Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

07. Thực Tập Đúng Đắn - Thực Tập Kiên Định

17/08/201916:34(Xem: 769)
07. Thực Tập Đúng Đắn - Thực Tập Kiên Định

THỰC TẬP ĐÚNG ĐẮN - THỰC TẬP KIÊN ĐỊNH

(Bài Pháp được giảng cho nhóm sinh viên Đại học tu gieo duyên tại tu viện Keuan trong mùa hè năm 1978)

Tu viện Wat Wana Potiyahn[27] thật thanh tịnh, nhưng nếu tâm chúng ta không thanh tịnh quả là vô nghĩa. Nhiều vị dường như không chú tâm thực tập. Một không gian yên tĩnh có thể giúp chúng ta trở nên thanh tịnh, giúp chúng ta cơ hội huân tu, hòa vào không gian tĩnh lặng đó.

Bạn đừng quên rằng việc thực tập không dễ dàng chút nào. Uốn nắn thứ gì khác thật không mấy khó khăn, đôi khi còn dễ dàng nữa là khác, nhưng uốn nắn tâm con người quả thật là thiên nan vạn nan. Đức Thế Tôn đã điều phục tâm của mình một cách viên mãn. Tâm là quan trọng nhất. Mọi bộ phận trong hệ thống thân tâm này hoạt động thống nhất với nhau dưới sự điều khiển của tâm. Mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, tất cả nhận cảm giác thông tin từ bên ngoài và chuyển thông tin về tâm, bộ chỉ huy cao nhất của tất cả các giác quan. Do đó, luyện tâm vô cùng quan trọng. Nếu tâm được điều phục tốt, mọi vấn đề khó khăn đều chấm dứt. Nếu thấy vấn đề vẫn còn, đó chính bởi tâm vẫn còn hoài nghi, vẫn chưa tương thuận với sự thật của vạn pháp. Đó là lý do tại sao có khó khăn, có vấn đề.

Nhận thức rõ điều này, tất cả các bạn hãy chuẩn bị sẵn sàng thực tập pháp. Dù khi đứng yên, hay đi qua đi lại, dù đang ngồi hay nằm nghỉ ngơi, dụng cụ bạn cần trang bị là sẵn sàng tiếp ứng, làm tâm luôn trực tuyến bất cứ nơi nào bạn hiện diện. Pháp hiện hữu đó đây, là tất cả những gì xung quanh chúng ta. Ở ngay đây, trên đất, trong nước, khắp mọi nơi... pháp luôn luôn có mặt. Pháp là toàn thiện, viên dung, chỉ có việc thực tập của chúng ta chưa sung mãn mà thôi.

Đức Thế Tôn, bậc Toàn Giác đã dạy một phương pháp, tất cả chúng ta có thể thực tập và đến để nhận chân pháp này. Việc ấy không lớn lao, chỉ là việc nhỏ nhưng đúng đắn, chân chánh. Ví như nhìn sợi tóc. Nếu chỉ cần biết một sợi tóc, chúng ta sẽ biết những sợi tóc khác cũng thế, kể cả của chính tự thân hay của ai khác. Chúng ta chỉ đơn giản biết chúng đều là “tóc”. Chỉ với một sợi tóc, chúng ta biết tất cả.

Hay suy ngẫm về con người. Nếu chúng ta thấy bản chất thật sự của mọi nhân tố nơi chính mình, chúng ta sẽ biết tất cả mọi người trên thế giới này cũng giống như thế, bởi vì cấu trúc con người đều giống nhau. Giáo pháp cũng như vậy. Một vật là nhỏ nhưng cũng thật là lớn. Đó là thấy sự thật trong một nhân tố là thấy sự thật trong tất cả. Khi chúng ta biết sự thật như nó đang là, tất cả mọi vấn đề rắc rối đến hồi kết thúc vậy.

