước, đời này chịu quả báo, quả báo sạch khi trả sạch, bèn được thân nhẹ nhàng. Quyết không thể oán trời trách người! Trách Phật và Bồ tát không linh! Có bệnh ở nơi thân, lấy vô bệnh mà nhìn, bèn không thấy khổ; như vậy mà xem đó, sao lại khổ ư?

18. PHÁP MÔM TRÌ DANH NIỆM PHẬT

Một pháp chấp trì danh hiệu: “A DI ĐÀ PHẬT ”, lúc Đức Phật Thích Ca còn tại thế, thấy được con người trên thế giới này của chúng ta, nghiệp tạo ra rất là nhiều, chịu khổ cũng rất là sâu, nhất là hạng hạ căn lại nỗ lực làm sao để tu trì, cũng khó được quả Phật, vì thương xót con người trên thế giới này, của chúng ta rất là bi thiết, bèn dạy bảo chấp trì danh hiệu “A Di Đà Phật”, nguyện sinh nước kia, đổi ác thành thiện, tự lợi lợi tha, tin sâu nguyện thiết, hành trì niệm Phật, nhất tâm không loạn, lúc người mạng chung, chánh niệm hiện tiền, tâm không đảo điên, Đức Phật A Di Đà sẽ tiếp dẫn vãng sinh về nước Cực Lạc của ngài; người đời cần gấp hiểu rõ có một chỗ tốt đẹp như thế này, có thể khiến con người trên thế giới chúng ta, không nên trở lại thọ các món khổ, cho nên bất kỳ người nào hỏi, thì trước tiên nói pháp môn trì danh niệm Phật này.

Đức Phật Thích Ca lúc nói pháp môn tịnh độ “trì danh niệm Phật” này, gọi pháp này là pháp thế gian khó tin. Nguyên nhân là người đời phần nhiều còn có một niềm tin sai lầm, cho rằng trên đời không có cái gì để mình nương tựa một cách xác thực, đem sự tình giao cho một người khác thì không an tâm, bởi vì sức mình làm mới rất đáng nương tựa. Do đây rất nhiều tôn giáo lấy món tưởng pháp này làm cơ sở. Không chỉ các tôn giáo khác như vậy, tôn chỉ tông phái đại đa số của Phật giáo cũng đều như đây, như tông Hoa Nghiêm, tông Duy Thức, tông Thiên Thai, tông Thiền... đều dạy người là con đường của mình do chính mình mở, tức là dựa vào sự tu trì của mình, cắt đứt phiền não mê hoặc, rõ tâm thấy tánh, chứng được chân lý thành Phật, cũng gọi là đoạn mê hoặc, thấy và chứng (khai ngộ); giáo pháp này lúc thực hành chân chánh, là rất khó khăn. Các bậc cao nhân chung của các tông các giáo hãy còn nhiều khó khăn, là trong cuộc sống làm sao cho thanh tịnh được hết hoặc nghiệp! Huống gì người thường, thật ra người mà có thể trong cuộc sống đoạn được hoặc, rõ tâm thấy tánh khai ngộ không được nhiều! Nhưng vừa nghe qua, mọi người đều có thể tin rằng, nguyên nhân tức là con đường của mình tự mở; hoặc nhân người đời ưa bàn lý luận cao xa huyền diệu, không chịu thực sự học Phật, cho là thế gian ắc có bí mật huyền diệu, bí quyết nhanh học đạo, không chịu thực sự an phận. Thực sự an phận thì: 1. Thu chuyển được dã tâm, chẳng thể suy nghĩ hồ đồ và tưởng muốn cuồng loạn. 2. Trì trai giới giữ thanh tịnh, không thể phóng túng hoặc biếng lười. 3. Còn giữ được sự mộc mạc, không tự cho là thông minh. 4. Chân thật không tà ngụy, chẳng có chút phô bày. Những việc này là cần tự mình nỗ lực, mới có thể rõ được. Nhưng người đời mê chấp rất là sâu, chung quy cảm thấy vần đề mình hiện có và sự vật dễ dàng tìm được, chẳng cần trân quý. Cho nên phải nói là bí mật vi diệu của ngàn xưa thật dễ dàng nhẹ nhàng mà truyền cho người. Hoặc giả có thuyết nói là: cảm động đến Thánh linh; hoặc Thần Tiên trao bày, không thể do người dễ dàng chứng được; do đó mới có người tin như vậy. Pháp môn trì danh niệm Phật mà Phật nói, đây cũng giống như đem tấm chi phiếu ngàn vàng cho người ngu, khiến họ khó thể lý giải. Người ngu cho là một đồng tiền còn được thật sự giá trị hơn tấm chi phiếu ngàn vàng, tâm người ngu trí cạn cợt, vả lại tự xấc láo chính mình ngay cả một bảng đồng, đều không đánh giá được; khó đối với sự tin tưởng công đức của danh hiệu A DI ĐÀ PHẬT. Cho nên lời dạy ( trì danh niệm Phật ): A DI ĐÀ PHẬT. So ra các tôn giáo và tông phái khác khó tin. Chúng ta chấp trước đối với đời người, tức ngay cả các tôn giáo khác đều rất khó tin, tôn giáo khác đó vả hãy còn khó tin thay, huống gì lời dạy là tha lực A DI ĐÀ PHẬT. Cho nên nói là: khó ở trong khó, lại nói: không khó nào qua, cũng nói: pháp rất khó tin.

Pháp môn trì danh niệm Phật là tâm đại từ bi của Đức Thích Ca Như Lai, thương xót chúng sinh chẳng đủ tự lực, không thể một đời tu hành tức xong sinh tử, một đời không xong lại chuyển một đời, dễ dàng mê hoặc, nếu lại tạo ác nghiệp, đọa lạc ba đường, công ngày trước bỏ hết; đối với việc đó nên dạy người chấp trì danh hiệu A DI ĐÀ PHẬT, cầu Phật lực gia bị, tuy tự lực yếu mỏng, cũng có thể nương vào sức từ của Phật tiếp dẫn vãng sinh về nước Cực Lạc, một khi sinh về cõi kia vĩnh viễn không thối chuyển.

19. NÓI ĐƠN GIẢN – A DI ĐÀ PHẬT

“Nam mô A Di Đà Phật” là một câu lời nói trong nước Thiên Trúc, biến thành lời nói của chúng ta: - Nam mô; Tức là cung kính, quy y, tín ngưỡng, phục tùng. - A Di Đà; tức là ánh sáng trí tuệ không có ngằn mé và phước thọ không có hạn lượng. - Phật; tức là Thánh nhân, thần nhân, toàn nhân, chí nhân, người có đạo đức, người giác ngộ xong, người có trí huệ tối vĩ đại; Họp chung lại tức là “ Kính tôn trọng qui theo bậc thánh nhân - vô biên - vô lượng trí tuệ, hào quang, phước đức, thọ mạng như thế”. A Di Đà Phật không phải là ở trong thế giới này của chúng ta, thế giới của chúng ta gọi là thế giới “nhân khổ”. Hơn hai nghìn năm trăm năm (?) trước, có một Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện ở thế giới này của chúng ta, vì chúng ta mà nói trạng huống lịch sử A Di Đà và thế giới Cực Lạc kia. Chúng ta lại biết rằng Phật A D i Đà lúc chưa thành Phật, chưa có thế giới Cực Lạc trở về trước, Ngài vốn là một hoàng đế, lúc đó cũng có Phật đang trụ thế. Hoàng đế này rất là tin sùng chánh pháp, về sau cũng xuất gia tin Phật làm Tăng, tu hành không lâu thì chứng A La Hán. Lại phát tâm Bồ Đề, lập nguyện nếu người ở tương lai họ đồng ý với phát nguyện tu hành của họ, tu thành một thế giới Cực Lạc; nghĩ áo được áo, nghĩ ăn được ăn, tưởng đến cái gì thì được cái ấy, muốn có cái gì thì có cái nấy, tất cả yên ổn vui vẻ, không có việc nào là không hoàn toàn đầy đủ, tất cả những nguy hiểm khổ não không cái nào là không lìa thoát; Người cùng ở với nhau đều là người tốt; không có người ác cũng không có việc ác. Tự nhiên xăm xăm hàng ngày tiến tới chỗ thiện, thẳng đến thành Phật, càng không thối lui. Đã tu thành thế giới Cực Lạc này, lại đem danh tự thế giới Cực Lạc này khiến thế giới mười phương không đâu chẳng nghe biết, khiến người nghe đều sinh mến thích; nhưng niệm A Di Đà Phật danh hiệu đó, lại có được lúc chuyển sinh, là do Phật A Di Đà đến trước tiếp dẫn, sinh đến ở trong thế giới Cực Lạc - Đến lúc sau quả nhiên thành thế giới Cực Lạc, thế giới nầy ở phía tây của thế giới chúng ta, thành Phật tên là A D i Đà cùng với Bồ Tát, La Hán rất nhiều đồng ở trong đó, thường thường nói pháp nhóm hội, đến mười phương thế giới khổ não tiếp dẫn cứu độ chúng sinh, khiến cho họ được sinh về trong thế giới Cưc Lạc. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vì thấy chúng ta ở thế giới này là cực kỳ khổ não, ở trong đây rất là nguy hiểm, vì tuy là được làm người có thể sống được bao nhiêu năm không có nhất định, một hơi thở không trở lại là chết rồi. Thì ở trong lúc sống: Lạnh, nóng, bệnh, già, các việc nói không hết... những khổ đau đoanh vây thân tâm không cách nào lìa thoát. Nên Đức Phật dạy chúng ta trong tâm và miệng luôn thường niệm mãi “A Di Đà Phật”, khiến cho chúng ta đến lúc lâm chung chuyển đời, lại được cứu độ đến thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, vĩnh viễn hưởng sự yên ổn vui vẻ, lại không có một chút nguy hiểm khổ não; đây mới là ý nghĩa chân chánh niệm: A DI ĐÀ PHẬT.

ĂN CHAY

Muốn thoát ly biển khổ luân hồi của sáu đường (ra khỏi ba cõi), thì nên ăn toàn chay.

Muốn thân thể cường tráng mạnh khỏe, ít bệnh đau, thì nên ăn toàn chay.

Vì ăn đồ chay thiên nhiên là đi tới con đường mạnh khỏe! Trái lại, thì tật bệnh nổi lên, sớm bị suy già, đó sẽ thành là một phần trong cuộc sống của anh.

Thích ăn tanh, phần nhiều thèm muốn ở nơi cửa miệng. Thói quen nhiều đời, thêm đặc biệt chú trọng, kết nhiều duyên ác, là nhân giúp cho việc sát sinh tạo nghiệp, bỡi vì các lý do cẩu thả, tự cho là phải. Ăn chay bồi dưỡng hạt giống từ bi của chúng ta; Cho nên gọi: “Có ý đến gieo giống, nhân nơi đất mà quả lại sinh”.

Có thể dứt hay ngăn trừ ăn thịt rất là phải cách, chẳng được vậy thì có thể bằng phương thức lần hồi, bắt đầu mỗi lần cách một hai ngày ăn chay một ngày, lần lần tăng thêm số lượng ăn chay, sau đó khẩu vị ăn chay trở thành tập quán rồi tự có thể đạt được mục tiêu (đoạn nhục).

Động vật (súc sinh) cùng với người có thần kinh cảm giác như nhau, ném bị thương thì máu chảy, đánh đau thì rên la, ngay lúc con vật bị giết, bị nấu sống, nước sôi đổ trên thân, sống không cách trốn. Nghĩ xem lúc dao chặt hoặc trong nồi thế nầy nếu là thân ta hoặc cha mẹ, con cái ta, thì nỗi đau đến cùng cực ra sao! Cảnh đó thảm như thế nào!

Mỗi một cá nhân trong một đời đã từng chịu qua những bệnh nhỏ như đau đầu, đau bụng, hoặc từng bị kim đâm, dao cắt, bị phỏng, bị đốt... các bệnh đau nhỏ, thì cũng khiến cho con người ngồi đứng không yên, khó mà chịu đựng, huống gì súc sinh lúc bị bầm, cắt, chặt, thui, nấu cho đến chết, đau thương hơn cả những nỗi đau nhỏ của chúng ta gấp ngàn gấp vạn. Hãy nhìn nó chống cự lúc bị trói bắt, nó kinh sợ dọa nạt để được chạy trốn, tiếng kêu bi ai đau khổ, kéo dài rên rỉ cho tới lúc bị giết! Tiếng bi ai động đến lòng người! Nỗi sợ sệt trước lúc chết như vậy mà anh nhẫn tâm ăn thịt nó sao?

Tinh thần cơ bản của Phật tức là: Chúng sinh bình đẳng. Ngăn trừ sát hại mà ăn chay. Bỡi ta có quyền lợi sinh tồn mạng sống, họ (chúng nó) cũng có quyền lợi sinh tồn mạng sống. Thấy đời sống vậy anh nỡ nhẫn tâm ăn thịt nó sao?

Học Phật, đầu tiên là học giới, không sát sinh là giới trước nhất. Không sát sinh là không ăn thịt, ăn thịt là sát sinh; Tức nếu không tự tay anh giết nó, thì cũng đã là cọng nghiệp tội phạm sát sinh, anh không ăn thịt thì người khác cũng sẽ không sát sinh.

Trong kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật nói với Bồ tát Đại Huệ rằng: “Phàm người sát sinh, phần nhiều là vì người ăn, người nếu không ăn, cũng không có việc sát, cho nên ăn thịt cùng với sát sinh đồng tội”.

Kinh Lăng Nghiêm, quyển sáu, Phật dạy:

A Nan, lại nữa các thế giới, chúng sinh trong sáu đường, tâm kia không sát, thì không theo việc sinh tử mà tiếp tục. A Nan! Ông tu tam muội vốn là để ra khỏi trần lao; nhưng sát sinh không trừ thì trần lao không thể ra khỏi. Dẫu có đa trí, thiền định hiện tiền, nều không dứt được việc sát thì chắc chắn sẽ rơi vào Thần đạo...”; “Các ông nên biết; là người ăn thịt dẫu được tâm khai giống như Tam Ma Đề, cũng đều là đại la sát, báo hết chắc chắn chìm vào biển khổ sinh tử - người như vậy chẳng phải là đệ tử Phật - giết nhau, nuốt nhau, ăn nhau chưa thôi!”.

Kinh Lăng Nghiêm, quyển tám, viết rằng:

Thế nào gọi là chánh tánh? A Nan, như chúng sinh vào Tam Ma Đề, cần thiết trước tiên là nghiêm trì giới luật thanh tịnh, trọn dứt thân dâm, không dùng rượu thịt... là người tu hành. Nếu không dứt được dâm và sát sinh mà ra khỏi ba cõi, thì không có lẽ đó!

Bậc Cổ đức nói rằng: “Ở đời không có người ăn thịt thì lò mổ không mở ra”. Thế gian nếu không có người muốn ăn thịt, muốn mua thịt, thì nghề sát sinh bán thịt sẽ không cách nào tồn tại, cũng sẽ không có người làm; Thế nào thì người ăn thịt cũng nói ngược lại:

“Không phải vì ta mà giết đâu!”.

Tất cả chúng sinh đều có bản năng sinh tồn của nó, đều có sự tự do sinh tồn. Loài người vì ham thích hưởng thụ cửa miệng, nên giết mạng của nó! Một người chịu gặp cảnh nhà phá, người chết, lìa vợ, xa con, vả hãy còn đợi cơ hội tìm cừu mà phục thù; huống gì sự chấp trước, nhiễm trước của động vật càng quá hơn con người, một khi kết thù oán là không có lúc nào không tìm đòi nợ. Nhân quả báo ứng thì ở bên thân chúng ta. Không tin thì mọi người đến quán rượu lớn lặng lẽ quan sát coi, không tin thì mọi người hồi tưởng lại con cái, sự nghiệp, gia đình, đến tình trạng sức khẻo tự thân của mình coi, thì sẽ biết mức độ tàn hại của những sinh linh nầy tìm đòi nợ mạng. Con người đối với những động vật khác tàn khốc bất nhân như vậy, cho nên mạng mạng đền nhau, nợ nợ đòi nhau sẽ xảy ra kiếp nạn đao binh.

Do đó, muốn cầu thân thể khỏe mạnh, gia đình bình ổn an lạc, con cái hiếu thuận, sự nghiệp thuận lợi; Thì nên từ nội tâm chính mình làm ra, không nên sát sinh ăn thịt. Giả dụ như còn nhẫn tâm sát sinh, ăn thịt thân chúng sinh, thế thì trả báo nợ oán là điều trốn không khỏi!

Ăn chay, thơ xưa chép rằng: “Vị máu thịt dầm dề đáng quí, nỗi khổ đau cũng vậy khó phân, xét lòng muốn - để nơi thân, thì ai chịu lấy dao phân chính mình?”.

Có người nói: “Ta niệm Phật tụng kinh, tâm cũng rất tốt, hà tất phải nhất định ăn chay?”. Đây là lời dối mình, dối người. Thử nghĩ: “Lưỡi dao chặt xuống chúng sinh, mà niệm Phật tụng kinh các thứ, nói thế nào Từ bi! Miệng nói niệm Phật tụng kinh các thứ, mà đem một cục thịt nhét vào miệng, đây nói là Từ bi thế nào?”.

Đã có thể buông cả sự quyến luyến của thế giới Ta Bà, cầu sinh thế giới Cực Lạc, vì sao buông không được vấn đề ăn thịt nầy? Ngài Liên Trì Đại Sư nói: “Thiên hạ nói đâm thân ăn thịt đó là tâm hung dữ, tâm thảm, tâm độc, tâm ác, đâu thế vậy! Vậy còn tâm tốt đang ở đâu?”. Tâm Từ bi là bản thể của chư Phật và Bồ tát, hành vi hung tàn sát sinh ăn thịt cùng với Từ bi rất là trái nhau, mà đời hiện tại thì mắc quả báo mạng sống ngắn ngủi và nhiều bệnh. Thử hỏi: vì tật bệnh trọng đại trói buột, có mấy người còn có thể phát khởi được chánh niệm - niệm Phật. Cho nên đức Phật nói rất cảm khái: “Thân người chết nhiều như đất của đại địa”. Chư Phật dùng các món phương tiện, cứu tất cả chúng sinh, vì sao còn có những người nhiều như thế, ngay cả thân người đều giữ không được? (chỉ cho tư cách, cơ hội đầu thai chuyển sanh làm người đều không có), đây là vấn đề rất nghiêm túc, vả lại đây là vấn đề được suy nghĩ sâu xa!

Có người nói rằng: “Ta ăn thịt không nhiều, lại là thịt từ chợ mua về, tâm địa của ta cũng rất tốt, và vả lại thường niệm Phật tụng kinh, làm việc thiện, như vậy có thể giữ được bình yên hay không?”. Đây là nhân chẳng phải thường mà mong quả - Tự mình sát sinh ăn thịt thì tạo nghiệp đoản mạng, bệnh nhiều; Ngược lại, mà yêu cầu quả báo bình an, trường thọ, sức khỏe của cá nhân không sát sinh, không ăn thịt, thế cầu được không?

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Người ăn thịt mà cầu công đức, tất không thành tựu!”.

Muốn chơn chánh tu hành, liễu sanh thoát tử, thì cần phải nắm lấy từ nhân địa, nhân không chánh, thì cầu không được chánh quả. Cho nên chư vị Đại đức Phật học đời nầy, như lão cư sĩ Hạ Liên Cư nói rằng: “Việc quả báo tìm nhau thật đáng buồn thương, ai biết được luân hồi từ cái nhân, hỏa kiếp đầy trời rực rỡ khiến lo lắng, đều là một niệm sát sinh ăn thịt mà đến”. Do đó, vấn đề khuyên nhau tu hành, niệm Phật, ăn chay, bất tất phải bàn nói đến chỗ huyền diệu nữa, chỉ cần nhớ một câu: “Việc mình không muốn, đừng nên đem đến cho người, cho chúng sinh”. Từng giờ chiếu xét chính mình, kiểm thúc chính mình, thì thịt của chúng sinh có thể ăn hay không? Ăn rồi, trả nợ thường mạng đủ không, lại bèn có thể hiểu biết rốt ráo, tự ta xét định, bất cần người sao cũng được, tự sai lầm, sai lầm đến người!

Sát nhân thường mạng, thiếu nợ trả tiền, đây đã là đạo lý của thế gian. Người sát sinh ăn thịt cướp đoạt đi cái sinh mạng rất tôn quí của chúng sinh, và đem nhục thân rất coi trọng của nó mà ăn đi; Nỗi cừu sâu hận lớn nầy, ở một chút lòng sửa lỗi sám hối, tình huống đó đều không có, tụng một vài biến kinh, lạy - niệm một vài câu Phật, ăn một chút rau cỏ nhỏ nhoi thì có thể qua loa mà kết duyên được không? Cho nên nói: việc cầu công đức, đều không thành tựu.

“Tam tịnh nhục cũng không nên ăn. Tam tịnh nhục là: - không vì ta mà sát - ta không thấy sát - ta không nghe sát. Có người nói: “Ta đến chợ mua thịt mà người ta giết rồi, hoặc nấu chín đã thành rồi về ăn, nên ta không có tội lỗi?” Đây là cách nói xô đẩy trách nhiệm. Thịt ở chợ hay lò mổ là vì ai mà giết? Cần phải hiểu rằng nhân trước có người ăn thịt nên mới có người sát sinh bán thịt, nhân có người sát sinh bán thịt thì có người ăn thịt, hai loại người nầy là liên kết tạo thành tội ác sát sinh.

Kinh Lăng nghiêm nói rằng: “Nếu không dạy không cầu, thì không có tam tịnh nhục”.

Trứng; có người cho là trứng gà hiện tại là trứng gà chuyên nghiệp nuôi dưỡng sinh ra, đều không có thụ tinh, nên không có sinh mạng! Chúng ta có thể an tâm ăn! Nhưng trứng là có “noãn tử” tức là có sinh mạng rồi, nếu nhân duyên đầy đủ (thụ tinh) nuôi thành “ấu thể” của gà; hiện nó không có thụ tinh thì hãy còn có sinh mạng, nếu anh ăn nó rồi, như thế oán cừu đã kết. Huống gì là mùi vị của thịt ngon hơn trứng rất nhiều hãy còn không ăn, hà tất lại bỏ không được vấn đề ăn trứng nầy sao?

Cho nên người tin Phật thì hiểu rõ được nhân quả, không rõ nhân quả thì không thể tu hành! Nhân quả thì mảy may không sai sót, nhân quả báo ứng như bóng theo hình, so ra vi tế hơn chân tơ kẽ tóc, một chút cũng trốn lánh không được, không thể không nhận thức chính mình, không thể không rõ nhân quả, lại càng không thể không tin nhân quả.

Trong Kinh Lăng Nghiêm có một đoạn kinh văn nói: “Các chúng sinh cầu “tam ma đề”, phải dứt năm món rau cay thế gian. Ăn năm món đồ nầy, có năm việc hại”.

Năm việc hại là:

1 - Sinh lỗi; Năm món cay, ăn sống thì sẽ khiến cho khí của tỳ biến xấu, ăn chín thì sẽ tăng trưởng lòng dâm dục.

2 - Xa trời; Dẫu cho có thể giảng kinh nói pháp, thiên tiên và thiên thần mười phương cũng sẽ ngờ là dơ nhớp, mà lánh xa khỏi.

3 - Gần quỉ; Chúng ngạ quỉ mừng vui liếm môi, mổ mép, thường ở chung một chỗ với quỉ.

4 - Tiêu phước; Phước đức lần hồi tiêu mất, thường không được lợi ích.

5 - Nhóm họp với ma; Dù cho tu được thiền định, cũng sẽ nhân việc thiện thần bỏ đi xa lìa, mà nhường cho quỉ ma trống chỗ chen vào. Ma đến dạy người quan niệm in hình như phải mà lại trái, đến nỗi hủy phạm thiện giới thanh tịnh. Sau khi chết thành quyến thuộc của ma vương, sau khi phước báo cõi ma hưởng hết rồi, lại sẽ đọa vào địa ngục vô gián.

Năm loại đồ ăn cay là: Hành, tỏi, hẹ, kiệu, và cừ (?) (có thể là loại củ nén). Năm món thực vật cay nồng nầy, là trí Phật coi xét không sai sót mảy may, là Phật tử nên kính tin mà ngừa ăn đó. Các loại rau cải phần nhiều là ăn được hết, chẳng nên nhân việc nhỏ mà mất việc lớn.

Nếu có người đả phá biểu tượng Phật, reo rắt là ăn thịt, uống rượu, hành dâm không ngại đến việc tu hành, cái được ở ngay nơi tâm! Người đó không phải thân chứng quả Phật, mà là tà thuyết, cuồng ngôn loạn ngữ, họ nói rằng: “ăn thịt là độ chúng sinh, ăn càng nhiều thì độ càng nhiều, rán sức mà ăn; Ăn càng nhiều, công đức càng lớn. Lại đây, ta dạy cho kiết ấn, trì chú, siêu độ chúng nó thăng thiên!”; Thế nầy trái với lời Phật nói! Người nầy nói lời mê ngủ của ma, đánh đổ cờ xí Phật, tướng giống người tu, thật là loài ma, nên cẩn thiết chớ quá đáng! Ta nên mau mau xa lìa để khỏi hư hoại huệ mạng của ta, mất đi chánh đạo.

Ăn chay là bước khởi đầu rất cơ bản của vấn đề học Phật, nếu còn sợ khó chân không bước tới trước, phải nên tự suy nghĩ, vì sao cần học Phật? Rất nhiều người chưa ăn chay không biết chỗ tốt của ăn chay, còn người đã ăn thì không sạch miệng, cho đến nỗi có kẻ chứa điều tai hại tạo nghiệp, có kẻ phạm trai phá giới, tự đoạn giống Phật, rất là đáng buồn thương!

Ăn chay là một cửa tắt để tu thân dưỡng tánh. Ăn chay, rốt cuộc có chỗ tốt đẹp gì? Do rất nhiều điều tốt, chỉ có tự mình ăn chay mới có thể hiểu được, như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Chỗ tốt của việc ăn chay trừ vấn đề không cùng với chúng sinh kết oán cừu ra, còn có thể giảm ít đi dự phòng và phát sinh bệnh tật, thân thể cường tráng, còn được sinh tâm hoan hỉ, tâm từ bi, so về kinh tế, giá trị dinh dưỡng cũng so cao hơn.

ĂN CHAY LÀ VẤN ĐỀ NGUYÊN TẮC

Không sát sinh là giới đầu trong giới luật rất là cơ bản của Phật. Nhưng vấn đề năm mùi vị khiến miệng người ưa thích, bỡi đã là thói quen do nghiệp lực dẫn dắt từ nhiều đời nhiều kiếp, nếu một người nào đó buông bỏ mỹ vị mà đổi lại ăn đồ chay thì rất là chẳng đơn giản chút nào mà lại khó khăn mười phần. Ăn đồ chay, chúng ta là người tu hành học Phật cần phải suy tư về nó, chứ không phải là ưa hay không ưa ăn! Vấn đề ăn được hay không, dễ hay khó thì đó là vấn đề tu hành học Phật, chí thành chân tâm hay không của chính mình? Nếu học tu hành chí thành chân tâm thì giữ vững nguyên tắc, xả bỏ sự thèm muốn cửa miệng, chỉ ăn toàn đồ chay! Như nếu tin Phật mà không tu hành, không dùng đồ chay; Đó là “ý thức” quyết định sự “tồn tại” không dính líu với người khác. Ăn chay là một lối đi tắt hoàn chỉnh nhân cách. Tâm lý sẽ ảnh hưởng sinh lý, nếu ở nơi tâm lý cho rằng đồ chay không thích ăn, thế thì nuốt không trôi; cho là ưa ăn thì dù không bỏ bột nêm vào mà ăn vẫn thấy ngon, thích ăn chay hay không, ăn được hay không đều do ở nơi tâm lý phát sinh ra cả. Thật sự mà nói, bỡi vì thế mà có những cụ già bà lão ăn chay đến mấy chục năm, đến lúc gần chết còn bỏ chay ăn mặn; có những Tỳ kheo sau khi hoàn tục vẫn vậy không ưa thích thịt cá. Có thể thấy rằng người đời giữ vững nguyên tắc là một việc rất gian nan khổ sở! Một người lập chí học Phật tu hành, việc sinh tử đều có thể buông bỏ thì hà tất gì ở nơi một chút việc ăn chay mà làm cho chướng ngại ngay nơi tâm lý. Chúng tại gia chúng ta, muốn thoát lìa biển khổ mới đi học Phật, lại còn sợ ăn chay, cho là đồ chay sẽ làm tổn thương sức khỏe! Như thế e rằng học không được cái gì cả!

Ăn chay, đối với đạo Phật thật ra là việc nhỏ, nhưng ngược lại là cửa ngõ số một cho người học Phật. Chúng ta trang nghiêm cuộc sống Phật đạo, không nên theo thế tục tham lam mưu cầu sự thèm muốn miệng bụng, đường lớn ngay phía trước, quần ma nhường lối, còn có cái gì so bì nghiêm túc bằng việc ăn chay?

Có người nói rằng: Học Phật thì tốt. Cũng có người cho rằng: Tâm tốt thì tốt, sao nhất định phải ăn chay học Phật? Anh cho rằng cuộc sống hiện tại tốt, không ăn chay thì không ăn chay; Song học Phật là muốn ra khỏi sáu nẻo luân hồi (ra khỏi ba cõi), lìa khổ được vui, thì phải ăn chay.

Tất cả chúng sinh bình đẳng, người cho rằng lòng dạ của người tốt, vậy thì hãy nhìn xem sự đau đớn giãy giụa, rên la, sợ sệt khi chúng sinh bị giết, người nói đó là tấm lòng tốt của người phải không? Mọi chúng ta nhu cầu cho thân thể ít, mà ăn thịt lại nhiều, ngay trên việc ăn uống lại cầu cho vị ngon thích miệng, vì nhất thời miệng bụng hưởng thụ mới giết chúng sinh để ăn, như vậy người có lòng Từ bi không? Đệ tử của Phật thì tâm phải thanh tịnh, thân cũng cần trong sạch. Những người ăn thịt chúng sinh đem bao tử của mình làm chỗ chôn cất chúng sinh, thế thì thân thể của người có trong sạch không? Mà thân đã không trong sạch, thì chư Phật, Bồ tát không nguyện ở với người rồi.

Kỳ thật, thịt chúng sinh không phải là vị ngon họp khẩu mà là những đồ gia vị, nếu trong lúc nấu nướng thịt chúng sinh mà không nêm bất cứ thứ gia vị nào để điều chỉnh, người sẽ thấy rằng không ngon, ăn không được.

Người đời phần lớn cho rằng chỉ có “sơn trân hải vị”, thịt béo cá to mới ngon, mới có dinh dưỡng. Rau xanh, đậu hủ những món quay qua quay lại của hạng người bần cùng mới ăn. Kỳ thật cái ngon của đồ chay hay mặn, rau đậu hay cá thịt, khi vào miệng qua cổ rồi, vị gì cũng đều không còn nữa! Ăn uống chủ yếu là làm cho bao tử không đói, miệng không khát, duy trì thân thể mạnh khỏe. Đồ ăn không phải là xem đẹp xấu, giá trị cao thấp của nó để phân biệt tốt - xấu, mà phải coi thử ăn nó có khỏe mạnh cơ thể hay không.

Ăn chay, không ăn thịt chúng sinh, ngay cả những đồ có pha chế thịt hay trứng cũng chẳng được ăn.

Ăn chay, không ăn thịt chúng sinh, nhưng mua về những đồ giả gà, giả cá v.v... nói chung là những đồ giống như thịt cá, để ăn cũng chẳng được. Bỡi vì đây là tuy niệng không ăn thịt chúng sinh, ngược lại trong tâm lại ăn, thân thể thì tịnh mà trong tâm không tịnh.

Học Phật tức nên ăn chay, nếu người khác trong gia đình phản đối thì trước nên hiểu rõ đạo lý Phật dạy, ở gia đình, ở xã hội, nương soi lý Phật mà làm, làm cho đức hạnh mình tốt, trong tâm thanh tịnh, khiến những người khác trong gia đình hiểu được anh đối với ngày chưa học Phật về trước tâm tham lớn, tâm sân nặng, thiếu sót trách nhiệm cảm đến tâm từ bi; Đến nay sau khi học Phật tất cả đều biến đổi, tâm tham ít, tâm sân mỏng, từ ái với người, làm việc có trách nhiệm gánh vát. Khiến cho người ta hiểu chỗ tốt mà anh học Phật, đối với gia đình và xã hội. Lúc đó muốn ăn chay, người nhà không những không phản đối mà ngược lại khởi tâm đồng tình, lần lần học cùng anh. Như học Phật mà chỉ học ăn chay, không học việc gì khác, thì nhất định sinh chướng ngại.

Phật học muốn cầu bình đẳng, từ bi thì phải ngăn chặn việc sát sinh, cho nên đề xướng ăn chay. Từ trước đến nay người ăn chay thuộc về lý do tôn giáo. Những năm gần đây vì sau khi khoa học dinh dưỡng và cuộc sống tiến hóa tiến bộ, mới biết rằng ăn chay và sức khỏe có sự quan hệ mật thiết với nhau, ăn dùng thân xác động vật tệ hại vô cùng. Gần đây vừa phát hiện dùng đồ ăn thiên nhiên tươi sạch thay thế cho thịt và đồ ăn gia công bào chế, không những thể lực mạnh khỏe mà độc tố trong cơ thể cũng giảm ít đi, đối với nhiều tật bệnh khó trị cũng trợ giúp rất lớn, khiến người có chứng bệnh đau đầu cũng có thông tin trị bớt.

Nay các chuyên gia khoa học gần đây nghiên cứu thành phần dinh dưỡng đối với đồ chay, đề cập tới phân lượng dinh dưỡng của đồ ăn mà thân thể nhu cầu, đưa ra một giới thiệu đơn giản thành phần dinh dưỡng của đồ ăn mà nhân loại nhu cầu, bao quát có:

1 - Đường

2 - Dầu, mỡ

3 - Chất lòng trắng trứng (Protêin)

4 - Chất khoáng.

5 - Chất cà rốt (Carotin)và Vitamin.

6 - Vitami PP.

Giờ xin đem nguồn gốc các chất dinh dưỡng của thực vật mà cơ thể con người nhu cầu nói rõ sau đây, mong rằng mọi người có chỗ nhận biết:

- Đường: Có ở trong các loại ngũ cốc, đậu xanh, đậu vàng v.v...

- Dầu, mỡ: Có trong rau cải, đậu vàng, đậu phộng, mè, ngô, rau, dầu, hạnh nhân, đậu xanh v.v... Trong trái cây thì hạt dưa hấu, trái dừa, hạt dẻ, quả hạch đào v.v...

- Chất Prôtêin: Trong rau cải thì có ở trong các loại họ đậu và các món được bào chế, toàn lúa mạch được bào chế, con men, ngô, quả có hạt, đậu vàng, đậu phộng, mè, hạt hoa hướng dương, bốn món trên hàm lượng rất phong phú.

- Chất khoáng: Chế ra từ các món họ đậu như mè (vừng), con men chế ra từ ngũ cốc, rau cỏ xanh như: Hải đới (côn bố - tên thuốc), bí đỏ, đông cô (nấm), cà chua v.v...

- Chất Carôtin và Vitamin: Các loại đậu, mộng đậu, rau lá xanh và các loại trái cây v.v...

- Vitamin P.P: Đậu phộng, các sản phẩm được chế toàn ngũ cốc, gạo chưa giã và các loại đậu.

Ăn uống chủ yếu tốt nhất là gạo chưa giã, hoặc toàn mì miếng, không cần phải ăn mì trắng gạo trắng. Nếu gạo chưa giã không dễ mua thì có thể dùng mầm phôi để thay thế cũng được.

Phải nên thường dùng các loại rau cải tốt tươi, trái cây cũng nên ăn nhiều, lá rau xanh tốt tươi phải có trên một nửa trong bữa ăn.

Rau cải, trái cây lúc mua về dùng năm phần muối và một trăm phần nước ngâm nó mấy phút xong đem tẩy rửa ở vòi nước sạch, để trừ khử nồng độ của thuốc độc.

Ăn uống tốt nhất có một vấn đề rất là trọng yếu tức là rau cải, trái cây, hoặc rau non cần phải không có thuốc men độc địa, ký sinh trùng hoặc ô nhiễm. Không như vậy thì rất là nguy hại, rất phải nên chú ý.

Các loại đậu, đậu phộng, mè, (vừng) là gốc chủ yếu của Protein, không nên ngại làm phiền mà không ăn đó, chỉ ăn đậu hũ, đậu tương thôi thì sẽ không đủ dinh dưỡng. Nếu dùng nó quá lượng sẽ có lúc bị đau, thì nên dừng ăn mấy ngày sẽ hết đau, giảm lượng ăn mà không hết tức là người đó có bệnh, nên cần phải đến thầy thuốc.

Rau cải không nên ăn lạnh, lúc nấu nên bỏ thêm mấy miếng gừng để được trung hòa.

Rau cải, trái cây, đậu phộng, tốt nhất là ăn sống, vì ăn sống dinh đưỡng nhiều hơn là nấu ăn chín (hạt giống nóng quá sẽ không thể nảy mầm sinh trưởng).

Mè (vừng) nếu lúc có cát lộn vào, nên dùng nước đãi bỏ và đem rang chín mà ăn.

Cơm gạo lức (gạo chưa giã) là phương cách tốt nhất.

Gạo lức, cách nấu nếu giống như gạo trắng, cơm đó nấu ra hạt sẽ khô xảm khó nuốt, ăn xong lại khó tiêu hóa; Nếu như hiểu được cách nấu thì cơm khi nấu ra sẽ rất mềm mà lại dễ ăn, hiệu suất tiêu hóa lại cao hơn gạo tinh trắng - phương pháp nấu cơm gạo lức như sau:

1 - Gạo lức chưa được vo sạch mà đã gấp rút nấu, vì bên ngoài của lớp gạo lức có một lớp vỏ đen, nước ngấm qua lớp vỏ đen nầy để đến được gạo bên trong ít nhất là hai giờ đồng hồ, cho nên giả như lúc nấu là sáng, thì hay nhất là trước lúc gần ngủ đem gạo rửa sạch ngâm một đêm.

2 - Lúc nấu để nước ngập gạo và trên một nửa so với gạo. Dùng nồi nấu mau tốt hơn dùng nồi điện.

3 - Thời gian nấu cần phải lâu hơn thời gian nấu cơm trắng hơn mười phút.

4 - Không được nấu chín thì ăn liền, đợi trong nồi giữ yên cơm sau mười phút, từ từ nguội dần rồi mới mở nắp ra ăn. Nên nhai nhỏ nuốt chậm, không nhai nhỏ thì không dễ tiêu hóa.

Trên đây là bốn phương cách để nấu cơm gạo lức, đã ăn ngon mà sức tiêu hóa lại cao.

Các loại đậu lúc nấu thì chẳng cần rửa kỹ mới nấu, nhưng cũng nên phải ngâm sau vài giờ mới dễ nấu chín nhừ.

Buổi sáng nên ăn no khoảng tám phần, không cần chỉ ăn cháo, tương, rau, cũng được. Trưa ăn no khoảng bảy phần, bữa chiều no năm phần. Bữa chiều không nên ăn quá no, càng không nên ăn dặm buổi tối, vì ăn dặm buổi tối rồi ngủ, lúc ngủ dậy, nước dịch xúc tác vấn đề tiêu hóa giảm ít đi, mức độ tiêu hóa tự nhiên chậm lại, kết quả sáng ngày thứ hai không còn muốn ăn sáng nữa.

Sau khi ăn xong trong vòng một tiếng đồng hồ không được tỉnh tọa hoặc niệm Phật to tiếng, vì như thế dễ sinh bệnh về đường ruột. Đây là tác dụng của sinh lý.

Ăn chay, vì không rõ về dinh dưỡng đối với đồ ăn cho nên cho rằng dinh dưỡng không tốt, thân thể suy nhược, lại sợ ăn chay không tốt nên thối lui tâm Phật, thế thì rất là đáng tiếc!

Chất dinh dưỡng trong thân thể chúng ta nhu cầu thành phần thực vật hàm lượng phong phú hơn xa so với động vật. Ngày nay chúng ta tu hành học Phật, mượn giả tu chơn, nghiên cứu đối với dinh dưỡng đồ ăn chay, không được thiếu sót, mong mọi người cùng đồng nghiên cứu, để thân thể cường tráng khỏe mạnh, làm gương mẫu tốt để độ được nhiều chúng sinh.

Ăn chay điều cần yếu là cân bằng được sự ăn uống với thân tâm, mới có thể thu được hiệu quả lớn.

Ăn đồ sống là sản phẩm thánh làm đẹp dung mạo.

Ăn đồ sống là thuốc hay làm giảm béo phì.

Ăn đồ sống (là phép ăn thiên nhiên) là đồ ăn về thực vật mà đồ ăn đó chưa được nấu chín và trải qua sự gia công bào chế, ví như rau cải, trái cây, dưa, đậu v.v... các loại.

Vấn đề ăn sống, bất kỳ người nào cũng đều có thể thực hành, có ích mà không có hại, ví dụ như phần lớn hoặc toàn bộ là đồ ăn sống, một vài tình cảnh nào đó tốt nhất là cần phải trải qua thời kỳ quá độ, trước thì số ít, sau lần lần tăng thêm, chờ đến sau ba tháng thì mới ăn đồ sống số nhiều.

Có vài nguyên tắc là người chủ yếu ăn thịt, nếu như một vài biến chuyển do ăn đồ chay hoặc ăn đồ sống, chất độc trong cơ thể sẽ bài tiết ra rất mau, có thể chịu không được.

Ăn đồ sống là phép ăn thiên nhiên mục tiêu sau cùng là lấy mầm cải của hạt nảy ra hay trái cây, rau cải làm chủ yếu. Nhưng khi mới bắt đầu, đường ruột vì chưa có thói quen lập tức, vì vậy cần phải trải qua một khoảng thời gian (ước chừng ba tháng), ở trong khoảng thời gian nầy nếu có thể tuân thủ một vài nguyên tắc cơ bản, thì sẽ dễ dàng thay đổi thôi:

1 - Lần hồi tăng thêm lượng rau quả tươi tốt. Mức độ thấp nhất là 5O% rau sống.

2 - Trước và sau bữa ăn không nên uống canh và nước, vì sẽ làm loãng đi chất nước dịnh kích thích tiêu hóa.

3 - Lúc đói mới ăn, lúc tâm tình không tốt, hay nhất là không nên ăn.

4 - Trái cây ăn tốt nhất là thời gian giữa hai bữa ăn, trái cây rất dễ tiêu hóa, nhưng nếu như ăn sau bữa ăn thì không thể hoàn toàn phát huy được hết tác dụng dinh dưỡng của nó.

Sau đây là một chút kiến nghị về ba bữa ăn trong một ngày:

Sáng có thể kiểm soát cái tốt cái xấu trạng thái và tinh thần của một ngày, nhân đây lựa chọn đồ ăn cần đặc biệt chú ý. Buổi sáng trái cây là lý tưởng nhất, chỉ cần thêm một ít hạt đậu phộng hoặc mè.

Đổi cách ăn tốt là ăn đồ sống như thế có hưởng thọ những đặc quyền như là: Tiêu hóa tốt, đường ruột thông suốt, nhuận trường, giấc ngủ yên ổn, thậm chí đối với bên ngoài của con người cũng sẽ thay đổi (trẻ trung), đầu tóc đen mướt, răng cứng cáp, da dẻ mịn màng, hai mắt có thần.

Khi thời gian đầu thân thể giảm cân, đây là hiện tượng đáng mừng, bỡi vì trong cơ thể sẽ bài tiết ra những tế bào không tốt, mới có thể tổ chức lại những tế bào mới. Ở trong thời gian chuyển biến có một vài việc có thể sẽ cảm thấy không được thích nghi như: Cảm giác đau đầu, phát nóng, hoặc tinh thần không phấn chấn... đây là những độc tố trong cơ thể bài tiết quá mau, độc tố còn lại ở trong máu dịch tuần hoàn dẫn đến như vậy. Nhưng những hiện tượng nầy sẽ qua mau (không cần đi bác sĩ hoặc uống thuốc gì cả), qua thời gian sau đó có cảm giác mỏi mệt rã rời. Nên rất tự nhiên bình tĩnh, người nào nếu tuân thủ những qui luật nầy, thì sức khỏe, vui vẻ thuộc của người đó; Nếu ngược lại, thì tật bệnh, già suy sẽ là một phần lớn trong cuộc sống của con người. Sự lựa chọn sau cùng vẫn là ở nơi tự cá nhân mỗi người.

PHÁP MÔN TRÌ DANH NIỆM PHẬT

Niệm Phật trì danh là giữ gìn hành trì một câu danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật”, rất đơn giản dễ dàng, nhưng pháp rất là rộng lớn. Chỉ cần niệm Phật một cách chí thành, khẩn thiết, chuyên nhứt và cung kính, mới có thể cảm ứng với đạo, tức đời sống được lợi ích.

Người tu tịnh độ từ xưa đến nay, phương pháp trì danh niệm Phật, được thành tựu ấy con số rất nhiều. Pháp môn đó rất là thẳng tắt, rất viên đốn, có thể vượt qua mà không cần trải qua sự lần hồi tu hành, vả lại có thể đốn siêu (vượt qua mau chóng). Cũng giống như từ cấp tiểu học vượt thẳng lên đại học mà bằng phương pháp rất là đơn giản, khiến người ta không dám tin, thật là “bất khả tư nghì” (không thể nghĩ bàn)!

Đối với pháp môn vô thượng mà giản dị nầy, chớ nên coi dễ mà không siêng năng, chớ cho là khó mà sinh e sợ thối lui, chớ cho là cạn cợt mà tỏ vẻ khinh khi, chớ cho là sâu xa mà không dám thừa đương, chớ muốn mau lẹ mà không chịu bền lâu, chớ lười mỏi mà không mạnh mẽ, chớ vì ngu chậm mà cứ mãi vô tâm, chớ vì căn cơ mình cạn cợt mà tự chê không có phần.

Ví như mài dao, mài lâu dao lụt thành dao bén, nếu vì lụt mà chẳng chịu mài, để đó thành đồ vô dụng.

Lại nữa nếu cho rằng tu hành là khổ, thì không biết là lười mỏi càng khổ hơn sao? Tu hành thì siêng năng lao nhọc tạm thời mà an lạc vĩnh kiếp, lười mỏi thì cầu an một thời mà thọ khổ nhiều đời. Bỡi vậy trì danh hiệu Phật là chơn bất khả tư nghì, hay tu trì thì tâm tánh cũng bất khả tư nghì.

Người tu hành cần cầu một đời việc xong, mau ra khỏi sinh tử, thì chỉ có pháp môn trì danh niệm Phật. Vì trì danh niệm Phật, một phương diện là nhờ sức lực tín, hạnh, nguyện chính mình; phương diện khác lại có thêm lực đại bi đại nguyện của đức Phật A Di Đà. Có được hai lực lượng tự lực và tha lực, thì dù tự lực chưa đủ còn có Phật lực mà có thể nương cậy. Cho nên nói rằng trì danh niệm Phật là một phương pháp rất ổn định.

Một pháp trì danh rất họp thời cơ, bỡi vì pháp môn nầy không bỏ phế pháp thế gian mà chứng Phật pháp, không lìa Phật pháp mà hành pháp thế gian, tùy thời tùy cơ mà có thể tu hành, không cần vào núi ẩn tu, hoặc đóng cửa ngồi yên, đối với việc hữu ích cho đời vẫn có thể làm được.

Muốn được lợi ích Phật pháp thì phải có tâm cung kính, có một phần cung kính thì tiêu được một phần tội nghiệp, thêm một phần phước huệ. Có được sự cung kính mười phần thì tiêu mười phần tội nghiệp, tăng thêm mười phần phước huệ. Nếu không có tâm cung kính thì dẫn đến thói hư hèn ngạo mạn, nghiệp tội ngày càng tăng mà phước huệ ngày càng giảm đi. Do đó mà sự cung kính chí thành thật là “siêu phàm nhập thánh”, cũng là bí quyết “liễu sinh thoát tử”. Có thể đem tâm chí thành, nhất tâm niệm Phật, tâm cung kính nhớ Phật, chắc chắn có thể lìa được biển khổ sinh tử. Chỉ cần một lòng buộc niệm không rạn vỡ, chắc chắn sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây.

Tâm cung kính là rất tin tưởng đối với Phật và Bồ tát, cần nương theo pháp mà làm, tôn trọng pháp. Mà không phải là cung kính bên ngoài, thấy tượng Phật khúm núm vái chào. Bên ngoài biểu hiện cung kính mà trong tâm không cung kính đó là hư ngụy. Nên phải từ trong tâm chân chính rõ hiểu Phật và Bồ tát, không phải là cung kính bướng bỉnh miễn cưỡng. Thật sự có chỗ rõ hiểu rồi, thì từ trong tâm sinh khởi lòng cung kính, đây tức là “như pháp”.

Niệm Phật và tâm chí thành, tâm cung kính có phải là chơn chánh không? Chư vị nghĩ xem trong lúc niệm Phật hoặc tụng kinh nếu như gặp một người khá quan trọng hoặc một công việc quan trọng, thì niệm Phật tụng kinh sẽ trở thành thứ yếu (ít quan trọng hơn); Như vậy có thể thấy rằng sự cung kính, chí thành nầy chưa được chơn thuần, cho nên cần phải chân thành cung kính một cách chơn chánh, thì niệm Phật tụng kinh mới là việc lớn thứ nhất của đời người. Ví như có người, trong lúc anh niệm Phật tụng kinh, bảo anh rằng: “Hiện tại có một việc buôn bán nếu làm gấp thì sẽ thu được lãi là trăm vạn đồng”, bảo đảm rằng anh sẽ quay đầu đi, không niệm Phật được rồi. Có thể thấy rằng chúng ta cung kính, chí thành đối với Phật và Bồ Tát mà chịu không nổi thử thách, khi trải qua thử thách thì mới hiểu được tâm cung kính, tâm chí thành nầy không chơn thật một chút nào cả.

à Pháp môn niệm Phật, không phải là phương pháp kỳ diệu gì cả, chỉ cần chúng ta có thể dốc lòng mà niệm, nhất định sẽ thành công. Thế nào gọi là dốc lòng (hay còn gọi là “tâm chết”), tức là làm cho chết sạch đi tất cả những cái tâm phiền não, vọng tưởng, chấp trước. Nhất tâm chuyên niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, trong tâm có Phật, Phật không lìa tâm, tâm không lìa Phật, nhất tâm bất loạn.

Tác dụng của trì danh niệm Phật là cần phải đem tâm ta và tâm Phật họp nhất, đến mức chí thành, yên tĩnh, chân không, vắng lặng, cùng Phật tâm tâm nhiếp với nhau, tâm ta và tâm Phật trọn vẹn một thể. Tự nhiên có những cảnh giới bất khả tư nghì. Nếu tâm ta mờ mịt tán loạn, nguyện đã mất đi sức lực vốn có của bản tâm, làm sao có được những cảnh giới ấy xuất hiện.

Ví dụ như một giọt nước rơi vào trong đất thì chẳng làm được gì, nếu rời đất mà vào biển thì nước cả biển cùng với giọt nước nầy hoà thành một thể, lực đó rất lớn bất khả tư nghì.

Giọt nước dụ cái tâm, đất dụ cho sáu căn, sáu trần và sáu thức (6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. 6 trần: sắc, tiếng, mùi, vị, va chạm, pháp. 6 thức: là sự cảm giác của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý). Nhiếp giữ các căn, xa rời các trần, vượt thoát các thức, tức chung thông với tâm Phật, chứng với tâm Phật, thành là một thể. Sức oai thần đó cũng là bất khả tư nghì.

Trì danh niệm Phật tuy dễ dàng, một phương pháp tu hành nhẹ nhàng thoải mái; Song khó ở chỗ là không có tín tâm, nguyện tâm, hằng tâm đối với Đức Di Đà, chỉ muốn sinh về thế giới Cực Lạc phương tây! Niệm Phật kiểu làm theo lệ, có thể qua loa thì qua loa, có thể bày biện thì bày biện, tùy tiện không chuyên tâm, qua được cho qua, thế thì không có chút gì ở tại tâm ý.

Trì danh niệm Phật, nên cần phải trong lúc niệm chuyên chú vào một cảnh, không nghĩ tưởng việc khác, tất cả đều buông bỏ, nên nhất tâm niệm Phật, hễ nghĩ là Phật, tưởng cũng là Phật, đến lúc công phu thuần thục, rỗng rang tự nhiên rơi rụng câu niệm Phật, chứng nhập vào cảnh giới “vô niệm” mà không niệm nào chẳng niệm. Công phu đến đây niệm Phật mới là đạt đến phương pháp, cảm ứng với đạo, thấy được sức công hiệu tốt đẹp.

NHẤT TÂM NIỆM PHẬT

Nhất tâm niệm Phật, là chỉ có một tâm niệm Phật, ngoài ra không có niệm tạp vọng tưởng phiền não. Miệng niệm Di Đà mà tâm không tán loạn, miệng niệm Di Đà tâm tán loạn thì không được lợi ích.

Niệm cần phải niệm nhất tâm, trong miệng niệm Phật, trong tâm tưởng Phật, niệm là Phật, tưởng cũng là Phật, không kể là có vọng tưởng hay không vọng tưởng, nếu là niệm Phật mà tâm tán loạn, hoặc tưởng việc khác, thì không phải là nhất tâm niệm Phật.

Niệm Phật không khó mà khó ở chỗ trì lâu, trì lâu không khó mà khó ở nhất tâm, nhất tâm thế nào? Nhất tâm tức là xả bỏ tất cả công việc của thế tục, buông tất cả việc đời đi, chẳng nên nghĩ, chẳng muốn nhớ, không mong lấy, không vọng dùng, mà chỉ có tâm niệm Phật tưởng Phật.

Giữ gìn sáu hoặc bốn chữ danh hiệu Đức A Di Đà, đều cần phải chí thành khẩn thiết, nhất tâm niệm Phật, vọng tưởng tạp niệm khởi, không nên để ý nó, càng không được lởn vởn theo nó, anh niệm Phật của anh, ngày ngày dụng công, năm năm dụng công, thời gian lâu rồi niệm Phật thuần thục, tâm chẳng dong ruổi bên ngoài, vọng tưởng tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay tự nhiên tiêu ma hết. Tối kỵ là tất cả trạng thái bồng bồng bềnh bềnh, một cái tâm trôi trôi nổi nổi, chẳng dùng một chút sức lực nào cả, kiểu như thế thì chỉ có một sự rỗng tuếch buông trôi thời gian mà thôi!

Giữ gìn danh hiệu Phật, niệm từ tâm khởi, tiếng từ miệng phát, âm vào nơi tai, từng chữ từng câu niệm được rõ ràng, nghe được rõ ràng, nhiếp cả sáu căn, chẳng được niệm kiểu nuốt chửng hàm hồ qua đi. Nhất tâm niệm Phật, nếu hay chí thành, chẳng chấp thủ ở nơi tướng, tự có thể nhiếp cả sáu căn, có ngày công phu thuần thục, định - huệ tự nhiên hiện tiền, ba món độc (tham - sân - si) không khởi, ác nghiệp chẳng tạo ra.

Có những người miệng thì niệm Phật, trong tâm ham muốn suy nghĩ sai quấy loạn tưởng, phép niệm như thế là không có chỗ tác dụng. Nên cần phải niệm Phật nơi miệng, tưởng Phật nơi tâm, tâm và miệng họp nhất. Ngoài câu niệm Phật ra, việc gì cũng không tưởng nghĩ, niệm gì cũng không khởi, mới dễ được nhất tâm bất loạn.

Thử nghĩ, miệng niệm Phật, tay lần chuỗi, mà tâm lại tưởng việc khác, hoặc mắt nhìn ngó đông tây, hoặc nghe âm thinh nào đó, hoặc có người nào đi qua bên cạnh thì quay đầu mà dòm ngó đánh tiếng đưa tin, hoặc tâm tình buồn phiền, hoặc công việc bận rộn khó nhọc, vả lại gấp rút thời gian làm như qua loa niệm số mục cho hết việc, tức khiến cho mỗi ngày số lượng niệm đến ngàn câu danh hiệu Phật, cũng chẳng được kể là nhất tâm niệm Phật.

Niệm Phật không nên mong cầu công hiệu tâm mới có thể thanh tịnh, nên làm đến chỗ “vô sở cầu”. Người tu hành niệm Phật, tuy hàng ngày bề bộn công việc, dù công việc bề bộn mà tâm không bề bộn, giữ gìn tâm thanh tịnh.

Học Phật tu hành, điều cần yếu trước nhất là tâm sạch và ít ham muốn, mới hay đạm bạc với việc đời, không mang không vát, không buồn, không suy nghĩ, mới có thể chuyên chí nhất tâm niệm Phật. Nếu đa dục (ham muốn nhiều) thì bị sự trói buộc của tham sân si, bị lao vào sự lao nhọc lọc lừa mưu mẹo của việc đời, tâm tình rối loạn niệm Phật làm sao được nhất tâm?

Niệm Phật cần phải niệm toàn cả phương vị, cũng tức là nói: tâm, hành vi và miệng của người niệm Phật cần phải kết họp thành một thể, mở miệng niệm Phật, trong tâm nên cần phải tưởng nhớ Phật và hành vi cũng không nên trái với lời dạy răn của Phật. Thân, miệng và tâm họp nhất là cương lĩnh chính yếu của niệm Phật giải thoát. Nếu như danh hiệu Phật mà ta niệm chỉ dính ngoài cửa miệng và không cùng tâm, thân kết họp với nhau làm sao có thể đạt được sự lợi ích của niệm Phật.

Chánh tín niệm Phật là không nên chấp trước phải niệm như thế nào, nghĩ tưởng đến thì niệm, quên niệm cũng bất tất phải vấn vương nơi ý, có những lúc bệnh hoạn hoặc đau khổ, có thể niệm thì lập tức niệm.

NIỆM PHẬT NHIỀU

Niệm Phật nhiều không phải là số lượng cho nhiều, mà là hằng ngày niệm Phật, tùy thời gian, tùy nơi chỗ, đi đứng ngồi nằm, lúc động lúc tịnh rảnh rang hay bận rộn, công việc không dụng tâm mà đều là A Di Đà Phật. Có thể niệm Phật số mục nhiều lại có thể tinh thuần “nhất tâm”, thế thì càng tốt.

