Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Quốc sư Thái Cổ, người Khai sáng một Kỷ nguyên mới cho Phật giáo Cao Ly

19/11/202018:50(Xem: 290)
Quốc sư Thái Cổ, người Khai sáng một Kỷ nguyên mới cho Phật giáo Cao Ly

Quốc sư Thái Cổ, người Khai sáng một Kỷ nguyên mới cho Phật giáo Cao Ly

 Quốc sư Thái Cổ 1

Quốc sư Thái Cổ (태고국사, 太古國師), vị Cao tăng thạc đức cuối thời Cao Ly, vị Đại sư Cải cách Phật giáo, người khai sáng một kỷ nguyên mới cho Phật giáo Triều Tiên. Sau khi tu học và đắc pháp dòng thiền Lâm Tế Chính tông, nối pháp mạch truyền thừa Tông Lâm Tế đời thứ 20 tại Trung Hoa và là Sơ tổ Thiền phái Lâm Tế tại Hàn Quốc, Ngài có công kết hợp và thống nhất các Thiền phái trước đó và bản địa hóa thành Thiền phái Tào Khê, Phật giáo Hàn Quốc.

 

Do công đức của Ngài đối với Đạo pháp và Dân tộc, hậu thế đã tôn vinh Ngài là vị Sơ tổ của Thiền phái Thái Cổ, Phật giáo Hàn Quốc (한국불교태고종, 韓國佛敎太古宗), một trong những thiền phái Phật giáo có tầm cỡ trên thế giới.  Thiền phái Thái Cổ là một trong những Thiền phái ảnh hưởng lớn nhất của Phật giáo Hàn Quốc. Tông phái hiện đang có hơn 3.100 ngôi chùa lịch sử và Thiền viện trang nghiêm. Tiên Nham Tự (선암사, 仙巖寺), tọa lạc tại nằm ở sườn đông tại cuối phía tây của dãy núi Jogyesan, phía bắc của quận Seungjumyeon, thuộc thành phố Suncheon, tỉnh Jeolla Nam, Hàn Quốc, là một trong những Thiền viện đầu của Thiền phái phái Thái Cổ.

 

Quốc sư Thái Cổ Phổ Ngu, người thụ lãnh yếu chỉ Thiền pháp và chứng ngộ được huyền chỉ, người đã thắp sáng lại ngọn đèn Thiền, tô đậm nét Tông chỉ Đạt Ma, khơi lại suối nguồn pháp mạch Tào Khê, nối pháp mạch dòng Thiền Lâm Tế Chính tông, thống nhất các thiền phái tại bản quốc Cao Ly thành Thiền phái Tào Khê, lung linh tỏa chiếu như vầng nhật nguyệt và truyền thiền pháp tu công án, thoại đầu vào Cao Ly. Ngài ảnh hưởng từ Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo (대혜종고선사, 大慧宗杲禪師; 1088–1163). Tư tưởng Thiền và Pháp ngữ của Ngài đã ảnh hưởng rất lớn và vẫn còn vang vọng đến ngày nay trong Thiền tông Phật giáo Hàn Quốc.

 

Quốc sư Thái Cổ (태고국사, 太古國師) sinh vào ngày 21 tháng 9 năm Tân sửu (23/10/1301), vào triều đại Trung Liệt vương năm thứ 27 (충렬왕, 忠烈王27년), tại Hongju, Chungcheongnam-do (nay là Hongseong, Chungcheongnam-do), viên tịch ngày 24 tháng 12 năm Quý Hợi (27/1/1383). Thân phụ  của Ngài là cụ ông Hồng Diên (홍연, 洪延), và Hiền mẫu là cụ bà Trịnh Thị (정씨, 鄭氏).

 

Phụ thân của Ngài được Triều đình Truy tặng (추증, 追贈) các tước hiệu “Khai phủ Nghi đồng Tam ty” (개부의동삼사, 開府儀同三司), “Thượng trụ quốc” (상주국, 上柱國), “Môn hạ Thị trung” (문하시중, 門下侍中), “Phán lại Binh bộ sự” (판리병부사, 判吏兵部事), “Hồng Dương công” (홍양공, 洪陽公), và Hiền mẫu của Ngài được truy phong “Tam Hàn Quốc Đại Phu nhân” (삼한국대부인, 三韓國大夫人).