Tuy nhiên, việc luyện tập hết sức khó khăn. Tại sao lại khó? Nó khó bởi vì có lòng tham muốn (taṇhā). Nếu không tham muốn, bạn không chịu thực tập. Nhưng nếu thực tập mà không mong mỏi gì hết, bạn không thể nào thấy pháp. Tất cả các bạn hãy suy ngẫm điều này. Nếu bạn không muốn thực tập thì không thể nào thực tập được. Trước tiên, bạn phải khởi ý muốn thực tập để thực tập thực sự, dù rằng bước tới hay bước lui bạn đều bắt gặp tham muốn. Đó là lý do tại sao các hành giả đi trước đã tuyên bố rằng, việc thực tập này là một loại công việc cực kỳ khó thực hiện.

Bạn không thấy pháp bởi vì có tâm tham muốn này. Đôi khi tham vọng hết sức mãnh liệt, bạn muốn thấy pháp ngay tức khắc, nhưng pháp không có mặt trong tâm bạn, vì tâm bạn chưa phải là pháp. Pháp là một thứ và tâm là một thứ khác. Không phải bất cứ cái gì bạn thích là pháp và bất cứ cái gì bạn không thích thì không phải là pháp. Đó không phải là cách pháp hiện hữu đâu.

Thật ra tâm của chúng ta chỉ bình thường là một phần của tự nhiên, giống như một thân cây trong khu rừng rậm. Nếu chúng ta muốn có một tấm ván hay một cây đòn tay, những thứ này đều được làm từ thân cây nhưng thân cây vẫn chỉ là thân cây. Nó chưa thành hình tấm ván hay cây đòn tay. Trước khi chúng ta có thể thật sự sử dụng nó, chúng ta phải đốn cây và cưa nó thành đòn tay hay tấm ván. Cũng là thân cây nhưng nó chuyển dạng thành thứ khác. Bản chất của nó đúng là một thân cây, một phần của tự nhiên, nhưng trong giai đoạn thô thiển nó chưa được sử dụng phổ biến. Tâm của chúng ta cũng vậy. Nó là một phần của tự nhiên tạo hoá. Rất tự nhiên nó hiểu được ý tưởng, nó phân biệt được đẹp xấu, v.v...

Tâm này của chúng ta phải được huân tập nhu nhuyến hơn. Chúng ta không thể để mặc kệ nó. Nó là một nhân tố của tự nhiên... trui rèn nó để nhận chân ra rằng nó là một nhân tố của tự nhiên. Cải thiện tự nhiên để thích ứng những nhu cầu của chúng ta, đó là pháp. Pháp là gì đó cần phải được thực tập và mang về lại bên trong.

Nếu bạn không thực tập tức bạn sẽ không biết được. Thành thật mà nói, bạn sẽ không nhận chân được pháp bằng cách đọc hay nghiên cứu. Hay nếu bạn nhận chân ra được đi nữa, tri thức của bạn cũng sẽ khiếm khuyết. Ví như cái ống nhổ này đây. Mọi người biết đó là cái ống nhổ nhưng không biết rõ ràng, đầy đủ về nó. Tại sao họ không biết rõ ràng, đầy đủ về cái ống nhổ? Nếu tôi gọi cái ống nhổ này là cái chảo, bạn sẽ nói gì? Giả sử mỗi lần hỏi đến nó, tôi nói: “Hãy mang cái chảo đến đây giùm tôi”, bạn sẽ lúng túng ngay. Tại sao thế? Bởi vì bạn không biết rõ cái ống nhổ. Nếu bạn lúng túng do dự, điều đó cũng không có vấn đề gì cả. Bạn chỉ đơn giản cầm nó đến cho tôi, bởi thật sự không có cái ống nhổ nào cả. Bạn có hiểu không? Cái tên “ống nhổ” chỉ do quy ước. Tất cả chúng ta trong nước hay ngoài nước đều chấp nhận quy ước này, vì vậy nó có tên “ống nhổ”. Tuy nhiên không có một cái “ống nhổ” thật sự nào hết. Nếu có ai muốn gọi nó là “cái chảo”, nó có thể có tên “cái chảo”. Nó có thể là bất cứ cái gì nếu bạn gọi tên nó. Đây được gọi là “khái niệm”. Nếu hiểu cái ống nhổ một cách rõ ràng, ngay cả ai gọi nó là cái chảo, cũng không có vấn đề gì. Nó có thể được gán cho bất cứ cái tên nào khác, chúng ta bình thản bởi vì chúng ta không mù mờ đối với bản chất thật sự của nó.