Niệm Phật nên phải niệm nhiều mới có thể nuôi thành thói quen niệm Phật, thói quen trở thành tự nhiên, bình thường mới có thể khởi niệm niệm Phật tùy thời tùy chỗ. Niệm Phật không có thói quen, chỉ định thời gian công khóa mới khởi được tưởng niệm Phật, lúc bình thường sẽ khởi không được tưởng niệm Phật. Nếu ngẫu nhiên khởi được tưởng niệm Phật, thì niệm cũng không được bao nhiêu tiếng rồi dứt mất. Cho nên niệm Phật cần phải niệm nhiều để tập thành thói quen niệm Phật.

Muốn tập thành thói quen niệm Phật, không phải là một sớm một chiều thì có thể được, mà phải là năm dài tháng rộng nuôi dưỡng mà thành, thói quen thành thục một cách tự nhiên càng phải cần đến công phu sâu dày.

Vì sao cần niệm Phật nhiều? Đó là vì tăng thêm lớn lực niệm Phật, khiến cho nghiệp lực giảm lại ít đi, lực niệm Phật càng lớn thì lực của nghiệp càng nhỏ. Lực niệm Phật lớn, đến lúc “nhất tâm bất loạn” thì được “Niệm Phật tam muội”. Lực của nghiệp nhỏ, nhỏ đến khi vọng tưởng tạp niệm không khởi, phiền não sẽ dứt. Lực niệm Phật lớn thì lúc mạng chung biết trước thời gian, chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo mà niệm Phật vãng sanh. Còn lực của nghiệp mà lớn hơn lực niệm Phật, thì lúc mạng chung nghiệp lực hiện tiền, nghiệp của ngày trước chiêu cảm khiến tâm sinh sợ sệt, tâm chẳng điên đảo trở thành điên đảo, tâm một khi điên đảo thì bị nghiệp lực dẫn chạy, chuyển nhập luân hồi.

Người đời do tập khí vô minh phiền não, không phải đời nầy mới có, mà đời đời kiếp kiếp đã có rồi, vả lại từ nhỏ đã nuôi dưỡng thêm lớn, hằng ngày đều tưởng đến, hằng giờ đều dùng đến, thì bảo làm sao nó không phát sinh nghiệp lực rất lớn? Cũng như vậy, chúng ta nên niệm Phật cho thành một sức mạnh, trực tiếp lôi kéo khắc phục những vô minh tập khí, phiền não, vọng tưởng. Cũng tương tự, nên hằng ngày niệm Phật, hằng giờ niệm Phật, trong cuộc sống thường ngày tùy thời, tùy chỗ mà tưởng mà niệm. Niệm lâu rồi thì sự niệm Phật mới phát sinh ra “lực niệm Phật”, niệm Phật càng nhiều thì lực niệm Phật càng lớn, nghiệp lực sẽ theo đó mà bị diệt nhỏ đi hoặc tiêu mất, lúc mạng chung vãng sinh mới không có chướng ngại, mới có sự nắm chắc!

Chúng tại gia đã bận rộn công việc nhà lại càng bề bộn công việc xã hội, thực là rất bộn rộn, vậy thì cái nhân chính là bận rộn! Vì việc vãng sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây, dù bận rộn cũng nên lợi dụng thời gian để niệm Phật; không như vậy thì không có lực niệm Phật, trong tâm không có Phật, lúc mạng chung làm sao có thể chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo để mà niệm Phật vãng sanh!

TRONG TÂM CÓ PHẬT

Trong tâm có Phật, là tùy thời tùy chỗ khởi tưởng niệm Phật, đi, đứng, ngồi, nằm, lúc động, tịnh, nhàn nhã, bận rộn, công việc không dụng tâm mà đều có A Di Đà Phật, lúc miệng không niệm mà tâm vẫn ở nơi niệm, chẳng niệm mà tự niệm, không niệm mà không phải chẳng niệm, Phật không rời tâm, tâm không rời Phật, mới có thể được “nhất tâm bất loạn”, tâm ta với tâm Phật thông nhau, tâm và Phật ở cảnh giới “nhất như”, được niệm Phật tam muội.

à Trong miệng niệm Phật không ổn định, trong tâm nghĩ bậy tưởng loạn, phép niệm như thế thì đều không có chỗ tác dụng. Nên cần phải trong miệng niệm Phật, trong tâm tưởng Phật, tâm - miệng như nhất. Ngoài một câu danh hiệu Phật ra, việc nào cũng không nên nghĩ tưởng đến, niệm nào cũng không nên khởi, đây tức gọi là nhất tâm bất loạn, nhiên hậu mới dễ dàng thành công.

Nhất tâm bất loạn, mà nếu như xen lộn niệm khác, thẳng đến chuyên niệm mà không đạt được, chuyên niệm mà hãy còn chẳng thành, thì nhất tâm bất loạn càng khó làm được.

Niệm Phật khi công phu thuần thục nhất định có cảm ứng bất khả tư nghì. Người ở thế gian phước báo lớn không phải là giàu có tiền bạc hay sống lâu, mà phước báo chân chánh là lúc lâm chung không có bệnh, tinh thần sáng suốt, biết được đi đến đâu, đây mới là phước chân chánh.

Trong cuộc sống hằng ngày tùy duyên mà qua ngày, mang mọi cái phân biệt, chấp trước, buồn lo... buông bỏ cả đi, được đại tự tại, đó mới là hạnh phúc chân chính.

Như gặp tai nạn lớn, nên niệm: Nam Mô A Di Đà Phật tiếp dẫn con... vãng sinh về thế giới Cực Lạc. Niệm ngày đêm không dừng, đến lúc vãng sinh.

Niệm Phật, nếu như không thể nghiêm trì giới luật, dừng dứt tham sân, hàng phục vọng niệm, đánh phá chấp trước, mà muốn cầu nhất tâm bất loạn thì ắt sẽ vời vợi xa xăm.

Gọi là “nhất tâm bất loạn” tức là chỉ có một tâm niệm Phật, không có tạp niệm của phiền não vọng tưởng.

Nếu trong tâm không có Phật, không những lúc bình thường mất niệm (không khởi được tưởng niệm), nếu là ngẫu nhiên khởi được tưởng niệm, niệm cũng không được mấy câu thì dứt quãng rồi, có lúc ngay cả thời khóa sáng chiều cũng không biết niệm.

Lúc niệm Phật, người khác gọi anh, anh đều không biết, như thế mới có “định lực”, có công phu. Lúc niệm Phật mà có gió thổi cỏ động anh đều biết cả, như thế là không có định lực, nên cần phải quyết tâm công phu thêm nữa.

Đương nhiên chẳng phải là ngay khi bắt đầu niệm thì đạt được cảnh giới “trong tâm có Phật”. Anh (chị) không ngại thì từ ngày nay bắt đầu, cố gắng công phu không dứt, như vậy thời gian lâu, anh (chị) nhất định trong tâm có Phật. Nên biết thành công tất cả đều là bắt đầu từ hiện tại.

Người sơ cơ học Phật niệm Phật, cố nhiên là chẳng dễ niệm Phật nhiều, càng chẳng thể bàn luận trong tâm có Phật. Song có thể chuyên tâm nhất ý niệm hằng ngày, niệm hằng giờ, lâu ngày công phu sâu dày, tự nhiên sẽ có thể niệm Phật nhiều, trong tâm có Phật. Không nên chỉ vì công việc thế tục bận rộn mà không chịu dụng công niệm Phật, không niệm thì trong tâm làm sao có Phật?

Tối kỵ là ngay lúc có thời gian mà chỉ biết ăn uống chơi vui, nói khoét, xem ti vi... bỏ câu A Di Đà Phật sang bên một cách thoải mái, thế thì trong tâm làm sao có Phật!

Trong tâm anh không có Phật, thì cần trong tâm Phật có anh không? Lúc anh mạng chung cần Phật đến tiếp dẫn anh không? Phải biết rằng cầu sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây là tự anh cần đến thôi, chứ không phải là đức A Di Đà cần anh đến đâu nhé!

Thử nghĩ, có một người ở nơi xa muốn kết bạn cùng anh mà chỉ cho anh danh thiếp, mỗi lần thấy mặt cũng chỉ một thoáng, đánh tiếng thăm hỏi, ngay cả nói cũng không được lấy một câu, giao thiệp càng ít ỏi, người đó muốn đến chỗ anh ở, cần anh đi đón tiếp, anh đi đón tiếp không? Như vậy đem lòng mình so ra thì biết.

Chuyên trì danh hiệu A Di Đà Phật đơn giản dễ làm. Chuyên là chuyên nhất, chuyên tâm. Trì là giữ gìn không để mất nó đi. Danh hiệu là sáu hoặc bốn chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”. Chúng ta một ngày đến tối, không được rời xa câu Phật hiệu nầy, niệm to tiếng, nhỏ tiếng hay mặc niệm (niệm thầm) đều được. Không nên gián đoạn, lộn xộn, hoài nghi; nên phải chân thành, khẩn thiết, cung kính, chơn chánh phát nguyện vãng sinh về thế giới Cực Lạc, vãng sinh về thế giới Cực Lạc là cơ sở nắm chắc.

Vãng sinh về thế giới Cực Lạc có 2 vấn đề cần thiết không thể không biết: 1- Chánh niệm hiện tiền. 2 - Tâm không điên đảo.

­ Chánh niệm hiện tiền: Là khi mạng chung, nghĩ niệm là Phật mà tưởng cũng là Phật, lúc cuối cùng của hơi thở còn ở tại nơi câu niệm Phật, niệm Phật vãng sanh.

­ Tâm không điên đảo: Là khi mạng chung chỉ có tâm niệm Phật tưởng Phật thôi, không nhớ tưởng đến tất cả công việc của thế tục. Ngày thường tu hành tinh tấn, niệm Phật niệm đến nhất tâm bất loạn rồi, lúc mạng chung nếu có mảy may tưởng niệm việc thế tục tâm sẽ điên đảo, một khi tâm điên đảo thì chẳng được vãng sanh!

Lúc bình thường không cố công niệm Phật, mà từ trong tâm tham ái dính mắc gốc rễ sinh tử như: Giàu có, sự nghiệp, danh tiếng, người thân, ăn uống, chơi bời, không như ý thì giận dữ oán hận... lúc mạng chung làm sao mà không nghĩ đến chúng? Ngay lúc nghĩ nó, tâm sẽ diên đảo, cộng thêm nghiệp đời trước chiêu cảm, tâm hoang mang, ý hoảng loạn, bệnh khổ rất nhiều, tà niệm hiện tiền, tâm không điên đảo cũng thành điên đảo!

Trong tâm phàm phu của chúng ta vọng tưởng tạp niệm rất là nhiều, niệm nầy vừa đi thì niệm khác lại đến. Niệm Phật tức là cần gom trói cái tâm vọng tưởng tạp niệm nầy, niệm danh hiệu Phật nhiều một chút thì niệm tạp loạn vọng tưởng ít đi một chút, hằng giờ dụng công, công phu sâu dày thì có thể thu gom tất cả các niệm tạp niệm vọng tưởng nầy trên danh hiệu Phật, tất cả các niệm tạp loạn vọng tưởng đều không có, đó là nhất tâm bất loạn rồi.

Chánh niệm hiện tiền: Khi con người đến lúc mạng sống gần như sắp đứt hơi thở, dứt khoát trong tâm rõ ràng biết được muốn đến chỗ nào, trong tâm an tịnh chỉ có vấn đề niệm Phật tưởng Phật, không được có niệm khác xuất hiện.

Tà niệm hiện tiền: Người tu hành bình thường không cố công niệm Phật, chỉ giải đãi (biếng nhác), bày biện, lơ là, đến lúc mạng chung tâm nầy sẽ chắc chắn hôn mê tán loạn, điên điên đảo đảo, một chút cũng đoán không được!

Niệm Phật phải sinh chánh tín, mới có thể dụng công tốt đẹp, tùy thời tùy chỗ niệm Phật. Nếu sinh “bất chánh tín” thì niệm Phật thành ra cầu tài, cầu bình yên... có lúc niệm lúc không.

Tâm của người niệm Phật nếu không phải là tâm thanh tịnh mà là tâm niệm Phật. Tức là tâm phiền não, tâm vọng tưởng, tham ái dính mắc việc thế tục, trong tâm thường nghĩ đến nó, cả ngày nhớ mãi không quên, lúc mạng chung làm sao không nghĩ tới nó! Như vậy làm sao có thể chánh niệm hiện tiền, niệm Phật vãng sinh! Vậy nên cần phải buông bỏ việc thế tục. Có nó hay không, không nên nghĩ đến nó, càng không được để nó trong tâm để mà nghĩ tưởng.

Không luận ở nơi hoàn cảnh nào, lại nữa bận rộn cũng được, khi công việc cần suy nghĩ nghiên cứu mà buông câu Phật hiệu, công việc xong rồi lập tức khởi ngay Phật hiệu. Giả như trong việc không nhu cầu vấn đề suy nghĩ nghiên cứu có thể một mặt làm việc, một mặt niệm Phật, lúc gặp cảnh thuận hay nghịch đều không quên niệm Phật, làm được thế nầy, việc vãng sinh có hy vọng.

Tâm niệm Phật chơn hay không chơn, chỉ nên xét nghiệm ở trong phiền não vui ưa, hay ghét bỏ. Ví dụ người niệm Phật có chơn tâm, ở trong phiền não ưa ghét, tất nhiên niệm Phật mỗi niệm mỗi niệm không gián đoạn; còn nếu như một vài vui giận đến trước, mà A Di Đà Phật vứt bỏ ở sau, như thế làm sao có thể được sự linh nghiệm của niệm Phật!

Cổ đức nói rằng: “Học Phật không khó mà khó ở sự phát tâm, phát tâm không khó má khó ở sự dõng mãnh, dõng mãnh không khó mà khó ở sự giữ gìn lâu xa”. Lại nói: không luận là nghề nghiệp công việc gì, lúc bắt đầu chưa có chi không chịu cố gắng siêng năng, dẫn đến lâu ngày tình thế dời đổi, tâm mỏi mệt sanh, hoặc được ít cho là đủ, hoặc sợ khó mà sống cầu an, phép đời như thế, học Phật cũng vậy.

SỰ TỐI KỴ TRONG NIỆM PHẬT

Sự tối kỵ trong niệm Phật: “Tinh thần phân tán, câu chữ mơ hồ, đã không âm tiết lại không liền lạc, tâm chẳng ứng với miệng, tiếng chẳng nhiếp với niệm, khinh lờn thành quen”.

Người niệm Phật chủ yếu dễ phát sinh sai lệch, thì cần ngăn chặng.

­ Tinh thần phân tán: Lúc niệm Phật tư tưởng không tập trung, đưa tinh thần lên không được. Tâm tình rơi rớt, ý chí thì chìm mất, không tinh ròng khơi dậy, tạp niệm thì vô cùng, chẳng hôn trầm cũng trạo cử, đây là vấn đề tối kỵ. Còn vấn đề kiêng kỵ là câu chữ mơ hồ.

­ Câu chữ mơ hồ: Một câu hiệu Phật nầy, thanh âm phát ra thì lờ lờ mờ mờ, người khác nghe không rõ ngay cả chính mình nghe cũng không rõ. Cho nên có câu rằng: “Mình còn chưa nghe thì Phật làm sao nghe”.

­ Đã không âm tiết: Âm tiết điều hòa thích ứng thì niệm Phật dễ nhiếp tâm, phương pháp hữu ích thì lực mới to lớn; Ngược lại, sáu chữ trong một câu Phật hiệu, bất kể nhịp gõ chữ nào, lúc thì một nhịp, nửa nhịp, một phần tư nhịp, một phần tám nhịp, thế thì làm cho mỗi câu hiệu Phật bị biến đổi, niệm loạn thành một mảng, còn bàn luận nhiếp tâm thế nào. Không những thời gian từng chữ sắp đặt được tốt, mà sự cao thấp nhẹ nặng của thanh âm cũng phải hợp với tiết tấu. Bỡi vì niệm Phật có tiết tấu thì giống nước chảy róc rách, tự nhiên hợp vận, niệm Phật dễ dàng rõ ràng. Không âm tiết đã chẳng tốt, cọng thêm lại chẳng liên quan thì càng sai.

­ Lại chẳng liền lạc: Là câu sau không tiếp câu trước. “Tịnh niệm tương tục” rất là trọng yếu của sự niệm Phật, mà nếu không liên quan làm sao kế tục với nhau.

­ Tâm chẳng ứng với niệm Phật: Là trong miệng thì niệm Nam Mô A Di Đà Phật, mà ở trong tâm tính toán riêng một việc ở bên ngoài như: mua chiếc xe mới, hoặc muốn đến chỗ nào, vì tính toán những việc đó thì tâm và miệng làm sao có thể ứng với nhau. Đến nỗi ngoài ra có một tình huống là: ngay lúc niệm Phật, tạp niệm lăng xăng không biết tạp niệm nhiều thế nầy từ đâu đến, đây khởi kia mất, không cách nào trừ bỏ. Tuy vậy chẳng nên buồn lo, vì đây là hiện tượng tất nhiên trong quá trình niệm Phật, chẳng nên quan tâm nó (mặc cho vọng niệm lăng xăng, hãy nghe chính mình và niệm Phật rõ ràng), đây là yếu quyết. Then chốt vẫn là khởi lên một câu hiệu Phật nầy.

­ Tiếng không nhiếp niệm: Tiếng - chỉ cho lúc niệm Phật, tiếng niệm Phật trong miệng phát ra, âm thinh nầy có tác dụng rất lớn, then chốt của pháp môn tịnh độ, cũng có thể nói là “Mật quyết”, tức ở nơi tự niệm tự nghe. Cái được niệm là Nam Mô A Di Đà Phật, cái được nghe cũng là: Nam Mô A Di Đà Phật. Cho nên đều nhiếp sáu căn, trước tiên thì thiệt căn (lưỡi) và nhĩ căn (tai) đều nhiếp. Lúc nầy niệm là danh hiệu Phật, mà nghe cũng là danh hiệu Phật, tưởng cũng là danh hiệu Phật, nên ý căn (ý) cũng được nhiếp, tay giữ chuỗi niệm (thân), (mắt) thì nhìn tượng Phật, trong tỷ căn (mũi) được nghe là mùi hương đốt cúng Phật, cho nên ba căn nầy cũng được nhiếp. Nhiếp sáu căn đều là then chốt ở nơi nghe. Thông thường chúng ta tự tu, dùng cách “Kim cang trì” tốt nhất, tức là có một tí âm thanh vừa vừa ở giữa miệng môi và chân răng, không phải to lắm. Cách nầy niệm đã có âm thanh lại vừa dưỡng khí, gọi là Kim cang trì. Mặc nhiên cũng có thể nghe, song mặc niệm thì mệt một chút. Âm thanh lớn nhỏ có thể linh hoạt, lúc tán loạn và lúc phiền não khởi có thể niệm lớn, dùng âm thanh để nhiếp niệm. Nếu niệm được yên tịnh thì có thể niệm nhỏ, niệm cách Kim cang trì hoặc nhỏ một chút đều có thể được. Cần có tiếng, cần nghe được tiếng nầy. Âm thanh nầy thì có nhiếp được niệm; đây là chỗ thù thắng của pháp môn niệm Phật, then chốt là ở nơi “Tự nghe”.

­ Khinh lờn thành quen: Nếu như lúc niệm tự tâm phiền tạp tán loạn, tiếng được niệm tất nhiên lộn xộn khó nghe. Tâm không chuyên chú tai cũng mất linh nghiệm, tác dụng của tiếng niệm tự nhiên không nhiếp niệm một chút nào cả. Ở tình huống nầy đâu có tác dụng nhiếp đều sáu căn. Ngược lại cái hay dẫn khởi là kết quả xấu có hại “Khinh lờn thành quen”, đây là thành ngữ thường dùng ở trong đạo Phật. Niệm một cách khinh thường không thể chuyển thức thành trí, mà là nuôi lớn cái thói quen (Thức). Chúng ta niệm Phật tức là chuyển ý thức phân biệt thành “Diệu quán sát trí”. Nên khiến nó chuyển. Nếu niệm như thế nầy: vừa không âm tiết, tán loạn, tinh thần lăng xăng, lại vừa không liền suốt, tưởng trong tâm và niệm trong miệng không giống nhau, âm thanh được niệm cũng nhiếp không được ở nơi tâm, phép niệm nầy không phải là “chuyển” Thức mà là “nuôi dưỡng” Thức, Thức được bồi dưỡng ở trong đó, đây chính là “nỗi buồn của cổ đức”, tức là niệm cách nầy rất đáng tiếc! - Khó được thân người, khó sinh ở quốc gia trung tâm, khó nghe được Phật pháp, khó tin tịnh độ; Dù còn chịu niệm, nhưng lại niệm kiểu nầy cho nên Cổ đức rất là buồn tiếc. Niệm cách nầy thì “vĩnh viễn khó thành từng loạt”, niệm Phật niệm đến khi nhất tâm bất loạn rất khó, trước nhất phải đạt đến niệm Phật thành thói quen. Chúng ta nên phải niệm cho được thành thói quen, ít thì mười mấy câu, nhiều thì ba chục câu, nhiều nữa thì một tràng hai tràng, trong lúc nầy tâm không được động chạy, từ đầu đến cuối đều là: Nam Mô A Di Đà Phật, đây gọi thành tràng, mức độ chính mình là thế nào, chính mình hoàn toàn có thể biết. Cho nên pháp niệm nầy, kiểu như trên, tức là “vĩnh viễn chẳng thành loạt”, đây là phép niệm không tốt, thì nên tránh đi, nên tránh khỏi chỗ dễ sinh sai lệch, mà nên tập trung tinh thần sức lực mặt hướng về ánh sáng.

Trước mắt chỉ nêu ra sự cấm kỵ của niệm Phật, cần gắng sức trừ bỏ, sau đây chính là con đường vạch ra nên tuân thủ đối với việc trước mắt:

+ Âm thanh hài hòa vận tiết ổn định: Thanh hòa, chỉ cho tiếng và ý khi niệm Phật nên hài hòa, hòa mỹ, yên hòa. Bỡi vì âm rất là quan hệ, nếu niệm quá gắt gao hay khàn giọng thì âm thanh chẳng được hòa. Tiếng của người đến chỗ mà âm thanh tốt đẹp vi diệu, thanh tịnh trang nghiêm, thì tự nhiên tâm sẽ khoáng đạt tinh thần vui vẻ, thân tâm được an hòa. Ngược lại thì khiến tâm người loạn, nóng nảy không an.

Vận ổn: Vận là âm thanh hài hòa, lại chỉ cho khí độ của thần vận cao nhã. Ổn là chỉ cho sự an định thỏa đáng, vận ổn là âm thanh an hòa trầm tĩnh, khí vận thì cao nhã, tự nhiên có một sự điều hòa của âm vận.

+ Khẩn thiết chu đáo: Khẩn thiết, ta niệm Phật như đang ở trước Phật, cách nầy mỗi niệm một tiếng, đều là từ trong tâm chí thành phát ra, khẩn khẩn thiết thiết niệm: Nam Mô A Di Đà Phật, cần phải từng câu từng câu, đây tức là cách niệm chu đáo, cũng tức là tịnh niệm nối nhau. Đối với người đã có thời khóa ổn định, trước nhất yêu cầu là phải rất chu đáo ở trong thời khóa, thời gian nầy không nên lệch lạc. Lại nói thêm rằng, thế thì không chỉ vỏn vẹn trong định khóa mới chu đáo, mà nên phải xuyên suốt được tùy lúc tùy chỗ, đều cần phải thường thường khởi lên một câu Phật hiệu nầy. Nếu có thể được như vậy, thành tràng thành hạt cũng chẳng khó. Pháp môn tịnh độ (niệm Phật) có cái hay ở trong đây, người đời có thể làm được, không phải là cao không vói tới. Cần anh khai ngộ, thế thì khó rồi, không phải là người người đều có thể, anh cũng có tánh khả năng, chỉ cần làm được cho dù một hai người của ngàn vạn người khó, hiện tại anh có thể kể ra mấy chục người khai ngộ không? Niệm Phật vãng sanh cũng không phải là kiểu nầy, mà ai cũng đều có thể niệm. Cần chu đáo, thường có một câu nầy, sự tình là có thể làm được, vấn đề là tự mình không chịu niệm. Phiền não một khi khởi lên thì không chịu niệm. Giận dữ gấp rút là phiền não, vui vẻ đắc ý cũng là phiền não; Kỳ thật xét kỹ trong phiền não cũng có thể niệm, chỉ là chính mình không chịu niệm, nếu hay tỉ mỉ chu đáo, trì niệm khẩn thiết, tự nhiên sẽ thành loạt thành tràng, nhất tâm bất loạn. Cho nên việc niệm Phật vãng sinh thường xuyên lúc nào cũng được quan tâm.

+ Trầm lắng an nhàn: Câu nói nầy chính là chỉ thẳng những chỗ bệnh trước mắt rất nhiều của người tu hành. Có người dụng công chỉ có lòng muốn gấp gáp, bực tức chẳng thể mau mau liền có chỗ thành tựu, do đó rất là khẩn trương, rất là gấp rút. Đây cũng là có tâm mong cầu. Nhưng sự thù thắng của niệm Phật thì từ nơi “hữu niệm” mà thầm hợp với “vô niệm”, từ “hữu cầu” mà khế hợp với “vô cầu”, từ “vãng sanh” mà chứng được “vô sanh”. Nên “trầm lắng”, trầm lắng đến mức bình tĩnh, tâm tư không có một chút lo nghĩ bồi hồi sợ được sợ mất nào, lo nghĩ bất an nào. Mà vả lại nên “an nhàn”; Bỡi vì có người nổ lực, cũng bỡi ở tâm tư nôn nóng mà rơi vào sự khẩn trương, bề bộn, rối loạn, lo lắng, gấp rút... Như vậy là đi ngược lại lời dạy của bậc Thánh rồi!

“An nhàn”, hai chữ này tiến đến một bực nữa mà nói, không những chỉ là sự bình tĩnh (trấn định), mà còn là muôn duyên đều nhất loạt buông mất, không giữ không cầu, cho nên là một người đại nhàn giữa trời đất. Trong tâm chỉ nhớ câu niệm Phật, một câu danh hiệu Phật rõ ràng trước mặt, đã không có điều ngăn ngại lại chẳng điên đảo, vắng lặng an tâm. Cho nên có thể thấy rằng hai chữ AN NHÀN quan trọng cần yếu mười phần. Ngược lại, nếu gấp rút ở trong lòng, muốn thấy Phật thấy hào quang, muốn thấy xuất hiện điềm lành, niệm thế nầy thì sẽ sinh ra tâm bệnh; Vả lại không phải là do niệm Phật mà sinh ra bệnh đâu, mà là do trong lòng, gấp rút như thế nên sinh ra tâm bệnh. Chúng ta nên rất là an nhàn, vì sao có thể an nhàn? - Vì tín tâm! Người có tín tâm thì rất an nhàn. Có người hỏi rằng: Ta sao lại niệm chưa tốt, còn vọng tưởng tạp niệm? Ngài Ngẫu Ích đại sư giảng rất rõ: “vãng sanh hay không, hoàn toàn do nơi chỗ có hay không có tín nguyện”. Vậy thì anh có hay không có tín tâm sâu xa? Phải là phát nguyện chân chánh hay không? Chân chánh đó là không muốn lưu luyến thế giới Ta Bà nầy, mà ưa thích Cực Lạc nguyện cầu vãng sanh. Trên thực tế rất nhiều người còn lưu luyến, chẳng thể lìa bỏ, tham luyến tài sản, sự nghiệp, danh vọng, vợ con, vật chất, hưởng thụ, cuộc sống hiện tại tốt đẹp v.v... nên cố sức ham muốn nhiều nhưng sống được mấy năm, rồi lại muốn tốt nhất là trường sinh bất lão! Chính là lưu luyến thế giới nầy mà bỏ lìa không được. Cho nên ưa thích Cực Lạc cần phải phát “đại nguyện”. Nhiều kiếp trở lại đây tất cả chúng sinh đều là quyến thuộc của mình đang ở trong biển khổ đợi chờ ta cứu độ, nhưng ta làm sao mới có thể độ chúng sinh đây! Tự ta còn là người đang giãy giụa trong biển khổ, không có một chút năng lực nào cứu độ người khác, chỉ sau khi vãng sanh, nương sức gia trì của Phật, ta sẽ có được trí tuệ rồi cứu độ lập tức tất cả những quyến thuộc nầy. Phải là tâm tình như thế nầy và nguyện lực như thế nầy. Có tín và nguyện tự nhiên sẽ niệm, thì nhất định vãng sanh, cho nên vãng sanh hay không, hoàn toàn nhờ ở sự có hay không có tín nguyện. Mọi người nói muốn vãng sanh, thì trước nhất mọi người ở ngay nơi tín nguyện mà dốc sức công phu. Nguyện nầy của ta có chơn chánh hay không? Nếu tín nguyện thiết tha thì chắc chắn vãng sanh; Lại nữa vấn đề niệm Phật, trong tâm không nên gấp rút nôn nóng mà phải tự nhiên an nhàn.

+ Tiếng hợp với tâm, tâm ứng với tiếng: Tiếng niệm Phật từ trong tâm thành khẩn thanh tịnh phát ra tự nhiên hài hòa an ổn, âm thanh câu niệm Phật nầy vi diệu, trải qua tai mình mà đạt đến bản tâm, được nghe chính là được niệm, cho nên tự nhiên họp nhau, tiếng họp với tâm. Âm thanh nầy là danh hiệu Phật muôn đức trang nghiêm, cũng tức là âm thanh muôn đức trang nghiêm vậy. Âm thanh nầy vào từ nhĩ căn là tự tâm được niệm, tự tâm niệm Phật, tự tâm là Phật. Cho nên tự tâm chắc chắn tương ứng với tiếng được nghe. Tiếng hợp tâm, tâm hợp tiếng, cho nên nói rằng: “tâm và tiếng nương nhau”. Nói một cách đơn giản: Ta niệm Phật, mà niệm Phật có tiếng thì âm thanh trở lại trợ giúp cho ta. Do ta phát ra tiếng, tiếng trở lại giúp ta, cho nên nói nương nhau. Niệm như thế nầy không cần dùng cách bài trừ vọng niệm mà vọng niệm tự tiêu mất.

Chưa có thể “nhất tâm” thì trước phải cầu “chuyên niệm”, chưa có thể được “bất loạn” thì trước phải học tập “thành từng loạt”.

Nhất tâm bất loạn là lúc niệm Phật tâm không tán loạn, dẫn tới tâm chí thành, chuyên niệm danh hiệu Phật. Trong “Kinh Vô Lượng Thọ”, một điều kiện căn bản được yêu cầu của “ba hạng vãng sanh” đó là: “một hướng (lòng) chuyên niệm”. Thường xuyên chuyên niệm một câu A Di Đà Phật nầy, là thời gian niệm rất chuyên tâm, không có vọng tưởng tạp niệm. Chưa thể đạt được nhất tâm thì trước phải chuyên niệm. Chuyên nhất chẳng biến đổi, là đối với người thấy khác hay suy nghĩ dời đổi mà nói, đứng núi nầy trông núi nọ, nói chung là chẳng thể yên được ở pháp môn mình tu, có nghĩa là ngày nay muốn niệm Phật, ngày mai muốn tham thiền, ngày mốt lại muốn tu mật, tóm lại muốn học nhiều bao nhiêu cách mới có thể nương nhờ được?

+ Chưa có thể “bất loạn”, trước phải “học thành từng loạt”: Làm chưa đạt được cái tâm “hoàn toàn đều không tán loạn”, thì trước nên khiến nó thành từng loạt. Ta không thể suốt không tán loạn, nhưng ta có cách làm mấy mươi câu thành một loạt, trong một loạt mấy mươi câu nầy không có vọng tưởng tạp loạn; Nếu người không chân thật dụng công thì ngay cả lập thành loạt niệm như thế nầy cũng khó mà làm được. Cho nên nói rằng: “Chơn siêng chơn chuyên, công hiệu tự thấy, không cần hỏi người, xin tự nghiệm lấy”. Như người uống nước, lạnh hay nóng tự biết.

Từng câu niệm mà chơn, chắc chắn ra khỏi Ta Bà. Thế nào gọi là CHƠN? - Một câu giải thích rất bình thường, nếu muốn niệm được chơn, chỉ cần niệm của chơn. Không phải là ngụy trang dối người, không phải là làm trên hình thức, không phải là có mục đích khác, không phải là vọng cầu điều quấy, không phải là cái vỏ bề ngoài. Phải nên khẩn cầu thiết tha, thường thật tín nguyện trì danh, một câu danh hiệu Phật nầy tự mình niệm rất rõ ràng, toàn bộ rất rõ ràng, tức là niệm chơn rồi vậy.

Niệm Phật chẳng thể cầu trước tiên là nhất tâm bất loạn, vì nhất tâm bất loạn rất là khó, có thể được một loạt một tràng, tức là ba mươi, năm mươi hoặc ba trăm, năm trăm câu... mà không loạn, lại có thể tùy lúc tùy nơi mà có thể khởi tưởng niệm Phật.

Niệm Phật mà có thể “nhất tâm bất loạn” đương nhiên là điều tốt rồi, nhưng có thể niệm được thành loạt thành tràng mà chẳng loạn đều không phải là dễ đâu. Có thể niệm được thành loạt thành tràng không loạn, tùy lúc tùy nơi khởi được tưởng niệm cũng là niệm Phật rồi. E rằng chỉ biết niệm Phật trong thời khóa nhất định, ngoài ra lúc bình thường chẳng tưởng được để niệm Phật!

Lúc niệm Phật nhất định nên niệm một cách “chánh tâm thành ý” và “cung kính”, đây là bí quyết nhiệm mầu của niệm Phật trì danh, mà vả lại trong lúc niệm Phật cần tâm không nên thêm việc, chuyên tâm chỉ Nam MôA Di Đà Phật, niệm được thuần thục, thì có thể nhất tâm bất loạn rồi.

CHẲNG NIỆM GÌ CẢ - CHỈ NIỆM A DI ĐÀ PHẬT

Niệm Phật như thế nào? Xin bảo cùng mọi người một phương pháp: Tức là tùy lúc tùy nơi đi đứng ngồi nằm, động tịnh rổi rảnh hay bận rộn, lúc đi đường niệm, lúc đứng cũng niệm, lúc ngồi cũng niệm, lúc nằm cũng niệm, công tác chẳng dụng tâm suy nghĩ cũng niệm, lúc phiền não niệm, lúc vui vẻ cũng niệm. Việc quá khứ không nghĩ tưởng, việc hiện tại trừ lúc đang công tác cũng không nghĩ tưởng, việc vị lai không nghĩ tưởng, việc lớn không tưởng, việc nhỏ cũng không tưởng, việc ác không tưởng, việc thiện cũng không tưởng, chung qui đều không nghĩ tưởng. Như thế nào mới là chẳng nghĩ tưởng? - Tức là niệm chí thành chuyên nhất: A Di Đà Phật, không chấp trước tốt xấu, có không, được mất, chê khen, buông hết tình đời việc tục, chỉ có một câu A Di Đà Phật. Con người cả ngày vì tình đời việc tục mà bận rộn, nghĩ đông nghĩ tây, tâm làm sao có thể yên tịnh được, chẳng những lúc niệm Phật tâm không thể nhất tâm bất loạn, ngay cả lúc niệm Phật thành loạt thành tràng cũng chẳng thể được; Như thế việc vãng sanh thế giới Cực Lạc dẹp bỏ ư?

CHỈ SỚM TỐI MỖI NGÀY NIỆM MỘT LẦN NIỆM PHẬT THÌ LỰC CHẲNG ĐỦ

Chẳng nên cho là sớm tối mỗi ngày niệm một lần niệm Phật, thì là đã niệm Phật, lúc mạng chung có thể vãng sanh thế giới Cực Lạc rồi! Không có việc tốt như thế đâu. Chỉ nương vào sớm tối mỗi ngày niệm một lần niệm Phật, thì có thể nhất tâm bất loạn không? Trong tâm có Phật không? Nhân vì nghiệp chướng của chúng ta rất sâu nặng, ngày trước chẳng nói chi, tức là phiền nào, dục vọng, ác niệm, ác hạnh của hiện tại nay đây không phải là ít, những phiền não ác niệm nầy cần nương nơi lực niệm Phật để tiêu trừ, lực niệm Phật càng lớn thì lực của nghiệp sẽ càng nhỏ đi, lúc mạng chung mới có thể “chánh niệm” hiện ra trước mặt, niệm Phật vãng sanh. Ta thử nghĩ xem lực niệm Phật của ta có thể lớn hơn lực của nghiệp không? – Trong kinh A Di Đà có nói:

Không thể lấy chút ít thiện căn nhân duyên phước đức, mà được sinh nước kia(Cực Lạc)”.

Nếu ta chỉ sớm tối mỗi ngày niệm một lần niệm Phật, thì trong ta không hiện hữu Phật, sao có thể cảm thông cùng đức Phật A Di Đà? Như thế chẳng ngại rằng Phật A Di Đà quên ta lâu quá, đến lúc ta mạng chung chẳng đến đón ta; mà chỉ ngại rằng tự mình không thật sự thường xuyên niệm Phật, chẳng niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật. Bình thường không biết niệm Phật, lúc mạng chung làm sao có thể khởi tưởng niệm Phật!

Thiện căn nhân duyên phước đức; chí thành trì niệm danh hiệu đức A Di Đà là “chánh hạnh”, gọi là thiện căn. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, thọ giữ giới cấm, chẳng làm việc ác, ưa làm việc thiện, đó là “trợ hạnh”, gọi là phước đức. Không rõ được việc tu chân chánh nầy tức là không có thiện căn. Tu mà chỉ cầu tự độ, không phát tâm độ chúng sinh, tức là thiện căn ít. Không rõ việc tu các trợ hạnh thì là không có phước đức. Tu chỉ cầu phước báo trời người, mà không hồi hướng cho chúng sinh, tức là phước đức ít. Niệm Phật là nhân chính, dừng ác tu thiện là duyên trợ giúp. Cho nên nói rằng: không thể lấy chút ít thiện căn nhân duyên phước đức mà được sinh nước kia.

Mười niệm có thể vãng sanh! Từ sớm đến tối niệm Phật gom lại hơn mười niệm không? Niệm Phật sớm tối sao không thể vãng sanh? Nếu có thể, thì có chỗ nắm chắc không? - Người mà mười niệm có thể được vãng sanh, trong muôn người khó được mấy người! Chúng ta muốn sanh về thế giới Cực Lạc nên mới niệm Phật, vì sao không làm cái việc có cơ sở chắc chắn ư?

Mười niệm vãng sanh; Là khi mạng chung gặp được Thiện tri thức khai thị, dạy cho niệm Phật, thì tâm sinh hoan hỉ, thần chí trong sáng, nguyện sanh thế giới Cực Lạc, mình lại có thể niệm chí tâm, cho đến mười niệm, nhưng đây là do sự quan hệ từ sự gieo trồng đời trước mà nay chín, nếu chẳng phải vậy, thì sợ rằng nghiệp chướng dắt dẫn, bạn lành khó gặp, mười niệm khó thành. Bị bệnh khổ bức xúc, nghiệp trước chiêu cảm, chánh niệm khó thành, mười niệm tuy dễ, thật ra khó may mắn tập trung. Ngay lúc thân thể con người khỏe mạnh, dõng mãnh tinh tấn mà không thể giữ gìn tâm may mắn ấy, sớm chuẩn bị cho tư lương tịnh độ, để khỏi đến lúc cần đến không kịp.

Giữ không được cái tâm ở lại lúc ta mạng chung, muốn mời Thiện tri thức đến để khai thị hoặc trợ niệm, thì có biết lúc mạng chung đến không? Mời được Thiện tri thức không? Cần có Thiện tri thức khai thị trợ niệm cũng khó được để mà nhờ cậy! (Có người trợ niệm thì chẳng vãng sanh, không người trợ niệm đã vãng sanh rồi), ngay cả tự mình còn nương cậy không được, huống nữa nương cậy người khác! Nương cậy có được không? Lúc vãng sanh phát sanh chướng ngại, mạng anh liền dứt rồi; cho nên muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì nên làm cái việc có cơ sở chắc chắn, không nên giữ lấy cái tâm may mắn đó!

Ngài Thiện Đạo đại sư, trong bài kệ khuyến hóa, nói rằng:

Lần nữa da gà tóc hạt, nhìn xem bước đi lóng cóng, chỉ có tu hành nẻo chánh, thường chuyên niệm Phật A Di Đà”.

NUÔI THÀNH THÓI QUEN NIỆM PHẬT

Niệm Phật là sớm tối mỗi ngày biết được niệm, vậy thì bình thường biết được niệm không? Ngẫu nhiên nhớ được niệm, niệm cũng không được mấy câu thì dứt. Nếu muốn nuôi dưỡng thành thói quen niệm Phật, tốt nhất là sáng sớm thức dậy còn ở trên giường thì niệm (niệm thầm), tối lại lúc ngủ cũng niệm, niệm đến khi ngủ, từ nay bắt tay làm đi thì thói quen niệm Phật dễ nuôi dưỡng thành. Ngày ngày niệm, giờ giờ niệm, khởi tưởng thì niệm liền, mới có thể nuôi thành thói quen niệm Phật, khiến thói quen trở thành tự nhiên, tự nhiên miệng lúc chẳng niệm mà tâm vẫn ở nơi niệm, chẳng niệm mà tự niệm, trong tâm có Phật, lâu ngày công phu sâu dày, miệng niệm tâm nghĩ, tự nhiên thành một, nhất tâm bất loạn. Niệm Phật niệm đến lúc quên ta (vong ngã), thì đạt được niệm Phật tam muội, cũng có thể ngộ đạo, đoạn trừ phiền não, liễu thoát sinh tử.

Nếu cả ngày vì công việc bận rộn! Vì danh lợi bận rộn! Vì hưởng thụ dằng dặc xao nhãng, phân tán buông lung, tâm chẳng ở tại đạo, cần công phu tu tập cũng lúc có lúc không, dứt quãng hay tới tấp bất thường, thường bị động chuyển trong sự vui, giận, buồn, ưa... đối việc thuận ý thì tâm sinh khấp khởi vui reo, đối với việc nghịch ý thì khởi tâm ghét hận (trôi nổi theo sóng phiền não, làm sao bình tâm tịnh ý mà xét việc sai đúng), thì làm sao có thể nuôi dưỡng thành thói quen niệm Phật. Đâu rõ biết ba tạng, mười hai bộ kinh, biện tài không ngăn ngại, danh tướng thì bàn luận lung tung, biết rõ mà không làm, nói rõ mà không luyện, thì ra không khỏi ba cõi!

NIỆM PHẬT CÓ NỀ NẾP

Mọi người đều có thể hiểu được ý tứ của câu “Niệm Phật có nề nếp”, tức là toàn tâm toàn lực niệm Phật mà tâm không xen thêm việc khác, lúc có phiền não - niệm Phật, lúc hoan hỉ - cũng niệm Phật, ban ngày - niệm Phật, ban đêm - niệm Phật, lúc bận rộn - niệm Phật, lúc nhàn rỗi - cũng niệm Phật, không lúc nào là không khắc sâu và không ở tại câu niệm Phật. Đại khái là mọi người liệu hiểu được ý nghĩa vấn đề niệm Phật có nề nếp (thói quen). Kỳ thật đây chỉ là nêu lên sự công phu trên bề mặt, mà chưa phải là niệm Phật trên vấn đề “Đức hạnh”. Tu hành mà chỉ ở mỗi sự biểu hiện của công phu bên ngoài, mà không có sự nổ lực thăng tiến ở nơi “đức hạnh”, nghiêm trì giới luật (năm giới, mười giới, sáu độ), thanh tịnh tâm; Thế thì, thói quen niệm Phật của người đó cũng giống như một máy niệm Phật quay chuyển tự động, tự động niệm hoài câu hiệu Phật, máy tự động niệm Phật tuy có thể có thói quen niệm Phật, song không thấy có thể vãng sanh thế Cực Lạc.

Người không tu hành thì có thể làm người không cần nề nếp lắm, nhưng người tu hành thì nửa chút việc cũng chẳng nên lơ là, chẳng nên thường bị việc thế tục như: Công tác, kết hôn, sinh con, lo gia đình, mua xe mua nhà... nhiều việc nhiều việc bận rộn! Trong tâm tham ái dính mắc sinh - tử - yêu - hận! Nên nương theo lời dạy như pháp mà tu hành nề nề nếp nếp, nhiên hậu mới có thể được giải thoát (sinh về thế giới Cực Lạc ở tây phương), đây là vấn đề ý vị sâu xa, cũng là chỗ diệu nghĩa của một câu “Niệm Phật có nề nếp” nầy. Nếu như người có thể dụng công niệm Phật phát ra bằng miệng thì càng bổ sung được những thiếu sót trên nhân phẩm; như thế có thể khẳng định rằng Phật giáo đồ bao gồm đại bộ phận đều được giải thoát (sinh tây) rồi. Song đứng trên sự thật ngược lại không phải là như thế, có rất nhiều người niệm Phật chính mình đối với chính mình không có tín tâm, lại còn thưa với thân hữu (bạn bè thân) hãy vì mình mà lúc lâm chung niệm giúp mình một phen (người có tín tâm đầy đủ thì không cần phải thưa gởi như thế đâu); đây chính là người tu hành niệm Phật chẳng đủ sự thành thục, tín tâm dễ bị động lay vậy. Cũng tức là nói rằng danh hiệu Phật bình thường ta niệm chẳng đủ thành nề nếp, trong tâm ta bị những sự việc hoặc những ý niệm “không nề nếp” của ta chiếm lĩnh, trong tâm tồn tại những việc thế tục so tính cưu mang dắt dẫn mãi, khiến cho ta biến thành kẻ “miệng thì nề nếp mà tâm không nề nếp”. Cần nên biết rằng sự tình giải thoát (sinh tây) là chẳng thể hoàn toàn nhờ vào cửa miệng là xong, càng nên quan trọng là công phu trong tâm, nề nếp (thanh tịnh) trong tâm; trên miệng niệm tới niệm lui đều là một câu A Di Đà Phật, miệng không biết được chính mình có thói quen hay không, nó chỉ là phản ảnh lại nhu cầu của nội tâm mà thôi, nó chẳng qua là công cụ phát thanh, nếu ta không dùng nó thì cũng chẳng thể ảnh hưởng lại nội tâm; cho nên công phu trên miệng không hoàn toàn chứng minh chỗ có nề nếp hay không, công phu trong tâm mới là chính của nề nếp. Ta nếu niệm Phật nề nếp thì nên dùng nề nếp (thanh tịnh) trong tâm để niệm, ngàn vạn lần xin chớ nên dùng tâm không nề nếp mà niệm đức Phật nề nếp (thanh tịnh)! Nếu thế là hành vi tự khi dối, là chướng ngại cho việc giải thoát (sinh tây).

Lại nói rằng, một việc niệm Phật có nề nếp nầy thật chẳng phải dễ, đa số mọi người thật ra rất khó mà niệm Phật có nề nếp, tóm lại là đem Phật mình niệm thành ra ông thần tài để cầu tài, mong rằng có thể được của tiền giàu có v.v... đây vốn là bản tính của con người sai quấy sâu dày, nhưng ta có thể ở trong quá trình niệm Phật cầu tài, ngược lại mà xen lẫn sự ham muốn càng nhiều của mình, khiến cho mình càng khó bỏ thoát được vướng mắc của ham muốn, biến thành niệm Phật cầu phước báo trời người. Cho nên niệm Phật thành nề nếp, tức là cần gội bỏ sạch hết tất cả những ý niệm ham muốn của thế tục nầy, nhìn rõ buông cả, đem tâm nhẹ nhàn không chấp, không vọng lấy, không vọng dùng, niệm Phật một cách chân thực tồn tại. Chẳng nên chỉ niệm Phật trên miệng mà ngược lại trong tâm, để cho sáu dục chiếm đầy, thế thì chỗ thành tựu mà ta niệm Phật thu hoạch được khả năng ít ỏi không đủ dùng cho ta, vì ta đã đều để nó dụng cho việc tiền tài, giàu có, thân nhân... trên những việc ngoài thân, mà không tập trung lực lượng để đối phó ngay cái nguồn của tất cả phiền não (tâm) đã phát ra. Ta có thể đúng như chỗ nguyện mà được sự linh nghiệm về tiền bạc giàu có v.v... thì ta ngược lại cũng khó chiến thắng nổi kẻ địch rất lớn của nhân loại đó là: Tự ngã; Nó từ trong danh lợi và lòng ham muốn mong cầu của thế gian mà thoát ra. Do vì tâm niệm của ta đã chẳng thuần tịnh được.

Trong “nề nếp” đã bao hàm ý nghĩa là hướng theo Phật Đà mà học tập, nhìn chung, ngoan ngoãn chiếu theo lời dạy của Phật Đà mà làm. Người chẳng có nề nếp, ngoài việc niệm Phật trên cữa miệng ra, các bộ phận khác đều xa lìa tâm Phật và hạnh Phật, nên biết rằng đức Di Đà thì không thể mang được một bộ răng của anh lúc anh lâm chung vãng sanh, cái mà ngài mang là cái TÂM của anh, một cái tâm thanh tịnh, tâm học Ngài, nghĩ tưởng Ngài và có nề nề nếp nếp (thói quen) niệm đến Ngài!

Niệm Phật đương nhiên có thể giải thoát (sanh tây), chẳng thế thì cũng không thể có nhiều người xét rộng pháp môn nầy, nhưng niệm Phật giải thoát thật ra chẳng phải là không có điều kiện, nhân vì danh hiệu Phật ắt phải cần kết hợp với người niệm Phật, mới có thể khiến cho một câu danh hiệu Phật phát huy có sức ứng hợp của nó; cũng tức là nói tâm của người niệm Phật, hành vi (thân) và miệng cần phải kết hợp thành một thể; Miệng niệm Phật, trong tâm cũng cần tưởng Phật, hành vi thì không thể trái với sự dạy răn của Phật, đây mới là sự niệm Phật chu toàn.

Kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật dạy rằng:

...Chánh tâm chánh ý, trai giới thanh tịnh, một ngày một đêm, hơn cả trăm năm làm thiện ở cõi nước Vô Lượng Thọ, bỡi vì sao? Vì cõi nước kia là Vô Vi tự nhiên, sẵn chứa các việc thiện, không có việc ác dù nhỏ; ở cõi nầy tu thiện, mười ngày mười đêm, hơn cả trăm năm làm việc thiện ở các nước Phật phương khác, bỡi vì sao? Ở các nước Phật khác người làm việc thiện rất nhiều, người làm ác rất ít ỏi, phước đức tự nhiên, không có chỗ tạo ra ác. Chỉ vì cõi nầy việc ác rất nhiều, không có tự nhiên, siêng nơi khổ cầu ham muốn, chuyển đến dối gạt nhau, tâm nhọc nhằn thân khốn cùng, uống đắng ăn độc, việc ác như thế, chưa từng yên dứt”.

NHẤT NIỆM LÚC LÂM CHUNG RẤT LÀ QUAN TRỌNG

Chúng ta niệm Phật phải toàn lực ở lúc lâm chung, nhất niệm chánh niệm (niệm Phật tưởng Phật) thì niệm Phật vãng sanh; nhất niệm tà niệm (tưởng việc thế gian, một khi tưởng việc thế gian thì tâm điên đảo) thì rơi vào luân hồi. Sớm niệm tối niệm một câu danh hiệu Phật, đi niệm ngồi niệm... cho đến cả ngày cả năm niệm niệm không thôi, không lúc nào chẳng là thuần thục câu niệm nầy đến khi lâm chung nhất niệm mới thôi. Do nhất niệm nầy chỗ liên hệ rất là quan trọng, nó dắt hồn dẫn phách, tạo mạng sanh thân, chẳng việc gì chẳng do đây, nên niệm thiện thì lên thiên đàng, niệm ác thì xuống địa ngục, niệm ma bèn thành ma, niệm Phật lại thành Phật. Nếu bình thường chẳng niệm nhiều, huân tập chín chắn sắc bén, trong tâm có Phật, đến lúc lâm chung thì sớm đã quên mất chánh niệm niệm Phật, vẫn phải theo các niệm thiện ác đã huân tập chín muồi từ nhiều đời mà đi, luân hồi khắp sáu nẻo đều từ một niệm nầy làm chủ. Nếu chuyên chú ở nơi đức Phật, thì thân tuy chết mất, mà thần thức trong sáng, tức theo nơi nhất niệm mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc vậy.

Cho nên niệm thuần thục (trong tâm có Phật) một câu: Nam Mô A Di Đà Phật, lúc mạng chung mới có thể chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo, niệm Phật vãng sanh; nếu bình thường chẳng niệm Phật (trong tâm không có Phật), lúc mạng chung làm sao biết Phật! Lúc ấy tưởng và niệm đều là những chuyện thế gian, lại thêm khi lâm chung bệnh nguy đau khổ rất nhiều, hoặc sanh ý bên ngoài, hoặc tiếng kêu khóc của vợ con, thần chí thì hôn mê, nghiệp trước thì chiêu cảm, ác nghiệp thì hiện ra, tâm hoảng hốt, ý tán loạn, sáu thần không chủ, hoặc tham yêu cội gốc thức ái sanh tử thế gian, tà niệm hiện ra, điên điên đảo đảo, tâm niệm Phật thế nào cũng không làm sao khởi lên được, nghiệp lực hiện ra, bị nghiệp lực dẫn dắt vào luân hồi, cho nên biết rằng nhất niệm lúc lâm chung rất là quan trọng, quan trọng lắm!

Phải quán sát thân nầy như hư không. Thân vì nghiệp chướng từ vô thỉ trở lại đây sinh ra, nghiệp chướng thì do vọng tưởng mà khởi. Chánh niệm sanh, thì vọng tưởng diệt, nghiệp chướng tiêu trừ.

Phải biết rằng bệnh khổ vây lấy thân là vì nghiệp báo, đây bỡi đời trước tạo ra các ác nghiệp nên đời nầy thọ báo, thấy như quả báo nặng thọ nhận nhẹ, mình niệm Phật của mình, nhất tâm niệm Phật, lại chẳng thấy khổ. Chẳng được để bệnh làm khổ, tâm sanh phiền não vọng tưởng. Vọng tưởng một khi khởi lên thì nghiệp chướng liền đến, mà nghiệp chướng đến thì tâm liền điên đảo.

Vì sao niệm Phật nhiều như thế mà có người chẳng được vãng sanh ư? Bỡi vì là “TÍN - HẠNH - NGUYỆN chẳng đầy đủ nên lúc mạng chung tâm sanh điên đảo”, nghiệp lực hiện ra, bỡi bị nghiệp lực dẫn đi chuyển đến trong sáu đường.

Cho nên niệm Phật cần phải nhất tâm chuyên niệm, niệm nhiều, niệm cho nề nếp để dưỡng thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật, lúc mạng chung mới có thể chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo mà niệm Phật vãng sanh.

HỌC PHẬT CẦN KỊP THỜI

Học Phật tu hành là việc rất yên vui của người đời, cũng là việc đáng quí khó có thể được. Căn cứ pháp của Phật dạy rằng: “Thân người khó được, quốc gia trung tâm (nơi có Phật pháp) khó sinh vào, Phật pháp khó nghe, Bậc đại thiện tri thức khó gặp”. Một tầng lại khó hơn một tầng. Trong kinh lấy người nghe được Phật pháp khó cũng giống như ví dụ con rùa mù gặp được lỗ bộng cây nổi, chín chắn mà nghĩ lại, thật là chẳng sai một chút nào! Hiện tại nhân khẩu trên thế giới nhiều như thế nào, chân chánh có thể nghe được Phật pháp thì có bao nhiêu người ư? Người trên thế giới có thể vào đạo Phật học Phật tu hành, ở trong sóng của biển người, thực tại là số ít trong số ít. Người học Phật tu hành đại khái là như đây không dễ dàng, chỉ khó như đây mới đáng quí, nhưng vì sao có những người rốt cuộc đem việc đó cho là việc dư thừa, rồi thì tránh né chỉ sợ rằng chẳng kịp? Đây chính là vấn đề rất ý vị! Thật có phải là nhân duyên chưa tới không?

Có người nói: Hiện tại ta không có rảnh tu hành, cũng không rảnh niệm Phật. Chúng ta một ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ, thật ra không có rảnh rang một chút sao? Không phải thế, đều là vì danh lợi và dục vọng chất đầy cả trong đầu, trong đó có rảnh không? Người có tín tâm lấy Phật pháp làm của chí bảo, người không tín tâm đem Phật pháp làm vật phẩm tiêu khiển lúc nhàn rổi! Có thể thọ dụng Phật pháp hay không cũng ở trong đây.

Lại có người nói, mức độ của ta sáu mươi tuổi về sau mới học Phật, hiện tại còn chưa phải là lúc. Người nói những lời nầy, có đáng hay không - Khi đến tuổi sáu mươi thật sự học Phật, đương nhiên là rất có vấn đề, bỡi vì trong đầu của anh ta trang bị đầy cả tiền bạc giàu có, quyền thế, danh vọng địa vị, nam nữ, ăn uống... ham muốn những vật chất hưởng thụ, sợ sệt lắm sau khi học Phật những vấn đề nầy thỏa mãn không thành, nên quyết cần nhân cơ hội lúc còn thanh niên trẻ khỏe mà lăn lộn trong năm dục, đợi đến khi tuổi tác già rồi, thể lực suy yếu, lúc không còn khí lực vui chơi, muốn suy nghĩ học Phật tu hành, mà tâm học Phật của anh ta chẳng thuần, ý lại không chánh, tâp khí tâm bệnh sửa mà không thể đổi, vấn đề lợi ích Phật pháp dẫu có được cũng quyết chẳng thể to lớn.

Có những người tuổi trẻ lầm cho là niệm Phật chẳng cần sớm, chẳng cần phải niệm ở hiện tại, vì hiện tại còn phải chuẩn bị làm rất nhiều việc, lại nói ra rất nhiều lý do, lầm cho pháp môn niệm Phật rất là cạn cợt, coi khinh một câu Phật hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật”, ngược lại chưa nghĩ ra lời dạy của người xưa:

Chớ đợi tuổi già mới học Phật

Mồ hoang lắm kẻ tuổi còn xanh

Chớ nên đợi lúc tuổi già nua tinh thần sức lực suy yếu, bốn đại chẳng điều hòa, bệnh đau nhiều nỗi, ở trong phiền não vì tham lam khốn đốn, nghiệp ác xâm lấn, danh lợi ham muốn lại khó buông bỏ, nói tu hành (niệm Phật) đâu phải là việc dễ, niệm Phật chẳng có thói quen, nề nếp, thì trong tâm không có Phật, lúc mạng chung làm sao có thể “Chánh niệm hiện tiền”, tâm chẳng điên đảo? Niệm Phật vãng sanh? Cho nên càng là tuổi trẻ thì càng nên học Phật (niệm Phật), nuôi thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn!