 

Ngài pháp danh Phổ Ngu (보우, 普愚), Phổ Hư (보허, 普虛), hiệu Thái Cổ (태고, 太古) thuộc tộc họ Hong (홍씨, 洪氏), thụy hiệu Quốc sư Viên Chứng (원 증국사, 圓證國師), Quốc sư Thái Cổ (태고국사, 太古國師), Sơ tổ Hải Đông Cao Ly Quốc sư (해동초조고려국사, 海東初祖高麗國師), Hải Đông Định Phái Đệ nhất Tổ Thái Cổ Phổ Ngu Hòa thượng (해동정맥제일조태고보우화상, 海東定脈第一祖太古普愚和尙).

 

Năm 12 tuổi Ngài đảnh lễ Thiền sư Quảng Trí Trí Ấn (광지지인선사, 廣智智印禪師, 1102-1158) xin xuất gia tại Tổ đình Cối Nham Tự (회암사, 檜巖寺), Cheonbosan, Yangju-si, Gyeonggi-do, Hàn Quốc

 

Năm 18 tuổi, Ngài bắt đầu công phu tu tập tham thiền nhập định tại Ca Trí Sơn (가지산, 迦智山), địa chỉ ngày nay là Samyang-ri, Sannae-myeon, thành phố Miryang, tỉnh Gyeongnam. Trong thời gian này, Ngài được Hòa thượng Bản sư dạy tham câu thoại đầu “Muôn pháp về một, một về chỗ nào? (일귀하처, 萬法歸一 一歸何處).

 

Năm 26 tuổi, Ngài đắc pháp huyền nghĩa của “Hoa Nghiêm Tuyển” (화엄선, 華嚴選). Ngài đã giữ phong cách của một hành giả chân tu thật học khi nỗ lực công phu tu tập tham Tổ sư thiền (조사선, 祖師禪) thiền khán thoại đầu (간화선, 看話禪) và thâm nhập Kinh tạng.

 

Tuy nhiên sau đó vì thấy được điểm hạn chế của ngôn ngữ văn tự qua việc học Kinh điển, Ngài than thở rằng mình chưa giải quyết vấn đề “Sinh tử đại sự” (생사대사, 生死大事), cần phải nỗ lực hơn nữa trong công phu tu tập tham thiền. Sau 7 ngày chuyên tâm thực hành, đã quên ăn, bỏ ngủ,  Ngài hoát nhiên khai ngộ vào năm 1333 tại ngôi già lam Cam Lộ Tự (감로사, 甘露寺) ở Tây Thành (성서, 城西), địa chỉ hiện nay tại núi Sineosan, Sangdong-myeon, thành phố Gimhae, tỉnh Gyeongsangnam, Hàn Quốc.

 

Sau đó, tại ngôi già lam cổ tự Phật Cước (불각사, 佛脚寺), khi đọc Kinh Viên Giác (원각경, 圓覺經), tới câu ”Nếu tất cả mọi thứ biến mất, không có gì rời đi” (체진멸 명위부동, 一切盡滅 名爲不動), tâm Ngài bừng sáng.

 

Năm 1334, Ngài thực hành công án Vô. Ngài trở về quê nhà và tiếp tục nỗ lực tham công án này. Nhân đọc tập 1700 công án của Thiền Tông. Trong suốt 20 năm Ngài đã miệt mài nỗ lực công phu tham thiền, thấu triệt mối nghi tình mà Ngài đã “Tham cứu Vô tự thoại” (參究無字話) và năm 1337 đạt đại ngộ triệt để (豁然大悟).

 

Sau khi đạt đạo, Ngài đến Trung Quốc vào năm 45 tuổi, và 1 năm sau đó Ngài gặp được vị Thiền sư nổi tiếng tông Lâm Tế là Thiền sư Thạch Ốc Thanh Củng (석옥청공선사, 石屋清珙禪師; 1272-1352), vị Cao tăng thời nhà Nguyên, vị Thiền sư nối pháp mạch dòng thiền Lâm Tế đời thứ 19 (臨濟宗第十九世禪師) và nhận ấn khả từ vị Thiền sư này, tiếp nhận mạch truyền thừa Tông Lâm Tế đời thứ 20, và trở thành vị Sơ tổ Thiền phái Lâm Tế truyền tại Đại Hàn. Sau khi thuyết Phật Pháp theo yêu cần của vua nhà Nguyên, Ngài trở lại Cao Ly vào năm 1348, trở thành một vị Thiền sư nổi danh, từng được triều đình cung thỉnh trên ngôi vị “Vương sư” (왕사, 王師) và “Quốc sư” (국사, 國師), Cao Ly.