Bây giờ hãy trở lại bản thân chúng ta. Giả sử có người nói: “Anh điên à!” hay “Anh thật ngốc nghếch”. Mặc dù biết lời ấy không thật, bạn cũng sẽ không cảm thấy dễ chịu. Mọi thứ trở nên bất an, bứt rứt bởi vì hoài bão của chúng ta là mong sở hữu, mong thành đạt. Bởi vì tham vọng có, tham vọng được, bởi vì chúng ta không biết thuận theo chân lý, theo sự thật, nên chúng ta không hài lòng. Nếu biết pháp, nhận chân rõ pháp, tham vọng, sân hận và si mê sẽ biến mất ngay. Khi hiểu mọi thứ theo hướng này, chúng không còn điểm tựa nào cả.

Tại sao việc thực tập quá khó khăn, gay go như vậy? Bởi vì tham vọng. Ngay khi ngồi xuống bồ đoàn, chúng ta muốn được thanh tịnh ngay. Nếu không muốn tìm thấy bình an, chúng ta sẽ không chịu ngồi, chúng ta sẽ không thực tập. Vừa ngồi xuống chúng ta liền muốn an lạc ngay tức thì, nhưng muốn tâm trở nên tĩnh lặng lại khiến tâm mơ hồ, và chúng ta cảm thấy không yên. Sự việc diễn tiến như thế. Vì thế Đức Thế Tôn dạy rằng: “Đừng nói với tâm tham ái, đừng ngồi với tâm tham ái, đừng bước đi với tâm tham ái,... bất cứ làm việc gì, đừng làm với tâm tham ái”. Tham ái là ước muốn. Nếu bạn không muốn làm gì, bạn sẽ không làm. Nếu việc thực tập của chúng ta lâm vào trạng huống này, chúng ta có thể chán nản vô cùng. Thế thì làm thế nào chúng ta có thể thực tập được? Ngay khi đặt thân xuống bồ đoàn, tham đã có mặt trong tâm.

Bởi chỗ khó khăn này mà thân và tâm thật khó câu thúc. Nếu chúng không phải là ta thì cũng thuộc của ta, vậy ai làm chúng thuộc về như thế? Thật khó mà lý giải thông suốt những điều này, chúng ta phải nhờ vào trí tuệ mới luận được. Đức Thế Tôn vẫn dạy chúng ta rằng phải thực tập với phương châm “hãy để tự nhiên” phải không nào? Nếu chúng ta để mọi sự trôi theo tự nhiên pháp, chúng ta không cần thực tập nữa có phải chăng?... Bởi vì chúng ta buông xả hết rồi?

Giả sử chúng ta đi mua vài trái dừa trong chợ và trong khi chúng ta mang chúng về chùa, có người hỏi:

Bạn mua dừa này để làm gì?

Tôi mua chúng để ăn.

Thế bạn sẽ ăn luôn cả vỏ dừa chứ?

Không.

Tôi không tin. Nếu bạn không ăn vỏ dừa tại sao bạn lại đi mua chúng?

Bạn phải nói gì đây? Bạn sẽ trả lời câu hỏi này như thế nào? Chúng ta thực tập bên cạnh lòng mong cầu. Nếu không có mong cầu, chúng ta sẽ không thực tập đâu. Thực tập mà còn mong cầu là taṇhā rồi. Bạn nên biết, tư duy như thế, trí tuệ có thể phát khởi. Ví dụ những trái dừa này: Bạn ăn luôn vỏ của chúng phải không? Dĩ nhiên là không. Vậy tại sao bạn lại đi mua chúng? Bởi vì chưa tới lúc liệng bỏ chúng. Vỏ dừa để bao bọc phần cơm dừa bên trong. Sau khi ăn cơm dừa rồi, bạn quăng bỏ vỏ dừa, như thế không vấn đề gì.  