Có người nói: Học Phật (niệm Phật) là tốt, nhưng nhà người ta mỗi ngày bận rộn đến tối, mỗi năm bận rộn tới đầu, chỉ có thể được cái no ấm, đã không tiền làm công đức, cũng không có thời gian rảnh rổi để nghe kinh, niệm Phật. Cuộc sống cần khẩn trương, niệm Phật tuy cũng tốt, nhưng không phải là đồ uống miếng ăn, hãy đợi đợi ta phát tài rồi mới niệm Phật (!)

Có người cho rằng: Tôi là công nhân viên chức, chỗ ở là nhà chung, chẳng thuận tiện. Cúng Phật lạy Phật hẳn nhiên là không thuận tiện, niệm Phật cũng là làm rối sự yên ninh của người khác, tôi làm không được. Nơi công cộng nhiều sự bất tiện, thật ra chẳng sai. Nhưng làm việc gì cũng đều có cách thông suốt của nó, nếu biết niệm Phật là lớn, chỉ cần “thành tâm” mặc niệm (niệm thầm), bèn có hiệu quả lớn, mà chẳng nhất định phải là niệm ra tiếng.

Có người nói rằng: Niệm Phật là pháp của ông già bà lão và người độn căn tu. Hễ gặp những luận điệu như thế nầy cần phải đề cao cảnh giác, chớ nên vì những miệng lưỡi bén nhọn đó chuyển ý. Trong sử Phật giáo chư vị Đại đức tôn kính, vì sao sau khi thấu triệt và giác ngộ được đạo lý, đều ra sức suy tôn niệm Phật cầu sanh tịnh độ? Như vậy chư vị Đại đức đâu phải là người tầm thường kẻ độn căn! Sự - Lý không nói cũng tự rõ, chúng ta phải tự suy tư. Một điều khác, đó là xưa nay người thành tựu trong niệm Phật rất nhiều. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thương xót chúng hữu tình, chỉ bày cho thời kỳ mạt pháp, pháp môn niệm Phật rất là khế họp căn cơ chúng sinh, pháp tu đơn giản rõ ràng, đạo tràng khắp nơi thuận tiện thích ứng, rảnh rổi bận rộn đều có thể tu, hễ phàm là người chí thành niệm Phật, đều tương ứng với đại bi đại nguyện của đức Phật A Di Đà.

Đây đều là những vấn đề không rõ biết pháp môn học Phật (trì danh niệm Phật) cho là học Phật (niệm Phật) cần tụng kinh, hoặc ngồi yên, hoặc cần tiền làm công đức v.v... pháp môn niệm Phật chỉ giữ một câu danh hiệu: “Nam Mô A Di Đà Phật”, đã đơn giản, lại thẳng tắc, không tiền làm công đức cũng được; người giàu niệm, người nghèo cũng có thể niệm, lúc rảnh rỗi niệm, lúc bận rộn cũng có thể niệm, là một phương pháp tùy lúc tùy nơi đều có thể niệm.

Biết chân chánh, thấy chân chánh, đó là vấn đề rất quan trọng. Nếu cái biết và thấy (tri kiến) của con người không chân chánh, thì dễ lầm lạc vào ngoại đạo, ngoài tâm chấp lấy pháp, tất cả mê tình nương tà kiến mà khởi, tức chỗ trụ làm nhân chịu sự trói buột, rất sợ ma, hoặc nguyện lực có chỗ thiếu sót. Cho nên nói là nguyên nhân không Chơn thì chuốt lấy kết quả gập ghềnh, nếu người tu hành tri kiến thuần chánh, chuyên chí niệm Phật, sanh về nước Cực Lạc, có thể từ phàm phu thẳng đến quả Phật.

Này các bạn tuổi trẻ! Nếu thật sự muốn lúc mạng chung vãng sanh về thế giới Cực Lạc, học Phật tu hành (niệm Phật) thì càng sớm càng tốt, nuôi thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật, khiến vọng tưởng không sinh, phiền não dứt trừ, vãng sanh Cực Lạc thì có cơ sở chắc chắn. Chẳng đợi tuổi già mới học Phật, vì tham lam vây quanh, nghiệp ác xâm lấn, danh lợi ham muốn v.v... buông không rời được, nói vãng sanh thế giới Cực Lạc đâu phải dễ, một khi mất thân người, lại rơi rớt ở trong sáu đường thì có được vui không!

PHÁP NIỆM NIỆM PHẬT

Vì cần thích ứng hoàn cảnh và tâm cảnh niệm Phật mà khởi lên cái nhìn thấy, vì cần thích ứng với căn khí của người niệm Phật mà có các việc không đồng. Lúc nguời tu hành niệm Phật có thể lựa chọn phương pháp thích hợp cho mình rồi mới thực hành. Nếu là niệm được một thời gian mà cảm thấy phương pháp nầy không thể trấn định tâm cảnh lúc bấy giờ, bèn có thể đổi một phương pháp, như thế một lần đổi lại một một lần đổi, đều không có gì chẳng được, chỉ cần thời gian này có thể “định tâm” dẹp trừ vọng tưởng tạp niệm thì là phương pháp tốt cho thời gian nầy. Thí như trị bệnh, chỉ cần trị lành được bệnh tức là thuốc hay đối với chứng bệnh. Vọng tưởng của chúng sinh là bệnh, danh hiệu Phật là thuốc, có thể trừ được cố tật, đó là diệu dược.

1 - Niệm to tiếng: Là phép niệm mở to cổ họng, phép niệm đó chỉ giây lát thôi, ngại vấn đề hao khí không thể trì lâu, chỉ đối trị với hôn ám nặng nề (hôn trầm), biếng nhát mỏi mệt (giải đãi), vọng tưởng, hiệu qủa rất là rõ ràng. Nhân vì niệm to tiếng có thể sảng khoái đầu óc, chấn chỉnh tinh thần, nhưng không nên niệm lâu, niệm lâu sẽ làm thương tổn nguyên khí và đau cổ khan giọng... tâm bệnh phát sinh. Lúc niệm to tiếng cần chú ý, chẳng nên làm trở ngại an ninh của người khác mà chuốt lấy sự chán ghét, như thế không có tâm Từ bi.

2 - Niệm nhỏ tiếng: Niệm nhỏ tiếng thì khó nhiếp vọng tâm vọng niệm, thời gian thì có thể niệm lâu được nhưng dễ bị hôn trầm. Lúc tinh thần hưng phấn, người và cảnh không có sự trở ngại lại có thể niệm to tiếng.

3 - Niệm Kim Cang: Tức là miệng môi máy động, nửa có tiếng nửa im lặng, âm thanh phát ra giữa môi và răng để chính mình nghe được thích nghi; người hành giả một mặt niệm, một mặt dùng tai để nghe, bất luận là sáu hay bốn chữ, chỉ cần từng chữ từng câu nghe được rõ ràng không sai chạy, tự nhiên tâm định. Pháp niệm nầy hiệu lực rất lớn, cho nên dùng từ Kim Cang làm ví dụ mà đặt tên.

Ba cách trên đây là nối kết với duyên bên ngoài.

4 - Niệm thầm (mặt niệm): Nếu to tiếng, nhỏ tiếng đều không thích nghi, niệm Kim Cang vẫn còn ngại dấu vết; hoặc là chỗ nhơ uế không sạch sẽ, cho đến tắm rửa, đại tiểu tiện, lúc người ồn ào, không nên niệm ra tiếng, chỉ còn cách là niệm thuần dụng tâm. Mặc niệm chữ nhiều khó niệm, niệm bốn chữ, ở trong tâm thức của hành giả mới có sự sáng suốt rõ ràng.

5 - Niệm nhớ tưởng: Tức là tâm niệm, miệng - môi - lưỡi đều không động, tâm niệm tất cả rõ ràng, lúc nghe trở lại tiếng của tai rõ rõ ràng ràng thì vọng tưởng khởi, ắt cần phải nhiếp tâm, thấy cảnh không duyên, tâm mới có thể định, mới là trên đường niệm Phật, Nếu không như vậy tưởng khởi lên, đó là niệm Phật trống rỗng, việc vãng sanh e rằng không đủ sức!

Hai cách trên là nối kết với sự huân tập bên trong.

6 - Niệm truy đảnh (tiếp câu): Là dùng phương pháp niệm Kim Cang, nhưng giữa chữ và chữ, giữa câu và câu, liên tiếp liền lạc nhau rất là nghiêm túc, hình như là một chữ đuổi theo một chữ, một câu gối đầu một câu, khoảng giữa không có chỗ hở đứt, cho nên gọi là “truy đảnh”. Lúc nầy trong lòng khẩn trương, tâm và miệng đều tiến đến câu niệm, cho nên vọng tưởng tạm thời lắng lặng.

7 - Niệm ngồi yên: (tĩnh thổ thiền): Là xếp bằng ngồi ngay ngắn, trạng thái thoải mái, thân cần phải chính ngay, không lắc lư thân, nên thuận với tự nhiên, không gồng lưng ưỡn người, để khỏi bị khí nóng bốc lên, cũng chẳng nên cong lưng cúi đầu, lưỡi tì vào hàm trên, nếu tiết nước dãi thì từ từ nuốt xuống yết hầu, khép hờ mắt, lặng nhìn ngay sống mũi. Ngồi yên nghĩ tưởng niệm Phật, chẳng phải là tham thiền, cũng chẳng phải là chỉ quán, có thể ngồi lâu dài. Hành giả khi mới ngồi, do vọng tưởng nhiều hơn niệm Phật, do niệm tạp nhiễm nhiều hơn niệm tịnh sạch; Lúc nầy thì nên phải dọn trừ đi muôn duyên, buông bỏ tất cả, nhiếp cả sáu căn. Sớm tối mỗi lúc ngồi một lần, thời gian còn lại khác nên nhớ tưởng niệm Phật. Niệm Phật như thế, thì hiệu quả của việc thu được tăng hơn nữa. Lâu xa về sau, thì tùy lúc tùy nơi, một câu danh hiệu Phật, lúc miệng chẳng thể niệm thì tâm cũng tại niệm, không niệm mà tự niệm, ở nơi niệm liên tục kỹ càng không dứt, mới là trên đường niệm Phật. Niệm ngồi yên, chẳng dùng chuỗi để niệm, cũng chẳng nhớ số lượng, chỉ cần có niệm thì tốt. Nhưng trong công khóa sớm tối nhất định phải niệm ra tiếng, có thể niệm to tiếng càng tốt. Nếu ở trong nguy nạn thì nên phát tiếng niệm to, lúc nầy chẳng nên so kể là chỗ nhơ uế. Đến lúc mạng chung cũng cần phải niệm ra tiếng, có thể niệm to tiếng rất tốt, cần phải nhớ! Phải nhớ!

Nếu vọng niệm nhiều, tức nên dùng pháp “mười niệm nhớ số”, tức là niệm một hơi từ câu thứ nhất đến câu thứ mười thì dừng, lại tiếp tục niệm từ câu một đến câu thứ mười, chẳng được niệm leo đến hai, ba mươi chẳng hạn, để khỏi bị lực của tâm không kham nổi, ắt phải bị bệnh. Nếu nhớ thẳng mười câu mà khó nhớ, có thể phân làm hai hơi, từ một đến năm, từ sáu đến mười, chỉ nhờ vào sức nhớ của tâm mà chẳng được lần chuỗi, thì mới dốc toàn tâm lực ở nơi một tiếng hiệu Phật, vọng niệm không dấy khởi, nhất tâm bất loạn, lâu phải tự được; khi nhiếp được tâm thì đồng, mà khi dụng công thì rất khác nhau. Người kia hết một hơi là một niệm, chỉ có thể sáng sớm một lần, thường dụng công thì tổn khí thọ bệnh. Người nầy thì từ sáng đến tối, hoặc có tiếng hoặc không tiếng, tùy lúc mau lúc chậm, đi đứng ngồi nằm đều không lúc nào là chẳng thích nghi. Chẳng những bỏ được vọng mà rất có khả năng dưỡng thần, so với người lần chuỗi nhớ số kia, lợi ích khác xa.

Niệm có kỳ hạn: Nếu muốn được nhất tâm bất loạn, hiện tại chứng được tam muội, cần lựa chọn một cái thất yên tịnh, bặt dứt duyên bên ngoài, xin khách không nên nói chuyện, chỉ vì một câu danh hiệu Phật, niệm “ truy đảnh” (dùng phép niệm kim cang), hoặc phép “mười niệm nhớ số”. Không nên to tiếng làm tổn thương khí lực, hoặc làm cho bị công hỏa lên; không được ngầm giận mà tổn thương máu, hoặc lơ là thành thói quen, trầm tĩnh nặng nề tối tăm. Cũng chẳng nên niệm qua loa cho hết ngày giờ, cho cùng năm mãn tháng; lúc còn sức khỏe nên niệm mạnh mẽ một ngày một đêm đến bảy ngày bảy đêm không dừng, tích cực nối tiếp, mạnh mẽ lại càng mạnh mẽ, tình thức dứt bặt, tự nhiên thân tâm lại không bị loạn, tức gọi là nhất tâm bất loạn. Nếu chẳng được cảnh giới nầy thì tuy có tạm thời thanh tịnh, cũng là nơi nghỉ tạm, lúc thanh tịnh thì có niệm, lúc động loạn thì mất niệm, huống chi lúc lâm chung rất là đau khổ phiền muộn thì sao? Có thể thấy rằng lúc bình thường trong cảnh yên tịnh chút chút, thì tâm ý thức được việc ở bên, đến lúc buồn phiền thì dù ý thức thông minh làm chủ cũng đều dùng chẳng được vậy.

Nếu liên tục kỳ hạn mà dễ sinh bệnh, thì chẳng nên làm lâu. Xin khuyên chư vị bạn đạo, nương theo phương pháp niệm một ngày xem thử, nếu một ngày không thành, nên tập niệm lại một ngày, hoặc liên tục hai ngày, ba ngày, đến bảy ngày, thấy tinh thần chưa ổn định lắm, một lần bảy ngày chẳng thành, thì phải điều đưỡng tinh thần làm lại bảy ngày. Ngồi, đứng, đi mỗi việc nửa giờ, vòng lại từ đầu. Đều đặn không dứt, ăn uống, vào nhà xí, mặc áo v.v... một mực là Phật, miệng không niệm được mà tâm vẫn không dứt niệm, chẳng nên khoảnh khắc lộn xộn dừng nghỉ hoặc cảm thấy mệt mỏi, chẳng nên sợ ra ngoài kỳ hạn nên đợi đến lúc khỏe mới khởi niệm. Bỡi vì cách công phu làm thế, không thể đánh dẹp được sự hôn trầm, tán loạn hoặc trạo cử; nếu sợ hôn trầm, tán loạn và trạo cử, chỉ quan tâm dẹp đuổi, chính là đối tác với hôn trầm, tán loạn và trạo cử, càng đấu đá càng thêm nhiều, chẳng bằng buông thân ngủ một giấc, hôn trầm, tán loạn và trạo cử tự diệt mất, tinh thần hưng khởi hơn lên, lựa lúc làm lại. Niệm một ngày tốt nhất là ăn ít hoặc chẳng ăn, chỉ uống nước. Hai ngày trở lên cần phải ăn.

Niệm Phật đáng quí là dụng công phu lúc bình thường, trước có chỗ nghỉ tay, dẫn đến sinh làm người sống vui, lâm chung quyết định vãng sanh. Pháp nầy rất vi diệu và rất ổn định, nguyên nhân lúc còn sức khỏe cố gắng mà làm, để khỏi đến lúc lâm chung tay rối chân loạn. Tuy là già cả yếu đuối, khí lực chẳng đủ, cũng nên khéo tự điều nhiếp mà tu hành. Lúc lên ca làm việc cũng có thể lợi dụng ngày rảnh nghỉ, theo cách thức niệm một ngày xem sao, từ chiều hôm trước đến chiều hôm sau, nếu một ngày không thành sửa đổi làm lại ngày khác, hoặc làm liên tiếp hai ba ngày trong thời gian nghỉ phép, hoặc xin nghỉ phép làm suốt bảy ngày.

Phương pháp nầy nên lấy thời gian giữa mùa xuân, hạ, thu, đông mà làm, để khỏi bị lạnh nóng khó phân.

Lúc niệm Phật có thời hạn, động cơ của người niệm càng đơn thuần càng tốt, công phu càng có thể dùng hiệu quả. Vì rất đơn thuần thì rất thành tâm, niệm Phật rất chuyên tâm thì sẽ tự nhiên phát sinh ra một sức tiến triển tốt đẹp.

Chuyên tu, là phương pháp hay để tu thân, dưỡng tánh, đoạn ác, tu thiện, dễ phát sinh trí tuệ, được nhất tâm bất loạn. Chuyên tu - không phải là tiểu thừa, là trước tự lợi rồi sau lợi tha. Không có trí tuệ mà khuyên người tin Phật cũng chẳng dễ, sao có thể nói cho chuyển động được người đời khẩu phục tâm phục mà học Phật tu hành, ra sức tu trì!

Đơn thân không lụy phiền về gia đình mà xét ra rất nhiều phiền não. Người có nhà, như trong sinh hoạt không suy nghĩ thì lại không gánh vát được kế hoạch gia đình, một người ở riêng, đầy đủ không ra khỏi cửa, không xem ti vi báo đài, không nghe âm nhạc, chẳng nhu cầu dựa trên sự quấy rối của cảm giác, thì tự nhiên, lựa một cái thất yên tĩnh hoặc ra ngoại ô che một cái nhà nhỏ, từ dứt duyên ngoài, đóng cữa, không việc thì không ra khỏi cửa, chuyên tâm niệm Phật, tinh tấn không lười mỏi, chỉ cần sự quyết tâm đúng mức, nếu không được nhất tâm bất loạn, niệm Phật tam muội thì không ra khỏi cửa.

Lúc nằm và nơi không sạch như: nhà xí, chỗ rửa giặt v.v... chỉ mặc niệm để khỏi lỗi mất cung kính. Chớ nên nói rằng những lúc và những chỗ nầy không được niệm Phật, mà phải hiểu rằng những chỗ nầy không nên phát ra tiếng mà thôi.

Nghi thức niệm Phật đơn giản mà dễ tu hành.

ĐỊNH KHÓA SỚM TỐI

Thời khóa buổi sớm là nghe lời giáo huấn của Phật, cảnh tỉnh chính mình, một ngày nay của ta, khởi tâm động niệm, xử thế, tiếp người đãi vật, chẳng trái với lời dạy dẫn của Phật, đây là thời khóa buổi sáng.

Thời khóa buổi tối là phản tỉnh là kiểm điểm, nghiêm túc làm một lần phản tỉnh, lời dạy của Phật có cố nhớ hay không? Nếu như không làm được, cần phải nghiêm túc sám hối, sửa lỗi lầm, tự làm mới lại, ngày mai nhất định nổ lực làm cho được, đây tức là công đức lợi ích của thời khóa sáng tối; mà không phải là sáng sớm niệm một niệm cho Phật và Bồ tát nghe, tự mình nếu khởi tâm động niệm thì chẳng tương quan một chút nào với lời dạy của đức Phật.

Có phòng trống trong nhà, ta lấy một gian thì rất tốt, nếu thật sự không có chỗ cúng tượng Phật, thì thiết trí ở trong phòng mình cũng được, nhưng cần phải che trên mặt tượng Phật một chiếc khăn vàng, lúc không tụng niệm thì buông phủ khăn vàng xuống, cách nầy khỏi bị lỗi khinh mạn. Tượng Phật tốt nhất là hướng đông, người niệm Phật hướng tây, đối với niệm Phật nếu như không thể thế nầy, thì là tùy tiện hướng bên nào cũng cúng Phật được. Nếu thực tại mà không có chỗ cúng Phật, thì nên mặt hướng về tây niệm cũng được.

Cúng dường Phật, thông thường có: Hương, hoa, đèn, nước trong sạch, các thứ dưa và trái cây; Nếu không có, thiếu mấy món hoặc hoàn toàn không có cũng được. Nhưng nhất quyết không được cúng thịt chúng sinh và rượu, càng không được đốt giấy tiền, các loại giấy bạc, vàng mã.

Lễ Phật: Đầu cúi sát đất, vái chào, cúi mình kính cẩn, chắp tay; Nếu cúi đầu lễ lạy rất là cung kính thì rất có thể diệt tội cầu phước. Quì, ngồi, đứng đều có thể niệm, nhưng cần phải tâm chí thành thì được.

Nhân chính làm chúng tại gia, nên làm công việc gia đình bận rộn, làm công việc xã hội bận rộn, sợ rằng người niệm Phật trước thì siêng năng sau thì biếng trễ hoăc chẳng niệm nữa. Do vậy mới sắp xếp niệm Phật ngay trên thời khóa sớm tối là cảnh tỉnh người niệm Phật nên niệm Phật mỗi ngày, không nên vì cuộc sống bận rộn! Sự nghiệp bận rộn! Phiền não! Lúc cao hứng v.v... mà quên đi câu niệm Phật.

Người mà “trong tâm có Phật” tùy lúc tùy nơi đều khởi tưởng niệm Phật, thì thời khóa sớm tối không làm cũng được.

Chẳng nên cho là niệm Phật ở trước điện Phật, tượng Phật mới trang nghiêm, mới cung kính; ở chỗ khác thì không trang nghiêm, không cung kính, không phải niệm Phật. Niệm Phật chỉ cần tâm thành, nơi nào, thời gian nào cũng đều trang nghiêm; chỉ ở chỗ không sạch như: nhà tắm, nhà xí... hay lúc áo mũ không tề chỉnh thì mặc niệm mà thôi.

Không nên cho là mua được cái máy niệm Phật để nghe thì là niệm Phật rồi, như thế, công đức niệm Phật không phải là của anh mà là của cái máy! Cho nên lúc nghe máy niệm thì người nghe phải cùng với máy hòa niệm mới có được công đức.

Nếu là công tác rất bận rộn, bận đến mỗi ngày cả thời khóa sớm tối cũng đều không có thời gian để làm! Lúc bình thường càng không thể nói là niệm Phật được, thế thì kẻ học Phật tu hành nên khá tự suy tư! Người lại có thời gian ăn uống vui chơi, xem ti vi, nhàn tản tán gẫu, mà không có thời gian để niệm Phật! Như thế thật là không có thời gian để niệm Phật rồi, vãng sanh thế giới Cực Lạc là việc của người khác!

Sáng dậy sớm hơn một chút, tối ít xem ti vi một chút, như thế thời khóa sớm tối có thời gian để làm.

Biết rằng người vốn bận rộn, nói lệch đi là chẳng được nhàn rỗi, kỳ thật có thật là bận rộn không? Thật chẳng thấy được? Chưa chắc là thật bận rộn, niệm Phật vài giờ nói ngược là lắm sự trì hoãn, vã lại nhìn người xưa nay mấy ai được tám mươi tuổi, chẳng thể vứt bỏ khổ sinh tử ở bên sau, chân chánh việc chính mình, cần khẩn trương muôn ngàn lần, khuyên người phát khởi sự xét nét mạnh mẽ, mau mau trồng sen chín phẩm.

Trong kinh “Phật thuyết bát vô hạ”, đức Phật dạy rằng:

Ở thế gian nầy, ít nghe không nói, hạng phàm phu thường nói lời không rảnh rỗi - có rảnh rỗi, song chẳng rõ biết, thế nào là không rảnh rỗi? Thế nào là có rảnh rỗi?... Nếu các loài hữu tình muốn đến được hạnh Thánh, lúc tu thiện pháp có tám việc không rảnh tu tập”. Trở xuống dưới đức Phật đưa ra tám việc không rảnh rổi để tu hành ấy là:

1 - Trụ đồng, trên sắt, các khổ não,

Tro nóng, phân tiểu, rừng dao đâm,

Ở trong địa ngục chịu khổ nầy.

2 - Đói khát, châm cổ, khổ hại thân,

Mưa rơi, sông chảy dòng lửa dữ,

Ở trong ngạ quỉ chịu khổ nầy.

3 - Lại luôn ôm lòng sợ bị hại,

Thường muốn xoay vần ăn nuốt nhau,

Ở trong bàng sanh (súc sinh) chịu khổ nầy.

4 - Nếu được ở nơi trời Hữu Đảnh,

Do phước ngày trước sinh ở đó,

Được trường thọ mà huệ chẳng thông.

5 - Sanh nơi quê mùa chốn xấu xa,

Tai chẳng từng nghe tiếng nói pháp,

Không biết, mãi ở chốn tồi tàn.

6 - Do thân trước kia tạo nghiệp ác,

Đui, điếc, ngọng, câm, thiếu các căn,

Ngu si tức là trâu thân người.

7 - Hoặc người chẳng tin nơi tam bảo,

Nói không nhân quả, không quí gần,

Tà kiến như thế phá nguồn tâm.

8 - Chư Phật đại sư (Bồ tát) chẳng xuất hiện,

Diệu pháp cũng không truyền thế gian,

Như người sinh ở trong đời tối.

Tám việc không rảnh rỗi để tu Phật; việc thứ nhất là chỉ cho chúng sinh ở trong đường địa ngục, việc thứ hai là chúng sinh ở đường ngạ quỉ; Việc thứ ba là chúng sinh ở đường súc sinh, thứ tư là chúng sinh ở cõi trời, thứ năm là chúng sinh ở biên địa, thứ sáu là chúng sinh thiếu các căn và si độn, thứ bảy là chúng sinh không tin nhân quả nghiệp báo, thứ tám là chúng sinh gặp thời Phật không xuất hiện ở đời. Chúng sinh đọa vào ba đường ác không nhàn rỗi tu hành là có thể lý giải, như thế nếu được sinh làm người cũng không rảnh tu hành, đức Phật đã nhận định:

Ông đã được thân người, lại được nghe chánh pháp, chẳng được Thánh quả bỡi vì trong nhiều đời không được rảnh rỗi”.

Trong đây nói rằng “không rảnh rỗi” là chỉ cho người không tin nhân quả, vì họ tuy đã nghe được chánh pháp, nhưng không tin tưởng. Đức Phật lại dạy rằng:

Ông đã được thân người, lại được nghe chánh pháp, không thể làm như lời nói, nên trong luân hồi tám nạn, chuốt lấy các cay đắng”. “Nếu người nghe ta nói, biết được rảnh và không rảnh rổi, cho nên phải có tâm chuyên cần, chân chánh tu hành ở nơi phạm hạnh, Ta dạy người mắt sáng, khéo giữ gìn ở các việc ác, chân chánh niệm để có thể ngăn giữ, chẳng theo các hữu lậu, tất cả theo giấc ngủ, hàng phục đại ma oán, trọn vượt ra khỏi dòng sinh tử, được lên ở bờ kia”.

Lời dạy của đức Phật, đáng để cho chúng ta sâu xa lấy làm Giới. Có còn nói là không rảnh rổi để niệm Phật hay không?

Niệm Phật, là một phương pháp không chia ra giàu sang hay bần tiện, già trẻ nam nữ, lúc rảnh lúc bận, mọi người đều có thể niệm, mọi người niệm Phật thì mọi người đều được vãng sanh về thế giới Cực Lạc ở phương tây; chỉ có điều là tự mỗi người tinh tấn mà thôi.

Niệm Phật, sợ nhất là trước thì siêng mà sau lại lười, không có “hằng tâm”, cho nên người tu hành xưa nay đều đem một việc niệm Phật, gắn chặt vào công khóa hàng ngày, ngày lại ngày thực hành, lúc bình thường tùy lúc tùy nơi mà niệm Phật, để khỏi thối lui rơi rớt.

Công khóa sớm tối, là việc làm (tu) thông thường trong việc làm (tu) chân chánh; nghi thức rườm rà hay đơn giản có thể do người chế ra để thích nghi, chung thì thừa riêng thì bề bộn, ấy là do giản dị mà vào, chỉ có thể do giản dị mà thành rườm rà, không thể từ rườm rà mà thành giản dị được, mà tự thối lui rơi rớt.

Sớm tối mỗi ngày, rửa xong, hướng về tượng Phật hoặc mặt hướng về tây, quì gối hay ngồi hay đứng ngay ngắn, chắp tay ngay ngực, mười ngón tay ngay ngắn không rỗng ở trong lòng bàn tay, tâm giữ sự quán tưởng. Miệng niệm:

- Nam mô thập phương thường trụ tam bảo.(3 lần 3 lạy)

- Nam mô đại từ đại bi bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật(3 lần 3 lạy)

- Nam mô tây phương Cực Lạc thế giới tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật (3 lần 3 lạy)

- Nam mô A Di Đà Phật. (vài trăm hay vài ngàn câu, càng nhiều càng tốt) (3 lần 3 lạy)

- Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát (3 lần 3 lạy)

- Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát (3 lần 3 lạy)

- Nam mô Thanh tịnh đại hải chúng Bồ tát (3 lần 3 lạy)

(Thế giới Cực Lạc có rất nhiều Bồ tát là thầy - bạn chúng ta. Cũng nên cần phải lạy).

- Đệ tử (tên) nguyện qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng (1 lạy)

- Đệ tử (tên) nguyện sanh Tây phương Cực Lạc thế giới. (1 lạy)

- Đệ tử (tên) phát bồ đề tâm, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh. (1 lạy)

- Đệ tử (tên) nguyện đem tất cả công đức làm được của ngày nay, trang nghiêm tịnh độ của Phật, trên báo đáp bốn ơn nặng, dưới cứu giúp ba đường khổ, nếu có người thấy nghe, đều phát tâm bồ đề, hết một báo thân nầy, đồng sinh nước Cực Lạc. (1 lạy)

Thời khóa niệm buổi tối, cũng có thể thêm hồi hướng nhỏ:

- Đệ tử (tên) xưa kia đã tạo các ác nghiệp, đều do tham sân si từ vô thỉ, sinh ra bỡi thân - miệng - ý, tất cả nay đây con đều sám hối. (1lạy)

(Nếu có làm ác cũng có thể ở tại đây mà sám hối)

Niệm Phật định số từ ít đến nhiều, chỉ cần lấy sự thường siêng mà trì, chẳng nên gián đoạn, chẳng được mượn kế làm hỏng công phu, tối kỵ làm cho đủ vẻ, vì đủ hình thức thì khó được lợi ích thật sự.

TU HÀNH CẦN BIẾT

Pháp môn niệm Phật, chung nhiếp năm giáo, khắp trùm ba căn, là một thời giáo hóa của Như lai rất rộng rất lớn, là pháp lớn rất đơn giản dễ dàng. Ngàn kinh tán tụng, muôn luận tuyên dương, chư Phật mười phương khác miệng đồng âm mà khuyên bảo tin tưởng, cao tăng đại đức xưa nay nhất tâm hoằng dương, sự sâu xa của triết lý, sự rộng lớn của vấn đề nhiếp cơ, tám vạn bốn ngàn pháp môn, lấy đây làm thứ nhất. Bỡi vì pháp môn khác đó đều nhờ tự lực mà đoạn hoặc chứng chơn; pháp môn tịnh độ nầy còn gồm cả sự nhờ Phật lực rộng vượt ba cõi. Cõi Ta Bà nhơ uế trầm trọng, cần đến địa vị Thập tín mới ra khỏi vòng khổ; cảnh giới của Cực Lạc hơn hẳn cõi Ta Bà, niệm Phật vãng sanh chỉ chín phẩm cũng thảy đều “bất thối”. Từng nghe tôn giả Xá Lợi Phất phát tâm từ thời đức Phật Đại Thông, đến nay trải qua nhiều kiếp số lượng nhiều như hạt bụi, hãy còn ở địa vị (thanh văn), có thể thấy rằng cái khó của sự tự lực tu chứng ở cõi nầy; Huống hồ hiện tại cõi nầy nhằm lúc mạt pháp, tâm tánh chúng sinh chướng dày huệ mỏng, phước nhẹ và nhơ uế nặng, muốn nhờ tự lực để tu chứng, lại là khó trên khó. Trong kinh Đại Tập, đức Thế tôn chỉ dạy đại chúng:

Thời mạt pháp ức ức người tu hành, hãn hữu một người đắc đạo, chỉ nương nơi niệm Phật, sẽ được qua khỏi sinh tử”.

Bậc cổ đức cũng có nói rằng:

Học đạo các môn khác, giống như con kiến lên ở núi cao; niệm Phật vãng sanh như buồm đi thuận gió”.

Kinh Phật lời Tổ, khăng khăng khuyên tu tịnh độ niệm Phật, chúng ta sao được cô phụ lòng Từ bi của Phật Tổ, mà chẳng chịu đọc và nghe để sanh tín tâm, phát nguyện niệm Phật, cầu sanh về thế giới Cực Lạc ư!

Từ xưa đến nay người tu tịnh độ, pháp môn trì danh niệm Phật, được thành tựu rất nhiều, pháp môn đó rất là thẳng tắt, rất là viên đốn, có thể vượt bực, chẳng cần trải qua tu lần hồi mà có thể đốn siêu. Từ tiểu học có thể thẳng lên đại học, mà phương pháp vả lại rất đơn giản, khiến người chẳng dám tin, lại chẳng thể chẳng tin, thật là chẳng thể nghĩ bàn.

- Tu hành, hành là hành vi sinh hoạt, trong hành vi sinh hoạt khó mà tránh khỏi chẳng phát sinh sai lầm rất nhiều, sửa cho chính lại những hành vi sai lầm, gọi là tu hành. Năm trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc) đều là hư giả, chẳng phân biệt thì có thể thọ dùng, chẳng thể ái nhiễm càng chẳng được chấp trước.

- Tu hành học Phật, trước nhất cần làm cho rõ ràng, tin Phật là tin Phật, mà tu hành học Phật là tu hành học Phật!

Tin Phật, là đọc một vài quyển kinh, lạy một vài hiệu Phật, hoặc niệm một vài tiếng Phật, ngồi tỉnh tọa giữ năm giới, làm chút việc thiện, đời sau sinh lên cõi trời hoặc nhà giàu có. Cầu giàu có, cầu bình an, cầu gia hộ... Dính mắc nặng nề cuộc sống vật chất, hưởng năm dục của nhân gian, ăn ngon, mặc đẹp, ở sang, tận tình ăn uống vui chơi.

Tu hành học Phật. Là cần phải nương theo lời dạy, như pháp mà tin thọ chịu làm, ngoài vấn đề trì giới (các ác chẳng làm), bố thí (các thiện vâng làm), còn cần phải tự thanh tịnh ý, nhẫn nhục, tinh tấn, ăn toàn chay, thọ trì một phương pháp đó, tức là phương pháp đó cần phải chuyên tâm nhất ý. Ra khỏi luân hồi ba cõi, sáu đường lìa khổ được vui cho đến thành Phật! Niệm Phật, khi mạng chung vãng sanh thế giới Cực Lạc chú trọng đến cuộc sống tinh thần, ít ham muốn và biết đủ (thiểu dục tri túc), thì dẫn tới sự đầy đủ, cuộc sống đạm bạc giản dị, sẽ đầy đủ đối với các hiện tượng và tình huống, tùy nghi với những gì mình gặp mà được bình an thì “lý” sẽ được, trên không hổ thẹn với trời, dưới không dối gạt với đất, không tranh, không cầu, không vọng lấy, không vọng dùng, tự nhiên tự tại, yên ổn vui vẻ.

Nếu tu hành học Phật mà còn dính nặng nơi cuộc sống vật chất, như thế, cũng học mà không làm sao ra khỏi căn nhà danh vọng đâu!

- Tu hành học Phật, cần có CHÁNH TÍN, không được không chánh tín! Chánh tín rất là trọng yếu! Chánh tín thì vãng sanh thế giới Cực Lạc. Không chánh tín mà niệm Phật, tu phước, thì đời sau giàu có, giàu có thì sinh cuộc sống hưởng thụ, dễ làm ác, tạo các nhân xấu; người không chánh tín, đời nầy niệm Phật, đời sau hưởng phước, đời thứ ba phước hết thì rơi rớt vào ba đường ác! Đây gọi là làm oán ba đời. Bỡi vậy chúng ta tu hành học Phật thì nên sanh tín tâm chân chánh! Không được sinh tín tâm chẳng chân chánh. “Chánh tín” và “chẳng chánh tín” khác xa nhau như trời và vực thẳm.

- Tu hành học Phật không nên mê ở nơi nhiều kiểu dáng nhiều trạng thái của hiện tượng vật chất, quên bẵng đi cội nguồn sinh mạng là ở nơi cõi tinh thần. Kinh Phật thường nói: “chúng sinh bội giác hiệp trần” (quay lưng lại với sự giác ngộ mà đi hợp với trần lào khổ lụy), chỉ ra là buông bỏ sự giải thoát mà đi tìm cầu sự phú quí vinh hoa. Cũng vậy, người tu hành nếu chẳng muốn đánh thức Phật tánh ở bên trong, cũng chỉ là ưa thích cái xấu tệ cạn cợt trọn đời của sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp ở bên ngoài. Cũng cần biết bỡi vì sao danh vọng, sự nghiệp, cơ đồ, hiển hách, cũng có một ngày rơi rớt lụn bại; bỡi vì sao quyến thuộc ân ái thân mật cũng có lúc phân ly.

- Siêng năng tu hành học Phật, trì danh niệm Phật, tức là có phước khí lớn (thiện căn lớn). Người phước mỏng (ít thiện căn) là “hữu thỉ vô chung” (có khởi đầu mà không có cuối cùng), chỉ hơi tin Phật. Người không thiện căn là người không tin tam bảo; càng thậm tệ hơn là không những chẳng tin rồi, mà còn hủy báng tam bảo!

- Tu hành, tức là phương pháp xem xét những sự sai lầm mà chúng ta đối với nhân sinh vũ trụ; pháp tưởng, pháp nói, pháp làm, cũng vậy, cần nên sửa đổi cho chân chính lại. Cũng bao hàm sự kiểm thảo điều chỉnh, đối kháng chính ta, khống chế dục vọng và cân bằng thân tâm.

Nhưng chúng ta cũng nên chấp nhận những nghi thức hành vi bên ngoài lại sinh ra tác dụng huân tập bên trong. Ở lúc hành trì công khóa sớm tối, chẳng phải là khiến cho tâm mình an định, chuyên chú ở nơi khóa tụng hay sao? Chúng ta lúc giữ giới nắm giữ trạng thái của tâm ta ra sao ư? Là một thứ giới điều, một loại hình thức giới luật đang làm. Kỳ thật giới luật là phạm vi ngăn ngừa cần thiết sự làm ác của chúng ta, giới luật giúp đỡ chúng ta giải thoát. Giả như người nào đó cảm thấy rằng giới luật là một vấn đề trói buộc, như thế là biểu thị người đó còn muốn làm việc xấu, đây là hình thức bên ngoài có công năng nhất định của nó, chỉ xem chúng ta dùng trạng thái của tâm thế nào để xử lý nó.

- Tu hành học Phật, xưa nay là việc của chúng xuất gia, chúng tại gia chỉ tin Phật trồng nhân thiện, được phước báo trời người, đời sau hưởng phước. Chúng tại gia cũng muốn học Phật tu hành - niệm Phật! Vãng sanh thế giới Cực Lạc, thân đó tại gia “Tâm” thì cần phải xuất gia, không thể thân tại gia mà tâm cũng tại gia (thường là nhớ nhung việc gia đình, việc trên xã hội, dục lạc hưởng thụ), nên cần phải công phu nhiều hơn chúng xuất gia một chút mới chế được tâm. Nhân vì chúng tại gia có nhà, có nhà rồi thì có thân bằng quyến thuộc - bỡi vậy mệt nhọc suy nghĩ, lại có việc đời - bỡi vậy phân tán nguồn tâm, lại có danh lợi - bỡi vậy biến động nơi ý, lại có họa hoạn - bỡi vậy lo buồn ở chí, cho nên thân và tâm không dễ gì yên tịnh được, lại chẳng có thể bàn đến sự thanh tịnh của ba nghiệp thân, miệng, ý được.

Nhà, thực tại là nhân duyên phiền não! Có nhà rồi lại nên xả bỏ việc thế tục mà tu hành, thực tế thì cũng không phải là mỗi người đều có thể làm được hết. Chúng tại gia có nhà, nếu có thể dùng “không nhà” để nhìn, thì nhà không thể là cái trói buột, xét ngược lại thì rất nhiều phiền não! Nếu là người không gánh vát sinh kế của gia đình, bỏ việc đời, chẳng khổ nhọc nặng, bỏ việc kinh doanh lo lợi, có thể chuyên tâm tu hành rất tốt!

- Tu hành không phải là phân biệt trên hình thức xuất gia hay tại gia, mà là phân biệt trên tâm địa. Người có thể xả bỏ sự suy nghĩ và công việc thế tục như: phú quí, vinh hoa... các dục vọng, thì cùng với người xuất gia như nhau; người xuất gia nếu không xả bỏ suy nghĩ và công việc thế tục, vẫn như người tại gia. Nên biết rằng tu hành cần ở trên tâm địa, không phải ở trên hình thức mà thôi.

- Vì sao học nhiều kinh luận như thế, là bực cao nhân biện tài vô ngại, ngồi yên tham thiền đã đạt đến tam thiền tứ thiền, người tay nắm tràng hạt niệm Phật, mà ra không khỏi ba cõi (không được vãng sanh thế giới Cực Lạc!). Tức là miệng nói tu hành, nhưng chưa đem tâm tin Phật để tu hành; Nếu hiệp với kinh điển, ngay khi ngồi yên đứng dậy, tiếng niệm Phật liền dừng, tức thì bề bộn những sự so tính đuổi kéo tâm ta, tức là bận rộn những sự việc gia đình, tức là bận rộn việc trên xã hôị, bận rộn chuyện ăn uống vui chơi, dục vọng rất là nhiều, rồi vọng giữ lấy, vọng sử dụng. Nghiên cứu kinh điển, lúc niệm Phật, ngồi yên, tâm mới chỉ được chút ít sự thâu lấy, vẫn còn bị hai cảnh thuận nghịch động chuyển, bị tình thức bủa vây, bị ái chấp trói buột, không thấy rõ tình đời, buông không được muôn duyên việc tục, lúc mạng chung tâm sinh điên đảo, ra sao được ba cõi sinh tử!? Vãng sanh thế giới Cực Lạc ư! Ngay cái thiện rốt cuộc cũng khó đạt được!

Gặp được việc tốt, thấy được việc tốt, nghe được việc tốt, tức là cảnh thuận. Gặp việc xấu, thấy việc xấu, nghe việc xấu, tức là cảnh nghịch. Ở cảnh thuận thì hớn hở vui cười, ở cảnh nghịch thì u sầu khổ sở; tức là bị hai cảnh thuận và nghịch chuyển. Nếu có thể ở cảnh thuận không vui vẻ, ở cảnh nghịch không phiền toái, thuận nghịch đều không khởi tâm động niệm; vì ngay nơi khởi tâm động niệm thì lập tức bị hai việc thuận - nghịch chuyển.

Vui giận, ưa ghét, ham muốn, đều là một chữ TÌNH; nếu làm được nhữung việc như: vi phạm không tra xét, xúc phạm không giận dỗi, làm tổn thương không oán hận... tiến đến coi những việc đó như không, ngược lại thương xót tâm ngu si; nếu có thể ngộ được lý nầy thì tâm thường thanh tịnh, như TỊNH ĐỘ (cõi tịnh) vậy.

Cha mẹ, con cái, công danh, tiền bạc giàu có, văn chương nghệ thuật, ngọc ngà của báu... đều là những thứ yêu thích. Nếu làm được việc có nó cũng như không có nó, chẳng nghĩ tưởng về nó; bỡi vì phàm là có tâm một khi ÁI tồn tại, thì lúc lâm chung bị cái ÁI nầy dắt dẫn, theo những việc trước mà luân hồi sáu nẻo. Do đây có thể biết một chữ ÁI chính là cội rễ của sinh tử, là một trở ngại lớn cho việc vãng sanh.

Người học Phật, trong tâm của đại đa số mọi người cũng đều muốn được tụng kinh, tham thiền, lạy Phật niệm Phật, ăn chay, tức là tu hành; chẳng biết rằng cũng còn bao quát cả những hành vi sửa đổi chỉnh đốn, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn trong cuộc sống thường ngày cũng tức là “đạo đức”, nó sửa đổi nuôi dưỡng làm cho tịnh sạch và vương lên, đều là sự cần thiết đối với hành vi chính mình và làm cái việc sửa đổi chỉnh đốn thích đáng. Giả như những hành vi nầy đã làm tổn hại đến chúng sinh và mình, hoặc giả đã mâu thuẩn đến đạo đức, phép tắc, chuẩn mực của xã hội đương thời, nơi đây.

Trong vấn đề học tập Phật pháp, cải tiến chính mình từ trong cuộc sống thường ngày, khiến cho mình cùng với ranh mức con người trên xã hội có được sự quan hệ càng hài hòa hơn, đây cũng là tu hành, mà vả lại càng dễ làm cho mọi người và gia đình tiếp nhận.

Tu hành là cần tự tại, nhìn cho rõ, buông cho hết, mới có thể được lợi ích. Phú quí, vinh hoa, ăn ngon, mặc đẹp, ở sang, ăn uống vui chơi tận tình, những việc nầy là chỗ vui ưa tìm cầu của người đời, người tu hành cần nên bỏ lìa những cái nầy đi, bỡi vì phú quí vinh hoa... những cái đó làm ngăn ngại sự an bình và yên tịnh của thân tâm người tu hành, nó làm cho chẳng được tự tại và giải thoát.

Việc mặc, không được đẹp đẽ, không được hợp thời trang thì lại buồn buồn không vui; việc ăn, mà có chút ít không ngon miệng, không hợp ý thì cho là không ngon, ăn không được; ở phòng bình thường đi không có xe tốt thay vì đi bộ lại nói là không sang trọng, mất thể diện; những vấn đề nầy tức là không tự tại. Ở chỗ thuận thì mặt mày hớn hở, ở chỗ nghịch mặt ủ mày chau, đây tức là nhìn không rõ. Tham ái dính mắc nơi tiền bạc giàu có, danh vọng, quyền thế, con cái, nam nữ v.v... Đây tức là buông không rời. Không tự tại, buông không rời, nhìn không rõ, đều là việc ngăn trở con đường ra khỏi ba cõi.

Tu hành là tác dụng trong cuộc sống thường ngày. Hiểu và tu hành không thể ăn khớp với nhau, thì cũng như: nói ăn, đếm của báu, bánh vẽ làm sao đỡ đói!

Chẳng xét là tại gia hay xuất gia, mà mục đích rất chủ yếu là mong cầu tu hành được chuyển mê khai ngộ, ra khỏi ba cõi, lìa khổ được vui... cho đến thành Phật.

Do từ việc nghe kinh, tụng kinh, chẳng biết dùng bao nhiêu thời gian, ngược lại biết rất là nhiều danh từ Phật học, thậm chí còn có thể diễn thuyết công khai, miệng nói ra những Phật pháp chính mình xem hiểu thông suốt như nước chảy mưa rơi; Nhưng - Ở trong cuộc sống thường ngày không cách nào đem những Phật pháp, rõ ràng là đạo mà chính mình đã nói ra được ấy, để ứng dụng, ra sức hành trì, như thế, giảng thì mặc giảng, làm thì mặc làm, không cách nào ở lúc làm việc và đạo lý mình giảng thích họp với nhau; như ngồi “tĩnh tọa”, qui định chính mình có thể ngồi rất lâu vững vàng không động, nhưng - chỉ cần một khi đứng dậy, thì vẫn vậy, theo danh tìm lợi, không có phương pháp nào đối với cảnh mà chẳng khởi niệm! Tay lần tràng hạt, tùy lúc tùy nơi niệm Phật, thế nhưng trong tâm vẫn vậy, tính toán so đo: giàu có, danh vọng, quyền thế v.v... Nếu cách nầy mà học Phật tu hành thì chỉ trên sự nghiên cứu lý mà thôi, đều chẳng thể lấy ra được một chút nào sức ứng dụng mà tu hành, ra ba cõi cũng chỉ là tưởng tượng mà thôi!

- Tinh thần của Phật pháp; Chơn nghĩa của Phật pháp cùng với cách nhìn của người đời chẳng đồng, nhận biết cũng chẳng đồng. Người đời cho là quí báu, Phật pháp cho là tầm thường, như là châu báu ngọc ngà v.v... Người đời tham ưa, Phật pháp xả bỏ, như là: tiền bạc, giàu có, danh vọng, nam nữ... Do Phật pháp chẳng theo thế tục, nên dẫn không được người đời hứng thú học tập, chẳng giống với ngoại đạo là theo cách thế tục để dụ dẫn và mê hoặc con người.

Ở trong con đường tu trì ấy, cần phải biết rõ cái để tu trì ấy là “TÂM”, tu trì là phải dùng cái tâm thế nào để tu, là tâm phàm hay tâm đạo? Là tâm phàm đúng mức chỉ chẳng qua có thể tự cứu lấy mình thì tính ra chẳng sai; là tâm đạo quyết cần phải tiếp nhận kiểm tra cái đạo, cái đức, cái tâm của vô tình đó, cần biết tâm con người tức là đạo tràng rất nhỏ, không phải sao? Nếu phân biệt chánh - tà, thiện - ác, tốt - xấu, làm và không làm, tất cả của tất cả đều là ở nơi TÂM, lặng yên khéo suy nghĩ một chút, thì có thể biết lời nói chẳng ngoa, lặng yên sẽ có thể biết tâm mình làm cái gì, quên đi tất cả tạm thời thì sẽ lặng yên sẽ dễ dàng một chút.

- Sự khoái lạc đời người là việc ngắn ngủi tạm thời, thế giới Cực Lạc mới là niềm vui vĩnh hằng. Mục đích của tu hành là cần giải thoát, vượt ra ba cõi, vãng sanh Cực Lạc; con người đều có sinh, lão, bệnh, tử, có những phiền não, mê hoặc các việc, mà ngay lúc chúng ta giải quyết những phiền não, mê hoặc của chúng ta thì gọi là giải thoát, giải thoát những vấn đề trói buột, đoanh vây, khổ đau, mê muội, những vấn đề nầy đều là việc mà người tu hành cần phải nổ lực. Tu hành là giải quyết những chướng ngại và vấn đề trên tâm linh, cần phải để cho con đường đạo của nội tâm được thông suốt. Tu hành chẳng phải chỉ chú trọng công đức ở bên ngoài, mà sơ sài lơ là công đức bên trong. Công đức bên ngoài là trì giới, bố thí v.v... Công đức bên trong là tâm thanh tịnh, bình tĩnh, bình hòa, bình đẳng. Nghĩ đông nghĩ tây, kiểu nầy cũng tốt, kiểu kia cũng cần, dục vọng càng nhiều, tâm thanh tịnh không? Ngay lúc một con người phiền não, thử nói học có bao nhiêu đức hạnh? Lời nói, hành vi, cử chỉ biểu hiện ra cũng không có sự tự nhiên bình tĩnh, bình hòa rồi, huống nữa là lúc họ giận dữ thì lời nói có thể nhu hòa được không? Công đức bên ngoài cần phải LÀM, công đức bên trong càng cần phải TU.

- Tu học có hai vấn đề trọng yếu: 1- Tu huệ, 2- Tu phước.

Tu huệ là: Niệm Phật, ngồi yên tham thiền, tụng kinh, trì chú v.v... được ĐỊNH phát HUỆ.

Tu phước là: Một chút việc ác cũng không nên làm, còn việc thiện nên làm nhiều, thanh tịnh tự tâm, nhẫn nhục, ăn toàn đồ chay.

Học Phật tu hành là nên tu cả hai PHƯỚC và HUỆ. Chỉ tu phước mà không tu huệ, hoặc chỉ tu huệ mà không tu phước, thì ra không khỏi ba cõi, vãng sanh thế giới Cực Lạc không được!

Phước và Huệ cũng như hai cánh của một con chim, nếu thiếu một thì không thể bay lên!

Ngài Vĩnh Gia Thiền Sư nói rằng:

Bố thí, trì giới, sinh phước trời; Cũng như bắn mũi tên lên hư không, hết lực rồi tên lại rơi xuống; Chuốt lấy đời sau không như ý”.

Giả sử cầu được phước báo trời người, hưởng tột cùng phú quí vinh hoa, cũng chỉ là phước nhơ (trong năm trược), một ngày kia hưởng hết rồi, lại gồm được cái gì? Cái hoạn của tâm là ba độc (tham, sân, si), chỗ thọ là năm dục (tiền tài, sắc đẹp, danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ); Như thế chính thật là nhân khổ. Trong kinh dạy rằng:

Tiền - sắc - danh - ăn - ngủ, năm việc gốc địa ngục, năm dục nếu chẳng trừ, trần lao không ra khỏi”.

Người tu hành tịnh nghiệp tâm ham muốn riêng tư chẳng nên quá nhiều, nếu như ba nghiệp (thân, miệng, ý) không thanh tịnh là chuốt lấy cái nhân họa vậy! Cho nên nói rằng: không vì tật bệnh đau khổ mà phát tâm không vì cầu hộ giúp nhà cửa của tiền mà phát tâm, không vì để tăng thêm phước thọ mà phát tâm; không vì báo đáp tình thân mà khởi niệm phát tâm. Chỉ có thể vô tâm ở nơi muôn vật, thì ngại gì muôn vật vây quanh, phàm phu có các món ác duyên trói buột, nên chẳng dễ an tâm tu hành. Chỗ nói đến của Phật pháp là “tâm pháp”, tâm không an thì có sự trở ngại, không thể tu hành, nên nói là buông hết.

Phàm phu do kiến chấp về NGÃ (ngã kiến) sâu dày, phiền não nhiều đời thô nặng, nên chướng ngại về cái “biết”. Kế đến là chấp người chấp ta, chấp pháp chấp ta. Như thế hai chướng (phiền não chướng, sở tri chướng) và hai chấp, lại thêm tham dục, sân nhuế, si mê, nhân đó mà tạo nghiệp, trôi trong sinh tử, dập vùi nơi biển khổ. Cho nên cần phải có cái biết đúng đắn chân chánh (chánh tri) và cái nhìn thấy chân chánh (chánh kiến). Hai tâm ghét và yêu đều là bất tịnh. Như nghịch duyên, oán duyên, kết oán với người, nhìn là thù địch muốn đánh muốn dìm; còn thuận duyên, thân duyên, xem như thân thuộc sinh tâm yêu mến; Riêng có không oán không thân, duyên chính giữa, xả thọ không khổ không vui. Còn nếu tình cảnh biến đổi, chuyển yêu thành ghét, thì sự yêu đó ở đâu? Như vậy xưa nay chẳng thật, bỡi sao cảnh duyên không tốt xấu, yêu ghét khởi nơi tâm, cho nên chớ nên tin tâm mình! Chúng ta thân nghiệp báo, coi như nghiệp báo nặng mà thọ chịu nhẹ, thảng nhiên chịu đựng tất cả giày vò, chỉ hay chuyển tâm niệm Phật, hết báo thân nầy, lại sanh vào nhà “Pháp vương”. Còn đối với gia đình so tính, con cái, giàu có tiền bạc... hay danh vọng, sự nghiiệp... trên xã hội, các việc khổ não, nhiều trở ngại cho tâm, thì phiền não theo đó mà sinh khởi, tâm không được an ổn.

Người đời đều có tâm, có tâm thì ắt phải có niệm, khởi niệm thì chắc chăÙn phải có “nhiễm” và “tịnh”, nhiễm là nắm lấy sáu trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp); Tịnh nghĩa là không nắm lấy sáu trần. Quán sát lúc ban đầu do tâm niệm của chúng sinh mà sinh ra; cho nên đức Phật nói: “ba cõi chỉ nơi tâm, muôn pháp chỉ nơi thức”. Nên phải cẩn thận nơi niệm ban đầu, chế ngự tâm nhiễm, nếu chẳng giữ sáu trần tức là không có nghiệp, từ đó mà được vô tướng, cho nên một niệm không sinh thì sáu đường (Trời, người, A tu la, địa ngục, ngạ quỉ, xúc sinh) đều tiêu mất, cắt đứt luân hồi. Hạt giống nghiệp lại dứt mà ra khỏi ba cõi vậy.

Lợi ích của việc học Phật có thể nói từ hai phương diện:

Ÿ Phương diện chính mình: Người đã học Phật, có thể nương theo lý Phật mà chiếu xét tư tưởng và hành vi của mình, như có việc bất chánh thì đưa nó vào chánh, không qui củ đưa vào qui củ (nề nếp), tu dưỡng đối với thân tâm của mình, rất có ích lợi, là triết học cần thiết cho việc xử thế.

Ÿ Phương diện người khác: Học Phật có thể đem nhân sinh quan riêng tư vì ta mà cải đổi làm “vô ngã đại bi”, nhân sinh quan hy sinh vì người, mình và người cả hai đều lợi, làm tiêu chuẩn tối cao về đạo đức của nhân loại, chỉ có người học Phật mới có thể hoàn thành.

Vì sao phải học Phật? Học Phật chắc chắn có chỗ nhận thức đối với “thật tướng” đời người, có nhận thức thì chắc chắn có sự bảo bọc nuôi nấng, có sự bảo bọc nuôi nấng quyết chẳng nôn nóng, thì gặp rất nhiều vấn đề khó khăn trước mắt, như không mỹ mãn về cuộc sống, khổ rầu hoàn cảnh, khuyết điểm hạn cuộc của xã hội hiện thực, phiền não việc người giao tiếp cái xấu, đều được dẫn dắt từ Thánh trí, đều chỉnh lại tâm cảnh chẳng bình ổn và hài hòa của mình. Cũng nói thêm rằng, nhân sinh vũ trụ rất nhiều vấn đề lớn, người học Phật mà nghiên cứu Phật học thì đều có thể hiểu rõ được triệt để. Học Phật không chỉ tìm kiếm hiểu rõ trong hoàn cảnh cuộc sống hiện thực, còn phải tìm kiếm trên vấn đề từ sinh tử để giải thoát viên mãn, tìm được chốn về an lạc rốt ráo của đời người.

- Tu lúc bình thường cuộc sống hàng ngày cần bình ổn và điềm đạm, tâm tình đối cảnh cần phải bình tĩnh.