 

Năm 1346, Ngài từ Trung Quốc trở về nước kết hợp các Thiền phái  trước đó thành Tào Khê tông, Phật giáo Hàn Quốc (대한불교조계종, 大韓佛敎 曹溪宗).

 

Năm 1348, khi 48 tuổi, Quốc sư Thái Cổ Phổ Ngu quay về và trụ tích tại Bắc Hán sơn Trùng Hưng Tự (북한산 중흥사, 北漢山 重興寺), để bảo nhậm công phu sau khi kiến tính ngộ đạo, Ngài đến Tiểu Tuyết sơn (소설산, 小雪山) ở Miwon, (nay là Yangpyeong, Gyeonggi-do) và trong bốn năm làm nông, chăm bón ruộng vườn, hòa mình với thiên nhiên cỏ cây. Thời gian này, Ngài ngẫu hứng cảm tác “Sơn Trung Tự Lạc Ca” (산중자락가, 山中自樂歌) và “Thái Cổ Am Ca” (태고암가, 太古庵歌).

 

Năm 1352, triều đại Cao Ly Cung Mẫn vương (고려공민왕, 高麗恭愍王) năm thứ nhất, và khi đang ở ngụ tại ngôi già lam Kỉnh Long Tự (경룡사, 敬龍寺), Ngài được triều đình thỉnh vào Hoàng cung để tuyên dương Diệu pháp Như Lai.

 

Năm 1356, Cao Ly Cung Mẫn Vương (고려 공민왕; 高麗 恭愍王) năm thứ 5, khi Ngài được Triều đình cung thỉnh Chủ đàn Pháp hội và tuyên dương Diệu pháp Như Lai tại ngôi già lam Phụng Ân Tự (봉은사, 奉恩寺), nay thuộc quận Gangnam-gu, Tp.Seoul, Korea, Hoàng gia đã dâng cúng cho Ngài chiếc Ca sa “Ngũ Thái Tăng” (오색비단, 五采繒) và nhiều phẩm vật cao quý.

 

Vào mùa thu năm 1352, khi tuổi đã ngoài lục tuần (62 tuổi) Ngài nhận lời mời làm Phương trượng trụ trì ngôi già lam Dương Sơn Tự (양산사, 陽山寺), và năm 63 tuổi, Ngài đảm nhận trụ trì ngôi Ca Trí sơn Bảo Lâm Tự (가지산보림사, 迦智山寶林寺), nay là tỉnh Gyeongsangnam, Hàn Quốc.

 

Năm 1378, triều đại Cao Ly U vương (고려우왕, 高麗 禑王) năm thứ 4, Ngài được Thánh chỉ của Triều đình vua Cao Ly U vương Sắc phong Ngài trên ngôi vị “Quốc sư” (국사, 國師) đương triều.

 

Năm 1381, triều đại Cao Ly U vương (고려우왕, 高麗 禑王) năm thứ 7, Ngài quang lâm Dương Sơn Tự (양산사, 陽山寺).

 

Sự thị hiện của Ngài để góp phần hưng hiển chính pháp Phật đà xứ Kim Chi, Hộ quốc An dân, Tốt đời Đẹp đạo. Biết thân tứ đại giã  huyễn, đến lúc rồi cần phải thuận thế vô thường, Ngài gọi thị giả lấy bút mực đến và thảo mấy dòng thuyết kệ thị tịch rằng:

 

태고 보우(太古 普愚) 임종게(臨終偈)

 

인생명약수포공

팔십여년춘몽중

임종여금방피대

일륜홍일하서봉

 

Nhân sinh mệnh nhược thủy bào không,

Bát thập dư niên xuân mộng trung,

Lâm chung như kim phóng bì?

Nhất luân hồng nhật hạ tây phong.

 

人生命若水泡空

八十餘年春夢中

臨終如今放皮?

一輪紅日下西峰

 

Dịch:

 

Mạng sống như là bóng bọt thôi,

Hơn tám mươi năm giấc mộng đời;

Nay bỏ thân này như chiếc áo,

Vầng nhật trời tây khuất núi đồi.

(Thích Nguyên Hiền dịch)

 

Thuyết kệ xong, Ngài an thanh thản hồn nhiên, trút hơi thở vào ngày 17 tháng 12 năm Nhâm Tuất (20/01/1382), tại Tiểu Tuyết sơn, Hưởng thọ 82 Xuân, Pháp lạp 69 Hạ.

 

Ngài có hơn 1000 môn đệ, nổi bật nhất là các vị: Thiền sư Huyễn Am Cổn Tu (환암 혼수, 幻庵混修,1320-1392) hay còn gọi là Quốc sư Huyễn Am (환암국사, 幻庵國師), Thiền sư Xán Anh Mộc Am (찬영목암, 粲英木菴, 1328-1390) hay còn gọi là Quốc sư Đại Trí (대지국사, 大智國師), (묘엄 조이, 妙嚴祖異), Đại sư Vô Học Tự Chiêu (무학자초대사, 無學 自超大師, 1327-1405),  Hòa thượng Chỉ Không (지공화상, 指空和尙, ? - 1363). . .

 

Tháp hiệu “Bảo Nguyệt Thăng Không (탑호, 塔號 탑호보월승공, 塔號寶月昇空),

 

Bia tháp “Quốc sư Viên Chứng (원증국사탑비, 圓證國師塔碑).

 

Tôn chỉ (종지, 宗旨) của Ngài dựa trên tinh thần Lục hòa (육화정신, 六和精神), cùng với đại hạnh nguyện đại chúng (대중행원, 大衆行願) đồng Quảng độ chúng sinh (광도중생, 廣度衆生) và Báo quốc An dân (보국안민, 報國安民).

 

Ngài nổi bật với việc thực hiện sự hợp nhất của 9 trường phái Thiền bản địa Hàn Quốc là Thiền tông Cửu Sơn (구산선종, 九山禪宗) tại Quảng Minh Tự (광명사, 廣明寺) và góp phần giải quyết các vấn đề bất đồng, mâu thuẫn trong các tông phái phật giáo Hàn Quốc. Ngài đến trụ trì và hoằng hóa tại Bắc Hán sơn Trùng Hưng Tự (북한산 중흥사, 北漢山 重興寺), lập một nơi ẩn cư ở phía Đông ngôi chùa, gọi đó là Thái Cổ Am (태고암, 太古庵). Nơi đây Ngài viết tập “Ca nhất thiên (가일 천, 歌一篇) và sau đó Ngài viết tác phẩm “Sơn Trung tự lạc ca” (산중자락가, 山中自樂歌).

 

Các tác phẩm lưu lại hậu thế:

 

- Ngữ lục Hòa thượng Thái Cổ (태고화상어록, 太古和尙語錄),

- “Thái Cổ Di Âm” (태고유음, 太古遺音),

- “Thái Cổ Am Ca” (태고암가, 太古庵歌),

- Ca Nhất Thiên(가일 천, 歌一篇)

- Sơn Trung Tự Lạc Ca” (산중자락가, 山中自樂歌)

- “Lâm Tế Thái Cổ Pháp Thống” (임제태고법통, 臨濟太古法統),

- “Lâm Tế Thái Cổ Pháp Thống Thuyết” (임제 태고 법통설, 臨濟太古法統說),

- “Thái Cổ Pháp Thống thuyết” (태고법통설, 太古法統說),

- “Hải Đông Thiền Phái Chính truyền đồ” (해동선파정전도, 海東禪派正傳圖),

- “Tây Thành Trung Hoa Hải Đông Phật Tổ Nguyên lưu” (서역중화해동불조원류, 西域中華海東佛祖源流).