Ÿ Bình đạm: Khổng Minh - Chư Các Lượng thường nói rằng: “Đạm bạc để sáng Chí, yên tĩnh thì thấy được xa, tất cả thuận ở nơi tự nhiên”. Con người, có thể bình thường đạm bạc qua một đời nầy, là một hạnh phúc lớn không gì hơn.

Ÿ Bình phàm: Gọi là bình phàm, không giống như thế tục tầm thường, chỉ là chẳng cầu nghe thấu đối với lời khen thế tục tầm thường, mà là hết lòng hết sức, cày cấy lặng lẽ mà chẳng hỏi thu hoạch thế nào! Người đời gọi là “Trong lòng nuôi chí lớn mà ngoài mặt như người thường”.

Ÿ Bình thường: “Người tầm thường phước nhiều, bình thường là quí báu”, thật là một câu danh ngôn chí lý; bao nhiêu người đeo đuổi mục đích cao xa, một đời chẳng đạt được những ham muốn cảm thọ đầy đủ chính ta. Ngạn ngữ có câu rằng: “Bò lên càng cao, té ngã càng nặng”.

Ÿ Bình tĩnh: Gọi là bình tĩnh, bèn là một thứ trạng thái tâm tình; thật chẳng phải là “đêm khuya yên tĩnh, muôn tiếng lặng yên”. “ngọn cỏ chẳng sinh” “trăng sáng sao thưa”, cũng chẳng phải là “nước dừng trong suốt, trọn không sóng nhỏ lăn tăn”; Trái lại là để chỉ một thứ định lực, nghị lực, công lực, cũng tức là tu thân dưỡng tâm, còn gọi là nuôi dưỡng công phu. Chỉ có như đây mới có thể “Trang trọng cung kính tự cường, gặp biến động không kinh sợ, cẩn thận toan tính có thể cắt đứt”, núi Thái lở sạt trước mặt mà vẫn không biến sắc.

Cho nên nói rằng, bình thường hàng ngày làm người phải có phong cách mô phạm, cần nên phù họp phạm trù đạo nuôi sống tâm linh, tu dưỡng tâm lý phải chú trọng hơn sinh lý, tâm lý nếu không khỏe mạnh thì dẫu trăm vạn, ngàn vạn, ức vạn, mua bán giàu có cũng khó mà mua được sự khỏe mạnh tâm lý, mong cùng cố gắng nhắc nhở nhau! Quá cầu phú quí, chẳng bằng tùy sự việc mà an, biết đủ thì thường vui, chỉ cần biết đủ và ít ham muốn, thì có thể được vui vẻ.

- Sao gọi là Tu Hành? Tu hành tức là “chúng sinh tự tâm thệ nguyện độ” tức là tự tánh mỗi người tự độ, cần rõ hiểu là chúng sinh của tự tâm - tức là các thứ tâm bất thiện: Tâm tà mê, tâm ác độc, tâm cuồng vọng, tâm đố kỵ... những tâm bất thiện nầy đều là chúng sinh ở trong tâm, mỗi người đều cần tự tánh tự độ, đây gọi là “chơn độ”.

Sao gọi là “tự tánh tự độ” ư? Tức là nắm lấy chúng sinh si mê, phiền não, tà kiến còn tồn tại ở trong tâm mình, dùng “Đạo đế” trong bốn chánh đế (Chánh kiến của tám chánh đạo), thấy hiểu chính xác để độ thoát chúng nó, tức là tiêu trừ hóa giải phiền não ở nơi vô hình. Diệt sạch tất cả bất thiện, phát tâm bồ đề, xa lìa tâm niệm nhơ uế lộn xộn, khiến trong tâm thuần khiết.

- “Tu hành” tức là “tu chánh hành vi”, hành vi chúng ta đã có những sai lầm, sai lệch, sửa cho chính lại những lỗi sai lầm, lệch lạc ấy, đây tức gọi là: Tu hành. Hành vi của chúng ta trong cuộc sống ngày thường rất nhiều rất nhiều, Đức Phật dùng phương pháp qui nạp đem nó phân làm ba loại lớn: Thân - miệng - ý. Thân là hành vi của chúng ta. Miệng là lời nói. Ý là tư tưởng, là thấy hiểu. Dùng ba loại lớn nầy thì đều đã bao quát hành vi của chúng ta, ba loại lớn nầy nếu có tổn hại, bất lợi, lỗi lầm, sai lệch đối với chúng sinh, thì đem chúng mà sửa đổi cho chân chính trở lại; Đây gọi là tu hành.

- Tu hành là nương nơi qui củ mực thước của Phật pháp, để tu trì học tập, dựa trên qui củ chân chánh của Phật pháp, tịnh hóa thân tâm của mình, đem toàn bộ những tập khí vô minh của sự sai lầm bất chính đều sửa đổi cho chân chính trở lại, mà đạt được mục đích tột cùng của sự tu hành là THÀNH PHẬT!

Phật pháp chú trọng là ở sự thực tiễn, là hiểu, làm và tiến bộ, chẳng lẻ loi chỉ là sự hiểu biết trên chữ nghĩa, mà còn phải làm trên hành vi. Nếu chỉ nói mà chẳng thể làm, thì dẫu hiểu đạo lý ở trong đầu có đại tạng kinh, cũng vĩnh viễn không thể giải thoát. Nếu miệng nói, lại còn có thể thực hành thì mới hữu dụng.

- Đường tắt của sự tu hành không những cần khắc phục những vấn đề hữu hình như: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ... mà bên trong còn phải chế ngự ngàn vạn tà ma trong tâm của mình như: Tham, sân, si, mạn, nghi, tà, đố, hận, giải đãi, dục vọng... những phiền não của vô minh, những tà ma còn đáng sợ hơn những chướng ngại hữu hình. Tu hành là vì khắc phục phiền não ma chướng ở trong nội tâm chúng ta và tất cả những nhiễu loạn và chướng ngại bên ngoài, đồng thời còn phải nhẫn chịu những sỉ nhục và khổ nạn từ ngoài đem đến.

Thường niệm, tư duy và quán sát thiện pháp, nhiên hậu mới có thể phát sinh tác dụng chân chánh về thiện pháp. Thường niệm thiện pháp, thời khắc nào cũng chẳng nên quên mất. Tư duy thiện pháp thường tồn tại trong tâm, trong đầu, xem chừng thiện pháp mình làm, đối với mình với người khác là có ích hay không? Quán sát thiện pháp là cần phải kiểm tra sự khởi tâm động niệm của chúng ta từ sự nhìn lại và xét nét trong nội tâm, không để cho niệm đầu bất thiện sinh khởi.

Phần lớn người tu hành và không tu hành, thì phân biệt ở nơi ba nghiệp: Thân, miệng, ý. Nếu thân làm việc ác, miệng nói lời ác, ý khởi niệm ác, tức là người không tu hành.

- PHẬT, là người tu hành, không phải thần. Hãy nhìn khắp toàn thế giới các tôn giáo, trừ Phật giáo ra, không có giáo chủ một tôn giáo nào là chẳng lấy cách thức tự phong cho là “Thần siêu nhân”.

Giáo chủ Phật giáo là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cho là tốt - xấu, họa - phước, thành - bại, vinh - nhục, đều quyết định ở nơi hành vi chính mình, thiện và ác do sự nổ lực hay không thôi. Không có một cá nhân nào có thể chịu sự đề bạt lên thiên đường, cũng không có một cá nhân nào có thể ngang chướng mà xô đẩy người thiện rơi vào địa ngục được. Khen tốt hay ca tụng thì không thể lìa khổ được vui đâu, chỉ có thể dẫm lên sự thật là tu thân dưỡng tánh, mới có thể khiến cho nhân cách của mình được tịnh hóa thăng hoa, khiến cho mình hưởng thọ được niềm vui của sự được lý an; Con người phân ra kẻ thượng trí, người trung bình và hạng hạ ngu, nhưng hễ thỏa đáng (đúng) căn cơ thì hiệu quả, do đó Phật giáo là tôn giáo tín ngưỡng chính mình, người làm thiện thì được quả thiện, ngưới làm ác chắc chắn thọ quả khổ; Do đó cần được huệ nhãn giải thoát, thì ắt cần phải tu trì chí thành, lấy giới - định - huệ để phá trừ tham - sân - si, lấy mười việc thiện để đối trị mười việc ác, nương theo tám đường chánh để tiến hành tăng trưởng đạo đức thực tiễn qua thời gian, công phu đến một lúc bèn có thể diệt trừ tất cả phiền não, khổ đau, thoát ly cảnh giới sinh tử luân hồi.

Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp bốn mươi chín năm: Không pháp nào chẳng vì người đời, mà chỉ đưa ra một điều là: “Đạo thành Phật”. Tự mình sáng tạo ra trí huệ và nhân cách viên mãn rất triệt để, chỉ một đường nầy lại là chính mình nhờ vào nghị lực, đi bằng trí huệ và tâm thường hằng để hoàn thành nó, cho nên biết rằng thành Phật, bí quyết tu hành là từng giọt công phu, từng bước tu hành, một bước tới trời là không lên được.

Học Phật trong cuộc sống hiện thực là vì đã trải qua cuộc sống lý tánh, trong lòng đã hàng phục được phiền não chính mình, trước mắt làm bất cứ việc gì, trước nhất nghĩ xem chúng sinh, nếu như làm sẽ tổn hại đến chúng sinh, như thế thì không nên làm!

- Người học Phật cần nên KHÔNG ở nơi tâm, KHÔNG, thì có thể giải thoát, chẳng như vậy thì Từ bi nhiều, nhọc nhằn gánh vát cũng nhiều.

- Pháp môn niệm Phật rất thù thắng và tôn quí, khắp nhiếp hết căn cơ (thượng, trung, hạ) của chúng sinh. Như thế tại sao lại khiến cho người ta tâm tịnh (KHÔNG)? Đầu tiên cần phải bỏ hạnh ác, xa lìa tham dục, dục nhiễm (ham muốn nhơ uế) chẳng tịnh, tâm chẳng tịnh thì niệm Phật không rõ. Cần thiết cho việc tu tâm là ở sự giữ gìn kiên cố giới pháp. Giới bị dục nhiễm là do ba nghiệp, tất cả chỉ nơi tâm tạo ra, sự ham muốn được sinh ra, rồi kết nhóm, khởi lên, duyên với nhau, nghiệp của ham muốn là do tâm sinh, nên theo đó các pháp được sinh, một khi đắm nhiễm tức là bị trói buột, chẳng được tự tại. Cho nên yêu tiền của thì chết vì tiền của, yêu danh thì chết vì danh, các việc khác thì xét biết. Sự nhiễm của cái nhiễm xô không đi, rảy không rớt, xen lẫn trói buột, nếu động thì buột càng chặc, nếu có thể không Ái không Thủ đối với sự ham muốn, cũng như “tráng sĩ chặt tay”; Hoa sen mọc lên từ bùn lầy mà chẳng bị nhơ.

- Người tu hành tịnh nghiệp, đối với tự mỗi cuộc sống, thiểu dục tri túc sẽ được đầy đủ, như đối với áo mặc, cơm ăn, chỗ ở, tới lui đều cần nên đạm bạc, càng đạm bạc càng tốt, thì sẽ không có sự trở ngại, công dụng đối với sự tinh tấn, dứt diệt tất cả tâm: Lợi danh, ham muốn, tham luyến, cống cao, bao che, nhân - ngã, thị - phi... đều nên diệt hết.

- Đã niệm Phật nhiều năm, muốn cầu chứng được cảnh giới “nhất tâm bất loạn”, nhân vì căn tánh của mỗi người nào là: nghiệp chướng, phước đức, nhân duyên, tinh tấn có khác nhau, trên thời gian cũng rất khó nói, ra công đến lúc tự nhiên “nhất tâm bất loạn”; còn cưỡng cầu trái lại thì tâm càng loạn.

- Sự chứng nghiệm của niệm Phật rất nhiều, như là: hương lạ bay đầy nhà, nhạc trời réo rắt trên không trung, thấy hoa thấy hào quang, ánh sáng chiếu đến thân thể, tòa báu hiện ra trước mặt, biết trước giờ lâm chung đến, sắc mặt như lúc còn sống, thân thể mềm mại, khí nóng trên đảnh đầu chưa tan v.v... không phải là một việc.

Rất nhiều bạn lành ban đầu mới bước vào cửa Phật, chẳng biết làm gì đối với đời ác, chỉ trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật, thì đã có chỗ tốt đẹp bất khả tư nghì, nói không thể hết. Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thương xót chúng hữu tình của cõi Ta Bà, ở trong kinh điển nhiều lần nhắc nhở, khuyến khích niệm Phật, chúng ta nên cảm lấy ơn niệm Phật, tin thọ vưng làm, nguyện xin chư vị bạn lành lập tức phát tâm tu hành, tịnh niệm tương tục, nhất tâm chuyên ròng niệm Phật, nếu chân chánh dụng công, cần nên biết rằng tu hành là việc lớn bổn phận. Mưu sinh công tác chỉ là liên hệ cái nghiệp bức bách.

Người ta nếu gặp nghịch cảnh, chỉ tăng sức niệm Phật ngày đêm, thành tâm bố thí nhiều, chẳng chấp giữ lấy duyên trần, chẳng cảm lấy sự ham muốn của tình thức, nhất tâm tinh tấn ở nơi vô vi, không dấy vọng tưởng, không khởi tạp niệm; Một cái vọng tưởng, một cái sinh tử, một cái tạp niệm, một cái chướng, không dấy vọng tưởng thì không khởi tham, sân, si, không khởi tạp niệm thì không sinh sự so tính nhân – ngã, thị - phi. Giữ chí chẳng hai, tâm trì hiệu Phật, niệm niệm rõ sáng, niệm niệm giác ngộ, là tâm thanh tịnh, ba nghiệp thanh tịnh, cũng là tịnh nghiệp.

Người phàm phu thời mạt pháp chướng nặng nề, căn ám độn rất nhiều, người ta bất tất cần cầu quá cao, chậm chậm lại, chớ nên gấp rút, muốn mau thì chẳng được (dục tốc bất đạt), thời gian và không gian đều cần phải phối họp, đồng thời cần phải có tâm nhẫn nại, nhân duyên chưa thành thục thì nóng lòng chưa chắc có hiệu quả.

Niệm Phật quyết cần phải dẹp bỏ buông hết những bụi phấn cố chấp trong tâm và ngoài thân, nhất tâm trì niệm danh hiệu Phật, nhiên hậu mới có thể tương ứng, đem một câu danh hiệu Phật, niệm cho được rõ ràng, chớ nên giữ niệm nghi ngờ, quyết niệm được trong tâm có Phật, đến nhất tâm bất loạn. Niệm Phật chẳng khó, nhưng khó ở chỗ là có tâm cung kính, chí thành và lâu dài hay không thôi! Vì vậy nên cùng là người niệm Phật, nhưng sự cảm ứng ở nơi mỗi người thì chẳng đồng nhau.

Phàm phu nhiều điều bất tịnh cho nên mới học Phật tu hành. Tu hành tức là lãnh hội như thế nào để trừ bỏ công phu bất tịnh, ra tay theo sự tịnh hóa tâm địa, đã không bàn luận lẽ mầu nhiệm, cũng không cần cảm ứng thần bí, hoàn toàn là công khai, bắt đầu từ sự làm người tu thân dưỡng tánh.

Bất tịnh tức là ác, tịnh tức là thiện, trong ruộng thức thứ tám (A lại da / tàng thức) được giữ - hột giống thiện ác đều có, gặp duyên bên ngoài đụng tới tức họp. Nhưng học việc ác rất mau, nói ra tức hiểu liền, cho nên dễ đọa vào ba đường; Học việc thiện thì cần có tánh nhẫn nại, lần hồi huân tập, so ra thì chậm hơn nhiều.

Chúng ta sỡ dĩ học Phật tức là sửa đổi cái bất tịnh làm cho tịnh, bỏ ác hướng thiện, cho nên học Phật niệm Phật được gọi là TỊNH NGHIỆP, đơn giản như thế. Nhưng người niệm Phật nhiều năm, làm người tiến bộ bao nhiêu? Rất nhiều chẳng thể. Đã gọi là tịnh nghiệp tức là ba nghiệp không nhiễm mà phải tịnh; nội dung bao gồm: Thân - không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm. Miệng - không nói láo, không ác khẩu, không nói hai chiều, không nói chìu uốn nịnh nọt. Ý - Không tham muốn, không sân nhuế, không ngu si; Do bắt đầu từ mười việc thiện nầy, tiến đến mà làm được căn bản Phật pháp là Từ - Bi - Hỷ - Xả.

- Khởi tâm động niệm tạo nghiệp phải làm cách nào? Không có biện pháp nào tốt, duy chỉ có chánh niệm hiện tiền, niệm danh hiệu Phật, lấy danh hiệu Phật để thay thế vọng niệm, bất kỳ phiền não nào khởi lên, chỉ lo niệm Phật, chẳng cần lý giải về nó, mỗi niệm đều là tịnh nghiệp thì chẳng tạo ra tai vạ mới.

- Niệm Phật tu hành mà vẫn còn lâu chưa có chỗ tiến bộ là nguyên nhân tại sao? Bỡi vì bình thường phần nhiều hay chú trọng đến các duyên nhiễm ô. Người phàm phu đa số là có thói quen đắm nhiễm, do đó tâm bị cấu uế, việc làm tức nương theo, nên dễ tạo lỗi, phạm lỗi; người học Phật thì phải “hạ thủ công phu” từ đây. Nếu như ta khinh mạn, chê bai, đố kỵ, ghen ghét, phân biệt, so đo v.v... đều là chướng, cách đạo rất xa. Nên phải thường kiểm nghiệm cái tâm, tự hổ thẹn, sám hối nhiều, bỏ nhơ lấy sạch, nghiệp chướng lần hồi tiêu trừ, mới có cảnh giới tiến bộ cho thân tâm.

Luận “NIỆM PHẬT TAM MUỘI BẢO VƯƠNG” nói:

- “Niệm Phật có mười việc làm trở ngại lớn, chẳng nên cầu, người tu hành cần phải biết:

1. Niệm Phật chẳng cầu không bệnh.

2. Xử thế chẳng cầu không nạn.

3. Xét tâm chẳng cầu không chướng.

4. Gắng làm chẳng cầu không ma.

5. Mưu việc chẳng cầu cầu dễ thành.

6. Giao tình chẳng cầu lợi mình.

7. Đối người chẳng cầu thuận - thông.

8. Làm ơn chẳng cầu đền đáp.

9. Thấy lợi chẳng cầu chia chiếm.

10. Oan ức chẳng cầu biện minh.

Tâm có niệm lộn xộn thì chẳng tịnh, vọng tưởng là ma của tâm. Lời thuật trên cần cho chúng ta lâu dài luyện tập, cũng như cổ đức nói rằng: “Người đến chỗ VÔ CẦU thì phẩm giá tự nhiên cao”. Đây là tính trọng yếu của việc tu dưỡng đã nói rõ.

- Người tu hành tịnh nghiệp, quên đi sinh tử, chẳng quan tâm đến sự tính toán nói năng ngoài miệng, quán sát ngay nơi ngũ ấm là vô thường, thời gian không đợi ta, vui chơi một thuở mà lo sầu dài sau, đau xót tự nhàm lìa Ta Bà mà vui vẻ mong cầu vãng sanh Cực Lạc. Ngày nay bắt đầu chớ nên than học chậm, chỉ sợ rằng thiếu chí mà thôi!

- Lực chính của niệm Phật, trước nhất là cần tâm chí thành - chân tâm chẳng dứt. Niệm Phật phải thanh tịnh để đoạn trừ phiền não, là TỰ LỰC chí thành niệm Phật, cảm được sự gia bị của Phật đó là THA LỰC; Pháp môn niệm Phật rất thù thắng, thành tựu ở chỗ tức là hai lực TỰ - THA, nếu đem tâm chí thành niệm Phật, phiền não có thể giảm nhẹ, thậm chí được tiêu trừ. Lúc chí thành niệm Phật, đối với các việc nhân - ngã, thị - phi, được - mất, tốt - xấu, chẳng khởi tâm yêu - ghét, chẳng chuyển theo cảnh, chẳng sinh phiền não, một mức rất chí thành, nhất tâm bất loạn, mạng chung nhất định sanh vào nhà Như lai.

- Người đời ưa chấp có NGÃ, vì “có ngã” nên tạo nghiệp thọ khổ. Do có ngã nên sanh ra ba thứ bệnh: - Những vấn đề họp với ta thì sinh ra tưởng duyên gần gũi (Thân duyên tưởng), như: người thân, cha mẹ, vợ chồng, con cái v.v... những việc nghịch với ta thì sinh tưởng duyên oán giận (oán duyên tưởng) - đối với việc không thuận không trái thì là tưởng duyên trung bình (trung duyên tưởng). Do ba thứ nầy cảm thọ không đồng; như thân duyên tưởng thì sinh LẠC THỌ; Oán duyên tưởng thì sinh KHỔ THỌ; trung duyên tưởng thì sinh XẢ THỌ, chẳng khổ chẳng vui. Do ba món THỌ nầy dẫn sinh ra ba món độc: Tham, sân, si. Vì sao? Lạc thọ sinh tham, khổ thọ sinh sân, và xả thọ sinh si.

Nắm chắc vào phương pháp niệm Phật, không gấp rút không trì huỡn, chẳng thả lỏng chẳng gút chặc, chẳng buồn chẳng vui, chẳng cao chẳng thấp, chẳng dứt chẳng đoạn, chẳng cống cao, chẳng tự mãn, không lo không rầu, rất là VÔ VI, khiêm tốn hài hòa nhún nhường, lặng lẽ ra sức hành trì. Ngoài ra cũng phát tâm, tùy hỷ các khoảng từ thiện, văn hóa, công ích xã hội... những công việc Phật, tự mình cố gắng, tùy sức tùy phần, cần biết rằng nước lớn thì thuyền tự cao, bỡi “vô sở đắc” (không chỗ được) mà! Trong lúc ngồi nằm bình thường, thường tự mình hướng tây, lễ Phật niệm Phật, khẩn thiết phát nguyện, lòng thành khẩn thì sẽ cảm ứng. Thường tự quán xét tâm, nếu có tiền của dư thì chuyển làm việc ích lợi cho chúng sinh, nên xa lìa dục lạc trong đời sống hiện tại, cần nên cẩn thận!

Nghèo nàn khốn quẩn nhiều bệnh ấy là bản thân không tránh khỏi những trạng thái: buồn rầu, khổ sở, bi thương, tinh thần thường xuyên ở nơi sự rỗng không, tẻ nhạt, ai oán... thế thì làm sao? Nghệ thuật của cuộc sống không cầu cạnh ở người khác. Cần biết rằng, người không tốt cả ngàn ngày, hoa không tươi thắm đủ trăm ngày, sao bằng ngược lại cầu ở chính mình, không sợ cuộc sống gặp cảnh khốn quẩn, ngại gì lấy khổ chế khổ, thản nhiên mà tiếp nhận để dũa mài, xem như quả báo nặng hơn mà sự chịu đựng lại nhẹ, lấy khổ làm thầy để bồi dưỡng cho tinh thần lạc quan, tiến thủ, phấn đấu; không sinh tâm ngu si, chẳng oán trời trách người, chẳng nhụt chí. Quí tiếc thân người, có một ngày làm thì một ngày tính toán. Quán sát vô thường, thân nầy rốt cuộc rồi cũng trở về với sự bại hoại, sao đủ để tiếc, tư duy về nhân quả, thì nghiệp báo nghèo nàn khốn quẩn nhiều bệnh như thế chắc chắn có nguyên nhân mà phát sinh ra, chớ cần oán trách, đã như vậy thì nắm chắc cuộc sống nầy, đem nhân quả của khổ làm một sự giải quyết triệt để mới là bực đại trí. Do đó, có bệnh thì tự nhiên tìm thuốc để trị liệu - là nguyên tắc, trong thời kỳ trị liệu cũng có thể đồng thời tiến hành mà sám hối, làm việc thiện, niệm Phật để cầu chuyển biến nghiệp báo, sớm được bình phục lại sức khỏe.

- Lúc gặp những vấn đề mà đột khởi lên niệm ác, phải nhiếp trụ ba nghiệp thân - miệng - ý, nỗ lực như thế nào lâu ngày chắc chắn sẽ thành công. Nếu lúc khởi niệm ác, muốn làm việc tổn hại người, thì lập tức niệm: Nam Mô A Di Đà Phật.

- Người niệm Phật tu hành, cần thường giữ ba nghiệp thanh tịnh, việc tổn hại người nhất quyết không được làm; Ngược lại, nên thường giữ gìn tâm thiện, làm việc tốt, nói lời tốt đẹp; Nếu khởi ác niệm, thì theo đó tức nên sám hối.

- Con đường tu hành không phải đối với người hoặc cái gì khác, duy chỉ có sự sửa đổi tâm mà thôi, tức là đem “tâm sinh diệt” của chúng sinh chuyển làm “tâm đại bồ đề”, bất sinh bất diệt. Nội tâm không vọng tưởng tạp niệm, phiền não tà kiến không khởi lên, lâu rồi tự tánh được thanh tịnh, chẳng bị thế giới phồn hoa dẫn dắt, nghiêm nhặt trong những sự tạo tác và đeo đuổi của cuộc sống. Nếu có thể mỗi niệm mỗi niệm đều “vô cầu - vô đắc”, lìa bỏ tâm truy tìm cầu sự được mất, lìa bỏ tâm sợ sệt và hy vọng, lìa bỏ tất cả tâm đối đãi và phân biệt, ngoài không bị cảnh trần chuyển, trong không bị tâm niệm chuyển, lâu rồi sáu căn được thanh tịnh, ánh sáng vi diệu của chơn tâm tự hiển lộ, tức thành Phật đạo.

Kỳ thật tu trì Phật pháp tiến bộ hay không là nhìn ngay vào vọng tưởng và phiền não đó càng ngày càng ít hay không? Tập khí mỗi ngày mỗi ít không? Và tâm Từ - bi - hỷ - xả có càng ngày càng thêm lớn hay không?

- Học Phật tu hành không phải là một loại chức vị hay nghề nghiệp, làm cho người ta xem; Ở trước người thì làm một kiểu, như ăn chay, trước người thì ăn chay, sau người thì ăn thịt uống rượu; ngoài miệng không chưởi người mà trong lòng lại chưởi, bị khinh bỉ thì nghĩ cách báo thù; chẳng chiếm đoạt được vợ con của người thì ngược lại tìm cách chọc ghẹo kích thích tính dục; trăm cách kết giao với người quyền quí, không hề dòm ngó đối với kẻ bần cùng; dung túng chính mình, hà khắt với người... đây tức là trong ngoài không một mối, chẳng được làm như thế.

- Tu hành giống như đánh đàn, lúc dây đàn xoắn quá cứng thì đánh không ra âm, dây đàn buông lỏng quá đánh cũng không ra âm, dây đàn nếu xoắn đúng mức, âm vận sẽ cao thấp thích đáng thì các âm sẽ được hài hòa. Tu hành cũng cần phải như thế nầy, chẳng nên gấp rút thành đạo, cũng chẳng được lười mỏi buông lung thối lui, cần phải có sự hành trì chuyên tâm hằng tâm, rốt rồi cũng sẽ có ngày thành đạo. Nếu gấp rút để thành, như thế quá lao nhọc mà lại tổn thương thân thể, còn làm cho thối lui công việc hành trì, tất nhiên sẽ tạo ra nhiều các nghiệp ác; cho nên người tu hành cần phải gấp – qưỡn cho thích đáng, “ý” giữ lấy sự an lạc.

- Niệm Phật là niệm GIÁC, giác ngộ tất cả tập khí vô minh, khiến cho nội tâm thanh tịnh, trở về với “bản lai diện mục” - Phật tánh. Rõ được lý rồi sau lại niệm, thì niệm được ngay; đã rõ rồi vì sao cần niệm Phật? Khắp các cảnh giới đều dùng một câu: “Nam Mô A Di Đà Phật” đề giải quyết. Bồi dưỡng và tập thói quen ở nơi đức Phật, ngày ngày niệm Ngài, giờ giờ niệm Ngài, cùng Ngài duyên, đến lúc tự nhiên tương ưng; Chỉ việc miệng niệm thôi mà tâm tâm tưởng khác, theo niệm lơ là, niệm Phật cách nầy thì chẳng được hiệu quả. Chúng ta đã ở trong cuộc sống như biển khổ tham, sân, si... mênh mông nầy, trừ sự giác ngộ giải quyết vấn đề ra, thì cần phải nương nhờ vào trì giới, bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn để vượt qua biển khổ nầy, ở ngay trong đây tức là một câu: “Nam Mô A Di Đà Phật”, khiến cho vọng tưởng, tạp niệm của chúng ta sinh ra chẳng được.

- Không cần phải hỏi là: Niệm Phật có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc ở phương tây hay không? - mà ngược lại phải hỏi rằng: Chính mình có phải là niệm Phật chuyên nhất chí thành hay không? Chuyên ròng niệm Phật không? Trong tâm có Phật không? Có thể nghiêm trì giới luật hay không? Có thể: bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, ăn toàn chay, nhìn rõ tình đời, buông rời việc thế tục hay không? Có thể nói người tại gia tu hành, lúc mạng chung Đức Phật A Di Đà cũng đồng đến tiếp dẫn họ. Không thể nói là người xuất gia tu hành lúc mạng chung Đức Phật A Di Đà cũng chẳng thể đến tiếp dẫn họ! Còn nếu đã được chút ít thành tựu, thì tự NGÃ hiện khởi, rao bày danh phận đến mức khoe khoang, được chúng khen ngợi, kính nể thì cao hứng thích thú, đến mức cuộc sống vật chất cao cấp thì vô cùng khoái trá phơi phới mặt mày, tham luyến ảo ảnh tốt đẹp, thế thì sai lầm lớn, sai lầm đặc biệt.

- Tu hành không phải là việc của một năm, mười năm, mà là việc cho cả cuộc đời, không nên cầu mau đạt hiệu quả, mà nên tu bình tâm tĩnh khí, chẳng nên tu một đoạn thời gian rồi thấy không cảm ứng thì không tu nữa, như vậy là không có tín tâm đối với Phật Đà. “Cảm ứng” là sự lưu lộ hiển bày của Phật tánh trong con người vốn đủ, nhưng gặp mà chẳng nên cầu! Nếu đem niềm hy vọng hoàn toàn gởi gắm ở Phật và Bồ tát - nhân bên ngoài nầy, là lực lượng của duyên, mà căn bản đã phủ nhận cái Nhân (nhân bên trong) quyết định bản chất sự vật, phủ định sự nổ lực của chính mình. Hơn nữa người mới tu hành tâm lực chẳng kiên cố, động cơ cần cầu thì lại phần nhiều chẳng thuần thục, cho nên khó cầu việc cảm ứng. Niệm Phật không phải là làm cái việc mua bán, tôi đưa anh tiền, anh phải đưa lại tôi hàng hóa, cũng vậy, tôi niệm Phật, Phật nên cho tôi sự cảm ứng! Người có tâm niệm như thế là đã dính mắc “tà kiến”, làm sao được sự cảm ứng. Niệm Phật có cảm ứng là người niệm phải chí thành chuyên nhất, duyên đến tự nhiên có cảm ứng, có tác dụng mà chẳng dính mắc ở chỗ mong cầu, duyên chẳng đến thì dẫu mong cầu, lại cũng không tác dụng!

- Việc tốt đẹp của niệm Phật, không những lúc mạng chung được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sanh về nước Cực Lạc ở phương tây, mà chư Phật Bồ tát, tám bộ Trời Rồng, tất cả thiện Thần còn sẽ ủng hộ người niệm Phật được bình an; Nếu công phu chín mùi còn sẽ được “niệm Phật tam muội”, phát sinh trí tuệ. Cuộc sống tinh thần được an ổn tốt đẹp, tự tại, vui vẻ; phần lớn làm giảm nhẹ đi sự “bi quan nhàm chán” ở trên mọi công tác, gia đình và xã hội, tinh thần sáng suốt và thoải mái, nhận lấy sự lợi ích vô cùng.

- “Nói ít đi một câu chuyện, niệm nhiều thêm một câu Phật”. Ngoài những lời chân chính ra, không cần phải huyên thuyên những lời trên trời dưới đất, tào lao những chuyện đông tây, mà chẳng chịu dừng (không phải là chẳng cần bàn bạc cùng với người, mà là không nói những lời nhàn tản vô ích hay tổn hại người), càng không nên khởi lên VỌNG TƯỞNG, mà sinh phiền não.

- Đối với thuận cảnh thì mặt mày rạng rỡ cười vui, đối với nghịch cảnh thì lại buồn rầu khổ sở, đây tức là đã bị cảnh chuyển rồi, cần phải nên làm cho được đến lúc gặp thuận chẳng vui, gặp nghịch chẳng buồn, tốt - xấu đều không khởi tâm động niệm, đừng để bị cảnh chuyển lôi. Sự khởi tâm động niệm nầy là lúc NGHIỆP đang hành động (hiện hành nghiệp), nếu chấp lấy không xả bỏ, thì chẳng được vãng sanh!

- Tu hành, tức là sửa đổi cái thân hiện tại, việc ác không làm, việc tốt làm nhiều, nên không vọng tưởng, không khởi phiền não, phàm việc gì chẳng nên so kể, tình đời không nên gút - mở được thì mở, việc tục muôn duyên buông rời, công việc thì đảm nhiệm được tâm thoải mái, yên lành, tự tại, vui vẻ, xem tất cả đều thuận mắt thanh thảng thư thái, sẽ được kết cuộc thiện (lâm chung tốt đẹp).

Trong tu hành, nếu gặp phải những việc bất lợi (hay thất bại), không như ý, những việc rối rắm khốn quẩn vô lý, đều xem đó như là quả báo oan gia, tiếp nhận nó không có chút oán hận, nếu có thể thọ nhận một cách vui vẻ, lúc thọ nhận xong rồi, thì sẽ trả lại sự bình an. Nếu oán trời trách người, thì qua lần nầy sẽ tiếp đến lần khác nữa.

Tu hành, không nói đúng hay không đúng, tức là làm sao cho tự mình đúng thì thôi, còn người nhà nói lệch đi cho là anh không đúng đi nữa, cũng chẳng nên tranh biện, vì ngay khi tranh biện thì phiền não liền khởi, tâm sẽ không an. Chỉ nên quan tâm đến cái không đúng của mình, chẳng nên nói cái không đúng của người ta, nói người ta không đúng tức là cái không đúng của mình.

Nếu đã học Phật, trên cuộc sống so với ngày trước không thuận lợi bằng, lại thất chí, đó là chủ nợ (oán-thân) nhiều đời đến để đòi nợ; Nên đem công đức mà hồi hướng cho chủ nợ, thì nghiệp trước mới có thể tiêu trừ; nghiệp trước tiêu trừ thì làm việc được thuận lợi; nếu thân có bệnh, nên lấy vô bệnh để nhìn thì sẽ chẳng cảm thấy khổ, có khổ cũng nên tự rõ đó bỡi ác nghiệp đời trước mà đời nầy chịu báo, nên trả nợ, sau khi nợ hết, mới có thể thân an, quán sát như vậy mới chẳng cảm thấy khổ.

Mỗi khi gặp lời ác (xấu) đến với ta, lời phi lý dính dán đến ta, lời phỉ báng, nhục mạ, ác ý phê bình, đều chẳng nên tồn tại ở ý, chẳng phân bua đạo công bằng với người ta, nên nhìn cho thật rõ (không cố chấp), thì tâm sẽ tự bình ổn, hãy lùi một bước để trời cao biển rộng, phiền não chẳng thể sinh trưởng được.

- Nhận ân huệ không vui, chịu nhục không sân, thì tâm được tự tại. Khi khen, thì nhìn người ta vui hay không, nghe hay không; Lúc hủy báng, xem người ta có công phu nhẫn nhục hay không, chịu suy xét kiểm nghiệm hay không. Nếu có thể nhận ân huệ mà không vui, chịu nhục không sân, không khởi tâm động niệm, là có động lực không bị cảnh chuyển.

Tâm như hư không, chẳng chấp trước sắc thân, buông hết việc đời muôn duyên, phàm việc gì cũng phải xem cho rõ, buông cho rời, tự nhiên phiền não không khởi. Không tạo tác chuyện vu vơ, không trau chuốt, không khoe khoang, không phô bày, không nịnh hót, không ứng suông, chẳng làm công việc bề mặt, không đầu cơ thu lợi, không thuận mặt trái lòng; phải nên khởi lên CHÁNH TRI KIẾN, CHÁNH NIỆM, nhất tâm niệm Phật.

Ngăn chặng sự kiêu ngạo, tự lợi, tư riêng, khinh nhờn, phẫn nộ, hoài nghi, tà kiến, dục vọng. Không ham muốn thì yên tĩnh, yên tĩnh thì sáng suốt. Ngàn vạn lần cũng đừng nên chấp dính sự vật hay công việc mình yêu vui, lại càng không được ghét nhơ những gì không vui vẻ đối với mình. Buồn thương, âu lo, sợ sệt, bận tâm, vui vẻ, yêu thích, đều là đến từ sự ghét - thương của con người.

Phàm có tâm ghét - thương, đây gọi là TÌNH, nếu xem oan gia thấy như người thân, thì “tâm ghét - thương” có thể cắt đứt được.

- Học Phật tu hành, là học Phật pháp (chân lý) của đức Phật dạy bảo chúng ta, tổng kết lại một câu nói tức là: TU TÂM CHÍNH MÌNH, Phật tức ở trong tâm mình, chẳng nên hướng đến cảnh bên ngoài để cầu, mà phải hướng đến tâm mình để cầu, dùng tâm lực bình thường thực hành tám đường chánh (bát chánh đạo), tin luật nhân quả, khiến cho ba nghiệp thân, miệng, ý được thanh tịnh, ăn toàn chay, điều hòa, bình ổn tùy thuận, an tường, vui vẻ ở nội tâm, tự nhiên tự tại, sửa đổi chân chánh tư tưởng và hành vi của mình, thường thường quán sát tâm, bỏ hết những niệm đầu: bất chánh sai lầm, tối tăm nhạt nhẽo, luống dối trá ngụy; Cảnh giác ngăn dè chính mình, tự phê bình chính mình, như có lỗi lầm thì nên sám hối sửa đổi, nhưng không được phạm lỗi mà cố ý che đậy, lại càng không được sám hối để cố ý che đậy.

- Học Phật tu hành, là tu TÂM của mình, sửa đổi cho tốt cái tâm, việc tu hành mới không trở ngại, tâm niệm ác, việc làm ác, đều không nên có một chút nào, giữ tâm thiện, làm việc thiện, nói lời từ ái, đoạn dứt phiền não, vọng tưởng tạp niệm không sinh, tình đời nhìn rõ, việc tục buông rời, không bị hai cảnh thuận nghịch chuyển lôi, chẳng bị “tình” vây hãm, chẳng bị “ái” trói buột; làm cho được việc không tưởng ác cũng không tưởng thiện, nếu không tu tốt được TÂM, dẫu cho thông kinh thông giáo mà tự thân không thông, thì vẫn ra không khỏi ba cõi!

- Ở trong cuộc tu hành hàng ngày, khi dụng công phu cần phải cầu ở bên trong, dụng công ở tâm. Thứ nhất, là làm mỗi công việc đều cần cho tâm không có niệm tạp, chuyên chú rõ ràng, làm cho xong mỗi công việc dù có lâu, làm việc, niệm Phật đều nên nghiêm túc, thì đối với công tác, tiếp vật đãi nhân đều có sự giúp đỡ. Thứ hai, lúc rảnh rang việc giảng nói nên “tự hỏi tâm ở đâu?” trong khoảng thời gian nầy làm cho được việc không vọng tưởng, lâu rồi công năng phát ra, thì sẽ được an tịnh thể hội cảm giác không vọng tưởng, chầm chậm bồi giúp cho mình quán sát niệm đầu của mình, niệm đầu ngay khi khởi lên, liền biết nếu là ác thì lập tức buông bỏ. Thứ ba, bất luận là vấn đề gì phát sinh, cần phải nên quay lại quán sát chính mình là có hay không có vấn đề, tất cả đều xem ở nơi tâm mình, cần phải làm chủ (chủ động).

- Tu hành, là tu sửa cho chánh chơn cái “tâm” của ta, tu sửa cho chánh chơn hành vi và lời nói của ta. Chỉ cần có sự vận hành của tâm, thì sẽ có hành vi của thân và ngôn ngữ của miệng. Dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả mọi việc, đây mới là sự chắc thật chân chính của tu hành. Mà không phải là chỗ thanh tịnh làm việc bẩn thỉu. Tu hành cần nên xét tự tâm, chẳng nên chỉ biết việc bên ngoài, cầu danh cầu lợi... bận rộn. Tu hành là lấy sự “Minh tâm kiến tánh” làm chủ yếu. Tất cả Phật pháp đều là nghiên cứu trạng thái biến động của tâm, tất cả việc tu hành đều là phương pháp chế phục tâm. Một đời mà chỉ cầu nơi việc bên ngoài: ăn, mặc, ở, đi, vì danh, vì lợi, hoặc vì vợ chồng con cái mà bận rộn, e rằng tạo nghiệp chẳng phải ít, thì đối với việc tu hành không có nhân trợ giúp, nhiều lắm thì cũng chỉ có thể được phước báo trời người.

Tham cái vui thế gian (tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ) mà dùng tâm dùng sức rất là nhiều, lúc hưởng thụ thì lại ít, tạo nghiệp ác nhiều, tạo nghiệp thiện ít, được thì khó mà mất thì dễ, vui thì lại ít mà khổ lại nhiều.

Phật pháp chỉ bất quá là hy vọng người đời chẳng nên “chấp trước” mà thôi, thật ra chẳng phải là muốn người đời dù thế nào cũng đều không nên nghỉ tưởng, không thể làm việc; Đây tức là: “Ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” (Ứng với sự không chấp giữ mà sinh tâm). Còn đời người thì là: “Hữu sở trụ nhi sinh kỳ tâm” (có sự chấp giữ mà sinh tâm), đối với việc khởi tâm động niệm, cho là đồng với khái niệm suy nghĩ mà phát sinh ra sự kiên nhẫn, nhận giả làm chơn, cho nên cuộc sống không vượt ra khỏi tư tưởng non nớt. Con người tóm lại có thể khởi tâm động niệm, giải thoát cũng giống nhau, chỉ là giải thoát, chẳng nói là đình trệ ở niệm đầu, chẳng đình trệ ở niệm quán sát; cũng giống như chim bay qua bầu trời chẳng thể lưu lại dấu vết.

Con người đều có tâm, tâm nầy có lúc vui, có lúc giận, có lúc buồn, có lúc khoái, có lúc thiện, có lúc ác, có lúc thù hận người, có lúc ái mộ người; Bỡi do tâm nầy biến hóa vô thường, từ đó cuộc sống cũng khổ - vui chẳng ổn định. Cho nên tu hành nên từ nơi tâm mà bắt đầu.

Con người đối với việc quá khứ chớ nên tìm tưởng đến, tâm của quá khứ không khởi vậy. Đối với việc vị lai chớ nên nghĩ lường, vì tâm của vị lai chẳng có thể được vậy. Đối với việc hiện nay chớ nên vin duyên vào, vì tâm của hiện tại không có trụ yên vậy. Tuy thấy nghe rõ ràng mà chẳng quan tâm, là nói rằng chẳng khởi, chẳng khởi là vô niệm.

- Tu hành cần “rõ lý”, rõ lý là nương theo Phật pháp như pháp mà tu hành; Như niệm Phật, thì một lòng chuyên niệm, niệm nhiều, trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn. Trì giới, phàm là có tâm tổn hại đối với chúng sinh thì chẳng nên tưởng đến, thân không nên làm, miệng không nên nói. Bố thí, có tâm Từ bi, giữ lấy tâm thiện, làm việc thiện, nói lời thiện. Tự tâm thanh tịnh, không có phiền não, không tạp niệm vọng tưởng, muôn duyên thế tục buông rời. Nhẫn nhục không giận dữ, không oán hận. Tin nhân quả, tin làm thiện có báo thiện, làm ác có báo ác.

“Chẳng rõ lý”, ví như niệm Phật, cho là mười niệm, hoặc sớm tối niệm một niệm Phật là đã niệm Phật rồi, sẽ được vãng sanh Cực Lạc; Lúc niệm Phật thì tâm có Phật, còn lúc chẳng niệm Phật thì quên mất Phật, bình thường hàng ngày làm tất cả các việc ác, phiền não căn cứ theo ngày trước mà phát sinh, khí nóng nương nơi ngày cũ mà hưng khởi, dục niệm càng nhiều, tâm sự chồng chất, vọng tưởng chấp trước, mà trở thành hay không trở thành tánh tình con người, oán hận, chẳng tin có sự báo ứng của nhân quả, đây tức là không rõ lý.

- Vì sao trí tuệ của mình khai mở? Vì công phu chẳng ra sức, không có tiến bộ, nguyên nhân chủ yếu đó là tham, sân, si, mạn chưa dứt đoạn; bình thường phạm phải bệnh nầy đối với người, với công việc, với sự vật, nên quyết cần phải tự hối trách sâu xa.

Sinh tử không dứt bởi vì tham muốn thèm khát vậy. Tham là tham ái, muốn là muốn thèm, là thèm ngon. Ở thế gian nầy mà còn tham ái kiểu nầy, kiểu nọ, thì muốn rời khỏi Ta Bà là điều khó được. Chúng ta đời đời kiếp kiếp tu hành mà không thể ra khỏi ba cõi, vẫn ở nơi luân hồi cũng là do tham muốn thèm khát. Nếu không ly khai thì như nuôi oan gia, một đời tu hành toàn rơi vào trống rỗng.

Dục niệm, dục là mong muốn, niệm là vọng tưởng, hai cái nầy tuy không thể cắt đứt, cũng nên từ từ mà buông bỏ đi, chẳng như vậy thì dẫu một ngày niệm đến vài vạn tiếng danh hiệu Phật, cũng không được sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây.

Đức Phật dạy rằng “Dục” là nguồn gốc của sinh tử, cần thành tựu nhất định nên tiêu trừ tất cả “dục niệm”. Nhưng phương pháp đối trị “dục niệm, thật ra chẳng phải là dùng cách dè ép hay cấm ngăn, mà là cần chuyển hóa. Từ sự nhận biết đặc tính của “dục niệm” một cách triệt để là: Vô thường, khổ, hư vọng, chẳng được tự tại; nhận rõ ràng chân tướng của nó lại chuyển hóa thành trí tuệ, nhiên hậu lại đem nó nâng lên, rộng ra, thành là sự quan tâm đến với tất cả chúng sinh.

Nếu như tâm mình bị “bảy tình, sáu dục” che ngăn, thì không những không thể ngăn dừng hạnh ác của mình, ngược lại sẽ chuốt lấy càng nhiều những rầu buồn, phiền não và khổ đau.

Người ta ở đời đều hy vọng có một cuộc sống hạnh phúc khoái lạc, song hạnh phúc khoái lạc từ đâu mà đến? Tuyệt đối không phải là do nơi “tu phước” mà đến, thấy người giàu có ngày nay, mọi người khác ngày ngày đều mong muốn được, cả ngày mặt ủ mày chau, thật ra chẳng vui vẻ gì. “Thiểu dục tri túc” (ít ham muốn và biết đủ) là ĐẠO. Dục là năm dục sáu trần (năm dục: tài, sắc, danh, ăn, ngủ - sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp), cuộc sống không thiếu, thọ dụng đủ rồi thì được, chẳng cần tham nhiều; ăn no, mặc ấm, ở thoải mái thì được rồi; Cuộc sống thảnh thơi tự tại là chân hạnh phúc, tuyệt đối không phải là ở chỗ có bao nhiêu tiền bạc giàu có và sản nghiệp; Không buồn lo, không bận tâm, cho nên nói là: “tâm yên thì lý được”, hiểu được đạo lý, sự thật chân tướng rõ ràng thì tâm sẽ được an. Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với cảnh giới của sáu trần chẳng mê, đối với việc “đối nhân xử thế” hay tiếp vật đều gom về chỗ tốt đẹp, thì tự nhiên được tốt đẹp vui vẻ.

Trong cuộc sống ngày thường, đối với năm dục như thấy sắc nghe tiếng, chẳng thể chẳng động tâm, chỉ có là trẻ nít, còn như nếu có một chút xíu tâm yêu ghét, thì ra khỏi ba cõi cũng khó rồi!

Đem những sự tình từ thân, tâm cho đến ra ngoài thế giới... tất cả buông hết, chớ nên trở lại khởi tâm động niệm. Thị - phi, được - mất, cảnh khổ, cảnh vui, việc trước việc sau, đại khái chớ suy nghĩ; Tức lúc niệm sinh khởi khiến lập tức phải giác ngộ mà chiếu soi, chớ cùng với nó mà tiếp niệm. Cần nên biết rằng những tai ách trước mắt đều bị nghiệp ngày trước dẫn đến, đến lúc cuối cùng nghiệp duyên thì tự nhiên giải trừ.

Dứt ác tu thiện, tích lũy công đức, làm được như thế nầy, đời nầy đời sau có thể được phước báo lớn. Nhưng nếu không thể bảo đảm được đời đời kiếp kiếp không tạo nghiệp, thì khi phước báo hưởng hết, ác báo lại hiện khởi, chắc chắn đọa vào ba đường ác mà thọ khổ.

Cảnh giới hiện tiền, tập khí tâm bệnh lại đến, thấy được cảnh thuận - nghịch lại sinh tâm yêu - ghét, tham - sân - si - mạn, riêng tư tự lợi, cần gấp rút là giác ngộ, dùng một câu “A Di Đà Phật” để thay thế tất cả niệm đầu là đúng nhất.

Chẳng nên trước cầu niệm Phật nhất tâm bất loạn, mà nên trước phải làm được công việc là niệm Phật nhiều, trong tâm có Phật, tâm thanh tịnh. Tâm không chuyển theo cảnh. Cảnh giới hiện tiền, vọng tưởng nhiều, mà tâm chuyển theo cảnh thì làm sao niệm Phật có thể nhất tâm bất loạn.

Lúc niệm Phật, mà trong tâm nghĩ suy lung tung, thậm chí tham, sân, si mạn, y như cũ chưa diệt chút nào, chẳng chơn chánh tu hành. Lúc niệm Phật mà sinh ác niệm thì không những không công, mà còn ngược lại là có tội lỗi.

Niệm Phật nếu có tín tâm chẳng đủ, lại còn muốn học những pháp môn khác, đối với việc thế gian sự hứng thú còn đầy ắp, lại trải qua ngàn đời vạn kiếp cũng vẫn vậy, sẽ mãi luân hồi nơi sáu đường.

SỬA TÂM BỆNH ĐỔI TẬP KHÍ

Sanh làm thân người, khó mà tránh khỏi những thói quen chẳng tốt (tâm bệnh), một ngày thân tâm bị cảm lấy sự nhiễm ô, nếu muốn giải trừ thói quen không tốt, nếu như chẳng ráng sức hạ quyết tâm, như thế kết quả còn khó hơn cả sự lên trời, chỉ vì: “cắt cỏ chẳng trừ gốc, gió xuân về lại mọc lên”, trước tiên phải yên tịnh mà xét nét chính mình, nhận thức chính mình, mới có thể rõ suốt được sự cuồng vọng, hung hăng, ấu trĩ và không hiểu biết của mình; cũng chỉ có nhận thức chính mình mới không thể tự đại hoặc tự ti mù quáng.

Thói quen trên hành vi, ngay lúc mới nhiễm ô nếu phát hiện phải lập tức quyết tâm sửa lỗi, thì rất là dễ sửa đổi lỗi lầm; Chỉ sợ rằng từ nơi sự bất tịnh đem tâm xét ngược lại mình, rồi nói rồi làm, có sự tổn hại đến tâm bệnh mà không tự biết; Đợi đến lúc tổn hại tâm bệnh theo tuổi tác mà thành lớn, một ngày kia sau khi thấu triệt giác ngộ, muốn cần sửa lỗi, cũng không bằng lúc vừa mới nhiễm để được dễ dàng, chẳng qua trên đời không có việc khó, chỉ sợ người không có lòng, nhất định có thể hoàn thành được.

Sửa tâm bệnh đổi tập khí, là sửa chữa sự mê hoặc của chúng ta, sự tà kiến, vô tri, cố chấp, võ đoán, lầm lỗi bất thiện v.v... của chúng ta, do TỰ NGÃ làm trung tâm mức độ không đồng, tu sửa tư tưởng và hành vi hại người lợi mình.

Làm đến khi “chỉ có thiện không có ác”, bên trong tâm không khởi niệm mới thôi, một khi khởi niệm thì là thiện, chẳng trở lại có ác, tiến tới ngay cả thiện niệm cũng không có. Sửa đổi đến khi có thể “Đại trí giống như ngu”, như câm như điếc, tốt xấu được mất đều chẳng động tâm, tâm kia được thanh tịnh.

Người đời nhân vì thói quen vốn có từ nhiều đời trở lại đây, cho đến đời nầy từ nhỏ đã chịu lấy sự tập nhiễm ở hoàn cảnh, mà tự nhiên hiện khởi ở thân, miệng, ý, gọi là TẬP KHÍ (thói quen). Người người đều vốn đủ có PHẬT TÁNH. Nhưng Phật tánh nầy bị sự che ngăn và trở ngại của nghiệp chướng do “tập khí vô minh” và vọng tưởng chấp trước. Ví như gương sáng bị bụi bặm phủ đầy, mất đi “tánh sáng thanh tịnh” vốn có, “tập khí” tức là bụi bặm, nên triệt để hơn nữa để sửa đổi lau dọn. Ví như muốn đạt được tốt sự “tham dục”, thì cái gì cũng muốn, cái gì cũng cần, thế nào cũng không đủ, tham không biết đủ, muốn không biết dừng; phải nên sửa đổi thành “đạm bạc thiểu dục”. Không làm tốt sự tham muốn thì bực bội, chút ít không như ý thì tức tối, vậy thì phải nên sửa thành sự nhẫn nhục và khoan dung. Không làm việc hung bạo, mở miệng thì chưởi, động tay thì đánh, cần phải sửa đổi cho tâm bình khí hòa, vui vẻ diện mạo. Không làm cho tốt việc nói láo, mà nên đổi làm lời nói trung thực và thành thật. Không giảo quyệt và gian trá, nên sửa đổi thành sự thành thật và không khinh dối. Không làm việc phù hoa xa xỉ, cần nên đổi lại là sự mộc mạc giản dị và tiết kiệm. Không làm việc riêng tư, xung khắc và đố kỵ, cần đổi lại là vì việc chung mà không riêng tư. Không làm kiểu hẹp hòi và nôn nóng, mà phải sửa đổi thành sự rộng rãi và nhẫn nại. Không làm sự gan dạ điên cuồng, mà cần phải đổi thành sự chín chắn cẩn thận. Không nặng lòng đố kỵ, ganh tỵ mà phải đổi lại là sự rộng lượng quảng đại. Không nặng lòng nghi kỵ, cần đổi lại là sự tín nhiệm người khác. Không tự đại tự mãn, cần đổi lại là: ta không bằng người, thấp giọng hạ mình nhún nhường. Luống dối đổi là thành kính, sự bộp chộp nôn nóng đổi là trầm tĩnh, kiêu ngạo đổi là khiêm tốn, biếng nhác trác tán đổi là siêng năng cần mẫn, tàn nhẫn đổi thành nhân từ, cay nghiệt đổi thành khoang dung, thiên kiến đổi thành hòa bình, keo kiệt đổi thành thí xả; sửa đổi trừ bỏ tâm ghét hận, tâm ngạo mạn, tâm thờ ơ, tâm phẫn nộ, tâm cướp lấy, tâm tình nghi, tâm buồn rầu, tâm cố chấp, tâm hẹp hòi, tâm sợ sệt, tâm quên ơn, tâm thấp hèn, tâm bi thương, tâm không có công đức, tâm cuồng vọng tự đại, tâm tự cho là phải không phục thiện, tâm riêng tư tự lợi, tâm trong mắt không có người, tâm bất bình bất mãn, tâm bất an thô tháo... Ác khẩu cũng cần sữa đổi, tóm lại những vấn đề ác niệm ác hạnh không sao kể xiết; Phàm là tư tưởng, hành vi và ngôn ngữ tổn hại đến chúng sinh đều nên sửa đổi, chẳng được riêng tư tự lợi, ra sức tranh hơn, cái gì cũng chỉ làm đầy đủ cho mình, có việc gì mà chẳng thể làm, ra sức tích đức, sao lại ra sức thông cảm bỏ qua, quí tiếc mình, ngược lại chà đạp mình! Tu hành thì cần phải “sửa tâm bệnh đổi tập khí”.

Sửa tâm bệnh đổi tập khí (cải đổi ác, tu thành thiện) là điểm bước đầu tiên tu hành học Phật, tập khí (ác) chẳng đổi, tu thiện như thế là tu không tốt rồi. Như vậy chẳng phải là tu hành học Phật!

Sửa tâm bệnh đổi tập khí phải cần “minh tâm”, cần “thành tâm”. Minh tâm là trí tuệ, đối với tất cả sự tướng, sự lý đều có thể thông đạt rõ hiểu mà không sai lầm; thế nào là thiện? Thế nào là ác? Cái gì đáng làm? Cái gì không đáng làm? Rõ ràng sáng suốt, cho nên gọi là MINH. Thành tâm tức là “chơn tâm”, “trực tâm”, “chí thành tâm”, cũng tức là ý nghĩa THÀNH. “Chẳng minh” thì không thể rõ phân thiện - ác, thị - phi. “Chẳng thành” thì dối gạt người khác, dối gạt chính mình.

Bỡi vậy MINH, ở nơi sự học Phật tu hành của chúng ta mà nói, tức là công phu soi xét. Chúng ta cần thường phản tỉnh, kiểm tra, quán sát, thì sau mới có thể làm được việc sửa lỗi, mới có thể làm được việc tu thiện. Chúng ta nếu như không có minh tâm và thành tâm, thì không hiểu được thế nào là thiện, ác, như thế còn bàn gì đến việc sửa lỗi, tu thiện!

Chỉ có người sáng suốt (MINH) thì mới hiểu thế nào là thiện, ác? Cái gì nên làm, không nên làm! Rõ ràng minh bạch. Chúng ta từng bước tìm ra tập khí (ác) tâm bệnh của mình, thì nên sửa đổi (sửa ác) bằng chơn tâm thành ý, tu thiện, không nên phô bày, không nên lơ là.