 

 

Quốc sư Thái Cổ 3Quốc sư Thái Cổ 2Bia tháp “Quốc sư Viên Chứng”Tháp hiệu Quốc sư Viên Chứng

Pháp Uyển truyền thừa

Thiền tông Chỉ nam

Lịch Đại Truyền Đăng

   (Ấn-Hoa-Hàn)

 

 Ấn Độ

 

Đức Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya Muni Buddha)

 

 1. Tổ Ca-Diếp: (Kasyapa)

2. Tổ A-Nan (Ananda)

3. Tổ Thương-Na-Hòa-Tu ( Sanakavasa)

4. Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa (Upagupta)

5. Tổ Đề-Đa-Ca (Dhrtaka)

6. Tổ Di-Dá-Ca (Miccaka)

7. Tổ Bà-Tu-Mật (Vasumitra)

8. Tổ Phật-Đà-Nan-Đề (Buddhanandi)

9. Tổ Phục-Đà-Mật-Đa (Buddhamitra)

10. Tổ Hiếp-Tôn-Giả (Parsvika)

11. Tổ Phú-Na-Dạ-Xa ( Punyayasas )

12. Tổ Mã-Minh ( Asvaghosha )

13. Tổ Ca-Tỳ-Ma-La (Kapimala)

14. Tổ Long-Thọ (Nagarjuna)

15. Tổ Ca-Na-Đề-Bà (Kanadeva)

16.Tổ La-Hầu-La-Đa (Rahulata)

17.Tổ Tăng-Già-Nan-Đề (Sanghanandi)

18.Tổ Già-Da-Xá-Đa (Gayasata)

19.Tổ Cưu-Ma-La-Đa (Kumarata)

20.Tổ Xà-Dạ-Đa (Jayata)

21.Tổ Bà-Tu-Bàn-Đầu (Vasubandhu)

22.Tổ Ma-Noa-La (Manorhita)

23.Tổ Hạc-Lặc-Na (Haklena)

24.Tổ Sư-Tử (Aryasimha)

25.Tổ Bà-Xá-Tư-Đa (Basiasita)

26.Tổ Bất-Như-Mật-Đa (Punyamitra)

27.Tổ Bát-Nhã-Đa-La (Prajnatara)

28. Tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma (Bodhidharma)

 

 Trung Hoa

 

 Bồ-đề-đạt-ma  菩提達磨

 

 29. Tổ Huệ Khả 慧可 (Hui K’o) 487–593T.L

30. Tổ Tăng Xán 僧璨 (Seng Ts’an) 497 (?)–602 T.L

31. Tổ Đạo Tín 道信 (Tao Hsin) 580- 651 T.L

32. Tổ Hoằng Nhẫn 弘忍 (Hung Jen) 602-675 T.L

33. Tổ Huệ Năng 慧能 (Hui Neng) 638-713 TL

34. Tổ Nam Nhạc – Hoài Nhượng 南嶽懷讓 (Huai Jang) 677–744 TL

35. Tổ Mã Tổ – Đạo Nhất 馬祖道一 (Ma-tsu Tao-i)709—788,hoặc 688—763

36. Tổ Bá Trượng – Hoài Hải 百丈懷海 (Pai-chang Huai-hai) 720?/749?–814

37. Tổ Hoàng Bá – Hy Vận 黃蘗希運 (Huang-po His-yun) 709 –788?–850

38. Tổ Lâm Tế – Nghĩa Huyền 臨濟義玄 (Lin-chi I-hsuan) ?–866/7       

39.Tổ Hưng Hóa – Tồn Tương 興化存奬 (Hsing-hua Tzun-chiang) 830–888

40. Tổ Nam Viện – Huệ Ngung 南院道癰 (Nan-yuan Hui-yu) 930?/952?

41. Tổ Phong Huyệt – Diên Chiểu 風穴延沼 (Feng-hsueh Yen-chao) 896–973

42. Tổ Thủ Sơn – Tỉnh Niệm 首山省念 (Shou-shan Hsing-nien) 925/6–992/3

43.Tổ Phần Dương –Thiện Chiêu 汾陽善昭 (T’ai-tzu Yuan-shan) 947–1024

44. Tổ Từ Minh – Sở Viên 慈明楚圓 (Tz'u-ming Ch'u-yüan) 986–1039

45. Tổ Dương Kỳ – Phương Hội 楊岐方會 (Yang-ch’i Fang- hui) 992–1049

46. Tổ Bạch Vân – Thủ Đoan 白雲守端 (Shou-tuan Pai-yun) 1025–1072

47. Tổ Pháp Diễn – Ngũ Tổ 法演五祖 (Fa-yen Wu-tsu) 1024–1104

48. Tổ Viên Ngộ – Khắc Cần 圓悟克勤 (Huan-wu K’o-ch’in) 1063–1135

49. Tổ Hổ Khiêu – Thiệu Long 虎丘紹隆 (Hsu-ch’iu Shao-lung) 1077–1136

50. Tổ Ưng Am – Đàm Hoa 應庵曇華 (Ying-an T’an-hua) 1103–1163

51. Tổ Mật Am – Hàm Kiệt 密庵咸傑 (Mi-an Hsi-chieh) 1118–1186

52. Tổ Phá Am – Tổ Tiên 破庵祖先 (P’o-an Tsu-hsien) 1174/8–1249         

53. Tổ Vô Chuẩn – Sư Phạm 無準師範 (圓照). (Wu-chuan Shih-fan)1179-1249

54. Tổ Tuyết Nham – Huệ Lãng 雪巖惠朗 (Hsueh-yen Hui-lang) (?)

55. Tổ Cấp Am – Tông Tín 伋庵宗信 (Jí-an Tsung-hsin) (?)

56. Tổ Thạch Ốc – Thanh Củng 石屋淸珙 (Shih-shih Ch’ing-kung) 1272–1352

 

 Triều Tiên (Hàn Quốc)

 

Thạch Ốc Thanh Củng (석옥청공선사, 石屋清珙禪師; 1272-1352)

 

57. Quốc sư Thái Cổ (태고보우국사, 太古普愚國師) 1301–1382

58. Tổ Huyễn Am – Cổn Tu 幻庵混修 (환암혼수) 1320–1392

59. Tổ Hào Cốc – Giác Vân 龜谷覺雲 (구곡각운) (?)

60. Tổ Bích Khê – Tịnh Tâm 碧溪淨心 (벽계정심) (?)

61. Tổ Bích Tòng – Trí Nghiêm 碧松智嚴 (벽송지엄) 1464–1534

62. Tổ Phù Dung – Linh Quán 芙蓉靈觀 (부용영관) 1485–1567/1571

63. Tổ Thanh Hư –Hưu Tĩnh 淸虛休靜 (청허휴정-서산대사) 1520–1604

64. Tổ Tiên Dương – Ngạn Cơ  鞭羊彦機 (편양언기) 1581–1644

65. Tổ Phong Đàm – Nghĩa Kham 楓潭義諶 (풍담의심) ?–1665

66. Tổ Nguyệt Đàm – Tuyết Tễ 月潭雪霽 (월담설제) ?–1704

67. Tổ Hoán Tinh – Chí An 喚惺志安 (환성지안) ?–1729

68. Tổ Hổ Nham – Thể Tịnh 虎巖體淨 (호암체정) ?–1748

69. Tổ Thanh Phong – Cự Ngạn 靑峰巨岸 (청봉거안) (?)

70. Tổ Lật Phong – Thanh Cổ 栗峰靑古 (율봉청고) ?–1823

71. Tổ Cẩm Hư – Pháp Triêm 錦虛法沾 (금허법첨) (?)

72 .Tổ Long Nham – Huệ Ngạn 龍岩慧彦 (용암혜언) (?)

73. Tổ Vĩnh Nguyệt – Phụng Luật 永月奉律 (영월봉율 ) (?)

74. Tổ Vạn Hoá – Phổ Thiện 萬化普善 (만화보선 ) ?–1879

75 Tổ Cảnh Hư – Tinh Ngưu 鏡虛惺牛 (경허성우)1849–1912

76. Tổ Mãn Không – Nguyệt Diện 滿空月面 (만공월면) 1871–1946

77. Tổ Cổ Phong – Cảnh Dực 古峯 鏡翼 (고봉경욱) 1890–1961/2

78. Tổ Sùng Sơn – Hạnh Nguyện 崇山行願 (숭산행원) 1927–2004

 

Thích Vân Phong biên dịch

(Nguồn: 우리역사넷)