Chúng ta xử sự, đãi người, tiếp vật cần dùng “chơn tâm”, chẳng dối gạt mình, chẳng dối gạt bất cứ một người nào. Cuộc sống thường ngày vọng niệm (ác) không sinh, thường thường giữ gìn “chánh niệm hiện tiền”, chúng ta hiện tại dẫu chịu khổ chịu nạn, cuối cùng khổ nạn cũng sẽ qua đi rất mau. Cho nên gốc rễ lớn của pháp thế gian và và xuất thế gian tức là “sáng suốt và chí thành”.

Con người, hẳn nhiên không phải sinh ra tức là Thánh nhân liền, thế thì làm sao không có lỗi lầm? Nếu có lỗi thì chẳng nên sợ sửa đổi lỗi lầm. Lỗi nhỏ còn phải sửa đổi, còn tội lỗi quá lớn đương nhiên chẳng thể phạm được.

Nhưng sửa lỗi thì cần “phát tâm” sửa lỗi. Bàn đến việc sửa lỗi, thứ nhất cần phát tâm hổ thẹn, thứ hai cần phát tâm sợ lỗi, thứ ba cần phát tâm dõng mãnh.

“Phát tâm hổ thẹn”, người xưa nói: “Biết hổ thẹn thì gần với cái DŨNG”. Chỉ có biết hổ thẹn mới có thể chân chính sửa lỗi, mới có thể hưng phấn mà hướng lên. Chư Phật, Bồ Tát ở vô lượng kiếp về trước cũng như chúng ta, cũng là phàm phu, các Ngài ngày nay thành Phật thành Bồ Tát, ta vẫn còn luân hồi trong sáu đường, cảm thấy hổ thẹn đáng tủi hổ lắm! Như nếu thường thường phản tỉnh, tự nhiên sẽ dõng mãnh tinh tấn, chân chánh quay đầu. Người nếu chỉ biết tham luyến âm thanh, sắc đẹp, danh vọng, lợi dưỡng, buông lung tình ý, ở sau lưng người khác làm những trò (thủ đoạn) mà người không thấy được, bỡi vì người khác không thấy được, mà tự cho là đắc ý, không xấu hổ chút nào, thì sẽ lần lần biến thành cầm thú đội lốt người mà chẳng tự biết. Trên cõi đời lại không có gì so sánh được hành vi nầy, càng hổ, càng thẹn. Có thể làm đến khi biết hổ thẹn thì có thể thành Thánh Hiền, còn không biết hổ thẹn là vật gì? Chắc chắn là cầm thú rồi không còn nghi ngờ gì nữa. Chìa khóa của sự sửa lỗi tức là ở trong một niệm nầy; Người sở dĩ khác với loài cầm thú cũng chỉ sai khác ở một niệm mà thôi!

“Phát tâm sợ sệt lỗi lầm”, sợ tức là sợ sệt; Con người thường ôm lòng sợ, thế là một sức khống chế rất lớn, khiến cho mình không dám làm ác. Người khác có chỗ sợ sệt, thế thì họ sợ cái gì? Có câu rằng: “Trời đất ở trên, quỉ thần khó dối”. Gạt người dễ, gạt mình cũng dễ, gạt Chư Phật, Bồ Tát, Trời thần chẳng phải dễ, không nói đến Phật, Bồ Tát, Trời Thần mà ngay cả quỉ thần phần lớn đều có năm món thần thông, trong đó có: thiên nhãn thông, tha tâm thông v.v... Chẳng qua là năng lực đó lớn hay nhỏ không đồng mà thôi. Con người nếu khởi tâm động niệm, lời nói, việc làm chỉ phạm một điểm nhỏ lỗi lầm thì quỉ thần cũng biết được rất là rõ ràng. Cho nên chúng ta sau khi đã đọc kinh luận và sách vở Thánh Hiền, thật là dựng đứng lông tơ, không có mảy mún nào có thể dối ổn. Nếu là phạm lỗi nặng nề, trời ắt giáng xuống những tai họa, nếu phạm lỗi nhỏ, thì sẽ tổn đến phước báo đời nầy. Con người không thể không sợ Trời thần, quỉ thần, một người nếu là sinh hoạt ở trong nhà tối che dấu, thì Trời thần hoặc quỉ thần cũng sẽ đồng nhìn thấy rất rõ ràng, tức là che đậy dẫu rất là kín đáo, làm rất là khéo léo, cũng không cách nào che lấp được ý niệm phát sinh tâm tư thiện ác, “ý niệm” cũng tựa như một làn sóng điện, mà quỉ thần giống như cái thể dẫn vô hình, đây cũng là quỉ thần không chỗ nào là chẳng biết, mọi người cần nên kính sợ nguyên nhân của tâm. Đồng thời cũng không cách nào che đậy tâm tốt của mình, dối gạt mình, cho nên chúng ta làm sao mà có thể chẳng sợ được ư!

“Phát tâm mạnh mẽ và quyết tâm”; Quyết định cần phải phát ngay tâm mạnh mẽ hướng về phía trước, một người sở dĩ đã có lỗi lầm mà chẳng chịu sửa đổi, đều là do dần dà không có dũng khí chẳng thể sửa đổi, đều là do dự cẩu thả, mắc lỗi thì chịu lỗi, không thể ra tay làm một cách phấn phát, nên thụt lùi và rơi vào nguyên nhân của sự e dè sợ sệt. Cần biết sửa lỗi, nhất định ngay nơi cơ sở của lỗi, lập tức dứt bỏ, phải sửa đổi ngay, chẳng nên dần dà nghi hoặc. Lỗi nhỏ giống như gai châm trong thịt, mau chóng nhổ trừ. Phạm lỗi lớn, tai hại giống như rắn độc mổ ngón tay, cần ngay cắt bỏ ngón tay, đây là so sánh để ví dụ cần phải hạ quyết tâm quyết định, dứt tất cả ác, chẳng được có ý niệm do dự nghi ngờ chậm chạp.

Một người sửa lỗi, nếu như có thể đầy đủ ba cái tâm là: tâm hổ thẹn, tâm e sợ và tâm mạnh mẽ quyết định, như trên đã nói, thì tội lỗi chẳng câu nệ là lớn nhỏ, hễ là có lỗi, thì sữa đổi ngay; Giống như băng mỏng của mùa xuân, gặp ánh sáng mặt trời, còn sợ gì chẳng tan ư? Cho nên sửa lỗi để được thiện chắc chắn thành công.

(Tuy là có lỗi nếu có thể sửa đổi thì tốt, nhưng tuyệt đối không được cho rằng phạm lỗi có thể sửa đổi, rồi thì thường xuyên phạm cũng không sao, như thế rất là không thể được. Nếu có cái tâm nầy, tức là có tâm phạm lỗi, tội lại càng nặng thêm). Nhưng đời người vô thường, chỉ cần một hơi thở không trở lại, thì thân thể nầy không phải là của ta nữa rồi! Muốn sửa lỗi cũng không còn kịp được. Báo ứng rõ ràng, tiếng xấu muôn năm ở tại dương gian, khiến cho con hiếu cháu hiền muốn tẩy rửa cũng không tẩy rửa được. Báo ứng mờ mịt, nếu lỗi phạm là nhỏ, thì sẽ tổn hại đến phước báo hiện đời; Nếu lỗi phạm là lớn nặng, Trời sẽ giáng xuống những tai họa, chết rồi sẽ bị chìm đắm trôi lăn trong địa ngục, vĩnh viễn bị chặt mài, thì Phật, Bồ tát, cũng cứu không được, làm sao mà không đáng sợ!

Sửa ác tu thiện, có rất nhiều chỗ tốt đối với người tu hành; Chỗ tốt thấy rõ là an bình tốt đẹp, tự tại, vui vẻ; Còn việc khó thấy là sự nghiệp thuận lợi, con cái ngoan hiền, gia đình hòa mục, được nhiều người tôn kính.

Phương pháp sửa lỗi, một khi người sửa lỗi có đủ ba phương pháp: Sửa trên SỰ, sửa trên LÝ và sửa từ TÂM. Nếu công phu không đồng thì công hiệu được cũng không đồng.

Phương pháp sửa lỗi tốt nhất là sửa từ tâm, tu tâm, khiến cho tâm địa thanh tịnh - tâm không động niệm - không riêng tư ham muốn (Nhân phạm lỗi đều bỡi vì niệm đầu các việc xấu xa động ở trên tâm). Có thể tu tâm, thì niệm đầu xấu xa nhánh nhóc ấy đều sẽ biết rõ, lập tức quở trách, sẽ mau chóng dừng trụ chẳng động cái tâm; Tâm không động, thì niệm đầu xấu xa như thế đều tiêu mất, cũng sẽ không thể phạm lỗi được. Đây tức là bí quyết chân chánh tu tâm sửa lỗi rất tinh thuần mà lại là duy nhất!

Sửa lỗi từ trên tâm là thế nào?

Lỗi lầm của con người có trăm, ngàn, vạn kiểu rất nhiều, đều là tạo ra từ nơi tâm. Tâm người - ta chẳng động niệm, các việc (thiện - ác) gì cũng không thể nào xảy ra, thế thì lỗi lầm còn có thể từ đâu mà sinh ra ư? Chúng ta sửa đổi từ tâm địa, tức là sự sửa đổi của chơn tâm, cái muốn của chơn tâm là cần sửa đổi, chơn tâm dứt ác, chơn tâm tu thiện, đây tức là dùng công phu trên tâm địa (đất tâm).

Cũng chẳng cần phải chạy theo kiểu cách, kiểm thảo, háo (ưa) danh, háo lợi, háo sắc, ưa nộ nạt... nhưng lỗi lầm rất nhiều; Chỉ cần nhất tâm hướng thiện, phát tâm bồ đề, niệm đầu chân chánh hiện ra trước mặt, làm việc thiện, nói lời thiện, như thế các niệm đầu tà vạy sẽ tự nhiêu tiêu mất.

Việc sửa lỗi, khi mới bắt đầu đều là tiến tiến lùi lùi, sửa rồi lại phạm. Không nên nhân vì nhất thời sửa không xong, thì nổi nóng trong lòng, vấn đề là cần phải có tâm nhẫn nại, tâm lâu dài, hai tâm nầy rất là quan trọng! Chỉ cần có hai tâm nầy, thì sẽ có tâm thường hằng, có nghị lực, có quyết tâm, cần thiết tha sửa đổi cái sai ngày trước, thì những tập khí tâm bệnh nầy sẽ được sửa xong. Không dễ gì dứt được trong chốc lác là xong, là dứt được liền.

Sửa tâm bệnh đổi tập khí (sửa ác tu thiện), cần có năng lực rõ biết thiện - ác, việc thiện lớn thì có công nhiều, việc thiện nhỏ thì có công ít. Việc ác lớn thì lỗi nhiều, việc ác nhỏ thì lỗi ít. Tốt nhất là đặc ra một cái “Giá công - tội”, qui định tất cả hành vi thiện ác đều cần phải nhớ lấy, tự mình nhớ, nhớ công việc hàng ngày của mình, cần có tâm thường xuyên, tâm nhẫn nại và tâm quyết định, chẳng nên sợ phiền toái, hoặc so tính! Chẳng nhớ được, như thế thì khó thành công. Phàm khởi tâm động niệm, lời nói và việc làm các việc thiện - ác nhỏ nhặt đều nên nhớ lấy, tùy lúc tùy chỗ mà nhớ. Mang theo bên mình một cây bút nhỏ hai ngòi, một khi có những ý niệm, hành vi, lời nói thiện ác thì nhớ lấy, tối về lại ghi ở trên “giá công - tội”.

Lúc mới bắt đầu tu nhất định thiện và ác xen lộn với nhau, chúng ta mỗi ngày nên nhớ lấy, lần lần thiện nhiều ác ít, thời gian sẽ làm được “chỉ có thiện không có ác”. “Giá công - tội” một khi mở ra đều là thiện, không có ác, chỉ cần làm được một ngày nầy, tiêu nghiệp chướng nhất định thấy hiệu quả. Nói cách khác, một năm làm được thì một năm thấy hiệu quả, mười năm làm được thì mười năm thấy hiệu quả.

Thời gian mới học của chúng ta, mọi người đều giống nhau, lúc ban đầu đều rất khó, thiện và ác lộn xộn. Giá công - tội một khi mở ra xem ta, xem ta ngày nay đã khởi bao nhiêu niệm ác hạnh ác? Đã khởi bao nhiêu niệm thiện hạnh thiện? Trong một ngày thiện nhiều hay ác nhiều? So sánh hàng ngày cho đến hàng năm. Nếu như mọi người có thể thật sự làm được như thế nầy, chẳng ngoài năm năm thì có thể làm được “chỉ có thiện không có ác”. Ở trong tâm chẳng khởi niệm thì thôi, một khi khởi niệm thì là thiện, chẳng có ác, đến lúc nầy mà hành trì thì tự nhiên tự tại, xứng họp với tâm rất nhiều. Có thể làm được ngay cả thiện niệm cũng đều không có, tâm không có niệm khác, chỉ biết niệm Phật không dứt, chẳng bị loạn bỡi cảnh bên ngoài, đến lúc nầy thì có được sự tương ứng. Tương ứng là thân tâm an tường, tự tại và vui vẻ.

Chúng ta khởi tâm động niệm đều là tâm thiện không có niệm khác, vì sao không được tương ứng ư? Thế thì tự mình phải nên rõ biết, ứng là việc ác đã làm trong đời quá khứ, não hại chúng sinh, tội chướng rất nặng, phải rơi vào tội báo của ba đường ác, bây giờ còn có may mắn sửa ác tu thiện, tin theo Phật pháp tùy thời tùy chỗ mà niệm A Di Đà Phật, cho nên trước mắt nầy người đời một chút khổ nhỏ, chính để tiêu diệt tội nặng của ba đường ác lớn lao, cho nên phải nhẫn chịu, không được nói lời không có nhân quả, hủy báng Phật pháp, nên biết rằng hủy báng Phật tội lỗi rất nặng! Đây là câu “Trọng báo khinh thọ” mà trong kinh Phật thường giảng. Kinh Kim Cang dạy rằng:

Người thiện nam, kẻ thiện nữ, thọ trì đọc tụng kinh nầy, nếu bị người khinh chê, đó là tội nghiệp đời trước của người, nên rơi vào đường ác, vì do đời nầy người ta khinh chê, thì tội nghiệp đời trước tức được tiêu diệt, nên được: Vô thượng chánh đẳng chánh giác”.

Cho nên đối với đạo lý nhân quả báo ứng cần phải tin tưởng sâu xa, chẳng được có mảy may nghi ngờ sai lệch. Đồng thời phải nên kiểm thảo tư tưởng, hành vi của mình, và kiểm thảo câu niệm Phật, có phải là niệm chí thành cung kính hay không? Có phải niệm tùy thời tùy chỗ, niệm nhiều hay không? Đối với bất cứ người nào, xử sự, tiếp vật có cung kính khiêm tốn hay không? Một mức bình đẳng, có cống cao ngã mạn hay không?

Sửa tâm bệnh đổi tập khí (đổi ác tu thiện), chứa nhóm công đức, nếu có thể tu tất cả thiện, lìa tất cả tướng, thì sẽ tiêu nghiệp trừ chướng, quả báo nặng mà nhận thọ nhẹ, là công dụng hiệu quả tốt nhất. Tốt nhất là niệm ác không sinh, ngay cả niệm thiện cũng không có, làm được “tâm chẳng động niệm” (vô niệm), lìa tất cả tướng, tất cả chẳng chấp trước, niệm Phật chẳng dứt, trong tâm có Phật, vãng sanh thế giới Cực Lạc là điều chắc chắn! Đời nầy còn có khả năng được “Niệm Phật tam muội”.

Chúng ta bị hủy hoại bỡi tâm bệnh từ rất lâu xa đến nay, thì chẳng dễ dàng mau chóng có thể sửa đổi trừ bỏ. Nếu biết rằng tâm tham và sự phẩn nộ của chúng ta đều đã rất là khốn đốn và nguy nan, huống chi chúng ta chỉ phân tích chính mình, chuyển biến chính mình, chuyển hóa tâm ý, nhất định cần từ từ trải qua một khoảng thời gian mới có thể thành công được. Chỉ cần chúng ta từng bước từng bước, tự mình tiến tới, theo từng bước nhận thức được thói quen xấu xa của mình; Đồng thời phát huy tích cực tiềm lực tiến lên, nổ lực chẳng nên lười mỏi, thì cuối cùng sẽ đạt được cảnh giới thành công.

Tóm lại, người tu hành “sửa tâm bệnh đổi tập khí”, đều do phát tâm của mình, người khác chỉ khuyên nhắc, nếu mình không sửa đổi, thì họ cũng chẳng làm gì được cho mình, sửa đổi hay không hoàn toàn ở chính mình.

· CẨN THẬN RIÊNG MÌNH:

Người ta phàm có những việc tạo tác và hành vi, khởi tâm động niệm, Phật, Bồ tát cho đến quỉ thần, không có việc gì là chẳng thấy hết biết hết, nếu lúc dấy lên tư tưởng như thế, thì tự không dám tạo tác hồ đồ và hành vi cuồng vọng.

· TÂM TRỐNG RỖNG:

Người thường chẳng hiểu thiện - ác, chẳng sợ nhân quả, quyết không chịu nhận mình có lỗi, thì nói gì đến việc cải đổi? Nhưng Thánh Hiền ngày xưa thì không phải vậy. Nay đưa ra một ví dụ, Đức Khổng Tử nói rằng: “Năm mươi vì tuổi còn dùng cái học để sửa trị, cho nên không lỗi lớn”.

· SUY XÉT:

Đã vậy rồi, tức cần phải thường suy xét, từng lời nói từng việc làm, là thiện ư? là ác ư? Nếu đó là ác thì phải cố gắng mà sửa đổi, ngoài việc từng giờ chú ý sửa lỗi ra, lại ở mỗi ngày trước lúc sắp ngủ, bèn đem việc đã làm một ngày mà suy nghĩ thật rõ ràng.

· SỬA ĐỔI:

Sau khi suy xét, nếu biết là lỗi tức thì ra sức sửa đổi, chư vị nên biết rằng việc sửa lỗi bèn là quan minh lỗi lạc mười phần, đủ để biểu thị nhân cách vĩ đại. Người xưa nói rằng: “Lỗi mà có thể biết là MINH, biết mà có thể sửa đổi tức là THÁNH”. Vì vậy có thể nào mà chẳng cố gắng ư! Việc sửa lỗi nói thì dễ mà làm thì khó, cho nên càng sửa càng phạm, tự mình chưa có thể mạnh mẽ làm chủ được, thật ra do thói quen huân tập của ngày trước từ vô thỉ đem đến, thế nên mong rằng mọi người thường nên niệm Phật để gia trì, chí tâm chí kính khẩn thiết mà sám hối nghiệp đời trước từ vô thỉ, trong mờ mịt tự có sự cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Nương nơi lực Từ bi của Phật gia bị, nghiệp sẽ tiêu, trí sẽ sáng, thì việc sửa đổi lỗi lầm ngõ hầu có thể viên mãn thành tựu, đời hiện tại bước vào cõi Thánh Hiền, lúc mạng chung vãng sanh Cực Lạc, đây có thể là sự tính toán trước của chư vị vậy.

· CHỊU THUA THIỆT:

Người xưa nói rằng:

Ta không biết những gì là Quân Tử, chỉ nhìn ở ngay sự chịu thua thiệt từng công việc; Ta không nhận thức được những gì là Tiểu nhân, chỉ xem ngay nơi những tiện nghi mà họ chiếm giữ ở nơi công việc”.

Không biện bạch khi nghe hủy báng, người xưa nói rằng: “Làm sao dứt được sự hủy báng? - Đáp rằng: Không biện bạch”. Lại nói rằng: “Nuốt chịu sự thua thiệt nhỏ, thì không đến nỗi nuốt chịu sự thua thiệt lớn”.

· KHÔNG TRANH CHẤP:

“Tranh”, là cái nhân nuôi dưỡng sự tổn thương và có hại. Tranh danh, tranh lợi, việc lớn tranh, việc nhỏ cũng tranh. Chỉ cần có tranh chấp thì sẽ có phân ra cao thấp, chia thành mạnh yếu, có niệm được mất, sẽ khó lấy khó bỏ, do tranh mà quay mặt thành cừu thù, vì sao vậy? Chỉ vì tâm riêng tư, vì sỉ diện, sẵn sàng tranh cho được, cả hai đều bại, đều tổn thương, thậm chí mất mạng ở chốn suối vàng. Người chẳng tranh chấp mới có thể nhìn rõ sự thật; Đã tranh chấp thì loạn, đã loạn thì phạm lỗi, phạm thì thất bại. Con người thường thường rất là chấp trước mà sinh ra tâm phân biệt. Là anh, là tôi, phân biệt rất rõ ràng, đến nỗi liều mạng cho sự yêu thích của ta mà đi tranh chấp cầu mong, tranh cái tốt, tranh cho nhiều, mạnh hơn người; Tâm tranh chấp một khi khởi lên, thế nào là nhân tình, hữu nghị, công lý, chánh nghĩa đều quên hết! Con người phần lớn tâm danh - lợi rất nhiều, còn có tâm háo thắng, tranh chấp với người, tranh chấp với công việc. Nếu như không tranh chấp với người thì người an, không tranh chấp với công việc thì việc an, người và công việc nếu mà ta không tranh thì thế giới bình an. Thà có thể chịu một chút thua thiệt, chẳng chiếm lấy sự tiện nghi, thì sẽ không có sự tranh chấp.

Như đời nhà Thanh có một vị đại quan, nhận được một lá thư nhà của con cái dưới quê gởi lên, nhân vì sự phân chia ranh giới những người ở trong nhà mà xảy ra việc tranh chấp, cả hai bên không chịu nhường nhau nên tranh chấp mãi, mấy lần động đến võ lực, con cái muốn dựa vào quyền thế chức vị con của quan để mà tranh lấy thể diện, nhưng vị quan nầy là vị quan lớn có sự tu dưỡng đạo đức, ông ta sau khi đọc xong thư mĩm cười, rồi ghi vào đầu thư trả lời cho con cái - thư viết rằng: “Ngàn dặm gởi thư chỉ vì tướng, ngại gì ba tấc chẳng chịu nhường, trường thành còn đó dài vạn dặm, giờ đây chẳng thấy Tần Thủy Hoàng”. Có thể xem ra thì không có gì tốt đẹp cho việc tranh chấp cả. Trong truyện Tế Công cũng có hai câu: “Dẫu có ôm giữ ngàn gian nhà, một thân khó nằm được hai giường”.

· KHÔNG OÁN HẬN:

Oán hận là biển khổ, sẽ nhìn kiểu nầy không đúng, kiểu kia không tốt, oán trời trách người, sinh tức giận; Thọ điều uẩn khúc, nhận lấy thiệt thòi, các việc không như ý thì sinh tâm hận, càng nghĩ càng tức, đến nỗi không chuốt lấy họa thì cũng sinh bệnh; Khí oán hận có độc, tích chứa nhiều thì sẽ thương tổn nơi thân. Xem ra thì chẳng nên oán, khoang dung thì chẳng chuốt hận. Nếu gặp việc ngược lại, thì nên nhận thức rằng bỡi do kiếp trước chẳng chịu trồng nhân thiện, đời nầy mới bị quả báo ác, coi nó là quả báo oán, thọ nhân một cách vui mừng rồi sẽ qua đi; Nếu như thọ rồi, mà trong tâm bất mãn, muốn trả báo phục thù, thì lần kia lần nầy qua rồi, lần sau sẽ lại đến.

Phàm là người đối với ai đã từng chưởi ta, trêu chọc ta, đánh ta, thì canh cánh ở trong lòng, nỗi oán hận đó sẽ mãi mãi không có một ngày bình yên dừng dứt. Nỗi oán hận trong tâm con người không thể nhân vì đem ra oán hận người khác mà được bình yên và dừng nghỉ, duy chỉ có quên bỏ đi oán hận, thì nỗi oán hận mới có thể bình yên và dừng nghỉ.

· KHÔNG SO SÁNH VỚI NHÀ NGƯỜI KHÁC:

Hoàn cảnh gặp phải ở mỗi người không đồng, thể chất trí tuệ ở mỗi người mỗi khác, nếu muốn được thông, thì không có cái gì tốt so sánh cả. Tự mình kiếm được cái gì, ăn gì, mặc gì nếu thua nhà người khác thì không thể diện! Bỡi vì thể diện mà ra sức so sánh với người ta, thì sẽ không vãng sanh được Cực Lạc, vì sao vậy? Bỡi vì anh muốn so ra tốt hơn người ta, tận lực bận rộn ở việc thế tục, thế thì có lòng dạ nào để tu hành!

· CHẲNG ĐỐ KỴ:

Người đố kỵ ganh ghét chẳng thấy được thành công của người khác, hoặc việc tốt hơn của người khác; Chỉ cần người nào đó tốt hơn anh ta, mạnh hơn anh ta, thì anh ta ghét hận xốn mắt gay lòng, thế là chọn lấy những thủ đoạn: làm tổn thương, phá hoại, bài xích, phản kháng, hủy diệt... chỉ có anh ta mới tốt hơn, mạnh hơn người khác; Còn nếu người khác tốt hơn, mạnh hơn anh ta, thì không thích, không vui; Đây là không có tâm Từ bi.

· KHÔNG HỐI HẬN:

Vì sao phải làm kiểu nầy ư? Làm như thế thì chẳng tốt sao? Tự oán tự trừng trị, theo niềm hối hận mà áo não, tự trách, sai lầm lại càng sai lầm, hối hận không giúp gì được cho công việc. Nên tìm biện pháp sửa đổi lỗi lầm, hoặc là lần sau chẳng làm như thế nầy thì tốt, xem ra mọi người đều là Bồ Tát, ta là phàm phu, làm việc khó tránh khỏi không có lỗi lầm, đã lỗi thì nên SÁM HỐI mà sửa đổi, tâm sẽ được an. Cho nên chỉ đóng khung trong sự hối hận, thì đối với sự việc có giúp ích gì đâu?

· KHÔNG NGHI NGỜ:

Hoài nghi đối với chân lý, đối với chính mình cũng hoài nghi, mỗi một việc đều hoài nghi. Đã có tâm nghi thì không thể tin chân chánh, sẽ trở ngại cho sự nghiệp của mình không thể thành công, là gốc rễ trở ngại trên còn đường tiến vào Phật đạo.

· THA THỨ:

Tha thứ, không riêng gì lỗi lầm được người khoang thứ, mà ngược lại đem lỗi lầm nầy tự xét lấy, bỡi vì Phật pháp chú trọng nhân quả, ví dụ người ta mắc tội với anh, mà anh nhất định cần phải báo phục, việc gì cũng quyết báo, thì “oan oan tương báo” đến bao giờ dứt? Cho nên việc có thể tha thứ thì tha thứ, chẳng nên đắc lý mà chẳng tha người, có thể tha thứ người thì vui vẻ không dứt. Tha thứ người, những phương tiện đối với mình, tâm không trở ngại, không còn tồn tại tâm báo phục, tâm tự nhiên được rỗng rang, được tự tại nhiều, vui sao chẳng làm!? Huống nữa người ta mắc tội với anh, dẫu cho có báo phục được, thì đối với những tổn thất trước kia cũng chẳng nên đòi lại, song thì tội khổ gì mà lại trồng lấy oán cừu. Nếu người khác mắc tội với ta, không những chẳng quở trách họ, mà còn phải cảm ơn họ, là đời trước của ta đối với họ không tốt, nên đời nầy họ đến đòi nợ, trả được cho người ta thì sự kết oán được giải trừ.

· KHÔNG CHỖ MONG CẦU:

Học Phật tu hành cần đạt được tâm cảnh “không chỗ mong cầu”. Như bố thí, là vì tu được tâm thanh tịnh; Nếu như bố thí là vì tiêu trừ nghiệp chướng hay là làm công đức, thì đó là “có chỗ mong cầu”.

· CẢNH MỘNG VÀ HIỆN THỰC:

Cái thấy ở trong mộng và cái gặp ở lúc thức, đồng là một loại cảnh huyễn; Đời người đi qua, đâu từng chẳng là một loại cảnh mộng ư? Vấn đề là ở nơi người đời khởi tâm phân biệt. Nếu tâm chẳng trụ, thì chơn hay giả, có gì phân rõ đâu? Việc quá khứ ngày nay lục lọi để nhớ, đâu từng chẳng phải là cảnh mộng? Ngày trước giàu có vinh hoa, ngày nay liền nghèo khó như tẩy rửa, lại đâu từng chẳng phải là một cuộc mộng Nam Kha? Đó là vì chơn giả giả chơn, thật ra là ở tâm của con người khiến vậy. Đức Phật nói rằng: “Ba tâm chẳng trụ, tánh vẫn như như”. Thế nào gọi là ba tâm? - Việc quá khứ, không khởi tâm nhớ tưởng phân biệt; - Việc hiện tại, không khởi tâm niệm tha thiết mong cầu; - Việc vị lai, không khởi tâm tưởng vin vào duyên. Đó là ba tâm an trụ, ngược lại là ba tâm chẳng trụ, vì người ôm ấp rõ ràng như thế.

· NHÂN DUYÊN PHIỀN NÃO:

Ban đầu của người đời vốn là rỗng rang thơ thới, không chỗ mong cầu. Nhưng khi khởi tâm phân biệt, liền sinh ra rất nhiều mầm rễ phiền não. Ví như giàu có và nghèo nàn, đều là do tâm phân biệt của con người làm ra, nếu không có “sự tham đắm” giàu có thì nghèo cũng vui, nếu không có “sự phân biệt” cái quí, thì cái hèn cũng chẳng biết, làm sao có phiền não, nếu có thể xét thấu được muôn tướng là một lý, sự mong muốn sẽ tự tiêu diệt, thì phiền não làm sao đến được.

· MUỐI:

Phật Giáo đồ nên có tinh thần giống như “Muối”, độ lượng giống như “Muối”, một lòng giúp người mà chẳng cầu danh. Muối là một vật, mà hết thảy mọi người đều biết nó là vật phẩm phổ thông thấp hèn không gì đáng nói; Nhưng nếu đem công sức của muối mà nói, thì có sự quan hệ nặng nhẹ trong vấn đề đưa ra: Muối có thể ngăn ngừa được sự thối rữa, lại có thể điều chỉnh được vị, đồ ăn ngon trăm vị đều gọi muối là bực trên, nếu không có sự điều chỉnh vị của muối, thì chắc chắn nhạt nhẽo mà lại thiếu vị, đủ thấy rằng sức lực của muối có thể nghĩ biết. Chỉ duy ở nơi sau những bàn tiệc thịnh soạn mỗi người thưởng thức xong, chỉ ra sức khen món nầy quí, món kia ngon, còn đối với muối - công đầu to lớn - thì nửa chữ cũng không được nêu lên, thật khiến cho người làm muối chẳng có giá trị gì cả. Mà muối thì “công” lại thành mà “thân” lại thối lui, đây cũng tức là sự trân trọng về muối khiến cho người ta khâm phục, địa vị tuy thấp hèn không đáng để nói, mà công sức thì đứng ở bực trên.

Lại nói rằng: Như vậy thì học như thế nào? Vả lại quán sát tiền thân của muối, muối là nước biển, nhân tánh của nước nhu hòa, bằng phẳng không góc cạnh, không phải thể cứng nhắc, để trong vật tròn thì tròn, để trong vật vuông thì vuông, ở trong biển lớn cũng chỉ dung thân, để trong vò trong bình cũng yên như vậy... làm người cũng nên như vậy.

· LÀM NGƯỜI, LÀM VIỆC:

Tâm người xưa nay bình thường nhạt nhạt, nếu như gặp dính mắc với sự hấp dẫn của vật bên ngoài liền nổi sóng, khởi lặng không nhất định, phiền não theo đó mà dẫn đến. Cho nên làm người gặp lúc tâm nổi sóng nhỏ, liền cần phải ra sức ức chế làn sóng suy nghĩ của mình, ngăn chặn ham muốn của mình, cho nên công việc làm người quyết nên tùy thời khống chế tâm mình, chẳng nên để người khác nổi sóng, cuộc sống cũng nên tùy thời mà kiểm thảo. Làm việc trước tiên phải từ góc độ xấu mà suy tưởng, ngược lại không nên từ góc độ tốt mà nhìn, như thế lại yên ổn đáng để dựa nương. Giả sử xử một việc gì, nếu từ phương diện tốt mà nhìn, nhất định không nhìn thấy tất cả, đáo đầu lại là một thất bại, lại không có gì, thất vọng càng sâu; Nếu trước tiên từ phương diện xấu mà nhìn, dẫu cho mất đi cũng chẳng đến nỗi thất vọng. Làm người, làm việc thế nầy chẳng thể chẳng biết.

· KHOẢNG CÁCH NHÂN - NGÃ:

Người tức là ta, ta tức là người, người và ta không khác biệt. Kỳ thật thế nào là công danh, thế nào là phú quí, đều là giả tướng, hà tất tranh giành? Sao lại khởi niệm nhân – ngã? Có chỗ nói rằng: “Ngủ đến nửa đêm, cái gì là công danh đều là bóng huyễn, nghĩ sau trăm năm, không luận già trẻ, đều là người xưa!”; Bình tâm tịnh khí nghĩ thử xem. Nếu anh lấy “ta” làm “người”, thì đối phương rất là thân thiết đối với anh ta, lấy “người” làm “ta”, thì làm việc chắc chắn được người kính trọng. Cho nên ranh giới “Nhân - Ngã” cần phải đả phá.

Làm người cần phải giữ bổn phận, mỗi việc đều hết phận mình, làm gì thì giống nấy, làm cha phải ra cha, làm con phải ra con. Kính để mà xử sự. Thành để mà đối đãi với người. Lề luật cho mình cần phải nghiêm, đối đãi với người cần phải khoang dung, từ ái, hiền lành, nhan sắc hòa vui, nêu tình thân thiết, phong độ nhún nhường.

Công tác cần gánh vát hết chức trách, kính hòa vui vẻ với mọi người, tài nhiều dùng ít, việc đảm nhiệm thoải mái, tài ít mà dùng nhiều, lại không thể đeo đuổi mục tiêu cao xa.

· THƯỜNG LAO ĐỘNG:

Công việc không nên phân ra cao quí hay thấp hèn, những việc nầy làm, những việc kia không làm, chẳng nên làm kẻ cả cần người đến hầu hạ, những việc người khác không muốn làm, như quét dọn lau chùi, ta đến làm, như không lao nhọc, làm nhiều một chút lại ngại gì, công việc nhọc về sức lực, vừa làm vừa niệm Phật, công việc làm xong, Phật cũng niệm xong, sao vui mà chẳng làm! Không nên là có những công việc nầy không họp với thân phận của ta, ta nghĩ chẳng thể làm; mà công việc đã làm thì thân thể khỏe mạnh, tức là được phước báo.

· TIẾC VẬT, TIẾC PHƯỚC, CHẲNG BỎ PHƯỚC:

Trong cách ngôn “Chu Tử trị gia” nói rằng: “Chút cháo chút cơm nên nghĩ chỗ đem đến chẳng phải dễ, cọng tơ đoạn chỉ thường nhớ sức của vật khó khăn”. Bình thường hàng ngày chỉ cần mặc kín ăn no là đủ rồi, chẳng nên lại tham cầu không nhàm chán, xa xỉ lãng phí, quá dính mắc cuộc sống say bạc mê vàng.

Đồ có thể ăn chẳng nên vứt bỏ, đồ có thể dùng chẳng nên xử lý như rác rưởi. Đồ ăn, ăn bao nhiêu thì nấu bấy nhiêu, hoặc mua bấy nhiêu, không nên nấu nhiều hoặc mua nhiều, ăn không hết thì lại vứt bỏ. Đồ mặc, mặc đồ chẳng được vài lần hoặc chút ít không được lưu hành (lỗi thời) thì xử lý như đồ rác rưởi. Đồ vật còn có thể dùng được không nên chê cũ mà vứt bỏ để mua cái mới... đều tức là không tiếc vật, không tiếc vật tức là không tiếc phước. Chẳng nên cho là ăn mặc của hiện tại đều là dùng tiền của mình để mua, tiền của ta nhiều, cần tiêu gì thì tiêu, nên biết PHƯỚC của con người là phước có hạn lượng, mà anh lãng phí chà đạp một cách không hạn lượng, thế thì phước của chúng ta hưởng dùng hết rồi, đáo đầu lại là lúc bần cùng thiếu thốn, hưởng thọ cuộc sống sẽ không tốt đẹp được.

Không hiểu được sự tiếc phước, mà tùy ý lãng phí tiêu xài rộng rãi, rốt cuộc cũng giống như những người lớn tuổi, chỉ có thể thỉnh thoảng di động thân thể một chút, lại cũng không thể nào giống như kiểu không bị trói buột của trẻ nhỏ, sức lực tung tăng đầy đủ; không cách nào lấy tâm bình thường để xem và đối đãi trong thời gian hiện tại, cư xử với cảnh rất là buồn rầu.

Học Phật tu hành cần phải tu phước và tiếc phước. Tiếc phước tức là chẳng bỏ phước, bỏ phước tức là xa xỉ lãng phí trong việc đi, ở, ăn, mặc đối với cuộc sống thường ngày của chúng ta, gọi là “bỏ phước”. Người tiếc phước thì yêu tiếc phước báo, đây cũng là cái “Đức Kiệm” truyền thống của chúng ta, KIỆM là tiết kiệm, kiệm không phải là keo kiệt, kiệm - tức là có sự chi phối của kế hoạch, thành quả của chỗ được, nắm vững nguyên tắc họp tình, họp lý, tự qui ước, tự chế định, đối với các khoảng tiền bạc trong cuộc sống, lấy tâm tình quí tiếc mà sử dụng cẩn thận nghiêm túc, ra sức cầu bớt phóng túng, cố gắng giảm bớt, ngõ hầu chẳng đến nỗi tàn hại hết của trời, lãng phí nguồn sống.

“Tiết kiệm” là tiếc phước ở trong Phật giáo, là đối với cuộc sống của mình, không nên xa xỉ. Tiết kiệm về tiền tài để đem làm việc cúng đường Tam bảo, cứu trợ người nghèo hoặc phóng sinh, đều chẳng phải là keo kiệt không xả bỏ. Làm bố thí tức là tu phước vậy.

Người có tiền làm việc bố thí (tu phước) rất là dễ; Nhưng bỏ phước (tạo nghiệp tội) cũng càng dễ hơn. Ví dụ như ăn cơm bình thường chỉ tiêu hơn ngàn đồng, còn ăn nhậu say xưa đến vạn đồng; Mặc đồ thì mặc hàng hiệu, họp thời trang, thế nầy lãng phí chẳng biết là bao nhiêu? Thức ăn là những gì? Toàn là thân thể, thịt, sinh mạng của chúng sinh, cho thỏa mãn sự ham muốn ngon miệng no bụng của mình.

Người có tiền là có phước báo hơn, phước báo là việc của đời trước đem lại cho đời nầy, nếu có thể lấy phước để đắp bồi thêm phước, thì phước báo càng ngày càng lớn, muốn mình tu hành, cuộc sống đừng để sự nhàn rỗi chen vào, phương diện tự lợi rất tốt cho dụng công. Muốn nghĩ đến việc lợi tha cũng rất dễ, nhu cầu của lợi tha là có phước báo - có tiền - mình có phước báo có tiền tài, muốn lợi tha cần cứu giúp kẻ nghèo khó thì làm, muốn cúng dường Tam bảo thì cúng; Có tiền thì có thể dùng nó cúng dường Tam bảo, lợi ích chúng sinh, đây gọi là lấy phước bồi thêm phước, phước báo càng ngày càng thêm lớn. Nếu không có phước báo, thì miếng ăn của mình cũng là vấn đề phải lo, thì sao có thể tu hành dụng công? Cuộc sống của mình chẳng được đủ, sao có thể trên thì cúng dường Tam bảo, dưới lợi lạc cho chúng sinh? Cho nên nói là nhất định cần phải có phước. Phước đời trước vun đắp được bao nhiêu, tự thân chúng ta không biết được, ngày nay trồng thêm thì tự mình có thể làm chủ được. Mong mọi người nổ lực tu phước, nên phải tu phước thanh tịnh phước mà tịnh lại gọi là “tịnh nghiệp”.

Người bần cùng, đời nầy phước mỏng là bỡi do đời trước không có vun bồi phước, tức là thiếu việc bố thí. Muốn tu hành thì tu không được, ma chướng rất là nhiều; - Thứ nhất là “ma bệnh”, không tu hành dụng công để không có bệnh, ngay khi muốn tu hành dụng công, thì bệnh nầy bệnh kia kéo đến. Bỡi vì phước mỏng không có tiền bạc, đã hại bệnh không có thuốc để dùng, như vậy làm sao mà tu hành? Đây gọi là “ma bệnh”. - Thứ hai, là “ma công việc”, bỡi vì phước mỏng thì cuộc sống sẽ gian nan khốn khổ, bỡi vì cuộc sống không đủ đầy nên phải lặn lội mưu sinh, từ sáng bận rộn đến tối, bận rộn để được đủ ấm đủ no một cách miễn cưỡng, cách nầy vì mưu sinh mà phải đắng cay làm việc, làm đến khi tinh thần mỏi mệt, sức lực suy tàn, thế làm sao mà tu hành được? Đây gọi là “ma công việc”. Ma bệnh, ma công việc, tóm lại thuộc về “Ma phiền não”. Bỡi vì phiền não nổi lên lăng xăng khiến cho thân bất an, tâm bất an, làm sao mà tu hành được?

Đây là người bần cùng, đời trước không tu được phước, đời nầy phước mỏng nên nghèo khó, chỉ có đời nầy gấp rút nổ lực tu phước; Vậy thì phải tu như thế nào?

Thứ nhất, nên tinh tấn TRÌ GIỚI, trì giới là nghiệp chính đối với nghiệp tội mà nói, trì giới là “phòng phi chỉ ác” (ngừa phòng sự sai quấy, dừng dứt việc ác), chẳng vì việc sai quấy mà làm ác, tức là không tạo tội, không tạo tội thì làm thiện, mà làm việc thiện tức là vun bồi thêm phước.

Thứ hai, ăn toàn chay.

Thứ ba, đọc tụng kinh điển đại thừa, phát nguyện mỗi ngày nên tụng kinh Di Đà mấy quyển.

Thứ tư, mỗi ngày đều niệm Phật, hàng giờ thường xuyên niệm Phật, thế là vun bồi thêm phước lớn; Đây đều là chẳng cần phải xin tiền bạc, mà phải cố gắng nổ lực tu hành.

Cho đến việc bố thí, chẳng thể đem tiền mà bố thí, có thể đem pháp mà bố thí, đem Phật pháp mình nghe được, chuyển nói cho người khác nghe, đây là bố thí pháp chẳng tốn tiền. Lại nói rằng người phước mỏng có thể đem tiền mà bố thí hay không? - Một là có thể làm, chỉ cần xem là có phát tâm hay không? Người nghèo khó tiền bạc thiếu thốn, chỉ cần sự phát tâm, thì có thể từ sự chi dụng ở trong cuộc sống tiết kiệm ra một hai trăm, một hai ngàn đồng mà thành tâm bố thí cầu phước, như thế nầy so ra công đức còn lớn hơn người có tiền bố thí trăm ngàn vạn ngàn đồng, sự vun bồi phước còn nhiều hơn. Đây là nói người phước mỏng muốn cần tự mình dụng công tu hành, thì đối với nơi có chướng ngại, cần nghĩ vì tưởng đến lợi ích chúng sinh, nên chỗ cầu mong chẳng thể mãn nguyện.

Tiết kiệm không phải là keo kiệt, tham lam và bần tiện. Người tiết kiệm là lường so được đầu vào mà xuất ra, ngay lúc tính xét thì tính xét, đến lúc dùng thì dùng; Người keo kiệt thì tính toán đầu ra để mà thu vào, có thể xét thì bèn xét, cái không đáng xét cũng xét, cái đáng dùng cũng chẳng dùng.

Có thể ở đời nầy được giàu có, khỏe mạnh, quyền thế, danh tiếng, bình yên, khoái lạc v.v... đều là phước báo, nhưng nếu không khéo, phước báo ấy ngược lại là nhân của sự đọa lạc, khiến người lãng phí vô độ, phí phạm của trời, tranh quyền đoạt lợi, tự tư tự lợi, vì phước báo mà sinh ra tham - sân - si, chính là nguồn gốc sinh khởi ra tai nạn và nghiệp chướng.

Nếu nhìn mà không thấy đối với ác nghiệp, như thế có một ngày nghiệp ác sẽ tìm đến ngay cửa, cần phải biết rằng phước báo cũng rất là mau chóng bị dùng hết (tổn phước mau chóng), nhưng sự chứa nhóm phước báo ngược lại rất khó khăn, lập tức khiến có một ngày, đó là người trời cũng có “tướng suy” hiện khởi; Chúng ta có thể nào chẳng “tiếc phước” ư? phước báo là việc khó được mười phần!

Chúng ta đọa lạc bỡi vì hưởng thụ phước báo mà không biết quí tiếc để tạo thành, rõ ràng cần tiêu nghiệp chướng thì trước nhất cần phải tiếc phước, nên theo tốt mà xua đuổi xấu, càng cần phải tiếc phước mà không bỏ phước.

+ Con người cần phải có “luật của mình”, gọi là: “Luật của mình” tức là có thể dùng lý trí để trói buộc tư tưởng và hành vi của mình, chẳng ghen ghét, chẳng cầu cạnh, không oán giận, không khoe khoang, chẳng phóng túng, chẳng phí phạm, hay nhẫn nại, tự trọng tự ái, giữ nghĩa an thân, khoang thứ tiếp người.

+ “Quân tử an mạng, bất khả cưỡng cầu”; Phàm việc gì cũng đều ra sức chính ta, mong cho được tâm an mà thôi. Mưu sự ở nơi người, thành sự do trời, tự hỏi đã làm thiện hết chức năng và bổn phận chưa, thì có thể không thẹn không dối, bất tất gì việc vọng mà ganh cầu. Có chỗ nói rằng: “Không vọng cầu thì tâm an, không vọng làm thì thân an”. Ngoài việc vùi lấp oán hận ra, cũng không được tự khoe khoang, tự ngạo nghễ, tự mãn, tự kiêu. Cần phải làm cho được: “CHÁNH để ứng xử tâm, LIÊM (ngay thẳng) để làm luật lệ cho mình, CUNG để trên công việc, TÍN để tiếp vật, KHOANG DUNG để đãi người, KÍNH để thừa hành công việc”. Thường xuyên lúc nào cũng giữ nghĩa an thân, mọi việc đều nên trách lấy mình tha thứ cho người, thì tâm và cảnh hòa bình, tất cả bực tức phẩn nộ tự nhiên không cách nào phát khởi.

Cần phải tránh khỏi những mưa gió bạo tàn của sự biến họa tâm lý bi quan, phẩn nộ và ưu sầu xâm nhập.

+ Không nên muốn quản lý người ta, quản lý vợ con, anh em, bạn thân, phàm là chiếm được thế bề trên đều muốn quản lý, cưỡng người cho là đồng mình, cường điệu tự ta, quên mất sự tồn tại của người khác, giận dỗi, bực tức, khổ đau đều là do sự quản lý mà ra cả. Người trí thà có thể bị người khác quản lý, mà chẳng đi quản lý người ta để chuốt lấy phiền não. Chỉ cần đức hạnh tốt, ngay thẳng, lời nói tròn đầy, chẳng quản lý người, thì cũng sẽ được người khác tôn kính.

+ Riêng dung túng mình, lúc trời nóng thì nói: “Ngày hè chói chang ngủ là tốt nhất”, lúc trời lạnh, tự dặn mình đừng ra khỏi tổ ấm, để khỏi bị lạnh lẽo, công việc ngày hôm nay thì không làm xong, lại dùng cách qua loa tắc trách bảo rằng: “còn có ngày mai”, lúc tìm cầu hưởng lạc thì ngược lại nói: “sáng nay có rượu sáng nay say”. Dung túng người khác không phải là một việc tốt; Dung túng chính mình lại dễ chuốt lấy phiền phức.

+ Người thường có thói quen chỉ trích người khác, sẽ không biết tự xét mình, chẳng thể chấp nhận sai lầm, thiên kiến và hấp tấp, chẳng trải qua sự nắm chắc và xét nghiệm.

+ Một người nếu buông lung lòng ham muốn, chẳng kiểm thúc và tự chế hơn, rốt cuộc chắc chắn sẽ không thành một việc gì. Nên cần luyện tập chẳng dứt để chặn đứng “thất tình lục dục” trong tâm, chẳng bị lung lay vì chúng nó; Nên phải phục tùng mệnh lệnh của lương tâm, để nuôi dưỡng thành lực phán đoán phân biệt thiện ác, mới có thể tự chủ tự tại một cách chân chánh.

+ Gặp việc “đắc ý” thì hớn hở như cuồng, gặp việc “thất ý” thì buồn rầu lo lắng, hoàn toàn tùy thuộc vào những cảnh hoặc vui hoặc buồn ở trước mắt, tự thân không có mảy may sức làm chủ, lại còn làm sao bàn đến việc tu tâm dưỡng tánh nhẫn nại được ư!

Khổ, vui, thuận, nghịch đều là trong khoảng một niệm. Ở trong nghịch mà chẳng vì bị nghịch, bèn hóa nghịch làm thuận, chuyển phiền não thành bồ đề. Có lúc may mắn và không may mắn, chẳng ở nơi hoàn cảnh mà quyết định, mà ở nơi cảm giác chủ quan của chính mình vậy. Có lúc gom cảnh để kiểm tra tâm, càng ở chỗ đắng cay càng cảm thấy an tâm.

Chẳng luận là vui hay buồn, là phong phú hay khô gầy, là giàu có hay nghèo khó? Đều là một cái gặp được, từ bên ngoài đem tới, những tâm tình nầy đều nên thảng nhiên mà đối diện, buồn vui tùy duyên.

Giàu có, quyền thế, ham muốn, ăn uống nhìn sắc, tôn vinh, hưởng thụ... rất nhiều phương diện. Trí tuệ, tu dưỡng, đạo đức, văn chương, chí nghiệp, trí tuệ... nhiều các phương diện. Tâm chẳng đủ, cũng như con trăn nuốt con voi, sẽ thành “nhân của phiền não, mối của tật đố, nguồn của oán hận, gốc của đau khổ, họa của sự hại thân”.

+ Bình thường mặt nở nụ cười, mọi người muốn thân cận, như cả ngày cau có mặt mày để tiếp đãi người, khiến người tránh xa, việc không như ý sẽ đến với anh. Mỉm cười là phương cách hay để xa lìa tai họa.

+ Phật giáo nêu rõ đời người có sinh, già, bệnh v.v... các đau khổ; Lại nói: “Đời người vô thường”. Cho là muôn sự muôn vật trên thế giới, đều là nhơn duyên tạm có, đều là rõ dứt muôn biến, cho nên nói rằng tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ đều là hư huyễn, do đó khuyên người đời chẳng nên chấp trước thái quá, tức là tham luyến chẳng xả.

+ Người niệm Phật bình thường tức phải buông rời thân tâm, chuyên chí nơi tịnh niệm. Một mai sinh bệnh, lại ở trong sự bệnh hoạn mà thể nghiệm cái thân “bất tịnh” của sắc thân. Do vậy, có bệnh thì cần phải trị thuốc là nguyên tắc, trong thời gian trị liệu đương nhiên cũng có thể đồng thời tiến hành “Sám hối”, làm thiện, niệm Phật để cầu chuyển biến nghiệp báo, sớm ngày bình phục. Nếu muốn hoàn toàn nương vào sức niệm Phật, làm thiện, cầu cho bệnh bớt, thì khả năng nhân chuyển điều kiện nghiệp báo sẽ chẳng đủ mà thất bại, khiến kết quả xem được, so ra còn tồi tệ hơn trị liệu bằng bác sĩ. Do đó, người đương sự phải tin sâu nhân quả, kết quả chẳng khả quan nếu có phát sinh thì không oán, không hối, chẳng được vậy thì không nên tùy tiện buông bỏ sự trị liệu của bác sĩ. Xin nói với tất cả mọi người rằng cả hai việc đồng thời tiến hành so ra là lý tưởng. Nhưng nếu có hoạn mà bệnh, y học không có cách nào chữa trị, thế thì chỉ tốt nhất là nương vào “sám hối”, ngăn chặn việc sát sinh, nên ăn chay, niệm Phật, làm việc thiện, cầu Phật Bồ Tát Từ bi gia hộ cho sớm ngày được bình phục khỏe mạnh như cũ.

+ Người không bệnh nặng thì được rồi, bất tất vì bệnh nhỏ trên thân mà buồn rầu khổ não, đã chết chẳng được, còn so tính những gì, người ăn lương thực ngũ cốc thì ai không đau bệnh ư!

+ Coi nhẹ mình là Bát nhã (trí tuệ), xem trọng mình là chấp trước. Chúng sinh có phiền não là nhân vì có sự quan hệ của “Ngã chấp”, bỡi sự tư riêng của NGÃ là lớn, chẳng những khiến mình đau khổ, mà còn ảnh hưởng những người xunh quanh cùng đau khổ. “Quên Ngã” mới có thể ở trong sự tu tâm dưỡng tánh, tạo cho thân tâm khỏe mạnh, nhân sinh quan hạnh phúc.

+ Hàng ngày tham cứu pháp nầy, tông kia; Hàng ngày cái nầy không hiểu, cái kia không biết, học Phật tu hành thì thành một việc khổ sai. Rời cái chướng của chữ nghĩa, đó là chơn tu hành. Chẳng cần kỳ vọng rất cao đối với kinh Phật. Con người đối với thân thể, công sức, hành động mà nói thì vô lượng pháp môn là việc khó khăn chẳng tác động được người khác, bỡi vì họ không có nghĩa vụ gì để mà học cái “vô lượng” ấy. Chỉ có người trốn tránh trong đống sách, mới có thể “tham” cái vật báu vô lượng ấy, bỡi vì những điều nói trên sách đều tốt, cái nầy tốt, cái kia cũng tốt; Thiền tông tốt, Mật tông cũng tốt, Tịnh độ tông càng tốt... mọi người đều nói tốt!

+ Phật giáo cho là: “nhiều ham muốn là khổ”; Ham muốn rất nhiều, thường là gốc rễ của phiền não và khổ đau. Do đó khuyên người nên: “ít ham muốn và biết vừa đủ”. Mỗi người đều phải đong đo tài trí của mình để quyết định sự nhiều ít của lòng ham muốn; Nếu tài trí của mình không đủ, mà ngược lại cả ngày tưởng mộng nghĩ suông, đâu chẳng phải là tự chuốt tìm phiền não sao? Nhưng nên nhớ rằng, Phật giáo thật ra không cần chúng ta “dứt ham muốn”, mà chỉ nói “ít ham muốn và biết vừa đủ”. Thậm chí đến nỗi làm tổn thương thân thể, cũng là việc không được chấp nhận trong Phật giáo.

+ Học Phật tu hành mà ở nơi hoàn cảnh “thái quá” và “bất cập”, trên cơ bản là nhân chướng ngại. Hoàn cảnh quá tốt đẹp thoải mái, tâm không dễ yên tĩnh; Còn “khổ hạnh” thì dinh dưỡng không tốt, ngủ nghỉ không đủ, tạo nên sự thiếu hụt cho sức khỏe, trái lại bị lùi sụt; Cho nên hoàn cảnh lý tưởng là chẳng khổ chẳng vui.

+ Lúc đức Phật còn tại thế, nói pháp bốn mươi chín năm, những lời dạy dỗ của Ngài không việc gì là chẳng chỉ dạy cho chúng sinh sự thật đau khổ của sinh tử luân hồi, chỉ cho chúng sinh đạo lý (phương pháp) để: “Liễu sinh thoát tử”.

Pháp môn của đức Phật nói rất nhiều, sâu có, cạn có, khó có, dễ có, từng việc từng việc chẳng đồng (giống) nhau. Pháp môn và căn khí nếu tu mà chẳng khế họp với nhau, thì dùng sức nhiều mà thu được hiệu quả ít; Còn nếu cùng với căn khí khế họp nhau, thì dụng công ít mà thu được hiệu quả lớn. Ở lúc mạt pháp nầy, căn khí của đại đa số chúng sinh cùng với một pháp môn nào là khế họp nhất ư? - Nói ra thì chỉ có: TỊNH ĐỘ TÔNG với pháp môn “Trì danh niệm Phật”. Bỡi vì tu qua loa pháp môn khác, ở trong đời ác năm trược (kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược) nầy là khốn khó; Nếu chuyên tu “Pháp môn trì danh niệm Phật”, thì nương vào sức nguyện đại bi của Đức Phật A Di Đà mà sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây, được gặp Phật nghe Pháp.

Vì pháp môn trì danh niệm Phật rất là đơn giản, rất là thẳng tắc, chỉ cần kiên trì một câu - Nam Mô A Di Đà Phật - chí thành chuyên nhứt, niệm đến khi: Trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn. Như vậy lúc mạng chung tâm không điên đảo, tức có thể nhờ Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc, không luận là người lợi căn hay độn căn, đều có thể tu hành thọ lãnh.

Cách chung pháp môn đều nương vào tư lực, tu Giới - Định - Tuệ, thẳng đến dứt mê hoặc, mới có thể chứng được chơn (khai ngộ), nói ra thì dễ, trên thực tế không có căn cơ và công phu như nhau thì không dễ gì làm được.

Vấn đề tu hành Phật pháp, phải có tu tự lực và tu tha lực: Như học kinh, tập luật, tu mật, niệm chú, xếp bằng tham thiền v.v... các pháp môn đó là “tu tự lực”, là dựa vào sự nổ lực của mình mà tu thành, đã có thành tựu (khai ngộ) thì ra khỏi ba cõi, nếu không thành tựu thì còn lẩn quẩn trong sáu đường, lại được thân người thì phải tu lại; Tu tha lực cũng nhờ vào nổ lực tu của mình, lại nhờ vào lực gia bị hộ trì của Phật mà sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây. Không luận người thượng trí kẻ hạ ngu, dẫu ít hiểu giáo lý, chưa đoạn được nghiệp mê hoặc, chỉ cần TÍN – HẠNH – NGUYỆN đầy đủ và trì giữ câu danh hiệu Phật, lúc mạng chung tâm không điên đảo, quyết nương nhờ Phật hiệu mà tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

PHÁP MÔN TU: TỰ LỰC và THA LỰC

· TU TỰ LỰC (pháp môn chung):

Nhờ hành trì pháp môn tu tự lực, cũng giống như ra khỏi cửa đi du lịch, không nhờ vào thuyền xe, chỉ nương vào lực của đôi chân mà đi bộ, bỡi khổ nhọc nên bước đi đó cũng chậm lại, rõ ràng nhờ vào sức lực của mình, từ sáng đi đến tối - từ sinh đến tử - chưa đạt được mục đích. Cũng vậy, ra khỏi ba cõi, đành phải để ngày mai, đời sau lại tu tiếp. Tu tự lực cũng giống như đi học, người người đều đi học, nhưng người có thể được học vị học sĩ chẳng có nhiều, người được học vị bác sĩ càng ít.