***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/05/202003:48(Xem: 7649)
Công đức hoằng khai nhiếp hóa của Ngài cao hơn núi cao Tấm lòng từ bi độ lượng của Ngài sâu hơn biển sâu Chữ nghĩa của trần gian làm sao phô diễn
02/12/202013:35(Xem: 96)
Bà Thái Việt Phan, người vừa được bầu vào Hội đồng Thành phố Santa Ana, đã sửng sốt khi nhận được thư cảnh báo từ từ ngôi già lam tự viện Phật giáo mà bà từng lui tới. Chùa Hương Tích đã bị xịt sơn và cảnh sát Thành phố Santa Ana đã coi đây là một tội ác gây ra bởi sự thù địch. Đây là ngôi tự viện Phật giáo thứ sáu bị xịt sơn trong khu vực chỉ trong tháng vừa qua.
02/12/202013:26(Xem: 33)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật - Trong tâm tình: ''Lắng nghe để hiểu- Nhìn lại để thương'', chúng con, chúng tôi đã thực hiện một buổi phát quà cứu đói cho 294 hộ tại 2 ngôi làng nghèo có tên là Dugarpur & Amobha cách Bồ Đề Đạo Tràng chừng 8 cây số. Xin mời quí vị hảo tâm xem qua một vài hình ảnh tường trình.. Thành phần quà tặng cho mỗi hộ gồm có: 1 tấm Saree, 10 ký Gạo và bột Chapati, đường, muối dầu ăn và bánh ngọt cho trẻ em, kèm với 200Rupees tiền mặt để mua thêm gạo cho từng hộ GD.(Bên cạnh đó là những phần phụ phí như mướn xe chở hàng, tiền công đóng gói và công thợ khuân vác, tiền quà cho những người bảo vệ và sắp xếp trật tự tại nơi phát chẩn.)
01/12/202017:02(Xem: 81)
Cư sĩ Keith Dowman sinh năm 1945, gốc người Anh, tinh hoa Phật giáo, một vị giáo thụ giảng dạy Thiền Đại Viên Mãn (Dzogchen; 大圓滿), theo truyền thống Ninh Mã, Phật giáo Kim Cương thừa, Mật tông Tây Tạng, dịch giả các kinh điển Phật giáo Tây Tạng. Cư sĩ Keith Dowman đang cư ngụ tại Kathmandu, Nepal, nơi ông đã sống trong 25 năm. Các bản dịch của ông từ tiếng Tây Tạng.
30/11/202009:23(Xem: 159)
“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy Ta có thêm ngày nữa để yêu thương” Cảm ơn vì sáng nay tôi còn nghe được tiếng nói, tiếng cười của người thân, bạn bè. Nhìn xuyên qua khe cửa, lá trên cây đã bắt đầu đổi màu, biến những hàng cây xanh ngày nào thành một bức tranh hỗn hợp nhiều sắc màu. Vài cơn gió lành lạnh lại bắt đầu thổi về mang theo bao hồi ức vui buồn lẫn lộn. Tôi lặng lẽ ngồi đây như ngồi giữa thiên đường của thời xa xưa ấy. Tôi luôn biết ơn sâu sắc đến quý Phật tử xa gần đã hỗ trợ và đồng hành cho NVNY trong suốt chặng đường 5 năm qua. Nhất là những thiên thần đáng yêu tại Las Vegas, sớm hôm luôn bay về nâng đỡ cho Ni Viện khi cần. Năm 5 về trước, lần thứ tư tôi đặt chân đến đất nước xinh đẹp vĩ đại này. Tôi tận hưởng vẻ đẹp của những cánh đồng bất tận, nơi an nghỉ của ánh sáng mặt trời, nơi các đóa hoa tỏa hương thơm vào không gian; và tôi khám phá các ngọn núi tuyết cao sừng sững hiên ngang giữa trời đất, ở đó tôi tìm thấy sự thức giấc tươi mát của mùa Xuân, lòng kh
29/11/202015:32(Xem: 176)
Cư sĩ Rob Nairn, vị Luật sư, Thẩm phán Trẻ tuổi nhất tại Rhodesia, Giáo sư Phật học uyên thâm, tác giả, nhà nghiên cứu dân số. Ông sinh ra và lớn lên tại Rhodesia. Ông là môn đồ của Phật giáo Kim Cương Thừa Mật tông Tây Tạng, thuộc dòng truyền thừa Karma Kagyu. Cư sĩ Rob Nairn, người đại diện cho Hòa thượng Tiến sĩ Akong Rinpoche tại Châu Phi (Chöje Akong Tulku Rinpoche,1939-2013, người sáng lập Tu viện Samye Ling Scotland), với trách nhiệm giảng dạy 11 Trung tâm Phật học tại bốn quốc gia Châu Phi. Mục tiêu của ông là giảng dạy thiền và Phật giáo Tây Tạng cho tất cả những ai yêu mến đạo Phật, cũng như ở cấp độ đại học và hậu đại học ở các quốc gia như Vương quốc Anh, Ireland, Châu Phi và Hoa Kỳ thông qua các trường Đại học và các Trung tâm Phật học.
28/11/202012:57(Xem: 176)
Chàng vẫn thường chê tôi, chỉ giỏi phân tích sự kiện chứ không có đầu óc tổng hợp. Được rồi! Hôm nay tôi sẽ tổng hợp tất cả các bài Pháp của các Vị nói về đề tài nóng bỏng đang thiêu đốt các dân cư mạng, chỉ một bài hát thôi mà số người lướt sóng lên đến hàng chục triệu lần. Chẳng là gì cả, chỉ câu truyện tình liên quan đến chốn Thiền Môn, chàng là ông Thầy Tu, nàng là cô Quận Chúa. Thuở bé nàng vẫn thường theo cha đến Chùa, Tể tướng thì đàm đạo với Đại Hòa Thượng, tiểu thư "nhí" chơi đùa với "tiểu" Hòa Thượng, hay mua kẹo Hồ Lô tặng chú tiểu, cũng một loại "Tình yêu đi qua bao tử". Thế rồi thời gian thấm thoát thoi đưa, sau mười năm cặp đôi này trở thành một đôi trai thanh gái tú. Nàng đòi ở luôn trong Chùa, nhất định không chịu về, Chàng Thầy tu phải đuổi về vì phạm giới luật của một Chùa Tăng. Thế là Nàng ra đi để rồi mất dấu chân chim, một thời gian sau nghe tin Nàng tự vẫn vì bị tên Thái Tử háo sắc làm nhục.
26/11/202019:10(Xem: 168)
Chín năm về trước, trang báo điện tử Phật giáo Indonesia “BuddhaZine” đã cùng nhịp bước với thời đại của thế giới thông tin truyền thống với sự tiến bộ của công nghệ internet. Sự hiện diện của “BuddhaZine” như một phương tiện truyền thông Phật giáo trực tuyến, phù hợp với sự phát triển của công nghệ truyền thông hiện đại, bước sang thiên niên kỷ mới này đã quen thuộc với thế hệ trẻ thanh thiếu niên, và đã được sự hoan nghênh đón nhận của cộng đồng Phật giáo và cư dân mạng, trên hành trình khiến “BuddhaZine” trở thành một tổ chức truyền thông quan trọng, và phát triển “Phật pháp với Nhân sinh” (Buddha Dharma, 佛法與人生), trong cộng đồng trên đất nước vạn đảo này.
26/11/202019:05(Xem: 104)
“Tinh thần Dân chủ Nhân dân đã trở thành một phần, không thể tách rời trong phạm vi cuộc sống của nhân loại trên hành tinh này. Điều đó có thể nói là đã ngấm vào tận xương tủy của con người. Nhìn từ sự phát triển của một quốc gia, hay một đất nước phát triển, trên nền tảng chính trị do đa số người dân sống ở một vùng, miền nào đó thực hiện”. Sự phát triển chính trị năng động, cho phép một quốc gia phát triển với tốc độ nhanh. Nói đến Dân chủ, chúng ta cần phải hiểu rằng, Dân chủ thực sự mang lại cho con người quyền tự do biểu đạt, bày tỏ ý kiến, quan điểm, ý tưởng, chính quyền do nhân dân lựa chọn, phản ánh sự lựa chọn của nhân dân, nhà nước do nhân dân làm chủ. Mục đích của Dân chủ là đạt được công lý bình đẳng cho tất cả công dân thông qua sự trung thực, bình đẳng và bình đẳng chính trị.
26/11/202008:39(Xem: 498)
Từ hơn chục năm qua tôi vẫn tận dụng từng giờ trong ngày còn lại để nghe pháp, học pháp và chiêm nghiệm về những lời dạy của Cổ nhân hay Giảng Sư sau thời gian cần phải có và cần thiết cho nhu cầu trong đời sống con người.