· TU THA LỰC (pháp môn đặc biệt):

Tu tha lực, cũng giống như ra cữa đi du lịch, từ sáng xuất hành, lái xe máy đi tới chiều (Mạng chung), mà chưa đến được mục đích (sanh tây), có người lái xe hơi đến tiếp (nhờ Phật hiện ra tiếp dẫn), thì dễ đi đường (pháp môn rất thẳng tắc). Dẫu là người thượng trí hay kẻ hạ ngu, nam nữ già trẻ, người người đều có thể tu, đều có thể thực hành phương pháp pháp môn “trì danh niệm Phật vãng sanh Cực Lạc”.

Học Phật “tu hành” và “giải hành” cùng tiến bộ là tốt nhất, việc đáng tiếc là rất nhiều người tu hành nhân vì thời gian, sức lực và trí tuệ bị hạn chế, có hạn chế hiểu biết về Phật pháp, thường thường nắm không được điểm quan trọng của sự tu hành, mà lại đầy dẫy những cảm giác ngăn trở.

Chúng ta nhận thức một con người, cũng chẳng qua là nhận thức diện mạo thân thể của người đó đại khái mà thôi, thì biết được người đó là ai, sao lại có thể đem cả toàn thân, tay, chân, lông, tóc... từng chỗ của người đó ra mà nhận cho rõ ràng? Học Phật tu hành - pháp môn trì danh niệm Phật - cũng vậy, đâu có thể nào đem toàn bộ tam tạng kinh điển ra mà giải cho rõ ràng? Có thể đem: năm giới, mười thiện, tự tâm thanh tịnh, bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, ăn toàn chay, luật nhân quả đều đã rõ ràng, chấp trì một câu danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật”, tức là đã tu hành. Nắm vào tay từ sự tu thân, chánh tâm và trên thành ý, thân không làm việc ác, miệng không nói lời ác, ý không nghĩ việc ác; Làm việc thiện, nói lời tốt, giữ tâm thiện hành trì.

“Sự lý luận” trong Phật pháp, biết ít không thành vấn đề, vấn đề là biết phương pháp tu hành.

PHƯƠNG PHÁP PHÁP MÔN TU TỊNH ĐỘ

(Trì danh Niệm Phật)

- Phát tâm: Phát bồ đề tâm.

- Tín - Nguyện - Hạnh đầy đủ. Thiếu một thì chẳng thành.

- Chấp trì danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật”, một lòng chuyên niệm, chí thành khẩn thiết, hàng ngày niệm, hàng giờ niệm, đến lúc lâm chung có Phật, nhất tâm bất loạn.

ž Phần sau đây là phần chung, không luận bất cứ pháp môn nào, đều phải biết rõ ràng để ra sức tu hành:

- Tin về luật nhân quả một cách sâu xa.

- Tư tưởng và hành vi nên tuân theo “Bát chánh đạo” mà hành trì.

- Rõ thế nào là ác (chẳng làm các việc ác), rõ thế nào là thiện, (vưng làm các việc thiện), rõ tâm như thế nào mới có thể thanh tịnh (tự tịnh nơi tâm ý).

- Nhẫn nhục.

- Tinh tấn.

- Ăn toàn chay.

- Làm được công đức nên hồi hướng.

- Phạm lỗi cần phải sám hối.

Tu trì pháp môn trì danh niệm Phật tức là mấy câu nói như thế nầy sao? Quá đơn giản; Thế nhưng không nên coi nhỏ những câu nói nầy! Nhìn thì giống như đơn giản, mà làm thì biết rồi, nếu chẳng cố gắng công phu thích đáng, thì thật không dễ gì làm cho thông suốt! Vì người đời nhiều kiếp vốn quen, lại thêm căn tánh kém cỏi nặng nề, tập khí (tâm bệnh xấu xa) lại nhiều. Niệm Phật! Có người niệm lại thành ra “cầu ông thần tài”; Có người ra công gấp rút để việc lợi đến gần, thấy không có cảm ứng thì chẳng niệm nữa, trước thì siêng năng sau thì sa đọa; Có người cho là mười niệm hoặc sớm tối chỉ niệm một niệm tức là đã niệm Phật, thì có thể vãng sanh Cực Lạc, mà chẳng chịu niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật; Có người đã tu được mấy mươi năm, mà còn bị chuyển bỡi hai cảnh thuận - nghịch, bị vây khổn vì tình, bị trói buộc vì ái, ngay cả một chữ “tham” cũng tu hành không thông!

Phàm là học tập một việc gì, cũng cần phải rõ ràng mấy điểm sau: 1- Mục tiêu là gì? 2- Thế nào là có phương pháp hiệu quả? 3- Những nổ lực đã trải qua kia, từ việc người có phương pháp hữu hiệu, đã được thành quả thế nào?

Mục tiêu của pháp môn tu trì danh niệm Phật là vãng sanh thế giới Cực Lạc - thành Phật! Chấp trì danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật”, cùng với trì giới, bố thí, thanh tịnh, tự tâm, nhẫn nhục, tinh tấn, ăn toàn chay là phương pháp hữu hiệu; Trong “Tịnh Độ Thánh Hiền Lục” đã chép thuật sự tích của các bậc cao Tăng Đại đức vãng sanh, đó là thành quả, hơn bốn mươi tám năm - tại Đài Loan - đã xuất bản quyển “Niệm Phật Cảm Ứng Kiến Văn Ký” cũng là chứng minh cho thấy.

TÍN – HẠNH – NGUYỆN

Trì danh niệm Phật, Tín - Nguyện - Hạnh, là ba món tư lương (lương thực để nuôi sống) rất quan trọng và rất cần thiết của vấn đề vãng sanh, thiếu một thì chẳng được! Chẳng có “Tín” thì không thể lập “Nguyện”, chẳng có nguyện thì không thể tuân hành lập “hạnh”. Chẳng có “Hạnh” thì không thể chứng “Tín”, mà đầy đủ được “sở nguyện”.

à TÍN, tức là “tín tâm” (chân tướng tín), tin cõi Ta bà là biển khổ, đời người là khổ, khổ nhiều vui ít, tin lời Phật chẳng luống dối hư huyễn, tin chắc chắn có thế giới Cực Lạc, tin chắc chắn có Phật và Bồ tát, tin rằng ta chí thành chuyên nhất niệm Phật, thì lúc mạng chung Đức Phật A Di Đà nhất định sẽ đến tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Ngay nơi tin thì chẳng được sinh nghi (lơ là), ngay nơi nghi thì không thể vãng sanh! Tín tức là thái độ cung kính chân thành và niềm tin tuyệt đối; Nếu như vừa muốn được lại vừa hoài nghi, thế thì không có hiệu quả. Tín tâm có bốn ý nghĩa:

1 - Tin Phật có công đức lợi ích bất khả tư nghì.

2 - Thường để tâm đối với Phật pháp.

3 - Thường hằng tư duy đạo tu hành, có thể tô bồi thêm lên đức tốt tự lợi, lợi tha.

4 - Học tập đến nơi đến chốn đạo lớn của Phật đà.

“Tín tâm” là căn bản của Phật đạo, suối nguồn của đức tốt, nơi có thể làm tăng trưởng tất cả thiện hạnh, đoạn trừ tất cả mê chướng, ra khỏi dòng lớn ham muốn; Vững chắc tín tâm, phát nguyện niệm Phật. Cầu sanh về thế giới Cực Lạc, tín tâm cần phải kiên cố, chẳng nên lay động tín tâm. Không luận là gặp tà kiến ngoại đạo, hay bất cứ tông phái nào, nếu vui về ngũ dục, đều chẳng nên để cho bị nó làm lay động tín tâm.

Tín tâm vững chắc không dời đổi, thì nên xem xét tâm mình có đơn thuần hay không? Tâm càng đơn thuần thì càng có thể hoàn toàn tiếp nhận được Phật pháp của Đức Phật dạy bảo chúng ta. Trong kinh nói rằng:

“Phật pháp như biển lớn, tin là có thể vào, trí là có thể độ”.

Như vậy đủ để chứng minh rằng nếu thiếu tín tâm, thì không thể vào được pháp Phật. Có rất nhiều người qui y Tam bảo, cũng trì danh niệm Phật, song niềm tin của họ lại tôn sùng ngoại đạo - loại tín tâm nầy là “Bất chánh” (không chánh tín).

à NGUYỆN, là “chơn nguyện”, ưa thích Cực Lạc, nhàm chán Ta bà, nguyện mau ra khỏi thế giới khổ nầy, nguyện mau sanh về thế giới Cực Lạc kia, nguyện tuân theo sự chiếu rọi của pháp Phật, tin chịu vưng làm. Nếu còn tham luyến các việc: giàu có, danh tiếng, quyền thế, người thân, vật chất hưởng thụ... như thế không phải là nhàm lìa thế giới nầy, mà là tham luyến thế giới nầy.

à HẠNH (hành), là tu trì pháp Phật, tin thọ phụng hành, đừng để niệm tạm quên, tu hành tận sức, chẳng gấp cầu lợi, nửa đường bỏ cuộc, chẳng nhìn khác nghĩ lệch, thấu suốt mà làm. Hạnh thì cần phải làm, chẳng phải niệm nói suông là ta học Phật tu hành mà thôi, tức là phải tu dưỡng bằng công phu. Nếu không như thế, thì cũng giống như: Bánh vẽ mà no được đói, trông trái mơ mà đỡ được khát sao?

Do đó, niệm Phật cần phải phát tâm lâu dài, rời xa tất cả tâm tạp nhiễm, tâm nghi ngờ, tâm kiêu xa... cố gắng ráng sức tu hành như thế, vãng sanh Cực Lạc là lẽ đương nhiên, là điều phải đến.

Tín - Hạnh - Nguyện, nếu như có tín mà không có nguyện, là biết có chỗ đến tốt mà không nguyện đến, cũng là uổng vậy. Có nguyện mà không có hạnh, cũng như phiếu chi mà không có đầu, chẳng giúp được gì đối với công việc. Ba việc Tín - Hạnh - Nguyện, là lấy tín và nguyện để lập hạnh (hành), lấy hạnh để thực hiện tín và nguyện.

Người thực hành niệm Phật, tu tập thiện pháp không được sinh nghi, nếu không tín tâm thì nguyện và hạnh không từ đâu khởi, tức là thiếu mất một sức lực tinh thần mạnh mẽ để tiến thẳng về trước. Người nghi ngờ, bị sự nghi che tâm, ở trong các pháp không được tín tâm, vì không có tín tâm nên ở trong sự niệm Phật thật không được gì.

Một người có “nghi kiến” (thấy nghi ngờ), tức đối với chân lý chắc thật sinh lòng hoài nghi do dự. Chúng ta có thể tin chắc niệm Phật tức là nhân duyên phước đức thiện căn rất nhiều. Chúng ta phải nên đừng tin tà kiến, chẳng nghe tà thuyết, cần khởi chánh tín để chế ngự tâm nghi, bỡi nghi là cấu uế, là mờ mịt, là chướng ngại.

Niệm Phật đối với lúc lâm chung, người xưa đã đưa ra ba nghi cần phải đoạn dứt:

1 - Nghi rằng đời ta tạo tội rất nặng, hàng ngày tu hành cạn cợt, e rằng không được vãng sanh.

2 - Nghi tâm nguyện của ta chưa rõ và tham - sân - si chưa dứt, e rằng không được vãng sanh.

3 - Nghi rằng ta tuy niệm Phật, lúc lâm chung, Phật chẳng đến đón ta.

Nếu có một trong ba nghi nầy, thì nhân nơi nghi mà sinh chướng, mất đi chánh niệm, chẳng được vãng sanh.

Nay đây đưa ra cách trừ ba nghi, để mà tham khảo:

1 - Gốc của nghiệp luống mê muội, tâm tịnh thì được rỗng rang, nghiệp nặng bất tất nghi ngờ vậy.

2 - Tình cũng như mộng huyễn, ngủ thức dậy đâu còn? Tự chịu dừng nghỉ, thì tham sân si dứt, bất tất nghi ngờ.

3 - Chấp cái gì mà sinh phiền não? Tất cả chúng sinh chấp trước các pháp thế gian là có thật, đâu biết rằng các pháp xưa nay đều là hư vọng, như hoa đóm giữa hư không, trăng trong nước, cảnh trong mộng, như bóng như huyễn, đều chẳng thật. Qua sông thì dùng bè, đã đến bờ kia, vát bè làm gì? Tức là phải bỏ đi! Sau khi đã tin chẳng nên nghi ngờ trở lại.

Ngày nay thời mạt pháp, chướng duyên đặc biệt nhiều, chính là lúc quần ma múa may, người thực hành niệm Phật phải mọi lúc thường xuyên đề cao cảnh giác - Cổ đức đã chỉ bày, lược nêu ra mấy cách để tham khảo:

1 - Tin không hết lòng; Lòng tin sâu xa rất là trọng yếu, tất có thể sinh năng lực hành đạo, chánh tín niệm Phật, lìa khổ được vui, đồng thời cũng cần hiểu biết chân chánh, chẳng dao động, chẳng sinh nghi hoặc, tâm thanh tịnh không nghi không cấu uế.

2 - Nguyện chẳng thiết tha; Phát nguyện thì nên nhất niệm thành khẩn, phát tâm vô thượng, tâm độ chúng sinh, hạnh phước chư Phật là “lục độ vạn hạnh”, thảy đều hồi hướng mà cầu sanh về thế giới Cực Lạc.

3 - Hạnh không mạnh mẽ; Do tín nguyện phát ra phối họp với lực hạnh, lúc niệm Phật giống như chiến đấu với ma, tinh thần phải mạnh mẽ, có sức bền chí và có thể siêng năng khổ nhọc.

4 - Mặc niệm lơ là; Niệm Phật quan trọng hàng đầu là nhắc bảo cố gắng siêng năng, mới được lực niệm; Giả sử tâm không chuyên chú, thì lực không đầy đủ, khó địch lại “nghiệp tập khí” từ nhiều đời, cho nên ở trong mỗi niệm chẳng quên công đức đại nguyện thành Phật.

5 - Tâm duyên việc đời; Việc đời như dây trói buộc, cho nên nói tình đời bàn một phần, Phật pháp tự có một phần đắc lực, nên lần lược mà cải tiến; Nói rằng tuổi trẻ dễ đi qua, năm tháng không ở lại, đừng lãng phí thời gian, nên tự mình củng cố, muôn duyên đều buông rời.

6 - Yêu ghét chẳng trừ; Phàm phu phân biệt, tập khí nặng nề, cần nên đọc nhiều “Cao tăng truyện”, để mở mang trí tuệ, vì hai tâm yêu - ghét đều là nhơ, không yêu thì không tham, không ghét thì không sân.

7 - Phân tâm; Mỗi người đều có sự hứng thú và tự hào, dễ chuốt lấy sự phân tâm, chẳng thể chuyên nhất, là điều đại kỵ cho người tu hành, ngay nơi niệm sinh tử, như cứu lửa cháy đầu, chuyên niệm A Di Đà Phật khiến thành tam muội, lúc lâm chung chánh niệm, quyết định vãng sanh, gặp Phật được “Vô sanh pháp nhẫn”, trở lại ba cõi cứu độ chúng sinh.

8 - Đề cập kinh điển trong ngoài; Chúng ta nghe có nhiều nhà lý luận tự cho là tài học của mình phong phú, thật thì lúc lâm chung niệm Phật vãng sanh không họp như sự hiểu biết, hoặc người khinh mạn thì tâm nhơ vẫn vậy, tạp nhiễm lăng xăng tâm chẳng an ổn, không thể liễu thoát sinh tử.

9 - Nghe các lời tạp loạn; Đây là bệnh chung của mọi người, nên biết lời vô nghĩa là hí luận, cho đến những chuyện nhân – ngã, phải - quấy, toàn bộ phát ra những lời lung tung, hoặc những lời búa rìu loạn xạ, sao chẳng làm tổn thương người ư? - Nên cẩn thận!

Pháp môn tịnh độ - Trì danh niệm Phật, khó tin nhưng dễ làm, lý khó giải; Kinh “Phật Thuyết A Di Đà” nói rằng:

Niệm Phật pháp môn là pháp khó tin của thế gian”.

Có thể nói rằng phát tâm niệm Phật cũng chẳng phải là đơn giản, ứng với tín và nguyện gọp lại để tiến bộ, niệm niệm là Phật, để mà thoát sinh tử. Niệm Phật lấy TÍN tâm làm NHẤT tâm, có NGUYỆN thì bèn có được định HƯỚNG mục tiêu, thì HẠNH có LỰC; như thế không sợ khốn khó, mặc cho người nào châm chọc coi thường, vì sao vậy? Vì lúc nầy tâm niệm Phật, chẳng bị cảnh chuyển, danh hiệu Phật chẳng dứt, chỉ cầu nhất tâm bất loạn, tâm và Phật đồng ở một nơi, mỗi việc làm (mỗi công hạnh) đều niệm Phật, như thế có thời gian đâu mà để ý đến sự chua ngọt, lạnh nóng!

Người sơ tâm học Phật, thì còn tâm nghi tà kiến, tập khí của tánh tình. Nếu bỏ tà liền được chánh, bỏ nghi liền được chơn, chỉ như thế nầy mới có thể thành tựu được tín - nguyện, khắc phục tánh sa đọa tức có thể khổ nhọc, diệt tập khí tức ngược lại là thanh tịnh; Là chơn, siêng năng, thanh tịnh, như thế thành lập tín tâm. Nếu cầu sinh về tịnh độ Cực Lạc ở phương tây, Tín - Nguyện - Hạnh mà thiếu một thì không thể được. Vãng sanh hay không, chỉ cần hỏi rằng có Tín - Nguyện hay không? Phẩm vị cao thấp, thì nhìn ngay nơi công phu (hạnh) niệm Phật sâu hay cạn?

 CHẲNG TƯƠNG ƯNG: Bỡi tín tâm chẳng vững, lúc còn lúc mất, chẳng chắc chắn.

‚ TÍN TÂM CHẲNG CHUYÊN NHẤT: Bỡi không có sức quyết định, chẳng chịu dốc lòng hết sức mà hạ quyết chí công phu.

ƒ TÍN TÂM CHẲNG LIÊN TỤC: Bỡi tâm tưởng bị gián đoạn, niệm Phật bị gián đoạn.

„ TÍN TÂM CHẲNG CHÁNH: Thay đổi bất thường, gặp sao hay vậy, đã cần tham Thiền, lại muốn học Mật, muốn gom chung hết vào một điểm mới chịu; Hoặc bị tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngủ dẫn dắt, nếu người để ở trong lòng, thì lập tức sai lầm.

Pháp môn niệm Phật không có gì đặc biệt diệu kỳ tốt đẹp bằng, chỉ cần ba món tư lương: tin sâu, nguyện thiết tha, ra sức công hạnh được đầy đủ, thì lúc mạng chung tâm sẽ không thể điên đảo, tức được Đức Phật A Di Đà hiện thân tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc, liễu thoát sinh tử, chóng thành Phật đạo. Chúng ta nếu quả phát tâm niệm Phật đầy đủ ba món tư lương (tín - nguyện - hạnh), thì có thể ba nghiệp thanh tịnh - lúc niệm Phật, mỗi niệm chấp trì một câu danh hiệu Phật, niệm trụ một chỗ, lấy một niệm mà đình chỉ muôn niệm, tức ý nghiệp thanh tịnh; Hai nghiệp thân và miệng đều theo ý nghiệp dắt dẫn sai khiến, ý nghiệp tịnh thì thân không làm vọng, tức thân nghiệp tịnh; Miệng niệm hiệu Phật tức miệng thanh tịnh, Chúng ta đã vì phát tâm tu hành, trì danh niệm Phật, muốn rõ thoát sinh tử thì chắc chắn phải đầy đủ ba món tư lương: tín - nguyện - hạnh.

Phật pháp chú trọng giảng nghĩa rốt ráo, nêu lý thì cần sự thấu đáo rõ ràng, luận sự thì cần phải triệt để không nên lấp lửng một nửa. Giảng nhân quả nếu chẳng rõ ràng lý nghiệp báo luân hồi, thì không thấu rõ; Giảng Từ bi nếu chẳng phổ cập việc chúng sinh thì chẳng triệt để; Mà vả lại hành thiện bỏ ác nếu chỉ nói suông lẽ đương nhiên của nghĩa, chẳng tin sự thật quả báo luân hồi, tâm ngăn ngừa, sợ sệt, cẩn thận, nếu không có, chẳng thể chân chánh thiết tha mà làm việc, thì khó tránh khỏi việc phô bày tự khi dối.

Học Phật tu hành cần phải như pháp mà phụng hành, cần phải khởi lên từ gốc rễ tâm địa sự tiêu trừ nhân ác.

Phật pháp tu hành như thế nào? Nói một cách đơn giản là: Chế phục mình, làm theo lễ, lòng nhân từ, yêu thương vật, chỉ cần thành khẩn là thật lòng, thật làm, chẳng được phô diễn dối gạt chính mình.

Học Phật tu hành do khởi tín mà vào cửa, quí ở chỗ thực hành; Như giới sát là việc cần thiết thứ nhất của người học Phật, mới học chưa thể dứt tuyệt, thì cũng nên mỗi ngày ăn ít một chút, lần hồi mới có thể dứt được, chẳng tham theo khẩu vị, trong nhà không sát sinh mà lấy tiền mua sắm, cũng khiến cho lò mổ sát hại, cũng nên hỏi lòng không thể nào chẳng chia ra gánh vát lỗi đó. Lại học Phật chú trọng khả năng bố thí; Bố thí một là có thể nuôi lớn tâm từ bi hỷ xả. Hai là có thể phá trừ thói quen (tập khí) phiền não tham lam keo kiệt. Cần phải được sự lợi ích thực tế của Phật pháp, nếu chẳng trừ tham - keo, tâm so đo chấp lấy sẽ nổi lên hừng hực, thì tâm từ bi chắc chắn là không chân thật. Mà vả lại tham muốn là gốc khổ của sinh tử, cội nguồn của phiền não. Nếu muốn tìm cách tránh hung, lìa khổ được vui, mà không gắng sức trừ bỏ hai chữ “tham muốn”, thì không có thể giải quyết được! Nếu muốn trừ bỏ tâm tham muốn, trước nhất từ sự bắt tay làm việc bố thí. Bố thí là chế phục mình quên đi công lao của mình, và thí nghiệm tâm đại bi; Nếu tâm Từ bi thiết tha, chế phục mình mà bố thí, là bỡi chúng sinh, thì thân cũng còn có thể xả bỏ. Đâu có thể sát hại sinh mạng để mà khoái miệng mình! Đâu chịu lấy tiền bạc của vật uổng phí để vui cho ý mình! Đâu chịu keo kiệt để giữ vật cho mình chẳng dùng để giúp người, thì đâu chịu cung phụng cho thật hậu hĩ, coi thường người khổ! Cho nên công phu thực hành, trước nhất là phải xét nét trên việc bố thí, nếu ở đây mà làm mang tính cách phô diễn, thì khó mong có được thành tích tốt. Kinh Phật nói rằng: “Nhân nếu không chơn, thì quả chuốt lấy bị cong vạy”. Công đức của bố thí nguyên chẳng phải là ở chỗ lớn - nhỏ, nhiều - ít, mà toàn là nhìn vào lúc phát tâm, ngày thường như thế nào giữ tâm? Sự liên quan nầy cần phải thành khẩn. Nếu ngày thường tham lận phóng túng, cho đến trong nhà có bệnh khổ nguy cấp, nhằm lúc ấy lạy Phật hứa nguyện, quyên tiền thí giúp, cầu bệnh mau tiêu tai, những việc bố thí nầy không có chút nào phát ra từ tâm chân thật Từ bi, làm sao có thể có được sự cảm ứng.

TU HÀNH KHÔNG ĐƯỢC DO DỰ

Người đời nghiệp ngày trước tạo ra có thiện có ác, thiện ác lộn xộn nhau không rõ ràng; Có lúc sinh khởi thiện tâm, có lúc lại sinh ra ác niệm. Do từ vô lượng kiếp đến hôm nay đây bỡi những vấn đề thiện ác nầy, nên ngay lúc tu hành cũng chẳng dễ dẹp thoát được nghiệp báo; Bỡi vậy có lúc muốn tu hành, có lúc lại nói rằng cuộc sống hiện tại tốt đẹp, có lúc muốn tu hành, có lúc lại phải nhiễm ô, đây đều là do niệm sinh ra ở ngày trước, mà đời nầy kết lấy quả nầy. Niệm trước muốn tu hành, niệm sau lại cần cầu phú quí vinh hoa, phước báo trời người, cuộc sống hiện tại có ý nghĩa; Như vậy thì làm thế nào? - “Lựa việc thiện mà theo, chẳng thiện thì sửa đổi”. Cần phải từng lúc mà đề cao cảnh giác, như đi vào vực sâu, như đi trên băng mỏng, cần có tâm cẩn thận như thế nầy để tu hành. Cho nên tu hành là: “Cử động hành vi tự quản lý, đi đứng ngồi nằm chẳng lìa niệm”. Cần nên mỗi niệm đều thanh tịnh, mỗi niệm đều sáng suốt, không nên mỗi niệm nhiễm ô và tối tăm. Chúng ta mỗi một niệm đều cần phải rất là cẩn thận, mỗi một niệm thiện thì sáng suốt rất nhiều, nhưng nếu là niệm ác, thì càng niệm càng tối tăm. Trên đầu người thiện có luồng “bạch quang”, trên đầu người ác có luồng “hắc khí”; cho nên làm thiện làm ác, tự nhiên sẽ hiện ra hình tướng, ta cũng có thể nhìn thấy được người, nhưng nhìn không rõ bằng chư Phật, Bồ tát và quỉ thần.

Không luận là người xuất gia hay tại gia, không nên không chỉ có chẳng lập công ở trong Phật giáo, mà ngược lại tạo nghiệp tội, cần phải biết vì sao từ vô thỉ kiếp đến nay, tóm lại là không thể thoát lìa được cái khổ luân hồi, vẫn là bị mờ mờ mịt mịt! Lại tính toán hồ đồ không trong sáng, thị - phi lộn xộn, nửa nầy nửa nọ thanh tịnh và ô nhiễm (cho đến nỗi có lúc bình thường tu hành mà mất niệm - muốn niệm Phật cũng chẳng được - thậm chí có người khác ở trong thời gian niệm Phật mà anh cũng không biết niệm cùng họ), cho nên không vượt được luân hồi. Chúng ta nếu chân chánh tu hành, muốn sinh thế giới Cực Lạc, thì trước khi chưa vãng sanh, nhất định cần phải tinh tấn mạnh mẽ, không nên biếng nhát, phô bày, tản mạn, đối phó cho qua việc.

Tu hành, là mọi người cần phải làm cho được sự nuôi dưỡng bằng phẩm hạnh và đạo đức, không chỉ là không thể thiếu việc nổ lực hướng thượng, mà còn là việc phải thực hành của một số người trong nẻo mê. Tu dưỡng phẩm hạnh đạo đức, có thể khiến cho tư tưởng cân bằng, hành vi được sửa đổi, tâm hướng thiện, hướng về sự tốt đẹp. Ngược lại nếu lúc bình thường không chú trọng việc tu thân và lề lối chính mình, thì sẽ dẫn đến thành một con người có hành vi tùy tiện, chỉ chăm vào việc tự lợi riêng tư, không thèm để ý đến sự sống chết của kẻ khác; Do đó sửa đổi hành vi một con người, hoàn toàn ở tại tâm - TÂM TỊNH - có thể nói rằng cảnh giới cao nhất thăng tiến tinh thần, cũng ở ngay nơi người đời. Đối xử với sự cạnh tranh, cuộc sống, ham muốn nhiều ở trong xã hội, lại cần có sự tu sửa hành vi như thế nầy; Nó có thể khiến cho người ta không tìm cầu mù quáng, chẳng khởi tà niệm, ít dục vọng, biết vừa đủ là đầy đủ, trong vui vẻ giúp người cứu người. Nhưng tu dưỡng tâm cảnh nầy thật chẳng phải là dễ làm được, cần phải chính mình trong cuộc sống ngày thường tu trì nhiều mặt, không được hư ngụy, chẳng cố tình làm ra vẻ, trong ngoài một mối, mỗi lúc làm được việc gì thì lại tuần tự dần đưa vào cảnh tốt đẹp.

Nhưng ở quá trình tu trì, quyết cần phải lấy sự quyết tâm không so tính, chắc chắn và nghị lực, để khắc phục tất cả nghiệp chướng, như các thói quen xấu ác: ham vật dụng, mê hoặc lợi dưỡng, tham lam, sân hận, lòng dạ hẹp hòi v.v... Pháp luật dạy chúng ta cần đình chỉ việc ác mà hãy làm việc thiện, tâm giữ niệm thiện, tuân làm những việc đạo đức cơ bản làm người, thì cư xử người cần phải được tròn đầy, hài hòa, để mà đạt được mục đích hỗ trợ.

Thời đại mạt pháp hiện tại, tà ma ngoại đạo (tà ma là có ý nghĩa hại người; Ngoại đạo chẳng qua là sự hiểu biết, thấy hiểu của người khác không phải là chánh đáng, phàm là việc không họp với sự tu hành Phật pháp, đều gọi là ngoại đạo) dẫn dụ con người đi vào đường mê, hạng người nầy rốt cuộc đều như thế, căn cơ của những người nầy đều là rất cạn cợt, như thế sẽ đạt được Phật pháp chân chánh chăng? Ngay ở trong một đời nầy tu thành công chăng? - Đức Phật đã nói rồi, tức là thời kỳ mạt pháp có ức ức người tu hành, cũng khó được một người có thể tu thành công; Chỉ có niệm Phật cầu sanh về thế giới Cực Lạc, mới có thể khỏi được khổ luân hồi sanh sanh tử tử nầy. Cho nên ngoài pháp môn niệm Phật nầy, cầu sinh về thế giới Cực Lạc, bất luận dùng phương pháp nào, nếu ở trên một đời nầy tu thành công, trọn không thể được. Nếu là chờ đến đời sau, thì tính xem lại có thể sinh lại làm người không? Hơn một nửa là mê mất, chẳng những chỗ mong đều thành bánh vẽ, vả lại có tạo nghiệp phước nhân, đời sau cũng có nỗi lo đọa lạc!

TU HÀNH CẦN BỀN LÒNG KHÔNG BIẾN ĐỔI

Cây thì lớn lên từng ngày, ta tuy không nhìn thấy sự sinh trưởng của nó, nhưng trong sự không biết không hiểu, nó vẫn lớn lên, cho đến mười năm trăm năm, thì biến thành vật liệu hữu dụng. Cây như vậy, chúng ta tu hành cũng như vậy, không nên gấp rút, chúng ta muốn ngày nay tu hành ngày mai sẽ khai ngộ, không nên như thế; Quyết cần phải tu hàng ngày, tu hàng năm, cũng nên xem nó có tiến bộ gì không, nếu không lui bước thì ta tiến bộ; Chẳng nên cầu mau, chỗ gọi là: “Việc mà gấp tiến tới thì lui cũng mau”. Ngược lại quyết cần phải dùng tâm bền bĩ thường hằng (hằng tâm) để tu hành, hàng ngày cầu sám hối, sửa đổi lỗi lầm; Chỗ gọi là: “Một ngày không có lỗi để sửa đổi, tức là một ngày không có công trạng để tạo”. Cho nên chúng ta tu hành tức là cần diệt tập khí, cải đổi tâm bệnh, bỏ tư tưởng bẩn thỉu, hiện ra ánh sáng quang minh vốn có, trí tuệ xưa nay. Những trí tuệ quang minh nầy là người nào cũng đều vốn đủ có, tiếc rằng bị vô minh ngăn che, không thể khéo dùng trí tuệ quang minh của mình. Vô minh đã ngăn che thì sẽ phải chìm đắm; Nếu ta bừng phát trí tuệ thì sẽ vươn lên. Cho nên tu hành chẳng phải một sớm một chiều, mà là ở ngay nơi niệm, hàng ngày hàng năm đều tu thế nầy hằng thường không biến đổi. Thời gian lâu rồi sẽ mới có thể nuôi thành trí tuệ Bát nhã của chúng ta. Không nên một ngày ráo riết, một ngày nguội lạnh, thế nầy thì vĩnh viễn cũng chẳng thể có công phu, chúng ta tu hành nên học sự trưởng thành của cây cối lớn lên từng ngày, từng ngày thành tâm để tu.

ĐÁNH MỞ SỰ KẾT BUỘC NƠI TÂM

“Phiền não không tìm, không thể có phiền não”. Mỗi người đều có phiền não. Phiền não của chúng ta, cũng giống như sự kết buộc ở trên tâm, tâm kết mà mở không được, vĩnh viễn sa đọa trong vực sâu của phiền não, không cách nào tự vượt ra được. “Nghi Tọa Thiền” chép rằng: - có một lần, Ngài A Nan, đệ tử của Đức Phật, lúc phiền não không dừng được, bèn đến thỉnh giáo Đức Phật, Phật mới đem một chiếc khăn tay ra gút lại nhiều gút, hỏi A Nan rằng: “Đây là cái gì?” Ngài A Nan đáp rằng: “Đây là gút”. Đức Phật nhân cơ nói đạo: “A Nan, ở trong tâm ông cũng giống như gút lại nhiều gút như đây, chỉ cần mở ra từng cái một, ông có thể giải tiêu được phiền não của ông”. A Nan nghe xong lập tức khai giải được tâm ý.

Chúng ta là “Bát địa phàm phu”, rất khó mà giải ngộ ngay được, huống chi nói đến chứng ngộ. Nhưng ở trong sự khai thị cao minh mà đơn giản cần yếu của Đức Phật, chúng ta rất ít lãnh ngộ trên những thứ lớp nào đó cần có; Một, tâm chúng ta xưa nay giống như chiếc khăn tay bằng thẳng không có nếp nhăn, thế thì có gút nào tồn tại? Hai, do ở nơi tưởng vọng làm vọng của chúng ta, mới có sự kết buộc của phiền não, kết buộc nầy là tự chúng ta gút lấy; như mới tu hành vài năm thì đã muốn khai ngộ rồi. Ba, chỉ cần chúng ta bắt tay vào tâm gút kết, chia ra hai bên, gút bèn có thể mở được. Như mà dùng sức kéo đuôi gút, chẳng những mở không được, mà ngược lại càng kéo càng bền chắc. Bốn, quyết cần ra tay từ cái gút - phiền não căn bản - phía trên, cái gút phía dưới sẽ lần lượt được mở. Năm, gút buộc ở tâm được mở, phiền não cũng sẽ không tồn tại lại nữa.

Biện pháp đơn giản nầy có thể làm chẳng đi tìm, chẳng thể có phiền não, nhưng một khi đã có phiền não, cần phải dùng pháp Đức Phật dạy dẫn A Nan: “Đem cái gút trong tâm, từng cái một mở ra”. Tức là đơn giản như thế nầy, như đây mà thôi.

KHÔNG NÊN BỊ MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN DẪN DẮT

Gặp được tốt, nhìn được đẹp, nghe được hay thì cao hứng; Ăn ngon, mặc đẹp, ở sang thì vui vẻ; Người nhà mọi việc thuận ta thì vui lòng thõa ý; Gặp xấu, xem xấu, nghe dở thì nhàm ghét; Ăn sai một chút thì thế nầy không thích ăn, thế kia không muốn ăn, không họp thời trang về đồ mặc thì rầu rầu không vui; Việc nghịch lại thì giận, oán hận; Cả ngày phân biệt ở nơi tốt - xấu, được - mất, khổ - vui, cứ lòng vòng... Đây tức là bị chuyển theo cảnh! Bị mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý dẫn dắt! Chẳng được tự tại. Tốt - xấu, được - mất, vui - buồn, thuận - nghịch, đều chẳng khởi tâm động niệm; Ngay khi khởi tâm động niệm thì đều bị cảnh chuyển, sẽ tạo nghiệp.

VẠN MA KHÔNG ĐẨY LÙI ĐƯỢC TÂM BỒ ĐỀ

Càng ở trong chỗ khó thì càng tinh tấn, khắp tất cả những việc nghịch ý xen nhau dẫn đến đều vẫn thư thái, chẳng oán trời, chẳng trách người.

Càng học tốt thì oan nghiệt tìm; Cần thành Phật thì trước tiên phải bị ma”. Nếu không muốn tốt thì oan nghiệt không thể đến tìm; Càng muốn tốt thì oan nghiệt càng tìm, mong muốn tính toán cho xong nợ trần. Bỡi vì từ vô lượng kiếp đến nay, nghiệp thiện - ác đời đời kiếp kiếp đã tạo ra, nó lộn xộn không rõ ràng, do vậy một ngày muốn tu hành, các chủ nợ vốn có đều đến để đòi nợ. Cũng giống như anh từ trước đến giờ là người bình thường, mượn rất nhiều tiền, không rõ là bao nhiêu. Trước lúc anh chưa phát tài những chủ nợ nầy biết anh không có tiền, cho nên không thể đến đòi nợ. Nhưng ngay khi một ngày nào đó anh phát tài, thì những chủ nợ nầy lập tức đến tận nhà để đòi nợ. Vì sao? Bỡi vì anh đã có tiền, nếu chẳng cần đến anh, thì không có thời gian để người ta phải quay lại. Cho nên trong việc tu hành mà gặp nghịch cảnh, thì nên càng tinh tấn mạnh mẽ mà hướng về phía trước, không được lui mất tâm bồ đề. Lúc chủ nợ đến đòi nợ thì trả cho họ. Tức là đem công đức mình có được, hồi hướng cho bọn chủ nợ - cả kẻ oán lẫn người thân - khiến họ được công đức, mà lià khổ được vui, liễu thoát sinh tử, chúng ta không nên gánh nợ mà không trả!

Vô lượng kiếp đến nay, do mỗi nhân duyên không đồng nhau, đời đời kiếp kiếp không biết đã làm bao nhiêu việc. Thế thì lấy đời nầy nói, chín chắn mà nghĩ, chúng ta đã giết bao nhiêu sinh mạng, đã làm bao nhiêu việc chẳng công bằng? Đối với những chúng sinh khác mà nói, hoặc dẫu không sát nhân, sinh mạng lớn (trâu ngựa, heo, gà, vịt, chó v.v...), nhưng có thể sát sinh mạng nhỏ (muỗi, mòng, kiến, trùng nhỏ v.v...), cũng có thể trong tâm anh đã có ý niệm sát được tồn tại. Giống như có một lúc, vì không biết, mà đã sát rất nhiều động vật nhỏ, hay một ngày nào đó anh đoạt lấy và làm tổn thương sinh mạng của chúng sinh; Nếu anh muốn tu hành, thì chúng nó đều sẽ đến đòi nợ, nợ nầy không phải là một hai món, mà là không thể tính kể hết, đời đời kiếp kiếp được tích lũy qua nhiều ngày tháng, nợ nầy nói cũng không thể xong. Cho nên chúng ta chẳng thể không nói đến lẽ chung, nói ta đã tu hành, mà chẳng nhận có nợ oan nghiệp. Nếu như có cách nghĩ như đây, thì vĩnh viễn chẳng thể thành đạo, bỡi vì trong tâm chẳng công bằng, trong tâm nếu công bằng thì cần nhận rõ, trả nợ thì đã không có việc gì rồi. Cho nên nói là: “Cần học tốt thì oan nghiệp nhiều”. Cũng giống như một người mới phát tài, cho nên bạn nghèo của người đó đều đến nhà để tìm, đều muốn được một chút lợi ích.

Ma, có nội ma và ngoại ma. Thiên ma và tất cả Quỉ được tôn sùng là: “ngoại ma”; “Nội ma” tức là các phiền não và vọng tưởng ở trong tâm, cho đến tất cả những lo buồn khổ não đều là nội ma. Do những cái nầy hay chướng ngại tu hành cho nên gọi là MA. Ngoại ma so ra dễ khắc phục. Nội ma rất khó mà hàng phục; Có thể hàng phục được nội ma, tức ngoại ma cũng chẳng có thể làm hại được. Cho nên tu hành chủ yếu là “hàng phục nội ma”. Nội ma được hàng phục tức tâm thanh tịnh, được mở trí tuệ lớn, có trí tuệ thì có thể dứt được hoặc nghiệp, tức là thành đạo.

“Cần thành Phật thì trước tiên phải bị ma”. Phật được sự trợ giúp của ma mà thành đạo, nếu không có ma thì không có Phật. Ma là để khảo nghiệm ta, khiến ta càng tiến bộ. Cho nên nói là: “Muốn nhìn thấy đến ngàn dặm, lại phải lên một tầng lầu”. Đây cũng là muốn xem thử nội công của anh đã đủ hay chưa? Nếu đủ, thì bất động không lùi trước ngàn vạn ma quân; Tâm bồ đề không thối chuyển. Càng ở nơi chỗ khó thì càng tinh tấn, tất cả những việc nghịch ý xen nhau dẫn đến đều đối xử rất là thư thái. Phải công bằng, chẳng oán trời, chẳng trách người, có thể cái nghịch đến mà ta tùy thuận thọ lãnh, tu nhẫn Ba La Mật, nên có công phu nầy; Cho nên ma chướng đã đến, thì chẳng đối địch với ma, tự mình nuốt một chút thiệt thòi cũng chẳng sao, tự mình nên phát nguyện độ ma, khiến nó qui y Tam bảo, phát tâm bồ đề. Đối với ai cũng đều chẳng nên giận, oán hận, như thế có thể hóa hung thành cát, hóa chiến thành hòa, hóa thù thành bạn. Nếu nói rằng tìm chỗ tốt đẹp ở phương diện ngược lại (làm mà có chỗ không được, thì cầu ngược lại cho mình), chẳng nên làm luật sư biện hộ cho mình, không luận là việc gì: “chơn thật nhận mình lỗi, chẳng bàn cái quấy của người, “đồng thể” gọi là đại từ. Đồng thể, cũng là bao trùm cả ma; Ma cũng là một phần của tự tánh. Nếu tự tánh có ma, thì sẽ dẫn đến ma bên ngoài. Nếu tự tánh không ma, ma bên ngoài sẽ không thể tiến đến. Thế nào là ma của tự tánh? Là tham, sân, si... có câu rằng: “Nếu không có bát mèo ăn, thì nhà không có ruồi”. Ma biết được anh có chút ít béo bở, nó có thể “thừa nước đục thả câu” để kiếm chút ngon, cho nên đến quấy rối anh, mà hiện ra việc ma của nó. Cho nên nhất cử nhất động của chúng ta, một lời nói một hành vi cần phải cho chắc chắn. Nói phải trung tín, làm phải thật kính, chẳng được nói lời vọng. Nếu sợ nhận sai của mình, là rốt cuộc che dấu lỗi lầm, đây chẳng phải là hành vi của người tu hành. Nên phải thành thật mà công bố ra, làm việc rất là thẳng thắng và khảng khái, vốn được chiếu rọi từ lương tâm đạo đức và ý nghĩa để làm việc. Nếu có chỗ chẳng họp với lương tâm đạo đức, thì dứt khoát không được làm.

Phàm người tu cần phải đầy đủ trí tuệ. Trí tuệ chân chánh, tức là không khen chê người khác; Nói: “Anh xem tôi đây này, tôi là số một, tôi thanh cao nhất, mà ngược lại họ thấp hèn như thế”. Phàm là người tự khen thì đã không có tiền đồ, tuy là đang sống, nhưng kỳ thật đã chết rồi, bỡi vì họ đã đi ngược với đạo đức lương tâm, nhìn không được người khác, chỉ biết có mình, đây là người rất không được sự khen vui của Phật và Bồ tát. Nếu muốn được sự vui khen và yêu giúp của chư Phật và Bồ tát, thì lời nói và việc làm một mối, “Nói phải nhìn việc làm, làm phải để ý lời nói”, chẳng mâu thuẩn với nhau. Chẳng nên thường khoe mình tốt như thế nào, đến khi làm việc thì xấu. Người tu hành không nên có tâm riêng tư, tâm tự lợi, cần có lợi ích cho người khác, chẳng nên ráng sức làm thương tổn người để lợi ích cho mình, hoặc nhìn không rõ được người khác, mỗi người nên “hồi quang phản chiếu” (quay lại soi rọi xét nét chính mình), xét coi việc quá khứ, việc hiện tại, lại chiếu xét đến tương lai. Có thể niệm đây ở tại đây (giữ niệm hiện tại), thời khắc không quên lương tâm đạo đức, thời gian lâu rồi, thiện căn tự nhiên tăng trưởng, tâm bồ đề phát lớn, thời sẽ làm đạo Bồ tát, lợi ích chúng sinh, đây là sự quan hệ liên đới.

Người chẳng nên sợ ma, mà thối lui tâm bồ đề, ma chướng chỉ là để xét nghiệm. Cũng như học sinh vừa mới bắt đầu học, cảm thấy bài khóa giáo trình rất khó, nhưng thời gian lâu rồi, học đã nhập môn thì sẽ cảm thấy không còn khó khăn nữa. Từ bắt đầu học tiểu học, trung học, rồi đến đại học, đều có những tình hình nầy phát sinh. Cho nên nói rằng: “Chẳng trải qua một phen lạnh buốt xương, thì làm sao hoa Mai tỏa ngát hương” hay “Mười năm song lạnh không người hỏi, một sớm thành danh thiên hạ hay”. Lúc tu hành chẳng nên cố mong tự đề cao. Người tu hành còn cầu danh cầu lợi, ham muốn lung tung là việc rất không cần. Chúng ta sau khi tu hành, nhất định cần nhận chân được thực tế rõ ràng để tu hành, vun bồi sửa sang gieo trồng hạt giống phước huệ. Tu phước thì cần phải lợi ích chúng sinh, tu huệ thì cần phải niệm Phật nhiều, nghiên cứu tụng đọc kinh điển, thường làm việc lợi ích chúng sinh, thì sẽ sinh ra phước đức. Có người hỏi là có nên dùng tiền tài để làm công đức hay không? - Chỉ cần bảo tồn tâm thiện; Làm mười nghiệp thiện, không có tâm ác; Chẳng làm mười nghiệp ác, đây đều là vun bồi chỗ phước đức, thật ra chẳng phải là nhất định cần dùng tiền làm công đức mới là công đức. Cho nên nói là: “Miệng Từ bi, lưỡi phương tiện, có tiền không tiền đều làm được công đức”. Chúng ta nên mọi chỗ mà tiếc phước, mọi nơi không bỏ phước, đâu đâu cũng tu phước huệ. Tu phước huệ chẳng phải một sớm một chiều được thành, mà năm nầy tháng nọ đều cần phải làm liên tục. “Chẳng nên một ngày dồn dập, một ngày nguội lạnh”, chúng ta nếu là thế nầy, vĩnh viễn chẳng thể có tiến bộ. Cho nên chúng ta cần nhận định “tôn chỉ”, mạnh mẽ tinh tấn, chẳng nên lùi về sau, đây là điều kiện mà mỗi người tu hành nên có.

NHỎ NHẸ KHIÊM TỐN

Gọi là “nhỏ nhẹ khiêm tốn”. “nhỏ nhẹ” tức là tâm rỗng rang (khiêm tốn) không kiêu ngạo, không tự đại, chẳng cố tự đóng chặc bước tiến; “khiêm tốn” là dằng tiếng nuốt khí, là trên thái độ biểu thị “ta ở dưới người”, người khác đều mạnh hơn ta, đều tốt hơn ta. Bỡi vì tâm rỗng rang không có thành kiến, mới có thể hoàn toàn xét nghĩ khách quan, mà có thể tiếp nhận được kiến nghị của người khác. Cho nên cần phải nhỏ nhẹ khiêm tốn ở nơi việc người, ở trên sự tu hành lại cần phải nhỏ nhẹ khiêm tốn, chẳng vậy - vĩnh viễn không thành tựu. Nên biết rằng Đức Phật giảng bình đẳng, tất cả chúng sinh đều bình đẳng, nam nữ già trẻ, phú quí bần tiện, đều một lẽ bình đẳng, chẳng phân đây - kia, đối với họ đều một lẽ khiêm tốn và hài hòa, ở bất kỳ tình huống nào, vẫn tâm bình khí hòa, chẳng sinh bực mình, nhẫn nại đợi chờ, đây mới là nội công tốt đẹp nhất. Chẳng thể nhỏ nhẹ khiêm tốn, như gà cồ thét gáy, có đấu được rồi, công trước bỏ hết, già chết bất thành; việc phàm việc Thánh đều như thế nầy, mong nguyện những người đồng tu cùng cố gắng.

THÀNH TỰU

Chẳng nên tu một thời gian ngắn thì muốn có sự thành tựu ngay, sự thành tựu không phải là việc dễ dàng như thế. Như chúng ta học muốn được học vị bác sĩ (tiến sĩ), thì cần phải trải qua: tiểu học, trung học, đại học, thạc sĩ, rồi mới có thể được bác sĩ, trong những khoảng thời gian đó lại trải qua nhiều lần thi cử, nếu có một lần mà thi qua không được, thì học vị bác sĩ cũng mất hy vọng mà thôi, chỉ biết “Nhìn biển bao la mà than dài!”. Niệm Phật tu hành cũng là như đây, nếu chỉ niệm có mấy năm như thế mà muốn có thành tựu, dẫu là người căn khí bậc thượng cũng chẳng có thể mau như vậy đâu! Người tu tự lực mới bàn đến việc “thành tựu”; Bỡi vì người tu tự lực nếu không có “Thành tựu” thì ra không khỏi ba cõi! Cho nên cần có sự thành tựu, mới bàn đến thành tựu. Tu tự lực không nhẹ nhàng thoải mái giống như niệm Phật. Ta chỉ nhìn đến người tu tự lực có sự thành tựu, mà không thấy được sự ăn uống khổ sở, công phu phải ra sức của người tu tự lực. Cũng bỡi vì dễ được như thế, người niệm Phật chẳng bàn đến sự thành tựu, cũng không có thành tựu để bàn, vì khỏi được cái nhân cần có là “Thành tựu”, hễ thêm một việc ở nơi tâm là chướng ngại một việc. Người niệm Phật, lúc mạng chung, biết trước được giờ chết mà chánh niệm luôn được duy trì, tâm không điên đảo, niệm Phật vãng sanh tức là thành tựu!

Chẳng nên tu mới mấy bữa đã mong có sự thành tựu, trước nhất phải xem thử sự dụng công của ta đã được bao nhiêu? Xem thử sử dụng sau khi tu hành, thì biết được công phu tu hành của ta có sâu nhiều chăng! Chẳng ngại làm việc kiểm tra như sau đây:

- ẤN CHỨNG DÙNG BƯỚC ĐẦU:

1 - Sau khi phiền não khởi, chớp mắt đã tiêu mất, rất là dễ chuyển.

2 - Thói quen sâu xa ngày thường hãy còn ưa chuộng, chợt dứt đi mà sửa đổi (Như: chẳng phải do áp lực từ bên ngoài đến, mà chợt tự động ngăn ngừa thuốc, rượu, thịt v.v...), tự động ăn chay.

3 - Gặp việc không đi vào chỗ bế tắc, mà thường từ chỗ siêu việt để nghĩ tưởng.

4 - Gặp việc thường phán đoán quán sát trên nhân quả, tùy duyên, nhân đó mà thích ứng, ở đó mà được thư thái, tâm được - mất đều bình an và điềm đạm.

5 - Ngay lúc gặp gỡ những việc phi lễ (vô lễ) và sỉ nhục, cũng chẳng dễ gì giận dữ và oán hận như ngày trước.

6 - Ít oán trách, ít so kể, ít tranh chấp, ít lao xao rộn ràng, ít phân biệt.

- BƯỚC KẾ TIẾP:

1 - Đối với người có chỗ thân yêu, chỉ là soi xét chỗ thích ứng để mà dẫn dắt, giúp họ có sự tự lập, tự cường, tự trị, mà chẳng phải cả ngày cõng vát chẳng thôi, lo nầy nghĩ kia, phập phồng lo lắng, cả ngày buông không rời.

2 - Đối với sắc đẹp, sự hiển vinh tôn quí, cừu thù ở đời, kẻ vô lại, người tà đạo, lúc ứng phó tâm không thành kiến, dùng tâm bình đẳng bình thường để đối đãi nhau.

3 - Đối với sự vật, tiếp tục, sự ưa chuộng rất là yêu vui, có thể biết đó là vô thường, yêu mà không chấp giữ thì chẳng bị lụy vì nó, dẫu mất đó cũng chẳng cảm thấy khó chịu, chẳng làm nô lệ cho sự vật.

4 - Đối với danh lợi, quyền thế, chuyên môn sở trường, của báu, phạm vi mình có, nên biết là huyễn mà không dính mắt, tùy duyên lấy bỏ, được không vui, mất không buồn, biết phân định đó là vô thường.

5 - Lúc đối đáp giao tiếp, lúc vui hết mình, lúc kinh sợ, lúc lo lắng, lúc cô quạnh... có thể chịu nổi không bị bức bách, nhân sự thích ứng mà tự như vậy, hoặc dứt bỏ buông rời, mảy may không quái ngại.

6 - Đối với hoàn cảnh chẳng tốt đẹp, công việc không thuận lợi, chỗ ở không thích nghi, bề mặt không tốt đẹp... các cảnh nghịch; Đều nên phá bỏ tâm trói buộc, tùy cảnh gặp, nhân đó mà thích ứng, mà an ổn, không lấy việc khổ vui thế tục mà làm khổ vui.

- LẠI BƯỚC KẾ TIẾP:

1 - Nên tự sửa đổi tính cách, như bỏ lìa: đa nghi, keo kiệt, gấp gáp, thô tháo, khéo tính toán, khéo tranh luận, khéo hư vinh, khéo bài xích người khác... những cái riêng của ta cố chấp kết nhóm khó lìa, từ sự câu chấp mà dẹp thoát, mà hào phóng, mà siêu vượt, mà viên thông, mà tự tại.

2 - Gặp lúc thiên tai, nhân họa, bệnh tật, khổ nạn nặng nề v.v... thì biết tất cả sinh diệt vô thường, nguồn gốc không huyễn, nên không buồn không sợ, xử sự thư thái, tùy duyên mà “Nhậm vận”, tự tại vô ngại.

3 - Tuy biết phân biệt nhưng không trụ ở hai tướng, chẳng vì so lường mà sinh vọng tưởng, chẳng vì thương ghét mà sinh phiền não, vào ở “trí không phân biệt”.

4 - Đối với ranh giới thị - phi, chánh - tà thì hoàn toàn rõ chăng? Có tròn đầy rỗng không hay chăng? Lòng dạ có rộng rãi hơn trước hay chăng? Vọng tưởng, phiền não, chấp trước có giảm ít cho đến không có hay chăng? Đối với nghĩa chân thật tự ta thì đã có rõ ràng không nghi ngờ hay chăng? Được “Pháp hỷ” hay chăng? Pháp hỷ thì tinh thần no đủ, không mỏi mệt dễ dàng, thời gian ngủ nghỉ ít đi, tu hành không biếng nhác. Có tinh thần là từ trong pháp hỷ.

Muốn biết công phu tu hành của mình sâu được bao nhiêu? Đức hạnh của mình có được bao nhiêu? (Đã đủ đức hạnh, thì chỗ ở không đóng cữa ngõ mà ruồi muỗi hay các loài trùng nhỏ... chẳng thể tiến vào); Các phần trên, nếu có thể tự ta khẳng định, thì là thành tựu của anh.

Ở thời gian tu hành, gặp bất cứ cảnh giới nào, dù duyên thuận hay nghịch, đều phải cư xử thư thái, thuận nghịch đều phải tinh tấn, xem tất cả muôn sự muôn vật thành là vì chúng ta mà nói pháp, nếu chúng ta rõ biết muôn sự muôn vật đều ở tại thuyết pháp, thì có thể biết chỗ kỳ diệu chẳng thể nói được; Nếu có thể rõ ràng rồi, thì có thể biết bản lai diện mục, là đi trở về nhà, mượn pháp thế gian mà tu pháp xuất thế, chẳng bị muôn pháp mê hoặc, ngay khi tất cả cảnh giới đến, đón tiếp mà hiểu biết, không bị nó chướng ngại, thời gian thế nầy lâu rồi, Phật tánh của chúng ta sẽ hiển hiện; Nguyên nhân không hiển hiện, tức là chúng ta chẳng tiến về trước, gặp thiện duyên thì do dự không cương quyết, gặp ác duyên thì chạy với nó, do đó mà bị dừng giữ lại ở trong đời hiện tại. Cho nên xem không rõ, buông không rời, tóm lại chẳng được tự giải thoát, hồ đồ sinh ra rồi hồ đồ chết đi, chung qui là điên điên đảo đảo, tìm không ra đạo lý như vậy. Đời người nầy tức là đời người hồ đồ, tóm lại cho là mình có thành tựu lớn, có của cải giàu, có sự nghiệp lớn, có danh vọng nhiều, mọi người khen ngợi, vâng làm, trọng đãi, phô trương nhiều! Hiển hách nhiều! Ở trên đời người thế là thành công rồi; Đâu chẳng biết rằng thành công trên đời người, tức là thất bại trên sự tu hành! Ra không khỏi luân hồi! Cho nên cần đưa ra sự tính toán đặc biệt rõ ràng, làm một con người tu hành chân chính minh bạch, đánh phá cửa sinh tử, vượt thoát vòng luân hồi, thế nầy mới là người tu hành chân thật.

TRONG SẠCH TÂM ÍT HAM MUỐN – TRỪ PHIỀN NÃO

Mỗi người đều có rất nhiều phiền não, đây là nguồn gốc dẫn dắt mê hoặc và đau khổ. Người đời muốn thoát ly sự trói buộc của phiền não, quyết cần phải tiến tu năm phương pháp:

1 - Cần có chỗ thấy chính xác. Đối với muôn sự muôn vật trên thế gian, cần nên giữ lấy cái nhìn chính xác, bày rõ quan hệ nhân quả, tin xác thực tất cả cội nguồn của khổ đau, đều khởi từ phiền não trong tâm ta, một ngày kia phiền não đã tiêu trừ, thì khổ đau sẽ tự nhiên không từ đâu sinh khởi. Người đời bỡi do chỗ thấy không chính xác, cho nên mới đối với “muôn sự muôn vật” và “Ngã” đã sinh khởi cái chấp có thật, hơn nữa do không rõ phép tắc sự tuần hoàn nhân quả của việc đời, mà luống tự tăng trưởng mê hoặc. Bị trói buộc ở nơi quan niệm sai lầm nầy, phiền não đương nhiên sẽ không có cách nào tiêu mất, sự đau khổ cũng sẽ theo thời gian mà tăng trưởng. Cho nên nói: Chỗ thấy chính xác là nguyên nhân chủ yếu nhất để tiêu trừ khổ đau.

2 - Cần khắc phục dục vọng. Người đời nếu có dục vọng thì nhất định có phiền não. Cho nên cần phải lấy tâm thanh tịnh để giữ gìn dục vọng sinh khởi từ sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, cần dứt trừ cội nguồn phát sinh phiền não.

3 - Chẳng bị nô lệ vật bên ngoài. Vạn vật ở thế gian là ứng với sự nhu cầu của con người mà sinh, mục đích của mặc y phục là ngăn che và tránh lạnh, cho đến bao lấy những cái xấu hổ bên trong; Mục đích của ăn uống là đủ no và nuôi dưỡng đời sống, để tiện việc tu tập, chẳng được tham lam hưởng lạc, mà chẳng biết đủ đầy. Nếu có thể giữ được cách nhìn chính xác nầy, chẳng bị vật bên ngoài sai sử, thì phiền não không từ đâu mà sinh khởi.

4 - Tâm nhẫn nại phải nên bồi dưỡng cao độ. Không luận là hoàn cảnh hiểm ác bao nhiêu, nếu nhẫn nại khiêm nhường, tất cả phiền não tranh chấp sẽ bị tiêu diệt ở nơi vô hình. Quá nóng, lạnh giá, đói rét, khô khát đều cần nhẫn nại; Gặp bị nhục mạ, chê bai, cũng cần nhẫn nại bình tâm tĩnh khí, quên hết những nỗi bận tâm, lo âu, lửa phiền não không cách nào nổi dậy, cũng sẽ chẳng cách nào thiêu hủy tự thân được.

5 - Xa lìa sự mê hoặc dẫn dụ của cảnh xấu (ác). Chính như người hiền chẳng tiếp gần các loại như: Ngựa chứng, chó điên; Người tu hành cũng chẳng nên tiếp gần hoàn cảnh đầy dẫy hiểm ác, hoặc chỗ ở gần, bạn bè, sách vở v.v... những điều có hại đối với mình, người tu hành nếu xa lìa sự mê hoặc dẫn dụ của các việc hiểm ác, lửa phiền não tự sẽ bình yên dứt mất.

Các món dục vọng của thế gian, tóm lại chẳng ra ngoài năm việc: Đồ vật được thấy ở mắt, âm thanh được nghe ở tai, mùi hương được nghe ở mũi, vị được thưởng thức ở đầu lưỡi, cảm giác được chạm xúc ở nơi thân; Năm cơ quan mắt, tai, mũi, lưỡi và thân nầy tìm cầu cảm giác khoái thích và hấp dẫn, bèn là năm việc ham muốn (ngũ dục).

Con người, hầu hết đều vì dục vọng của bản thân bị hấp dẫn mà chìm đắm trong đó, không xét hiểu được kết quả đam mê ở nơi ham muốn của bản thân thì sẽ phát sinh nhẫn đến tai hại đáng sợ.

Cũng vậy, nếu người ta có thể tu luyện tâm mình, chẳng bị mê hoặc bỡi năm dục, thì không luận là hiện tại hay vị lai, đều có thể không phiền não, không khổ đau, được hạnh phúc mà vui vẻ.

Một con người tham cầu không nhàm chán sự giàu có, danh tiếng, quyền thế, sắc đẹp, thế thì phiền não sẽ không cách nào dẹp thoát được.

Tâm người là nhu nhược mười phần, rất dễ lay động, một chút mà không giữ thần giữ ý, thì sẽ hướng lệch lạc đến ở trong dục vọng đầy những tập khí nặng nề. Ví như xem được, nghe được, muốn được sự vật vui thích, thì sẽ sinh khởi tâm THAM. Xem được, nghe được, gặp được sự vật chẳng thuận ý mình, thì sinh khởi tâm SÂN. Xem được, nghe được, gặp được sự vật đáng sợ, thì sẽ sinh khởi tâm sợ hãi. Trong tâm nếu thường xuyên ở trong cảnh tham, thì tâm tham sẽ tăng mạnh. Nếu thường nghĩ tưởng cảnh sân hoặc cảnh sợ hãi, thì tâm sân và tâm sợ hãi cũng sẽ mạnh mẽ lên từng ngày.

Cho nên cần phải đem mình mà nghiêm túc giữ gìn, phá trừ tất cả niệm tà ác, triệt để dẹp bỏ tâm tham, sân và hại (sợ hãi); Bồi dưỡng tâm chẳng tham, chẳng sân và chẳng hãi sợ. Nếu như tâm chẳng thanh tịnh, hành vi sẽ có mối tệ; Hành vi có mối tệ, thì không thể tránh khỏi phiền não. Do đó, nên thanh tịnh nội tâm, cẩn thận lời nói và việc làm.

PHƯƠNG PHÁP ĐOẠN TRỪ PHIỀN NÃO

1 - Không nghĩ quá khứ, hiện tại, vị lai, tốt xấu, đắc thất, vinh nhục, khổ vui.

2 - Giữ gìn nhãn căn của mình, dùng pháp “bất tịnh” mà quán sát, nếu dùng pháp tịnh mà quán thì sinh ra các món phiền não; Năm căn khác cũng như vậy.

3 - Xa lìa tất cả các việc ác, như sự dụ dẫn mê hoặc của tri thức, bạn bè, ở hàng xóm v.v...

4 - Ở việc ăn mặc, chẳng phải là sự lợi dưỡng tự thân, hay là để cống cao ngã mạn; Đó chỉ là nhiếp phòng cho mạng căn, khiến cho thân được yên ổn; Hai cảnh thuận nghịch cần nên nhẫn; Đói, khát, lạnh, nóng, muỗi, ruồi... bức xúc, tiếng ác đập gõ cũng nên nhẫn, thân thể gặp các bệnh rất là khổ đau, còn có các việc không vui cũng đều nên phải nhẫn.

Người tu hành nếu sinh niệm ham muốn, chẳng chịu trừ bỏ, sinh tà kiến chẳng chịu xả trừ, thì phiền não khởi, chỉ duy lấy chánh kiến, chánh tư duy mới có thể đoạn trừ phiền não.

NGÃ CHẤP

Chấp trước: Chấp là giữ cứng; Trước là dính chắc; Vọng tưởng là lầm lỗi; Chấp trước là giữ chặc lấy lầm lỗi.

Phàm là chấp trước: thân ta, tâm ta, tri kiến ta, khả năng ta, ta lợi hại, ta yêu ghét v.v... đều thuộc về “Ngã chấp”. Chính con người thường lấy NGÃ làm trung tâm, lúc tranh sĩ diện, tranh hư vinh, tranh ý khí, tranh được mất từ công việc, tức là lúc biểu lộ ngã chấp.

Đời người nguyên là vô ngã và chẳng có kiến chấp ngã, ngay khi người ở yên tịnh, lúc chẳng ghét chẳng cầu, không ân không oán, vốn không gọi là ý thức ngã và phi ngã; Kiến chấp về ngã bỡi do phân biệt so đo mà sinh, ý thức vun bồi mà thành, thói quen đã chứa khó sửa đổi mà chấp.

Người thường hoặc dùng thân thể làm “Ngã”, hoặc dùng sự thấy hiểu của tư tưởng làm “Ngã”, hoặc dùng hành vi tạo tác làm “Ngã”, hoặc dùng danh dự - giàu có - quyền thế làm “Ngã”, thậm chí dùng cái thuộc sở hữu làm “Ngã”; Chỗ gọi là “Ngã” ấy, bất quá là một món giả định trên quan niệm mà thôi.

Sợ sệt đời người, lo lắng xã hội, chỉ duyên chúng sinh chấp trước ngã kiến (kiến chấp về ngã), thói quen chứa nhóm riêng tư, người người đều cố tham chấp “cái ta” nầy, bài trừ những cái chẳng phải ta, vì mưu lợi cho “cái ta” nầy, bèn đưa mình lên và ức chế người khác xuống, ở việc đó mưu tính hại nhau, nhiễu nhương không dứt, thành ra tranh chấp, ghét hận, oán cừu, đánh nhau, tàn hại v.v... rất là buồn khổ.

Chấp trước hư vinh, tranh hơn ghen ghét, ỷ mạnh tranh thắng, kích động tổn thương người. Si mê danh lợi, cam chịu làm tay sai, dốc lòng dựa dẫm leo cao, chẳng trừ thủ đoạn, mưu tính hại nhau, trở trái vô thường, bán bạn cầu vinh, làm phản cướp lợi, vì riêng tư mà làm rối, che dối thiện lương, vì quấy làm tồi, tán tâm cuồng bệnh. Tham lam, tranh bá, đoạt lấy, tàn hại, đấu tranh, giết chóc, kết oán.

Thân có: Sinh, lão, bệnh, tử. Vật có: Thành, trụ, hoại, không. Tâm có: Khởi, chấp, chuyển, dứt. Người có: Kết, họp, tản, lìa. Sự có: Lập, hưng, suy, phế. Trời cógió mây bất trắc. Đời cóhọa phước ngày đêm, tùy thời gian chuyển biến, không có hằng thường, việc thế gian không như ý ta ấy, thường thì tám – chín phần mười; người ta ở trong sự chuyển biến không dứt nầy chỉnh đốn hoàn cảnh, chẳng nên đem một mảnh ý thức riêng mình si chấp giằng co, ngoan cố không chịu biến đổi, hoặc “gọt chân cho vừa giày” (làm sai những nguyên tắc đã có sẵn), si mê tự trói buộc, cũng chẳng nên giữ gìn chấp lệch về một phía của riêng mình, rắp tâm cưỡng cầu, cố sức đoạt lấy, hoặc cố ý bẻ cong sự thật, cố giữ ý phá hoại, càng chẳng nên đối với cái không thích riêng mình mà trói buộc ở nơi tình, phóng túng đường tình mạnh mẽ, ý khí tranh chấp, hoặc tìm cừu thù gây sự, đánh nhau rất là hung ác. Ngược lại, quán sát cần nên thấu triệt, lý trí sáng suốt, khi đã rõ ràng ra thì ôm lòng thương xót, nhìn thấu tâm cảnh, nên rất là đạm bạc trong sự ham muốn riêng tư, đối xử với người tốt đẹp hài hòa, sửa đổi công việc một cách tròn đầy bao dung. Chớ nên chấp cái “nhân” của thói quen, chớ nên chấp “tri kiến” mà trói buộc, chớ nên chấp “ngã” mà có sự riêng tư, chớ nên chấp “oán” mà có sự đấu tranh.

LÚC NIỆM PHẬT VỌNG TƯỞNG NHIỀU

- Có những người nói: Lúc ta niệm Phật, không hiểu duyên cớ vì sao, vọng tưởng ở trong tâm ta khởi lên nhiều, do đó niệm Phật không thể chuyên tâm được, muốn trừ vọng tưởng thật là rất khó?

Người ban đầu học Phật, tâm còn thô tháo động loạn nhiều, định lực chẳng đủ, niệm trước dứt niệm sau khởi, niệm niệm liên tục trong một sát na, trọn không dừng dứt. Vọng tưởng tức là nghiệp chướng. Tâm có chơn có vọng, một mà hai, hai mà một; Tâm phàm phu nhảy nhót dong ruổi, niệm niệm luân lưu biến chuyển, chưa từng có một lúc dừng nghỉ, đây là vọng tâm vậy.

Chúng ta có thể lăng xăng loạn động ở tâm tư, không lúc nào ngưng tâm nhứt ý niệm Phật là việc rất tự nhiên, nhân vì chúng ta rốt cuộc còn phải trải qua thời gian ở trần thế, gốc của phiền não vọng niệm đó là đã trói buộc lâu ngày chẳng buông rời, nên bất tất phải tiêu diệt nó. Không có vọng niệm thì không thể phát sinh ra chánh niệm, không có phiền não thì chẳng thể muốn thoát khổ. Mà niệm Phật là chánh niệm, chúng ta còn phải niệm ra câu niệm không dứt đoạn: “Nam Mô A Di Đà Phật”, vọng tưởng không cách nào mọc rễ thì tự động tiêu diệt, chẳng thể lâu dài trói buộc ở nơi chúng ta.

Niệm Phật có vọng tưởng, là chúng ta dụng công niệm Phật soi rọi ngược lại ở trong tâm, do đó mới biết có vọng tưởng, lúc trước không niệm Phật, trong tâm mất đi sự quản lý, chính mình cũng có thói quen không suy xét; Chúng ta niệm Phật là chèn ép vọng tưởng đi.

Hàng phàm phu chúng ta, ban đầu niệm Phật, thì vọng tưởng lăng xăng, tâm không cách nào yên tỉnh được, biện pháp duy nhất là chí thành khẩn thiết niệm chuyên tâm; Vọng tưởng khởi lên không thể bỏ được, càng không thể muốn tiêu diệt nó; Ta niệm Phật của ta, thuận với tự nhiên, thời gian lâu rồi, công phu đến lúc, vọng tưởng sẽ tự nhiên giảm ít cho đến không còn; Nếu muốn vọng tưởng không khởi thì vọng tưởng ngược lại càng nhiều. Có thể nhất tâm bất loạn thì không có vọng tưởng rồi. Rất nhiều người thường xuyên đề cập, lúc niệm Phật còn có vọng tưởng, chẳng qua là chút ít mà thôi. Không nên vì niệm Phật có vọng tưởng nhiều mà sinh phiền não! Công phu của ta đến lúc nhất tâm bất loạn, vọng tưởng sẽ không có.

Niệm Phật có vọng tưởng nhiều, tâm khó qui nhất, phải nhất tâm chí thành khẩn thiết (chuyên niệm - tập niệm thành thói quen sẽ dễ nhiếp tâm hơn), lâu ngày vọng tưởng tự mất. Nếu khó qui nhất, tức nên dùng “Mười niệm nhớ số”. Gọi là mười niệm nhớ số tức là ngay lúc niệm Phật, từ một câu đến mười câu, cần niệm rõ ràng nhớ cũng rõ ràng. Đến mười câu rồi, lại bắt đầu từ câu một niệm đi... không được dùng chuỗi, chỉ nhờ tâm nhớ, nếu một lần nhớ mười câu khó nhớ, có thể phân làm hai hơi, từ một đến năm, từ sáu đến mười làm hai lần niệm; Nếu giữa chừng vọng khởi thì bắt đầu lại từ câu thứ nhất mà niệm. Niệm được rõ ràng, nhớ được rõ ràng, nghe được rõ ràng, mỗi ngày niệm được vài vạn, đều niệm như thế, lâu rồi tự được. Vọng niệm nặng nề thì chăm vào câu niệm Phật vậy. Như lúc chẳng niệm Phật thì lăng xăng sóng dậy, vọng niệm lao xao chẳng dừng, dù khoảng sát na, đâu có thể tỉnh giác được ư.

Như thế nào trừ được tạp niệm? Chẳng tiêu trừ được, nhưng tự phấn chấn tinh thần, dùng một niệm nầy hoàn toàn để nơi Phật, tạp niệm tức không có. Song tinh lực mệt yếu, thì không thể khiến cho tạp niệm không có, lại phải như thế nào? Đạo lực chưa đầy đủ, nhiều những tán loạn, thì thu nhiếp sáu căn lần quay về thanh tịnh. Ngay khi tạp niệm khởi, chẳng nên xử lý nó, cũng chẳng nên chuyển theo nó, mà ta chỉ niệm Phật, sẽ tự nhiên không tạp niệm vậy. Nhưng lâu sau tạp niệm lại khởi, thậm chí ràng buộc không mở được, bất tất phải nóng nảy, chỉ lắng trong sự suy nghĩ của tâm, khiến sáu chữ Hồng Danh phát ra từ tâm, thành tiếng từ miệng, nghe tiếng rõ ràng ở trong tai, trở lại lưu xuất từ trong tâm niệm, xoay vần xâu nhiếp chẳng để gián đoạn, thì tạp niệm tự sẽ không có.

CHẲNG NÊN VỌNG CẦU CẢM ỨNG

Đã từng có nhiều người lần đầu nghe nói “Tịnh độ tông” - Pháp môn trì danh niệm Phật, kinh ngạc đối với một tiếng “Nam Mô A Di Đà Phật” chứa đựng sự thẳng tắt thành Phật rất đơn giản, rất dễ dàng và rất rộng rãi, mà hiện ra nét mặt vui tươi, trong lòng phát ra tâm tình rạng rỡ như là “Ta đã tìm được rồi”. Thế là trên tay lần chuỗi, trong miệng niệm Phật râm rang, bất luận là đi, đứng, ngồi, nằm đều niệm, chuỗi chẳng rời tay, miệng chẳng lìa câu danh niệm Phật, một bộ dạng tu hành thật sự; Trải qua bao nhiêu thời gian, trên kinh đã nói một tiếng niệm Phật diệt được hà sa tội, nhưng ta đã niệm vô số tiếng rồi, mà cuộc sống cũng giống như không có sự thay đổi gì, việc không như ý mà người thường thế tục gặp được, cũng mãi đổ trút trên đầu của ta. Xem người niệm Phật ở trên “Tịnh Độ Thánh Hiền Lục”, mỗi việc đã đầy đủ sự cảm ứng thần kỳ, không chỉ là Thần về thế giới Cực Lạc, thì cũng là gặp thấy được Đức Phật A Di Đà, và Bồ tát Quán Thế Âm, sao ta không có một chút cảm ứng nào? Một khi thất vọng thì chẳng chịu niệm nữa. Trạng thái tâm lý gấp rút cầu lợi như thế thì cầu chẳng được, chỉ biết người khác niệm Phật được cảm ứng thôi, ngược lại không biết họ niệm Phật đã bỏ ra bao nhiêu là công phu? Đã niệm Phật bao nhiêu năm? Lúc niệm Phật “Nhất tâm bất loạn”. Anh niệm Phật đã được bao nhiêu năm? Lúc niệm Phật gió thổi cỏ động anh đều biết đến, vọng tưởng tạp loạn lăng xăng, sáu căn chẳng động - anh làm không được; Chỉ hỏi vấn đề thu hoạch, mà không hỏi vấn đề cày bừa, vọng cầu cảm ứng có được hay không?

Có thể từ niệm Phật mà đạt được chỗ tốt đẹp rất nhiều, là quyết định ở nơi tâm tình và nổ lực niệm Phật của ta. Cũng vậy, người niệm Phật, có chỗ khác nhau rất lớn giữa người có thể niệm và người không thể niệm. Người có thể niệm, rất dễ dàng có thể niệm thoải mái trong lòng; Còn người không thể niệm rất dễ dàng rơi vào sự gấp rút cầu lợi, khô khan, lãnh vực cơ giới hóa, mà mất đi sự hứng thú của tín tâm. Nếu như hoàn toàn tin vào kinh điển, hoàn toàn tin vào nguyện lực đại bi của Đức Phật A Di Đà, nếu như lấy lòng cảm ơn cảm tạ để niệm Phật, cảm ơn có thể niệm Phật thì sao là vận may! Cảm tạ mình có thân tâm niệm Phật, cảm tạ chư vị đại đức tổ sư nhiều đời truyền nên huệ mạng Phật pháp... mà có thể niệm Phật, ắc cần người và việc cảm ơn cảm tạ rất ư là nhiều rồi, ở trong lòng cảm ơn như thế nầy mà niệm Phật, thì tâm tình rất là thoải mái; Nếu như lấy tâm tình vui vẻ để mà niệm Phật, chẳng hiểu là anh được một việc vui vẻ hay không? Niệm Phật A Di Đà, đời sau sanh về thế giới Cực Lạc, có thể chẳng vui sao? Tức khiến không muốn niệm Phật có chỗ tốt đẹp nhiều thế nầy, rõ ràng là bản thân niệm Phật thì có thể khiến tâm lăng xăng vọng tưởng của ta được một đối tượng chuyên chú thanh tịnh, thân tâm an ổn tốt đẹp, tự tại, cũng có thể khiến ta đã cảm được sự vui vẻ rồi.

Chẳng nên đem tâm tình gấp rút cầu lợi, buồn khổ, cầu tha thứ để mà niệm Phật, chẳng nên đem Đức Phật A Di Đà xem như là Thần để cầu tài, cầu bình an, cầu tha thứ... mà niệm Phật. Niệm như thế nầy, sẽ khiến cho niệm Phật là việc thưởng thức nơi tâm và vui nơi mắt mà thôi!

Đã trải qua bao nhiêu thời gian... mà ta không có một chút gì cảm ứng? Cũng giống như đi lên gò núi nhỏ, gian nan niệm Phật đã lâu, phát hiện ra không được một cái gì, ở đó gấp rút đi trở lại, quay về điểm khởi đầu. Trải qua sự nổ lực niệm Phật một thời gian, kết quả là bỏ cuộc giữa đường, bây giờ hồi tưởng lại, cũng rất là gấp gáp cầu lợi, thế là rách việc rồi!

Nếu ta không gấp gáp cầu lợi, chỉ là giống như nước chảy về phía trước một cách vô tâm, nước chảy cuối cùng có lúc tập trung về nơi biển lớn; Tâm linh tịnh hóa không hay không biết đó tóm lại cũng có một ngày sẽ xuất hiện trình độ tiến bộ rõ ràng, có một ngày ta sẽ phát hiện ra chỗ tốt đẹp to lớn đến từ sự niệm Phật, quyết định tâm tình niệm Phật đối với ta.

Nếu như ta giống với cái ta quá khứ, cũng gấp gáp cầu lợi, đem trạng thái tâm ấy mà niệm Phật, cũng có thể sẽ giống như ở trước là bỏ cuộc giữa đường, rõ ràng đã lãng phí đi một pháp môn tiềm năng thâm hậu.

Nếu như ta đem sự tin tưởng hoàn toàn vào kinh điển mà nói, hoàn toàn tin vào sự tốt đẹp vi diệu của thế giới Cực Lạc, hoàn toàn tin vào nguyện lực Từ bi của Đức Phật A Di Đà, ngay lúc ta dùng tâm tình nầy để niệm Phật, nghiệp chướng nhiều đời khởi lên mạnh mẽ, cũng ngăn cản không được sự tiến đến giác ngộ dũng mãnh của ta.

Nếu như Đức Phật A Di Đà trong tâm trong mắt ta không chỉ là một tượng Phật được tôn trí trên khám Phật cúng dường, mà là pháp thân biến khắp hư không, mười phương thế giới chúng sinh chung một thể tánh; Ngay khi ta đem tâm tình thế giới nầy để niệm Phật, tức khiến cho nghiệp tội sâu nặng đều giống như cục băng bộc lộ sự tiêu tan mau chóng dưới mặt trời.

Trước lúc chưa được nhất tâm, nhất thiết là không được nôn nóng trước vọng cầu cảm ứng; Vì sau khi nhất tâm thì đương nhiên có sự cảm ứng. Tâm chưa nhất, mà cầu cảm ứng, tức tâm cầu cảm ứng nầy sẽ là một chướng ngại lớn cho sự tu hành.

CUỘC SỐNG QUA ĐI THÌ TỐT

Người đời vì lập nghiệp, thành gia, sinh con, mua xe, mua nhà v.v... muôn điều bận rộn! Tu hành học Phật không vì những việc thế tục nầy mà bận rộn! Cuộc sống qua đi thì tốt, nếu có ít tiền gởi ở ngân hàng để sinh lợi tức, cũng có thể để sinh sống, sự nghiệp không có thì ngại gì? Cần nên hướng đến việc niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Tiền bạc chẳng phải là vạn năng; Chẳng nên cho tiền bạc là vạn năng, có được tiền là mua được quỉ đuổi được ma.

Tiền bạc nhiều thì lo rầu nhiều; Đã có tiền bạc nhiều thì luôn ở trong sự lo âu và sợ sệt.

Tiền bạc cố nhiên là cần, thật ra chẳng có thể đầy đủ toàn bộ nhu cầu cho tánh tham con người. Ví như sự: khẩn trương, lo rầu, sợ sệt, phiền muộn, rỗng tuếch; Hay là: thoải mái, vui vẻ, tự tại, phấn chấn cũng chẳng thể dùng tiền bạc để đổi lấy được.

Xác nhận tiền bạc ở trong cuộc sống ngày thường là “vật phải cần”, ăn uống, mặc, giao thông, vui vẻ... đều cần đến nó, cuộc sống của mỗi người cùng với tiền bạc rất gần gũi tương quan, nhưng có một ngày lúc tiền sụt giá hay không có tiền, thế thì không thể vui vẻ được.

Cơm hẩm áo thô, vui thú rõ ràng như cũ; Nếu lo lắng lăng xăng không dừng, buồn lo họa hoạn trói thân, thì dẫu mặc gấm ăn sang, cũng chỉ cảm thấy muôn điều sầu khổ.

Chờ khi tư tưởng thông rồi, thấy rõ ràng rồi, thì ta nhiều tiền như thế, cũng chỉ là cái rương! Sau khi tiền nhiều dư dũ, ngược lại bị gặp khổ não và rầu lo rất là nhiều, cho nên đừng vì tiền nhiều mà bận rộn lăng xăng!

Áo mặc, cơm ăn, đến đi, qua lại... những việc người đời đã tốt lại càng muốn tốt, đã nhiều lại càng muốn nhiều, thậm chí dùng sinh mạng để đổi lấy. Nhưng thực tại có thể hưởng dùng thì có hạn, ăn nhiều một chút thì đau căng bao tử, mặc nhiều một chút thì nóng đổ mồ hôi, một thân chẳng thể ngủ hai giường. Vật ngoài thân thì muốn càng nhiều càng tốt, thật ra có thể hưởng dùng được bao nhiêu? Lúc chết đi mang theo được cái gì? Song thì con người rốt cuộc vẫn là con người, cầu lấy trên cơ bản vật chất đầy đủ, mà đừng nên làm dày thêm việc sai quấy; Nhưng nếu đảo lộn gốc ngọn, một khi mê muội tìm cầu cho đầy đủ trên vật chất, rồi thì cho rằng tiền bạc là mục đích của đời người, rồi tự cho là lẽ phải, học Phật tu hành như đây, muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc ngược lại thì trôi mãi trong luân hồi.

Phấn chấn cầu tài, lục đục vì danh, song, dẫu cho kiếm được tiền của rất nhiều, đối với việc vị lai vẫn không hiểu được một chút nào, chẳng nắm chắc mảy may, rốt cuộc mới phát hiện giàu có thật ra không phải mục tiêu của đời người, há chẳng phải là một cuộc bận rộn rỗng không! Người xưa nói rằng: “Ruộng tốt vạn khoảnh, ngày ăn một thăng, nhà rộng ngàn gian, tối lại cũng chỉ ngủ một giường”. Thân ta thật ra sự nhu cầu chẳng nhiều, ngược lại sự xa xỉ ham muốn chính ta và ăn mòn riêng tư, cho đến nỗi cả ngày chẳng thể nào vừa ý, thật thoải mái được. Tuy trên vật chất là giàu có, song sinh mạng ngược lại thiếu vị khô cằn. Đứng về cuộc sống tinh thần mà nói, thì nghèo thiếu không có gì cả.

Thảng hoặc chỉ vì bận rộn, tranh danh đoạt lợi, vơ vét giàu có, thê thiếp đầy nhà, nghiên cứu ăn ngon mặt đẹp, tâm say nơi tiếng tăm sắc dục, cuộc sống vật chất mong cho cao cấp mới có sỉ diện, mới có phong độ, mới có hiển hách... bề bộn bận rộn cả ngày vì danh vì lợi, chứa nhóm ý niệm nầy, tâm thần vì đó mà tiều tụy, không có phút giây yên ổn, lo rầu nghĩ nhớ lớp lớp, mây sầu giăng thảm, khổ não không thể tự tiêu cho đến chết, buồn nầy lúc nào mới tránh khỏi!

Người đời lục đục, hấp tấp bôn chôn, rộn ràng, nhộn nhịp, việc để tìm cầu không ra khỏi hai chữ “danh - lợi”; Sự thật, sau khi thành danh được lợi, ngược lại thì đời người ấy cái khoảng cách với hạnh phúc và khoái lạc rất xa; Bỡi vì danh lợi trọn không có chỗ dùng, mà vả lại được thì khó, mất thì dễ; Chẳng những là cần giữ lấy cái lợi ích ấy mà đã phải phơi lòng treo mật để có được, còn đem sinh mạng để tìm cầu cho cao hơn một bực, do đó lại có chủ định khổ nhọc trọn đời, không được yên ổn.

Làm quan to hay có tiền nhiều mới có sỉ diện, làm công việc nặng nhọc thô kệch, ăn đạm bạc đậu rau thì không có sỉ diện, bị người coi thường; Đây tức là không thấy rõ, tự chuốt khổ não. Kỳ thật, có sỉ diện, là tâm hư vinh làm điều quái gở, cuộc sống đời người mãi mãi trôi chuyển trong sáu đường, tức là tham ái dính mắc vấn đề “có sỉ diện” nầy.

Tiền bạc không phải là ở nơi có nhiều, dùng hàng ngày đủ là được; Làm quan chẳng là phải lớn, mà làm tốt trách nhiệm là được; Mạng sống chẳng phải ở chỗ dài lâu, mà phải khỏe mạnh thì vui. Không tham bên ngoài thì thanh tịnh bên trong, vả lại được nhiều phước; Tâm không xấu hổ thì khỏe mạnh và tuổi thọ nhiều. Có hai việc: Phước - Thọ nầy thì sẽ tốt hơn nhiều so với: Tiền vàng nhiều, sự nghiệp nhiều, con cháu nhiều. Đã nhiều tiền thì sẽ bị chi phối không tốt, là nguồn gốc của tội ác.

Tự ta say sưa, do đó cũng chính ta khen thưởng cho ta, cũng tức là tự mình coi trọng mình. Không có sự tự ti mặc cảm là không chú trọng sỉ diện, không coi trọng mình, cũng có thể thu được cảm nhận đầy đủ và vui vẻ, thảnh thơi tự tại, thân tâm tự nhiên khỏe mạnh thoải mái; Đời người có cảnh giới nầy, lại cầu gì để được người khen thưởng (có sỉ diện).

Sự nghiệp đã lớn, sự tình đã nhiều, công việc đã nặng, ranh giới quan hệ của người lại phải ứng phó cho tốt, việc nhiều tâm phiền, cả ngày bận rộn, khổ nhọc quấy động trong tâm, làm cho thân tâm cứ mãi khẩn trương. Đời người giàu có vốn có định số, chẳng nên giở thủ đoạn trong ý mà cưỡng cầu, nếu được cũng chẳng thể hưởng lâu. Xem rõ những vấn đề đó, coi thường những vấn đề đó, giàu có hay nghèo khó cũng nên để nó thuận với tự nhiên, mà bình thường. Ông chủ nhỏ, người làm công, ngày làm tám tiếng đồng hồ, chẳng làm thêm; Tự hưởng lấy đúng với công sức mình đổ ra, có gì là chẳng tốt? Tiền ít một chút, có thể ước lượng sự thu vào để mà xuất ra, còn dư tiền thì phải khéo giữ, lúc không có công việc thì có để mà ăn, không cầu người khác, không có người tìm tới để đòi nợ, chẳng nóng nảy, chẳng lo nghĩ, một thân nhẹ nhàng, cuộc sống được vui vẻ tự tại.

Phật pháp yêu cầu người đời chẳng nên chấp nơi hư danh, tài lợi, riêng tư trong lòng, ham muốn của người, vật chất... Vì những vấn đề nầy đều là nhân tố chủ yếu của khổ đau đời người. Vì những vấn đề nầy không những khiến cho con người sanh lòng xảo quyệt đoạt lấy, làm thương hại đến đạo lý, mà rốt cuộc rồi còn phải chuốt lấy ngày lâm chung chẳng tốt đẹp yên bình.

Xem thấu suốt sự lý tình người, thì có thể không còn lo nghĩ; Xem không thấu, nghĩ không rõ, thì sẽ tâm phiền toái suy nghĩ loạn động. Phiền não nhiều do hai chữ DANH - LỢI mà ra; Lạc quan nhiều do một niệm CHẲNG CẦU mà có. Không yêu cầu quá sức, thì không có sự thất vọng ngoài ý muốn; Mà đã không có sự thất vọng ngài ý muốn thì không sinh ra sự oán trách. Đem hai chữ “danh lợi” bỏ đi, tâm cảnh bèn sẽ linh thông sáng suốt; Trừ sạch quan niệm “tham cầu”, phiền não tự nhiên trong suốt.

Xem và phá một cách triệt để năm dục - danh lợi, chuyên tâm nhứt ý niệm Phật, không nhìn gió mây biến huyễn, trăng khuyết trăng tròn, xem cái gì cũng đều không động ở bên trong, thế mới là chơn tâm tu hành.

Nuôi con ngừa lúc tuổi già, ngậm kẹo đùa trẻ (niềm vui thú của người già), thời đại đó đã qua rồi. Thời đại biến chuyển, trào lưu biến chuyển, hoàn cảnh cũng biến đổi; “Nuôi con” chỉ là một vấn đề trách nhiệm, một loại nghĩa vụ. Niềm hy vọng thời đại con trẻ nuôi người già đã qua rồi. Con cái trong thời hiện đại cần phấn đấu chính mình, độc lập chính mình, là một gia đình nhỏ, đã không có thời gian và sức lực dư thừa để chiếu cố người già. Nếu lại muốn nuôi con để ngừa lúc tuổi già, không nên ngóng chờ lỗ mũi con cái mà thở, nên nhìn sắc mặt của con cái, thậm chí biến thành vật thừa trong tâm trong mắt của con cái, thế thì thê thảm quá! Con cháu tự có cái phước của nó, chẳng nên vì con cháu mà làm trâu làm ngựa; Con cái lúc còn nhỏ thì nuôi dạy cho tốt, lớn lên thành người rồi thì hết chức phận, nên giữ ít tiền, làm việc học Phật tu hành cho chính mình (Niệm Phật), nên tinh tấn để vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

TIÊU TRỪ NIỆM THAM

1 - Nhìn thấu suốt, phân tích rõ, hiểu được cái gì là CHƠN THƯỜNG, cái gì là VÔ THƯỜNG, biết tất cả không khả năng giữ mãi, có mãi, chấp mãi, cũng không cần lấy nhiều, chứa nhiều, quán chiếu thấy năm uẩn là không, tự nhiên không có niệm tham.

2 - Đời người giàu có vinh hoa, sinh chẳng mang đến, chết cũng chẳng đem theo, được chẳng vui, mất chẳng buồn, tham của người khác làm gì? Vả lại sau khi chết vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì vạn lần tốt đẹp đầy đủ.

3 - Một việc ham muốn mong cầu (dục vọng), ở nơi niệm trọn không chỗ dừng nghỉ, tuy là do tham mà được, cũng vĩnh viễn khó mà đầy đủ; Ngược lại, vọng niệm thì điềm tĩnh chẳng cầu, tuy là ngay nơi không có gì, mà rõ ràng tự được, không mảy may gì là chẳng vui.

4 - Người ta có thể tiêu trừ niệm tham, thì sẽ ít chấp trước, ít tranh đoạt, ít đố kỵ, ít oán trách, khiến cho xã hội có xu hướng hòa bình yên ổn.

TIÊU TRỪ NIỆM SÂN

1 - Niệm sân thường nhân nơi tâm giận mà khởi, tâm giận thường vì sự riêng tư của bản ngã, sự sai lệch của bản ngã, cân lường, so sánh, háo thắng, ỷ mạnh, ưa sỉ diện, ưa hư vinh mà khởi ra; Cho nên gọi là sợ mình chẳng thành mà thành ra giận người. Cần biết rằng người phàm việc phàm, mỗi cái đều có nhân duyên, mỗi cái tự phải nổ lực, mỗi cái đều có phước báo, sao không biết tự trồng ở nơi ruộng phước, mà lại chuyên đi làm cái việc ức chế phá hoại người khác, dẫu tổn hại người mà chẳng ích lợi gì mình!

2 - Niệm sân lại thường còn do nơi tâm oán hận mà khởi, oán hận lại thường nhân nơi hiểu lầm, biết sai, bị xúi dục, bị ly gián, sinh tranh chấp, ôm lòng hiềm khích, nhớ lấy cừu hận, nghĩ sự phục thù v.v... mà khởi ra. Cần nên biết rằng con người đối xử với nhau, phải có đức bao dung cho lớn, có thể nhẫn việc để mà giúp đỡ, nếu còn oán sân với nhau thì kiếp nạn cứ xoay vần, họa báo không dứt được. Huống nữa oán sân với người thì kết lấy duyên ác, người ấy chưa chắc gì vì ta oán sân mà chuyển thành tốt; Ngược lại lượng thứ cho người thì có thể kết duyên thiện, người đó có thể nhân vì ta Từ bi mà được chuyển hóa, cảm hóa.

3 - Ngay lúc niệm sân khởi, người niệm Phật nên chọn ngay mà dùng tuệ giác chiếu để gấp rút chuyển pháp, và làm phép quán “bình đẳng bất nhị”.

TIÊU TRỪ NIỆM SI

1 - Thế gian vốn không có thị - phi, được - mất, tất cả bỡi do tâm huyễn (không chơn) của con người tạo tác giả định, chúng ta nên thận trọng rõ ràng chỗ tạo tác đóù là hợp lý hay không? Là chính đáng hay không? Có ý nghĩa giá trị hay không? Nếu như không nhận rõ xanh, hồng, đen, trắng thì mù mắt chạy theo, si mê vọng chấp, tự rơi vào cạm bẫy, cam chịu sự trói buộc, bèn là việc cực đoan ngu tệ.

2 - Phước báo đời người, mỗi người tự có nhân duyên, tất cả nên tùy duyên, tùy hỉ mà lấy bỏ, chẳng nên mờ mắt mong cầu, si mê trói chặt, cưỡng lấy xảo đoạt, mánh khóe khổ cầu, chỉ là tạo ra những duyên nghiệt ngã, nhân quả trả báo nhau, để hại vô cùng.

3 - Tự đến khuyên người dừng sự tranh cãi là nghĩa cử thiện, khích người đấu tranh với nhau là nghiệp ác. Hãy còn si mê ở nơi tranh chấp tới cùng, đấu tranh ghê gớm, kết cừu báo oán, thì lâm vào thế ngồi trên lưng cọp, tự chuốc phiền toái và não hại người khác, kia đây trái chống, nhiễu nhương trọn đời. Vì việc gì đây? Chớ tạo sai quấy, người Thần đều buồn.

4 - Người niệm Phật, nên hằng giờ phải quán chiếu tự tánh, rõ ngộ bản thể thanh tịnh, phá trừ vô minh, tự nhiên xa rời được si mê.

TIÊU TRỪ NGÃ KIẾN

1 - Sự nhu cầu một ngày của đời người, trăm công việc muốn được chu toàn thì kia - đây phải nương nhau, hợp tác giúp đỡ cho nhau, mới có thể cùng tồn tại cùng hưởng lấy. Nếu miễn cưỡng chia ra: kia - đây, cùng nhau đấu tranh chê bai nhau, thì rõ ràng tàn hại cùng nhau.

2 - Con người quí ở chỗ là khoang dung thông cảm với nhau, vui hòa chung ở, hóa giải oán cừu, vun bồi việc tốt đẹp, mà tránh khỏi sự phát sinh tranh chấp, tạo nên khẩn trương.

3 - Con người mà khi đã muốn làm việt thiện, lợi ích chúng sanh, làm việc phục vụ, rộng lòng bố thí, thì còn e ngại gì nữa vấn đề tiện nghi bị người chiếm đoạt, chỗ ở tốt bị người chiếm lấy? Lại còn sợ gì nữa khi người khác hơn mình.

4 - Cuộc sống nổi trôi như huyễn mộng, chẳng qua đời ta như kẻ lữ hành lặng lội một đời người vài mươi mùa nóng lạnh (năm) mà thôi! Cái ta có: nào chồng, nào vợ, rồi con cái, bạn bè xã hội, quốc gia... thậm chí chỗ gọi là của ta, cũng tạm là nhân duyên giả hợp, duyên phần có lúc hết, qua lại vô thường, chẳng phải chết rồi chấp cho vĩnh hằng, cũng chẳng phải lấy ta làm trung tâm, mà sinh kiến chấp lệch lạc, tư riêng, yêu thương và sân giận.

5 - TA_ ngày hôm qua, chẳng phải TA ngày hôm nay, TA hôm nay chẳng phải TA ngày mai. TA bèn là ở sự biến hóa vô thường tùy lúc, nên chẳng thể được. TA đã chẳng thể được, thì hà tất gì phải tham chấp ở nơi cái TA nầy? Mà đi bài trừ bác bỏ cái chẳng là TA, công kích những gì khác mình, tạo thành tranh chấp, đố kỵ, hờn giận oán cừu, đối địch đấu tranh, tàn hại nhau v.v... biết bao điều đau khổ.

6 - Người phải quay lại quán tự tánh là bản tánh thanh tịnh, chẳng dính mắc, chẳng ô nhiễm, quán sát thế gian tất cả đều “bình đẳng bất nhị”, không oán không thân, cũng không có kiến chấp tướng người tướng ta, tình và pháp cả hai điều mất, người và ta điều không, rõ ràng mà rộng lớn, sao lại có cái thấy (kiến chấp) riêng tư đối với ta?

TIÊU TRỪ CHẤP TRƯỚC

1 - Tâm người thường mỗi khi bị vô minh che lấp, gặp việc chẳng kể là phải - quấy, thiện ác, chủ quan trước tiên, thường ưa chấp lấy. Tâm như keo dính, gặp lợi là chấp lợi, gặp khổ chấp khổ, gặp vui chấp vui (gặp ngã chấp ngã, gặp pháp chấp pháp, gặp thấy (kiến) chấp thấy, càng chấp càng bền chắc, tâm bị chấp sai khiến nên rơi vào mê khổ).

2 - Chấp thì phát sinh cái lực ma sát cản trở mà làm ngăn hại, chẳng chấp thì bốn phía đều không, tất cả sinh hoạt vô ngại, mới dễ giải thoát.

3 - Nhân quả cũng chẳng nên chấp trước, có thể tùy duyên mà gạt bỏ hóa trừ. Nhân ác cố gắng chẳng nên dính mắc, nên cần làm thiện để hóa giải, trọn có lúc được tiêu trừ. Nhân thiện cũng chẳng nên dính mắc, vì bỡi dính mắc sẽ có tướng: Ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả; mà chẳng thể giải thoát.

4 - Đem pháp đời mà nói, ban đầu của đời người, cội nguồn là một tấm trắng không, tất cả phong tục, tập quán, pháp luật, chế độ, phải quấy, chia phân, sang hèn, được mất, cao thấp v.v... đều là sự quan hệ do nơi tâm huyễn giả định bày ra, tạo tác mà lập nên. Nhưng tất cả sự vật sau khi đã lập, thì có sự tương đối, do đó có lợi thì có tệ nạn, quan tâm việc nầy thì mất việc kia, theo duyên chuyển hóa, sinh diệt vô thường, thật sự không thành tâm ý và trạng thái bất biến, cũng không thành tiêu chuẩn và sự cao cả của thói quen bất biến. Cho nên xử sự quí ở chỗ khách quan không câu chấp, trọn không nên thành kiến, đối với tất cả các phép tắc chế độ, hành vi cung cách, dùng đến thì làm, bỏ thì xả buông, mới có thể nhân nơi con người, thời gian, công việc, nơi chốn mà điều chế thích nghi, làm - bỏ phải sáng suốt thích nghi với nhân. Nếu còn chấp lệch lạc một chút trong đó mà nắm chắc chẳng buông rời, ăn lâu chẳng tiêu hóa, mê muội biến thành đần độn, ngoan cố biến thành bệnh tật, tự lụy tự khốn đốn, thì đi đến chỗ ngăn trở chướng ngại, không thể ứng xử với đời được viên dung, vả lại ngu muội mê hoặc chính mình, một đời bị sự sai bảo của kiến chấp và tình thức, bị khống chế và trói buộc, trần lao không hết, phiền não không cùng. Nếu còn đối với những cảm xúc nầy tức từng mức so tính ở nơi tâm, từng giờ chẳng quên ở nỗi nhớ, thì cái thần của tâm bị tước đoạt, liên tục quên mất đường về, tâm chẳng tự chủ, sự não loạn làm sao dứt được?

SỰ CHẾT TỐT ĐẸP

Con người - cầu cái gì? Cầu cuối đời được an lành mà thôi, cuối cùng được tốt đẹp tức là “sự chết tốt đẹp” mà mọi người nói đến. Cuối đời an lành là rất khó! Không thể dùng tiền bạc mà có thể mua được, con người đại phú đại quí không nhất định là đến cuối đời được an lành, người sống lâu trăm tuổi cũng không nhất định được cái chết tốt đẹp. Giả dụ ta thường nhìn thấy người khác trước lúc lâm chung bệnh rất lâu, tình trạng giãy giụa đau khổ như thế, cầu sống không được, cầu chết không xong, anh lúc đó sẽ có thể nói lên lời cảm thán: “ta một đời không cầu gì khác, chỉ cầu mong cuối đời được an lành thì tốt rồi!”.

Người ta lúc lâm chung, đều sẽ khinh hãi sợ sệt, sáu thần không chủ, tay quơ chân đạp, giống như con cua rơi trong than lửa và con kiến rớt trong chảo nóng. Trên thân thể phát sinh sự co giật mặt mày gân thịt, tròng con ngươi (mắt) nở to, thị giác chậm chạp si đần, hơi thở hiện tượng gân rút. Chúng ta bình thường chỉ xem bất quá là cái dáng giãy giụa bên ngoài, kỳ thật, nỗi bàng hoàng, đau khổ, sợ sệt không có sự trợ giúp... ở trong tâm của họ, đó mới là vấn đề bút mực khó có thể hình dung!

Được cuối đời an lành chẳng phải dễ. Cuối đời an lành, tuyệt không có thể nhờ vào sự man mắn, nhất định phải là do “Thật đức” rộng tu Phước - Huệ mới có thể được. Cuối đời an lành có sự quan hệ với thiện nghiệp trong quá khứ, nhưng chủ yếu nhất còn phải là do “đức tốt” đời này của chúng ta và tâm linh an ổn yên tĩnh và hòa bình. Trừ phi chúng ta có thể rộng tích chứa đức, dừng dứt vọng niệm, công phu gắng nhiều; không như thế thì lúc lâm chung rất khó được tự tại.

Cuối đời an lành là tâm không có ngăn ngại, kết quả là sự dẫn dắt của sợ sệt thì cuối đời an lành chẳng dễ dàng! cũng chẳng biết lúc lâm chung sẽ gặp phải chướng ngại gì. Vì sao cuối đời an lành là rất quan trọng ư? bỡi vì giả như một người không phải chính xác là lúc thọ mạng hết, mà là do bệnh nặng, chết treo, họa xe, lửa đốt, chìm nước, thế thì họ có thể chứa hận trong lòng.

Lại nữa, lúc chết đột ngột (hoạnh tử), thân thể chịu nỗi khổ sở rất lớn, trong tâm buồn oán xen nhau, mà còn uất hận bất bình trong tâm.

Cuối đời an lành, có ba việc:

1 - An lành nhỏ: Không gặp hoàn cảnh chết đột ngột ngoài ý, không bệnh mà chết.

2 - An lành vừa: Cuối đời không những không có bệnh khổ, mà trong tâm không có nỗi oán và bệnh bên trong, ngước lên không thẹn với trời, cuối xuống không xấu hổ với đất, an lành vui vẻ mà qua đời.

3 - An lành lớn: Chính mình biết trước giờ chết, mà thân tâm trọn không quái ngại, ra đi rất thoải mái, thậm chí còn có Phật và Bồ tát đến tiếp dẫn, sinh về cõi tịnh của Phật và Bồ tát, đây mới là đời người thành công.

Chúng ta muốn biết (đời nầy của mình có thể có rốt cuộc an lành hay không?) có ngay trong việc làm cuộc mộng từ nơi lúc bình thường của chúng ta, mộng loạn một khi thông suốt, đương nhiên là biễu thị vọng niệm còn có thể được đều phục. Vọng niệm không điều phục, đương nhiên là trượng trương cho việc tu dưỡng không đến nơi đến chốn. Tu dưỡng không tốt, làm sao có thể nắm chắc được cuối đời an lành?

Bỡi vì làm mộng và cuối đời an lành có quan hệ mật thiết thế nầy, nên vị cao tăng đời nhà Minh là đại sư Tử Bá bảo chúng ta rằng: “Nếu muốn thành tựu được mau, sớm có chỗ nắm chắc được cuối đời an lành hoặc vãng sanh thế giới Cực Lạc, thì mỗi ngày sớm thức dậy, nên phản tỉnh cảnh mộng đêm qua, giả sử trong đêm qua chúng ta dấy lên một ác mộng lộn xộn lung tung, sáng nay nên thương tâm chảy nước mắt giống như mất cha mẹ, thì sau đó phải tự quở trách chính mình, sám hối và phát nguyện khẩn thiết, lại càng phải khẩn trương và nỗ lực dụng công. Mỗi ngày đều làm thế nầy, công phu luyện tập tâm trí nhất định tiến bộ rất mau”. Vì để cho chư vị rõ hiểu thế nào gọi là “mộng lộn xộn lung tung”? Ta cần phải trước tiên nói rõ một số chủng loại của mộng. Căn cứ lời chép của “Luật Thiện Kiến”, mộng có bốn loại:

1 - Mộng do bốn đại không hòa; đây là vì do các cơ của thân thể không được đều hòa thích ứng mà phát sinh ra. Ví như lúc mới ngủ mộng thấy núi lở, hoặc bay nhảy trên hư không, hoặc thấy Cọp, chó Sói, đến rượt đuổi v.v... chẳng phải một. Những việc nầy đều là hư giả mà chẳng có thực tại.

2 - Mộng thấy trước; “Ban ngày có suy nghĩ, thì đêm đến có mộng” mà mọi người nói, tức là chỉ do loại mộng nầy, vì trước đã xem thấy những sự việc hoặc hiện tượng nào đó không dứt được, mà sắp đặt tổ hợp nội dung, được nổi bày lên ở trong cảnh mộng, đây cũng là mộng hư giả mà không phải thật.

3 - Mộng trời người; trời thần vì người làm thiện mà thị hiện cảnh mộng cát tường, khiến cho họ tiếp tục làm thiện. Vì người tạo ác mà thị hiện cảnh mộng sợ sệt và không tốt đẹp, để khuyên và ngăn trở họ chẳng nên làm ác nữa; đây là loại mộng chơn thật (có ứng nghiệm).

4 - Mộng tưởng; mộng nầy là nhân vì phuớc đức và tội chướng trong quá khứ của người ta cảm hiện ra. Ví như người có phước đức trong mộng thường gặp sự tình cát tường và làm thiện. Người có tội chướng, thường gặp sự tình sợ sệt và bất thiện. Mộng thấy chúng ta ở nơi việc lễ Phật, tụng kinh, trì giới, bố thí, niệm Phật, cũng là thuộc mộng tưởng. Mộng được sự tình cát tường và làm thiện là chỗ có ích cho việc tu dưỡng đạo đức đối vớichúng ta.

Chỗ gọi là “mộng lộn xộn lung tung”, là chỉ những việc hư giả mà chẳng thật tại, vả lại đối với thềm bực cái ĐỨC của chúng ta lại không phải là cái mộng có ích.

Chư vị rất nên đặc biệt xem kỹ cảnh mộng! Vì cảm thọ ở trong mộng rất là chơn thật, nó là chỉ tiêu tu dưỡng thềm bực đạo đức của chúng ta. Đồng thời dấy lên mộng cũng có ba việc: Thiện, ác và không thiện ác. Mộng được lạy Phật, lễ Phật, niệm Phật, tụng kinh, nghe kinh, nói pháp, làm việc thiện, cứu người... là thuộc thiện và công đức. Mộng thấy mình đi làm việc sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói vọng v.v... những sự tình đó thuộc ác mộng. Mộng thấy củi, gạo, dầu, muối, dạo chơi công ty bách hóa, đi chơi công viên v.v... là thuộc loại mộng không thiện ác. Mộng được làm thiện là có sự trợ giúp cho thềm mức đức hạnh đối với chúng ta, mộng làm ác và việc thế tục lung tung là biểu thị bất lực trong tu hành của chúng ta, nên cần phải sám hối và nỗ lực dụng công mới được.

Trong đây nhân tiện nói rõ thêm một điểm tức là: Tạo ác nghiệp trong mộng, vì nghiệp tâm suy nhược, nên không thể quả báo. Có liên quan ở trên sách giới luật cũng nói rằng: “mộng các ác hạnh như: ăn cắp và tà dâm v.v... không kể là phạm giới”. Vì là hư mà không phải thật, ở trong mộng mà chúng sanh bị ta xâm phạm thì không có sự tổn thất thực chất. Huống nữa chúng ta chẳng có ý phạm giới tạo ác, mà là hạt giống và tập khí trong mộng tâm của ý thức mạnh, nó khống chế chẳng dừng, cho nên mới có thể làm ra mộng. Gọi là “mộng lộn xộn lung tung” ở trong đó nói đến, tức là có mộng có liên quan đến sự tạo tác và việc tạp thế tục.

Chúng ta là người học Phật tu hành, không những có thể cuối đời được an lành (vãng sanh thế giới cực lạc), mà có thể đang ngồi hoặc đang đứng mà chết. Cần nên chí thành tinh tấn, thời gian đến rồi tự hiểu rõ, nên sắp xếp tốt công việc của mình, chuẩn bị đến thế giới Cực Lạc.

Năm tàn sắp hết, chẳng bao lâu là ngày ba mươi tháng chạp, là sau cùng của một năm, nếu chưa chuẩn bị tiền bạc cho thỏa đáng, thì chủ nợ kéo đến, làm sao ngăn chặn được? người ta lúc mạng chung cũng là ngày ba mươi tháng chạp của một đời, là lúc sau nhất của đời người. Nếu chưa đem được lương phạn vãng sanh chuẩn bị trước cho thỏa đáng, thì ắt tay chân quơ cào, ác nghiệp nhiều đời đồng loạt hiện khởi trước mặt, làm sao dẹp thoát? Lâm chung tuy nương sự niệm giúp của người khác, các việc đều như pháp, cũng khó được cậy nhờ, ở chính mình cậy nhờ không được (vì lúc bình thường chẳng niệm Phật, niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật), nhờ nương nhà người ư? Làm sao có thể nương được, cho nên tự mình lúc bình thường tu hành, thì cần thật sự niệm Phật chuyên cần, niệm Phật nhiều, trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn, thì được lâm chung tự tại. Xin khuyên cùng chư vị nhân giả, tóm lại cần chuẩn bị sớm mới tốt.

NGƯỜI NIỆM PHẬT TỐT NHẤT LÀ CHẲNG VỌNG CẦU KHAI NGỘ

Khai ngộ - thật chẳng phải mỗi người tu hành đều có thể thu hoạch được. Người niệm Phật không được vọng cầu khai ngộ mà tăng nhiều thêm một việc ở nơi tâm đầu, thì tăng nhiều thêm một chướng ngại.

Khai ngộ chẳng phải là việc nói dễ dàng như thế, nếu lời dễ dàng như thế thì hàng ngũ Tăng - Ni ở chùa đều đã khai ngộ cả rồi.

Người niệm Phật tập thiền tĩnh tọa, thì tĩnh tọa là “Niệm Phật”, chẳng phải là tham thiền, chỉ quán, cũng chẳng phải là luyện khí. Người niệm Phật tĩnh tọa (ngồi yên tĩnh), là niệm Phật (mặc niệm), niệm cho thuần thục danh hiệu Phật, trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn thì tốt, có thể được niệm Phật tam muội càng tốt. Chẳng nên đem vấn đề khai ngộ làm mục tiêu, coi đó là tâm tình thu hoạch ngoài ý muốn mà tĩnh tọa, ngộ không khai cũng chẳng thể thất vọng, nếu tâm tình và sự việc yên tĩnh mà còn mong cầu vấn đề khai ngộ, ngộ khai không được, Phật niệm cũng không xong, đến lúc cả hai đều rơi vào trống không!

Muốn khai ngộ, cần phải tự lượng mình là căn khí bực nào? Có thể khai ngộ hay không? nếu còn cái tâm muốn khai ngộ, thì trong tâm niệm cũng không thanh tịnh rồi, ngộ làm sao có thể khai?

Tưởng đến sự khai ngộ, thì khởi lên sắp xếp một sự nhận thức rất là cơ bản ứng đối vấn đề khai ngộ, như: tĩnh tọa phải ngồi làm sao? Quá trình điều thân, an tâm, khai ngộ cảnh giới như thế nào? v.v... đều cần có nhận thức, mới có thể lúc ngồi không xảy ra lầm lạc, hoặc được chút kiểu lạ hiển hiện, hoặc được chút huệ hiểu biết, linh cảm giống giống, hoặc như huyễn vọng tưởng, hoặc thấy ánh sáng thấy hình ảnh, hoặc người nói lời ra tức khắc ngộ được, hoặc bị ma dối gạt, lại gật gù đắc ý cho là ta đã khai ngộ rồi!

Khai ngộ chữ “ngộ” nầy là chỉ cho rất nhiều người muốn khai ngộ, cho là ngộ, căn bản không có NGỘ! ngay cả bên kia bức tường cũng nhìn chẳng thấy, khai làm sao ngộ!

Ta chẳng phải là người đã trải qua khai được ngộ, căn bản không có tư cách để làm việc “khai ngộ”, chỉ đem chỗ biết sơ sài nói ra một chút ít mà thôi.

“Khai ngộ” thật chẳng phải là ngồi miết mới có thể khai ngộ, đi đứng cũng có thể khai ngộ, nghiên cứu kinh điển hoặc nghe một câu nói, xem một động tác cũng có thể khai ngộ được, anh là người thượng thượng căn khí mới có khả năng, cũng chẳng phải mỗi lần ngồi hai ba tiếng đồng hồ như thế được khai ngộ, đơn giản dễ dàng như thế sao?

Khai ngộ chữ “Ngộ” nầy, dùng miệng để giảng, dùng văn tự viết đều rất khó mà biểu đạt rõ ràng, nay dùng chữ “mê” để nói ngược lại mà có thể khá hơn một chút; ví dụ như đối với một sự việc, một câu nói, hoặc xem hoặc tưởng, xem hoặc tưởng ở trong đó, đi cũng tưởng, đứng cũng tưởng, ngồi cũng tưởng, tưởng một cách chuyên tâm nhất ý, tưởng... tưởng... tưởng..., tưởng đến nỗi có người khác đến ở trước mặt cũng chẳng hay biết, đây gọi là MÊ, người đời gọi là “sinh si đần”, thậm chí người khác kêu réo anh, anh cũng không hay biết, đây gọi là TRƯỚC MÊ (mắc dính mê), người đời gọi là “thất thần”, mê đến cực điểm (nhập định), mười ngày hai mươi ngày, bèn tỉnh lại (xuất định), muôn cảnh tượng vũ trụ nhìn thấy hết, cũng biết cả, nhìn càng xa, biết càng nhiều, quả vị thì càng cao.

NGỘ, có đại - tiểu ngộ. Tiểu ngộ là ra không khỏi ba cõi, vì sao? Vì ngoài ba cõi nhìn không thấy, cũng không biết! Ví như muốn đi nước khác, mà ngay cả việc mua vé máy bay cũng không biết, thì làm cách nào để đi?

Tĩnh tọa, đầu tiên cần phải điều hòa thích nghi qua lại, khí mới thuận nhẹ nhàng, không biết có sự hít thở, ăn ít cũng không đói (một ngày một bữa, hai ngày một bữa), ngủ ít cũng chẳng mỏi mệt, mới có thể ngồi được lâu (ngồi một hai ngày không đứng dậy). Thân người có ba cái quí: Tinh - Khí - Thần. Tinh đầy thì khí đủ, khí đủ thì thần thoải mái, thần thoải mái thì thân tâm nhẹ nhàng, thân tâm nhẹ nhàng thì khí mới thuận, mới tế nhiệm (tinh tế), mới có thể ngồi được lâu, mới có thể “nhập định”, sau nhập định giống người chết, như đất, còn có thể sống được trở lại (xuất định), ngộ được khai rồi, thật là chẳng thể nghĩ bàn.

Hành dâm, ăn nhiều, vận động kịch liệt, công tác nặng nề, có sự trở ngại cho sự thích ứng thân tâm, cần phải chú ý!

Ăn không cần no quá, tùy theo việc gặp mà an, mới có thể chuyên tâm tĩnh tọa, tập luyện thân tâm. Hàng ngày nghiên cứu vị ngon, ăn cần cho thỏa sự tham muốn cửa miệng, tâm địa như vậy làm sao thân tâm có thể điều hòa thích nghi qua lại.

Có những loại thực vật ăn vào khí sẽ không thuận, cần phải mỗi loại ăn thử mấy ngày, nếu sau khi ăn phát hiện thấy hiện tượng không thuận khí, thì không nên ăn nữa!

Tĩnh tọa cần phải tập thiền định, thống nhất tập trung tinh thần trở lại, yên tĩnh cái tâm là “Định”. Niệm Phật cũng là một phương pháp định, nhất tâm bất loạn tức là “Định”.

Tĩnh tọa cần: An tâm và điều thân.

An tâm: Thì quán không biết huyễn, tưởng mở nhìn suốt, buông rời chấp trước, bỏ lìa bận tâm, trấn nhiếp tinh thần, bài trừ nhiễu nhương, tâm bình khí hòa, an lành tự như. Cũng tức là khiến tâm chuyên chú một chỗ, thống nhất tập trung tinh thần trở lại, chẳng để tâm tán loạn, tâm niệm không khởi và tự tánh bất động đối với tất cả cảnh giới thiện ác, ngoài lìa tướng, trong chẳng loạn.

Điều thân: Là thuận thông thư thái khí mạch, là bài trừ khí do chất tạp trong cơ thể, đả thông khí mạch toàn thân, tiêu trừ bệnh chướng, thân thể thoải mái nhẹ nhàng. Điều thân, chẳng phải là luyện KHÍ điều chỉnh hơi thở. Lúc ban đầu ngồi thân thể có những tình huống không được thích hợp như đau tê hay ngứa ngáy, đây là quá trình bắt đầu, thể chất mỗi người không đồng, cảm thọ cũng khác nhau, lâu ngày có thể lần hồi dẫn đến tự như (như thường). Lúc ban đầu ngồi ngay khi thở ra hít vào (hít thở sâu) thì anh phải biết, biết thôi, không lý giải nó, nên thuận với tự nhiên, qua một thời gian, anh biết ngay nơi khí hít hoặc khí thở, thời gian ngồi ít lâu, lại trải qua một khoảng thời gian khí hít cảm thấy nhẹ thoảng rồi, lại trải qua một khoảng thời gian lúc ngồi giống như không có hít thở, lúc đó thân cũng được nhẹ nhàng, lại qua một khoảng thời gian cảm giác đã không có hít thở, lúc nầy thân anh không nên động. Nếu đã không hít thở rồi, tâm động lên lại biết có hít thở, lại phải đợi một khoảng thời gian nữa mới cảm giác được không có hít thở, lại phải trải qua một khoảng thời gian, gân chẳng động, tâm chẳng lăng xăng mà nhập định. Tĩnh tọa nói cách khác là nhẹ nhàng thoải mái, lại nữa, có người đã ngồi mười năm, hai mươi năm mà còn mỗi khi ngồi chẳng được ba tiếng đồng hồ thì đứng dậy, khí còn đình trệ ở nơi hít thở.

Lúc ban đầu ngồi tốt nhất là có thầy giỏi hướng dẫn, hay tìm mua quyển sách “tập tĩnh tọa” để tự tập luyện, giúp tăng thêm một nửa công việc.

Khai ngộ, thật ra không phải mỗi người tu hành đều có thể đạt được. Tư chất thiên phú của con người không đồng, tinh lực thể chất cũng khác, dùng tâm mà thể hội, chỗ ra công sức có cạn sâu lại là sự quyết định NGỘ và KHÔNG NGỘ! Như xem sách, có người xem hai mươi phút là xem xong một quyển sách, không những có thể rõ hiểu mà có thể tụng lại; có người đến hai tiếng đồng hồ vẫn xem chưa xong, xem mười lần trăm lần cũng không thể đọc lại được. Có người chạy, cũng bao nhiêu cây số, mà chỉ mất ba mươi phút, chạy xong như không có việc gì, có người cũng chạy bao nhiêu cây số ấy, mà ba mươi phút mới chỉ được nửa đường, thế mà mệt đừ thở dốc; Cũng như ăn quá no thì không tiêu vậy. Tuy là tĩnh tọa như nhau, nhưng do thiên tư bẩm sinh chẳng đồng, căn lành có cạn có sâu, sự ra công sức không đồng, khai ngộ cũng có trước – sau, lớn - nhỏ sai biệt, hoặc là không ngộ. Cho nên bất tất vì mình hãy còn chưa khai ngộ mà buồn sầu thương tâm!

Chúng tại gia, vì việc nhà bận rộn, việc xã hội bận rộn, còn vì bận rộn tĩnh tọa, việc nhiều tâm phiền, chỉ lúc yên tĩnh tâm mới sơ sơ có chút ít bình ổn, muốn yên tĩnh cũng không yên tĩnh được, lại chẳng thể nói ĐỊNH, ngộ cách nào khai?

Chúng tại gia muốn khai ngộ thì cần phải chuyên tu! Nếu chẳng chuyên tu, thì việc nhiều tâm phiền, muốn yên tĩnh thì yên tĩnh không được, làm sao có thể nhập định!

Muốn khai ngộ, thì tranh thủ lúc tuổi còn trẻ, người tuổi trẻ thì khí huyết tràn đầy, có thể ngồi được lâu. Già rồi, khí suy huyết kém, xương cốt cứng đờ, tiến bộ có mức bị giới hạn.

Nếu tự cho là đã khai ngộ, cần phải ấn chứng chính ta, chẳng ngại làm việc kiểm tra như sau: Đối với nghĩa chơn thật chính ta đã rõ ràng không nghi hay chưa? Đối với ranh giới phải - quấy, chánh - tà hoàn toàn rõ ràng hay không? có thể viên dung giữa không và có hay không? Phiền não chấp trước thì có giảm ít cho đến không còn hay không? Mỗi việc đưa ra là tự ta khẳng định! Anh cũng sẽ khai ngộ chơn thật thôi. Nếu muốn hành dâm, uống rượu, ăn thịt, ham muốn nhiều, lời nói việc làm chẳng thống nhất v.v... những hành vi phá giới, tức là dính mắc nơi dấu hiệu của ma, cần nên đình chỉ việc tĩnh tọa, siêng năng hơn lên mà sám hối sửa đổi cho chơn chánh, tránh khỏi bị sự vây bủa của ma.

Lúc ngồi, nếu như thấy hào quang, thấy Phật và các cảnh tượng, tất cả đều chẳng nên khoe khoang, tự mình vui, để khỏi bị anh linh bên ngoài khống chế, mà đi vào đường tà; Nên chẳng khinh sợ, chẳng vui mừng, chẳng dính mắc, chẳng xử lý, chỉ là không tưởng đến, không lý giải, để khỏi chướng ngại. Lấy việc chẳng lý giải, chẳng khinh sợ, chẳng vui mừng, chẳng động tâm, anh có thể làm được không? Làm không được thì nên đình chỉ việc tĩnh tọa! Nếu anh vui mừng những việc đó, nghĩ tưởng đến, thế thì những an linh bên ngoài (ma) đó sẽ phụ gá trên thân của anh, anh cho là ngộ đã khai, thì tâm thần của anh bị an linh bên ngoài mê loạn và khống chế, nắm lấy chỗ đó, nó sẽ khiến anh biếng nhác, phá giới và tạo các ác nghiệp.

SỰ HỮU DỤNG SAU KHI TĨNH TỌA DẬY

A - Ấn chứng bước đầu:

1_ Sau khi phiền não khởi thì dễ chuyển, nháy mắt tức tiêu biến. 2_ Đối với thói quen sâu sắc thường ngày hãy còn ham mê, chợt nhiên dứt bỏ mà sửa đổi. 3_ Gặp việc không chui vào chỗ bế tắc, mà thường nghĩ tưởng từ chỗ siêu việt. 4_ Gặp việc thường quán sát phán đoán từ trên lý nhân quả, gặp việc tùy duyên nhân đó mà thích ứng, chẳng nhờ chẳng cầu, tâm được mất bình đạm. 5_ Ngay lúc gặp điều phi lễ hoặc sỉ nhục, đối xử một cách thư thái, chẳng như trước kia dễ sinh giận mà không vui. 6_ Ít bực tức, ít so đo, ít tranh chấp, ít lao đao.

B - Ấn chứng tiến lên một bước:

1_ Đối với những người có quan hệ thân yêu, chỉ là chiếu cố dẫn dắt, giúp họ tự cường tự lập tự trị, mà chẳng phải cả ngày bận rộn không dứt, trói buộc không rời, lo đây nghĩ kia, dốc lòng tận sức thấp thỏm lo âu, cả ngày buông không rời. 2_ Đối với sắc đẹp, vinh hiển tôn quí, cừu địch giữa đời, ngang tàn bạo ngược, vô lại, tà đạo... những con người ấy, lúc ứng phó không có tâm thành kiến, dùng tâm bình đẳng bình thường để đối đãi nhau. 3_ Đối với sự vật hay công việc thường ngày hay thích nhất, thói quen và nỗi đam mê v.v... có thể biết đó là vô thường, yêu mà chẳng chấp, thì chẳng bị nó làm lụy, mất cũng chẳng cảm thấy khó chịu, chẳng làm nô lệ cho sự việc hay vật chất. 4_ Đối với danh lợi, quyền thế, phô trương, sở trường, châu báu đã có, có thể biết huyễn mà không dính mắc, tùy duyên lấy - bỏ, được chẳng vui, mất chẳng buồn, vì biết nó là vô thường. 5_ Ở lúc giao tiếp, vui say, sợ sệt, lo lắng quạnh vắng, có thể dung chứa mà không bị bức bách, nhân sự thích ứng mà bình thường, hoặc dứt khoát buông rời, mảy may không ngăn ngại. 6_ Đối với hoàn cảnh không tốt, sự việc chẳng thuận, chỗ ở không thích nghi, mặt mày không tốt... các cảnh nghịch, có thể phá trừ sự kết buộc của tâm, tùy duyên gặp, nhân đó mà ứng xử, tùy duyên gặp mà an, chẳng lấy khổ vui của cuộc thế tục mà làm khổ vui.

C - Ấn chứng tiến lên một bước nữa:

1_ Có thể cải đổi tập khí xấu, như là xả ly những thói của ta như: Tư riêng, đa nghi, keo kiệt, nôn nóng, thô tháo, ưa so tính ưa tranh luận, ưa làm phiền, ưa hư vinh, ưa bài xích chê bai kẻ khác, v.v... chứa những thói quen cố chấp khó lìa, từ câu nệ mà thoát khỏi, mà hào phóng, mà siêu việt, mà thông suốt tròn đầy, mà tự tại. 2_ Gặp lúc thiên tai, người bị họa, bệnh ách, khổ nạn... một cách nặng nề, biết tất cả sinh diệt vô thường, nguồn gốc là không là huyễn, có thể không lo không sợ, đối xử thanh thảng, tùy duyên mà NHẬM VẬN, tự tại không trở ngại. 3_ Tuy biết phân biệt, nhưng chẳng trụ ở hai tướng, chẳng nhân nơi so sánh mà sinh ra vọng niệm, chẳng nhân nơi ghét yêu mà sinh ra phiền não, vào ở nơi “trí vô phân biệt”.

HỌC PHẬT TU HÀNH CHẲNG NÊN SỢ KHÓ

Thành Phật! Thật là việc rất khó, quyết cần phải có sự trả giá tương đương, mới có thể đạt đến công phu tương đối. Như việc đi làm, mỗi ngày từ sáng sớm dậy đi làm, làm thẳng đến chiều tối mới trở về nhà nghỉ ngơi, cần đổ ra rất nhiều mồ hôi tâm huyết mới có thể lãnh được lương bỗng đúng tháng, chẳng khổ nhọc sao? Rất là khổ nhọc! Tu hành cần được công phu ngang bằng, cũng cần bỏ ra thời gian, tinh thần và sức lực tương đối, như tu hành mà không khó thì chẳng nói đến “tu hành” làm gì. Nếu sợ khó thì chẳng nên tu hành! Chỉ hơi tin Phật, lại cố cầu phước báo trời người, hưởng lấy dục lạc thế gian, quên đi rằng: “Vui đến cùng cực lại sinh buồn!”. Đến lúc đó thì thành ra địa ngục của nhân gian.

Hãy xem cuộc sống của các vị pháp sư, cuộc sống tự cố gắng quá ư là tích cực, nghiêm túc và khắc khổ, tiết kiệm nhiều, chắc thật và tự nhiên. Mục đích tìm cầu của họ là làm sao ngang bằng đến sự cao thượng, thánh khiết và vĩ đại; Ngược lại chúng ta đây lại chạy theo phàm phu danh lợi, rượu thịt, cảm thấy hổ thẹn quá!

ĐUỔI ĐI LO SẦU

“Tâm HỶ LẠC là thuốc hay, cõi lòng buồn thương sẽ khô gầy hình vóc”. Tin rằng không có người nào hiểu được sự vui vẻ hay lo buồn, nhưng nó ngược lại như loại bóng râm bao trùm lấy tâm người, gạt ra không được. Trời từ lời nguyện con người, cố nhiên khiến cho con người vui mừng, nhưng mà đời người việc không như ý có đến tám chín phần mười, ai lại có thể may mắn tránh khỏi ư?

Nhưng có vài người thường thường đối với những chuyện vặt vãnh, nhớ rất rõ ràng, cả ngày chẳng vui, giống như là trên cuộc sống loanh quanh chỉ gặp toàn những người, chuyện vật xem ra không vui vẻ, giống như là bóng tối cuộc đời bao quanh anh ta, không cách nào tránh thoát sự đoanh vây của buồn, hận, sầu bi.

Người nếu thường bị việc nhỏ nhặt không đáng kể làm cho đăm chiêu ủ dột, biểu thị sự u uất, như thế than thở ưu phiền, mà trong vô hình không biết không rõ sự đã hao tốn bao nhiêu là năng lượng trên tinh thần, phân định được không?

Nếu như trong cuộc sống việc quá nhiều, khiến chúng ta không thỏa mãn, có phải chăng do chúng ta yêu cầu quá nhiều? Sự oán hận của chúng ta, có phải chăng vì chúng ta khoang dung quá ít? Anh có tấm lòng thế nào, thì có cuộc sống thế ấy, nếu anh cả ngày tiếng thở lời than, cần phải biết rằng so với trăm bệnh, lo sầu càng sẽ khiến người khó mà thoát thân, một ngày chuốc lấy trên thân, khiến người không những dễ dàng đánh mất tuổi trẻ, vả lại dễ suy tàn đi tâm sống động, làm cho đời người khô gầy thiếu vị, cho nên anh hiện tại nên đuổi dẹp mau gốc rễ mà trừ bỏ đi lo sầu đầy chật cả trong tâm; làm mới lại sự thoải mái tràn trề đầy ắp vui vẻ.

MỘT NỤ CƯỜI GIẢI TỎA NGHÌN SẦU

Một người nếu miệng thường nở nụ cười, khiến cho cảm giác người ta tất nhiên là một sự hòa khí, vui vẻ trong lòng. Cười chẳng những chỉ khiến thân tâm anh khỏe mạnh, tự được vui vẻ, trừ được thất vọng và nôn nóng, cải thiện quan hệ con người, là việc mà mọi người đều biết, nên không nói lời thừa. Nhưng bàn đến là thời gian bình thường nên cười nhiều; tóm lại có người thở ngắn than dài đều mau sầu chết người! Nên cười sao cho dứt được lời than. Kỳ thật, ta cảm thấy ngược lại, càng gặp việc trái ngịch khốn khó, càng nên cười nhiều. Bỡi vì tác dụng của nụ cười, thật chẳng phải là biểu lộ sự thoái mái tiêu cực, mà lại là sự thoải mái sáng tạo tích cực, xua đuổi nổi lo, giải tỏa cuộc sầu. Cười nhiều thường cười, tự nhiên là hòa khí đầy đủ. Nếu có một người từ sáng đến tối cứ kéo dài thừ nét mặt ra, than ngắn thở dài, như vậy làm sao không chuốt lấy họa!

Cười thật ra chẳng nhu cầu sự quyết định trước nhân tố hoặc chuẩn bị động tác trên tâm lý gì đâu. Bất cứ người nào, chỉ cần cơ thịt hai bên quai hàm động xếch lên chút xíu, khiến khóe miệng vểnh lên, thì đã có nụ cười trên mặt rồi. Nếu chịu bật khí ra tiếng, yết hầu phát ra âm: Ha... há! thì là phát ra cười to, cũng thuộc về việc tầm thường, cho nên cười không được do không chịu làm, chẳng phải là không làm được. Cũng có người hoài nghi rằng: “Nụ cười hiện lên mặt, trong lòng nuốt từng giọt đắng, phỏng có tác dụng gì?”. Kỳ thật, bồi dưỡng cho nụ cười là có thể “từ ngoài mà vào trong, ngược dòng mà vào”, biểu hiện trên mặt cười nhiều, cười lâu rồi thì có thể thói quen thành tự nhiên, đến lúc đó, lại được vui từ tâm sinh ra, chẳng đặc biệt cầu bên ngoài, nụ cười được phát ra từ trong tâm.

Cười, cũng là lúc ngay tâm đầu chẳng thấy thoải mái, tức khiến cho nụ cười qua đi những vấn đề ngày cũ, mang theo nụ cười bao dung để xử lý vấn đề, tóm lại vấn đề xử lý bao bọc sầu khổ đang mang sau lưng là cần phải nhẹ nhàng có hiệu quả, cười một cái giải nghìn sầu, nếu chẳng ngại anh thử coi.

- BA CÁI VUI ĐỜI NGƯỜI:

Sống trên đời nầy, mỗi người đối với khổ vui đều có tiêu chuẩn bất đồng, việc vui được đưa ra để ví dụ cũng chẳng phải là một dạng:

- Chỉ được chỗ ở thường vô sự.

- Ăn no, mặt ấm.

- Thường niệm: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Ba việc vui nầy: Chỗ ở và công tác không có người đến quấy rối, công tác gánh vát thoải mái, lúc làm thì làm, lúc nghỉ ngơi thì nghỉ ngơi, chẳng tham ái gì đến vinh hoa phú quí, không so tính tốt xấu, được mất, khen chê, sự đời nhìn rõ việc thế tục buông rời, phàm việc nghịch đến thì thuận thọ, có lòng bao dung, tâm bình khí hoà, tâm an lý được, vô sự nhàn nhã, nhàn rồi có thể thường niệm Phật, nhàn rồi có thể qua lại đó đây, tất cả tâm tình thích thú đều là lấy sự bình đạm nhàn nhã làm điểm xuất phát, vô sự nhàn nhã thảng nhiên, có thể ăn no mặt ấm (tiền bạc sớm biết dự phòng trước), không tham lam, không tranh chấp, không liều lĩnh, an phận tuỳ duyên, tâm trong sáng không lo nghĩ, cuộc sống vật chất và tinh thần không lo lắng thiếu thốn, đầy đủ ở mình, chẳng cầu ở người, người của trời chẳng qua cũng như đây thôi!

Nghĩ tưởng chín chắn, không tham - không tranh - không thẹn của bản tâm, mới là cơ sở của tất cả khoái lạc, vì chỉ có người bình thản phơi phới, thì đến chỗ ở cũng đều là đất vui. Mà người làm tăng thêm sự rì rầm, việc chạm đến đều là trường sầu, thuận ngịch sầu vui của cảnh gặp toàn là ở trong ta, sự vui, giận, sáng suốt và mờ ám của tâm người; vui vô sự, vui điềm tĩnh, là vui cõi trời, việc vui sở hữu đời người; người vừa tham vừa tranh chấp, vừa cầu, vừa thẹn thì tất nhiên hưởng thọ không được rồi.

Đời người thoải mái thật chẳng khó, chẳng có ngã chấp đối với việc, chẳng so tính đối với người, phàm việc ngịch đến thì thuận thọ, vả lại chẳng để nơi ý, nhìn rõ buông rời, cố hết sức đơn giản hoá cách nhìn sự vật gặp được, giảm nhẹ sức ép tâm lý, lại cần hiểu rõ: “Cười là việc sống vui vẻ, là hình nghi dung mạo thẳng thắn và thật thà”.

MÔ PHẠM CỦA NGƯỜI NIỆM PHẬT

Ngài Quảng Khâm Hoà thượng năm chín mươi lăm tuổi, ngày mười ba tháng hai, năm Dân quốc thứ bảy mươi lăm, ở tại chùa Diệu Thông thuộc xã Lục Qui, huyện Cao Hùng, ngồi an lành hoá sanh về nước Phật; Ngài cũng là bậc đức cao vọng trọng của giới Phật giáo, trú trì “Thừa Thiên thiền tự” xã Phổ Thành, huyện Đài Bắc. Ngài là một bậc cao tăng lúc bấy giờ được mọi người sùng ngưỡng, khắp nơi tôn kính, tự động thân cận cúng dường. Ngài lúc hai mươi tuổi xuất gia ở chùa “Thừa Thiên thiền tự” thuộc thành Tấn Giang, châu Phúc Kiến Tuyền, nhân vì không biết chữ, chẳng thể tụng kinh nói pháp, trước tiên ở chùa làm công việc tính cách lao động, nhiều năm sau được điều phái làm “Thầy hương đăng”, tức là quản lý việc đốt nhan, rót dầu của đại điện và các công tác dọn dẹp đại điện, từ đây ban ngày công tác, tối lại tu “Thiền tịnh độ” (ngồi yên tĩnh thầm niệm Phật) ở trước Phật, về sau vào trong núi sâu tiếp tục tu trì, lúc vào núi gạo và lương thực mang đi hết rồi, đành phải hái lấy rau quả gần đó để đỡ đói, khổ tu mười hai năm, được thấy tánh (khai ngộ) mới xuống núi. Tháng sáu, năm Dân quốc thứ ba mươi sáu, ngài đến Đài Bắc để hoằng pháp, nhân vì chỉ ăn trái cây, được mọi người gọi là “Sư trái cây”. Ngài không giảng kinh lại không giải biện việc học, Ngài chuyên niệm Phật để nhiếp chúng, dùng đại ý Phật Pháp đơn giản để khai thị cho tín chúng, thường khuyên mọi người niệm Phật nhiều; được sự ái mộ, tôn kính, tự động gần gũi của tín chúng rộng lớn, ngay cả những người học đầy đủ kinh luận cao xa cũng khẩu phục tâm phục. Dòng người không dứt, cơ hồ hoạt động không ngày nghỉ, đến với chùa Thừa Thiên Thiền, thuộc xã Thổ thành, huyện Đài Bắc, chính là mô phạm của người niệm Phật chúng ta! Ngài tu “thiền tịnh độ” được chứng ngộ, chúng ta chẳng thể sao? Có thể! có thể thực hành (chịu làm) thì có thể được, song xem thử mọi người có phát được tâm chăng? Chịu tinh tấn hay không mà thôi!

Hoà thượng Quảng Khâm dạy dẫn người học rằng:

Lúc bình thường đối với bất kỳ việc gì, đều cần phải “tâm rộng rãi”. Chẳng sai, tâm đã được rộng rãi rồi, tâm sẽ tuỳ thuận, nhún nhường, điều phục, mềm mỏng hoà nhã, tĩnh lặng, chẳng động; tâm chẳng động thì ý có thể thông, chẳng cố chấp, chẳng phân biệt, chẳng so đo, chẳng cưỡng cầu, lượng như biển có thể dung chứa, thuận với duyên ngịch, qua đi như mây nước, chẳng lưu lại dấu vết, sáng như gương, yên lặng tâm. Vì “tâm rộng rãi” phàm việc gì cũng nhìn rõ, buông rời, chẳng bị phiền não trói buộc”.

Có một bài văn nói về Hòa thượng Quảng Khâm lúc chín mươi lăm tuổi, bắt đầu một tuần trước khi vãng sanh, sớm tối mỗi ngày đều tự mình phát ra niệm Phật to tiếng, khiến hết thảy mỗi lời niệm đều khẩn thiết hô to lên A DI ĐÀ PHẬT. Mọi người đều luân lưu niệm to tiếng với Ngài, niệm đến khi tiếng khàn, ngực đau, khí lực khó chống đỡ; có đệ tử sợ Ngài gần cả tháng không ăn thể lực khó để duy trì, nên mới thưa với Ngài rằng: “Sư phụ! Chúng con niệm thầy nghe thôi cũng được!”. Hòa thượng trừng to mắt, dứt khoát nói rằng: “Các người niệm là việc của các người, các người sinh tử các người lo!”. Nói rồi, lại to tiếng khẩn thiết tự mình niệm Phật. Từ lời tự thuật ở trên có thể biết, một câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT thật có công đức bất khả tư nghì! Nếu chẳng vậy, thì một vị Hòa thượng là người đã chứng ngộ được đạo Thánh, trước lúc lâm chung còn to tiếng niệm Phật cả ngày đêm, nhờ vào sức tu trì tự thân của Ngài thì có thể ra khỏi ba cõi rồi, sao lại trước lúc lâm chung sớm tối lớn tiếng niệm Phật!

THAM KHẢO KINH ĐIỂN

Nói đến ba tạng kinh điển, là tôn chỉ mọi nơi đều hướng về, nhưng ai có thời gian để mà nghiên cứu, đành phải trước tiên kiểm tra xem chuyên môn.

Kinh có năm kinh về tịnh độ. Kinh “Vô Lượng Thọ” và “A Di Đà”, hai bộ nầy mức độ (chữ nghĩa) rất ít nên cần tụng. Kinh “A Di Đà”, mỗi ngày tụng mấy biến, giúp cho việc vãng sanh thế giới Cực Lạc chẳng phải ít; tiếp tụng “Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ Đà La Ni” ba mươi biến hoặc một trăm biến, bạt trừ tất cả nghiệp chướng (vì nghiệp chướng sẽ làm cho anh biếng nhác tán loạn, hủy hoại pháp, phá giới, tạo ác), khỏi bị nghiệp chướng trói buộc, không thanh tịnh trong việc tu hành. Như tu hành mà lại còn muốn cuộc sống hiện tại tốt đẹp, sự hứng thú còn rất nồng nàn đối với thế gian, rất nghĩ tưởng về nó, chuyện không thể tưởng tượng thì thường nghĩ tưởng, chẳng thể làm lại đi làm, phiền não rất nhiều, tu hành chẳng được tự tại, tụng đến khi tu hành tự tại rồi, mới ít tụng một chút, mỗi lần tụng kinh “A Di Đà” thì nên liên tiếp tụng ba biến.

- Đà La Ni “Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ” - (Trong “Kinh Nhật Tụng” thường có, đây không dịch chép).

Nếu còn thời gian và khỏe cũng nên tụng một biến kinh “Vô lượng thọ”, tức có thể rõ hiểu được đại khái pháp môn tịnh độ.

A DI ĐÀ PHẬT là thầy của chúng ta, kinh VÔ LƯỢNG THỌ là bài khóa căn bản của chúng ta. Đọc kỹ một bộ kinh “Vô Lượng Thọ”, có thể hiểu thông suốt, rõ ràng, chiếu theo kinh “Vô Lượng Thọ” để tu học, học thành công tức là đạt rồi, trở lại học kinh luận. Đây tức là một cửa thâm nhập, chỗ gọi là “một kinh thông, tất cả kinh đều thông”, từ trên một bộ kinh nầy mà được định, khai huệ, đây mới gọi là thông đạt, sau đó anh xem những kinh điển khác, khi xem sẽ thông đạt cả. Trước khi chưa thông đạt kinh Vô Lượng Thọ, xem những kinh điển khác chưa thể thông đạt, chỉ có thể nói là ta xem nhiều bao nhiêu quyển kinh điển mà thôi, chẳng được lợi ích nhiều.

Đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ, có thể hiểu được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu, chỉ đọc tụng, chẳng nên nghiên cứu, vì khi nghiên cứu, tâm sẽ lộn xộn.

Nếu đọc tụng kinh điển, thì chẳng ngại thỉnh một bộ “Tịnh độ tam bảo”: “Tịnh độ bảo điển” – (tức Tịnh độ ngũ kinh), “Tịnh độ Thánh Hiền”, “Tịnh độ văn sao” để đọc tụng, làm tăng thêm tín tâm và sự thấy nghe.

KẾT LUẬN

(Lời cung kính của TÁC GIẢ)

Mọi người! Có tiền cũng được, không tiền cũng được! Cần sống vui vui vẻ vẻ, tự tại thong dong, tâm cảnh vui vẻ, tiếp nhận tất cả, thì ở nơi địa ngục cũng như thiên đường!

Chư Phật là người tu thành, Chư Phật thành Phật đã rất là lâu, mà chúng ta còn trong luân hồi sinh tử ở thế giới khổ đau nầy, chẳng cảm thấy hổ thẹn sao? Đó là chúng ta mê luyến thế giới khổ nầy, chẳng biết tu hành, hoặc phương pháp tu hành không đúng, hoặc tu hành bất lực, cho nên đến nay còn ở trong luân hồi sinh tử thế giới khổ nầy, nay có may mắn được nghe pháp Phật, nếu lại chẳng biết tu hành, thì đành phải ở trong luân hồi sinh tử thế giới khổ nầy. Nên biết rằng lần hồi “da già tóc hạt”, nhìn thấy bước chân lẩm cẩm, thì dẫu cho vàng bạc đầy nhà, lại còn phong quang hiển hách, cũng khó tránh khỏi suy già bệnh tật, dẫu anh có ngàn điều vui vẻ, vô thường rốt cuộc cũng tới, một khi mất thân người, khổ ơi là khổ!

Học Phật tu hành trước hết cần phải làm cho rõ ràng, tin Phật là tin Phật, học Phật tu hành là học Phật tu hành. Tin Phật, là hưởng “hồng phúc” (Trọng vọng nơi cuộc sống vật chất, cái vui năm dục), lúc mệnh chung sinh lên cõi Trời hoặc trở lại sinh vào nhà giàu có. Học Phật tu hành, là hưởng “thanh phúc” (quí trọng cuộc sống tinh thần), lúc mệnh chung ra khỏi ba cõi, vãng sanh về thế giới Cực Lạc - thành Phật, lìa khổ được vui - chơn lạc. Cầu sinh thế giới Cực Lạc mà muốn hưởng được hồng phúc, như thế! Vãng sanh thế giới Cực Lạc sẽ không có được chỗ chắc chắn! Vì sao? Vì “tâm” của anh, chỉ dừng lại ở nơi việc đời, trên dục lạc, mà chẳng phải là để nơi việc học Phật tu hành.

Nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì chẳng nên nói là quá bận rộn, không có thời gian để niệm Phật, chẳng niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật; lúc mệnh chung, bệnh khổ nung nấu, nghiệp trước chiêu cảm, thần chí hôn mê, tà niệm hiện tiền, điên điên đảo đảo, anh làm sao có thể khởi tưởng niệm Phật? Có thể tĩnh được tâm để niệm Phật? Có thể chí thành chuyên nhất niệm Phật? Có người trợ niệm cho anh cũng uổng vậy! Vì anh chẳng biết trước lúc mệnh chung đến, nên khi có người trợ niệm thì chẳng qua đời, mà lúc không người trợ niệm thì đã qua đời rồi! Vì sao? Vì anh chẳng được “chánh niệm” hiện tiền, mà là “tà niệm” hiện tiền vậy.

Học Phật tu hành - Trì danh niệm Phật - vãng sanh Cực Lạc, cần phải làm cho được việc nắm chắc, không nên làm mà không nắm chắc, nếu không nắm chắc thì chẳng bằng như việc tin Phật để được an tâm.

Học Phật tu hành, nếu dùng trạng thái của tâm tin Phật để tu, thì chỉ có thể trồng lấy cái chân thiện, được phước báo trời người; còn việc vãng sanh Cực Lạc thì nên xô dẹp những cái kia đi!

Học Phật tu hành, nương theo lời dạy của Phật như Pháp tin thọ phụng hành, có chánh tri kiến chánh xác, nhân sinh quan chánh hạnh, chẳng mất đi ý nghĩa của lời dạy, chẳng phạm đường cấm, thiểu dục tri túc, có chỗ gởi gắm trên tinh thần là TIN PHẬT! Có mục tiêu (hy vọng) là THÀNH PHẬT! Tự nhiên tâm tình thư thả thoải mái, hài hoà, vui vẻ, cuộc sống được tự tại hơn, sung sướng tinh thần hơn, lúc mệnh chung vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Đã rõ ràng được là vì sao cần phải học Phật? Vì sao cần tu hành? Học Phật trì danh niệm Phật tu hành có chỗ tốt đẹp gì? Như vậy thì sẽ tu hành được và tu tốt.

Học Phật tu hành ban đầu cần phát tâm bồ đề, tin sâu (rõ ràng) lý nhân quả, hiểu rõ “thiện có báo thiện, ác có báo ác”, mới chẳng dám làm các việc ác, chỉ có làm thiện nhiều hơn. Biết rõ thế nào là ác? Vì sao không nên làm ác! Việc ác tâm không nên tưởng, thân không nên làm, miệng không nên nói, tức là “Chư ác mạc tác”. Biết rõ thế nào là thiện? Giữ tâm thiện, làm việc thiện, nói lời thiện, làm người thiện, tức là “Chúng thiện phụng hành”. Biết rõ thế nào là tự tâm thanh tịnh? Vì sao cần tâm thanh tịnh! Không vọng tưởng tạp niệm, không phiền não, chẳng chấp trước, việc quá khứ không truy tìm, việc hiện tại chẳng vịn duyên, việc tương lai chẳng nghĩ tính, tình đời thì nhìn được rõ, việc đời thì buông bỏ muôn duyên. Biết thế nào đáng làm, thế nào chẳng nên làm, rõ rõ ràng ràng tức là “tự tịnh kỳ ý”.

Một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, chắc thật chí thành khẩn thiết nhất tâm mà chuyên niệm, niệm nhiều, nuôi thành thói quen niệm Phật, niệm cho được thành thục (trong tâm có Phật), có thể được nhất tâm bất loạn càng tốt, chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, lúc mạng chung mới có thể biết trước giờ chết, thân không bệnh khổ, chánh niệm hiện tiền, tâm chẳng điên đảo, mà niệm Phật vãng sanh.

Trì danh niệm Phật chẳng phải là được hay không được “nhất tâm bất loạn” mới có thể vãng sanh thế giới Cực Lạc; mà chủ yếu là anh “trong tâm có Phật”, lúc mạng chung thần trí trong sáng, tưởng khởi được câu niệm Phật, biết niệm Phật, biết đến được nơi nào, chánh niệm hiện tiền, tâm chẳng điên đảo, tức có thể vãng sanh thế giới Cực Lạc; chỉ sợ anh trong tâm không có Phật! Lúc mệnh chung thần chí hôn mê, chẳng tưởng được câu niệm Phật, chẳng biết niệm Phật, tà niệm hiện tiền, điên điên đảo đảo, như thế mới không thể vãng sanh được thế giới Cực Lạc.

Trì niệm danh hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT làm “chánh hạnh”, là tu huệ. Chẳng làm các việc ác, vưng làm các việc lành, tự tịnh ở nơi ý là “trợ hạnh”, là tu phước. Học Phật tu hành thì cần phải tu cả hai là Phước và Huệ; nếu chỉ tu huệ mà không tu phước, hoặc chỉ tu phước mà không tu huệ, là không vãng sanh được về thế giới Cực Lạc, nên cần phải tu cả hai là phước và huệ mới có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Phước và Huệ như hai chiếc cánh đều nhau của con chim, thiếu một thì không bay lên được. Chỉ có niềm tin, dù là tin Phật hoặc tin ngoại đạo đi nữa, cũng chỉ có thể sinh cõi trời hoặc thành tiên, thành thần, mà ra chẳng khỏi ba cõi, hưởng hết phước rồi, trở lại thọ khổ.

Trì danh niệm Phật cần đầy đủ TÍN-NGUYỆN-HÀNH, thiếu một chẳng được. Cần có lòng tin chân chánh. Nguyện chân chánh vãng sanh thế giới Cực Lạc, nếu còn tham luyến thế giới nầy, nói là cuộc sống hiện tại tốt, thì nguyện đó sẽ không thật thiết tha. Ra sức hành trì chí thành khẩn thiết, tinh tấn không lười mỏi, chỉ lo cày cấy, chẳng lo thu hoạch, không gấp gáp cầu lợi, chẳng vọng cầu cảm ứng hoặc quả báo, công phu đến lúc chín mùi cảm ứng tự nhiên hiện hữu; công phu chưa tới lúc, cầu cũng chẳng thể được, người lại nhiều thêm một việc chướng ở nơi tâm. Lúc mệnh chung biết trước giờ chết tức là cảm ứng.

Trì danh niệm Phật mà lúc lâm chung được nhất niệm là quan trọng nhất. Nhất niệm mà chánh niệm thì vãng sanh Cực Lạc, nhất niệm mà tà niệm, thì rơi vào luân hồi. Chúng ta chỉ một câu danh hiệu Phật, sớm niệm tối niệm, đi niệm ngồi niệm, cho đến trọn ngày trọn năm niệm niệm chẳng dứt, không lúc nào chẳng nung nấu nhất niệm đến tận cùng mà thôi. Do nhất niệm nầy, chỗ quan hệ rất là sâu nặng, nó dắt hồn dẫn phách, tạo mạng sinh thân, chẳng có việc gì chẳng là do đây, niệm thiện thì lên thiên đàng, niệm ác thì xuống địa ngục, niệm ma lại thành ma, niệm Phật bèn thành Phật. Nếu chẳng phải là lúc bình thường niệm chuyên niệm nhiều, huân tập nhuần nhuyễn, nuôi thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật, thì đến lúc lâm chung sớm quên mất chánh niệm niệm Phật, bèn theo các niệm thiện ác thói quen chín mùi của nhiều đời mà đi, luân hồi trong sáu đường, đều là một niệm nầy làm chủ, chỉ một niệm nầy, lại không niệm nào khác, nếu một niệm chuyên chú ở Phật, thì thân tuy tử vong mà thần thức chẳng phân tán, tức theo một niệm vãng sanh Cực Lạc vậy.

Trì danh niệm Phật cần dùng tâm cảm ơn, cảm tạ, vui tươi, tâm cam tình nguyện để tu hành, càng tu càng mạnh mẽ, thì hành trì mới có thể tâm tình nhẹ nhàng thoải mái, tự tại, vui tươi; mới chẳng vì hoàn cảnh bất lợi gặp gỡ, hoặc ma oán nghiệp xưa, lúc ép ngặt, mà vừa nghĩ lại vừa oán giận, tâm chẳng cam, tình chẳng nguyện, lui mất tâm đạo. Nếu dùng tâm nôn nóng cầu lợi để tu thì giữa đường gãy gánh, dùng tâm nửa tin nửa nghi để tu thì không thể dùng được. Hoàn toàn nhìn vào trạng thái tâm tình của anh như thế nào để mà tu.

Một câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, chỉ một niệm cho thuần thục (trong tâm có Phật), thành Phật hãy còn dư sức! Chẳng học pháp khác, lại có gì tiếc.

Trì danh niệm Phật nếu tín tâm chẳng đủ, lại còn muốn học những pháp môn khác, hứng thú đối với việc đời còn rất nồng nàn, dẫu trải qua ngàn đời vạn kiếp cũng chỉ là sanh tử luân hồi thế nầy thôi.

Việc ác một chút xíu cũng đều chẳng nên làm, việc thiện thì nên làm nhiều hơn, tâm chẳng nghĩ tưởng lung tung, chỉ có niệm chánh, làm chánh, ý niệm và việc làm không tà vạy; như ăn cơm thì ăn cơm, ăn xong thì thôi, làm việc thì làm việc, làm xong thì thôi, không trở lại nghĩ tưởng nó, không đình trệ ở trên ý niệm, chẳng dừng ở trên quan niệm, như chim bay qua bầu trời không để lại dấu vết.

Có tiền cũng được, không tiền cũng được, nhìn, nghe, gặp được việc tốt cũng được, việc xấu cũng được, đều không quan tâm so tính, tức là nhìn rõ. Giàu có, sự nghiệp, vợ con... có chúng cũng bằng với không có chúng, chẳng mong nghĩ, không để trong tâm, tức là buông rời. Nhìn rõ, buông rời tức là tu hành rồi vậy.

Cuộc sống qua được thì tốt, nếu hằng ngày cứ mãi bận rộn vì việc đời: Công tác, kết hôn, sinh con, nuôi gia đình, mua xe, mua nhà, kiếm nhiều tiền, nhiều tiền rồi thì tiếp đến sinh ra nhiều việc đời bận rộn! Chỉ trọng nơi tiền bạc, vui năm dục hưởng thụ của cảm giác, gát câu niệm Phật sang bên một cách thoải mái, trong tâm không có Phật, lúc mạng chung ngay cả một cái chết nhẹ nhàng cũng chẳng được, trở lại oán giận rằng niệm Phật không linh nghiệm, trách ai vậy!? Cần phải bận rộn vì vấn đề học Phật tu hành, dùng ánh mắt đạm bạc mà xem tình đời, dùng tâm “tri túc” để lấy và bỏ muôn vật, chẳng bị trói buộc bởi vật bên ngoài, tâm địa tự mình bình ổn. Tốt, xấu, được, mất chẳng so tính; khổ, vui, vinh, nhục chẳng để tâm, chịu đựng sự cô độc vắng lặng, kiên nhẫn sự nóng lạnh gió mưa, thọ nhận cuộc sống bình thường lạc lẽo. Nếu học Phật tu hành mà quan niệm có chút ít còn hơn không, lề mề cẩu thả, là lầm đắm một đời, thế thì không biết đời nào kiếp nào mới lại có thể được nghe Phật Pháp!

Chư vị bạn lành! Nay có may mắn được nghe Phật Pháp, lại biết phương pháp trì danh niệm Phật vãng sanh thế giới Cực Lạc tu hành hữu hiệu (chắc chắn), nếu còn bận rộn vì vấn đề truy cầu phú quý vinh hoa! Tham lam mưu đồ vui năm dục, thì nên biết rằng lần hồi tóc trắng da nhăn, trông thấy bước đi lẩm cẩm, dẫu như vàng ngọc đầy nhà, lại còn gia thế hiển hách, cũng khó tránh khỏi già, bệnh tàn suy, mặc cho ngàn điều khoái lạc, vô thường cuối cùng cũng đến, một khi mất thân người, khổ ơi là khổ! Xem thử người xưa có mấy ai thể đến lúc chết an lành! Đành phải luân hồi trong sáu đường đời đời kiếp kiếp, trọn không có thời kỳ ra khỏi.

Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ - năm cái rễ của luân hồi, người đời tham yêu, người tu hành cần xả bỏ, nhìn nó càng lạc lẽo càng tốt, nếu buông không rời, còn dính mắc tham yêu, đành phải luân hồi trong sáu đường đời đời kiếp kiếp!.

Gìn giữ một câu danh hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT thì chẳng được xen lộn những cái khác (như các pháp môn: tham thiền, học mật...). Muốn học thêm nhiều một chút (các pháp khác) để vãng sanh Cực lạc mới có sự đảm bảo; thế là anh đã sai lầm lớn, đặc biệt sai lầm rồi, tức là anh không có niệm tin chắc chắn đối với Phật A Di Đà, nên chẳng thể tín thọ.

Tu hành là công phu từng chút một, sửa soạn tốt cho tự mình trong cuộc sống bình thường, chẳng nhờ mượn ở bên ngoài, tất cả đều nương nơi sự tinh tấn của mình, nương lời dạy như pháp mà tin thọ phụng hành, thì vãng sanh thế giới Cực Lạc mới có được sự chắc chắn.

Tu hành, chẳng tu thì thôi, nếu tu thì cần phải tu cho tốt, cho chuyên nhất, chí thành, khẩn thiết, tu cho chắc thật. Nếu lơ là biếng nhác, phô bày, nôn nóng, tâm tùy tiện ở việc mà tu, như thế không phải là phô bày Phật, mà là phô bày chính anh, chẳng thể vãng sanh thế giới Cực Lạc, không thể không biết.

Vãng sanh thế giới Cực Lạc không có bí quyết sao? Xin thưa là: Có. Tức là hai chữ: THÀNH KÍNH. Thành là chân thành, không có một mảy may hư giả. Kính là cung kính, cung kính là tác dụng khởi lên của sự chân thành, nội tâm chân thành biểu hiện ra bên ngoài tức là cung kính.

Phép tu hành không ra ngoài bốn chữ: CHUYÊN, CẦN, NĂNG, HÀNH. Chuyên là tinh nhất chẳng hai, ngoài ra không có một việc nào. Cần, là tinh tấn không lười biếng, không luống bỏ một thời gian nào. Năng, là phát tâm, chịu làm, làm một cách cam tâm tình nguyện, chỉ lo ra sức, không nghĩ thu hoạch, không gấp gáp cầu lợi. Hành, là chí thành khẩn thiết, ra sức mà làm.

Học Phật tu hành có khó chăng? Hãy xem cách nghĩ, cách nhìn của anh như thế nào? Anh chân tâm tu hành thì không khó; anh dùng tâm tin Phật để tu, như thế là khó đấy.

Cổ đức nói rằng: “Học Phật không khó, mà khó ở sự phát tâm; phát tâm chẳng khó, mà khó ở sự dõng mãnh; dõng mãnh không khó, mà khó ở sự duy trì lâu”. Lại nói rằng: “Không luận làm bất cứ công việc gì, lúc ban đầu chưa có gì thì chẳng chịu ra sức siêng năng, cho đến lâu ngày, tình thế dời đổi, sinh tâm mệt mỏi, hoặc được chút ít lấy làm đủ, hoặc sợ khó mà dính nơi yên ổn, việc đời như thế, học Phật cũng vậy”.

Niệm Phật tu hành, nó liên hệ với cuộc sống ngày thường, tu huệ tu phước, anh đã dụng công được bao nhiêu, Đức Phật A Di Đà đều thấy biết hết, Ngài có thể quyết định đến hay không để tiếp dẫn anh! Anh chẳng cần ôm giữ tâm gặp may.

Vì cầu kế sống, trong cuộc sống không cách nào buông rời muôn duyên, đây là hiện tượng chẳng chơn của tâm niệm Phật. Công việc đầu tiên của tôn giáo còn phải hiểu biết tỉnh táo ở nơi tự ngã, cần phải khiến cho tâm linh của mình từ sự thị phi, so đo, được mất và trong tham - sân - si phải được tỉnh giác, dùng một câu hiệu Phật thường buộc ở tâm đầu, tâm linh sẽ dễ dàng tỉnh giác; đạo lý nầy rất là đơn giản, vì tâm linh của con người lý do là mê hoặc chẳng hiểu biết, tức là vì vọng niệm đã quá nhiều, ngày ngày nghĩ tưởng lung tung, tâm chẳng tịnh được, hiện tại chúng ta niệm Phật bằng tâm vọng niệm, không thể lý giải được những ân oán kia; nên bên ngoài giữ giới Phật, trong thì trì hiệu Phật, lấy “nhiếp hết sáu căn, tịnh niệm kế tục”, trước tịnh (hay yên tĩnh) cái tâm lại, thì có thể tìm được tự ngã chân chánh (chân tâm niệm Phật).

Niệm Phật tu hành mà chân tâm thành ý, thì dẫu có cảm ứng cũng được, không cảm ứng cũng được, chỉ cần đầy đủ: Tín, nguyện, hành; tuỳ duyên qua ngày, chỉ lo ra sức không nghĩ thu hoạch, sống được yên ổn tốt đẹp, tự tại, vui vẻ, lúc mệnh chung dự biết được giờ chết, thần chí trong sáng, chánh niệm hiện tiền, tâm chẳng điên đảo, đang ngồi hoặc đang đứng mà vãng sanh, tức là có cảm ứng rồi. Chỉ e rằng tín - nguyện - hành của anh không đầy đủ, ôm lấy duyên qua ngày tháng, lúc mệnh chung chẳng biết thời gian đến lúc nào, đau khổ vô cùng, thần chí hôn mê, tà niệm hiện tiền, tâm sinh điên đảo, Đức Phật A Di Đà thì không thể đến tiếp dẫn anh được.

Trì danh niệm Phật thì chẳng phân nam nữ già trẻ, giàu có hay nghèo khó, kẻ trí người ngu, mọi người đều có thể tu, nhà nông hay buôn bán, từ người dạy học cho đến công nhân, viên chức, mỗi việc làm mỗi nghề nghiệp, đều chẳng làm cho lỡ đi công việc tu trì.

Niệm Phật tu hành, càng ngày nhẹ nhàng càng tốt, thói quen tâm bệnh dễ sửa đổi, công phu niệm Phật càng sâu, đơn thân hoặc không tính toán việc nhà, ngân hàng thì có chút đỉnh tồn khoảng, ăn mặc chẳng rầu lo, tốt nhất là chuyên tu cho được niệm Phật tam muội (chánh định), trở lại độ chúng sinh, có được trí tuệ thì mới có thể nói động được người đời tâm phục khẩu phục, học Phật tu hành phải khởi tu ra sức hành trì.

Trước lúc chưa được trí tuệ(khai ngộ) chẳng cần biểu hiện thành thạo quá, “đại trí như ngu”, giảm được rất nhiều phiền não.

Việc tu hành thì người người đều có thể tu, việc niệm Phật thì người người đều có thể niệm, vãng sanh thế giới Cực Lạc, phẩm vị cao thấp chẳng đồng, tư chất thiên phú, sự sâu cạn của thiện căn, cố nhiên là có sự liên quan, chỉ cần mỗi người dụng tâm thể hội và chỗ cạn sâu của công phu bỏ ra, bèn quyết định sự cao thấp của phẩm vị; cũng vậy người niệm Phật tu hành vãng sanh thế giới Cực Lạc, chín phẩm hoa sen, vì sao chẳng muốn thượng phẩm ư? Người thượng phẩm thượng sanh, đến thế giới Cực Lạc, thấy Phật nghe Pháp; người trung phẩm trung sanh, trải qua nửa tiểu kiếp mới được quả vị A La Hán; người hạ phẩm hạ sanh, ở trong hoa sen mãn mười hai kiếp, hoa sen mới nở.

Nếu chơn tâm niệm Phật tu hành, thì nên đọc kỹ sách này; nếu đọc qua rồi mà không đọc lại, thời gian bao nhiêu thì quên mất, thói quen tâm bệnh lại hiện ra, Phật - cũng chẳng niệm nhiều, như thế việc vãng sanh thế giới Cực Lạc sẽ dẹp bỏ thôi.

- Chỗ nói trong sách này không phải là lý luận Phật học, mà là học Phật tu hành, phương pháp pháp môn trì danh niệm Phật. Anh nếu ở trên vấn đề niệm Phật tu hành, tìm lấy một thiện tri thức lớn, thì chẳng thấy đâu có được lợi ích nhiều bằng quyển sách này, lại cũng khó tìm cho được một quyển sách đơn giản dễ dàng như quyển này. Sách đã được nhiều ích lợi, nguyện hành giả có thể đọc kỹ quyển này, chí thành cung kính, nổ lực tu hành chắc thật, tinh tấn không lười mỏi, việc vãng sanh thế giới Cực Lạc tức có cơ sở chắc chắn rồi!

- Phật tử là chúng tại gia hạ căn, Phật Pháp là từ kinh sách Phật xoay chuyển tập trung chép ra, chỗ sai lầm không đúng sẽ khó mà tránh khỏi, xin thỉnh chư Phật, Bồ Tát, cao tăng, đại đức thấy và lượng thứ cho!

- Xưng niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT vãng sanh thế giới Cực Lạc.

- Xưng niệm NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT tiêu tai nạn, được phước báo.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/11/201406:16(Xem: 7640)
Ngài pháp sư Tịnh Không, một cao tăng đương thời có nói: "Kinh Phật muôn đời vẫn mới mẻ, thích ứng với mọi thời đại. Từ ba ngàn năm trước, những kinh điển được giảng tại Ấn Độ khiến cho người Ấn Độ thời ấy được thọ dụng. Ba ngàn năm sau, đối với những kinh điển ấy, chúng sinh ngày nay vẫn được thọ dụng y hệt chẳng khác biệt gì. Nhưng vì hình thái ý thức, bối cảnh văn hóa, cũng như hoàn cảnh sống xưa nay rất khác nên cần phải có giải thích lại, nghĩa là hiện đại hóa địa phương hóa kinh Phật để thích ứng căn cơ đương thời."
19/12/201315:32(Xem: 10260)
48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà Hán dịch: Tào Nguỵ, Pháp Sư Khương Tăng Khải Việt dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh Anh dịch: http://www.purifymind.com/FortyEight.html Sưu tập: Tuệ Uyển, Wednesday, December 18, 2013 48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà 48 Vows of Amitabha Buddha 1. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 1."Provided I become a Buddha, if in my Buddha-land there should be either hell, or the animal state of existence, or the realm of hungry ghosts, then may I not attain enlightenment.
30/04/201007:32(Xem: 4419)
Đã khá lâu rồi, „Lá Thư Tịnh Hữu“ vắng bóng trên Viên Giác. Bắt đầu từ năm 2000, đến giờ sắp sang năm 2004, mà cũng chưa chấm dứt. Nhiều bạn hữu nói nhỏ, “không biết ông Thị Chơn Nghiệp Dọc này còn dài dài đến bao lâu nữa!”. Hôm kỷ niệm 25 năm thành lập chùa Viên Giác và báo Viên Giác, Thị Chơn (TC) tôi đảo một vòng trong khuôn viên của chùa để thăm các quầy phát hành bánh trái, nước uống và thức ăn chay. Chợt nghe một giọng Huế khá quen thuộc phát ra dưới mái lều che mưa nắng dựng nơi quầy phát hành của Sư Bà Như Tuấn:
30/06/201113:40(Xem: 2850)
Con đường tâm linh mà chúng ta đang cùng nhau tiến bước có vô số chướng ngại, đầy sỏi đá chông gai, chúng ta cần nắm chắc tay nhau...
08/04/201312:31(Xem: 3577)
Hôm nay, tất cả quí vị đã bỏ nhà để đến chùa góp mặt trong pháp hội này, phải nói đây là một cơ hội thật tốt để chúng ta tạm thời gát qua hết những chuyện đời và quay về sống phản tỉnh đối với bản thân. Nhưng tôi chỉ mới nói rằng quý vị đang có một cơ hội tốt, còn quý vị thì sao? Quý vị có ý thức được mình đang ở đâu và làm gì hay không? Đi vào chùa để vãn cảnh hay để tu học? Nếu để tu học thì quý vị đã bắt đầu chưa? Các vị hãy luôn nhớ rằng, một khi đã chấp nhận con đường tu học thì chúng ta nhất định phải cố gắng thế nào đó để tự khẳng định chính mình. Chúng ta không thể tu học như một hình thức chiếu lệ mà ngược lại phải luôn nhìn về phía trước để nhắm tới những tiến bộ. Chúng ta phải biết tu học một cách có lý tưởng, áp dụng Phật Pháp vào ngay chính đời sống của mình để từng sinh hoạt của bản thân được thực hiện dưới ánh sáng Phật pháp.
06/11/201010:42(Xem: 11043)
Ẩn tu nào phải cố xa đời! Mượn cảnh u-nhàn học đạo thôi! Những thẹn riêng mình nhiều nghiệp chướng Bốn ân còn nặng nghĩa đền bồi.
12/09/201917:56(Xem: 1320)
Đại sư Từ Chiếu (Chi: Tzu Chao) có lần nói: "Người tu Tịnh độ lúc sắp chết thường bị Ba Điều Nghi và Bốn cửa ải làm trở ngại cho việc vãng sanh Cực Lạc. Do đó hành giả ngày thường cần chuẩn bị, suy tư và đề phòng để có thể loại trừ chúng trong lúc lâm chung.
12/10/201101:45(Xem: 2463)
Truyền thống PG Tây Tạng chia giáo pháp Đức Phật ra ba thời kỳ chuyển pháp luân: thời kỳ đầu, dạy pháp Tứ Diệu Đế; thời kỳ thứ nhì, dạy pháp Tánh Không...