Việc thực tập của chúng ta cũng vậy. Đức Thế Tôn dạy: “Đừng hành động bởi tham ái, đừng nói vì tham ái, đừng ăn với tham ái”. Đứng, đi, ngồi hay nằm... bất cứ làm gì... đừng làm với tâm tham ái. Điều này có nghĩa là hành động với tâm ly tham triệt để. Cũng giống như mua trái dừa từ chợ vậy. Chúng ta sẽ không ăn phần vỏ dừa, nhưng chưa đến lúc quăng bỏ vỏ dừa ấy. Hãy giữ chúng lại đã. Đây là cách thực tập. Khái niệm tính siêu việt[28] cùng tồn tại như trái dừa có cả cơm, lớp da nâu mỏng và cả vỏ dừa vậy. Khi chúng ta mua nó, chúng ta mua tất cả chúng. Nếu ai muốn nói chúng ta ăn vỏ dừa, đó là chuyện của họ, chúng ta biết mình đang làm gì.  

Trí tuệ phải tự mỗi chúng ta tìm thấy nơi chính mình. Để có trí tuệ chúng ta phải không đi chậm cũng không đi mau. Chúng ta nên làm gì? Hãy đạt đến chỗ không chậm không mau. Đi chậm hay mau không phải là cách.

Nhưng chúng ta lúc nào cũng vội vã, hối hả. Ngay khi bắt đầu, chúng ta đã muốn chạy nhanh về đích, không muốn bị bỏ lại sau. Chúng ta muốn thành công. Khi mới bắt chân ngồi thiền chế ngự tâm, nhiều người đã đi quá xa... Họ thắp hương, đảnh lễ và phát nguyện: “Khi nào nén hương này chưa cháy hết, con sẽ không đứng dậy rời chỗ ngồi này, dù con ngã quỵ hay chết đi nữa, cũng không lay chuyển được... con cũng sẽ ngồi đây”. Phát nguyện xong, họ bắt đầu ngồi xuống. Vừa bắt đầu ngồi, chúng Ma vương[29] đổ xô đến tấn công tứ phía. Họ ngồi được một chút đã suy nghĩ: “Chắc nén hương cháy hết rồi”. Họ lén mở mắt nhìn thử... “Ồ, vẫn còn lâu lắm!”

Họ cắn chặt răng và cố ngồi thêm chút nữa, cảm giác nóng, xôn xao, lắc lư, dao động... Được một lát lại nghĩ: “Bây giờ chắc là nén hương tàn hết rồi”... Lại hé mắt nhìn: “Ôi! Chưa được một nửa thời gian!”

Hai ba lần mở mắt nhìn, nén hương vẫn chưa cháy hết, họ bỏ ngang và ngồi thừ đó giận chính mình: “Ta thật quá ngu. Ta tuyệt vọng quá!” Họ cứ ngồi mà giận chính mình, cảm giác hoàn toàn bất lực, vô vọng. Đây là gốc rễ của sự thất bại và chướng ngại. Đây cũng được gọi là chướng ngại “thiếu ý chí.” Họ không thể trách rầy kẻ khác vì vậy họ quy trách nhiệm chính mình. Tại sao vậy? Chính bởi lòng tham muốn.

Thật ra, không cần thiết phải tuần tự làm tất cả những việc đó. Định tâm có nghĩa là tập trung tâm ý không có tham vọng, không mong muốn gì cả, không phải là chú tâm vào những thắt gút khó khăn.

Có lẽ tất cả chúng ta đều đã đọc cuộc đời của Đức Thế Tôn trong nhiều kinh, Ngài đã ngồi dưới cội Bồ-đề thiết lập định tâm như thế nào - “Khi nào vẫn chưa chứng quả Chánh giác Tối thượng, Ta sẽ không rời chỗ này, cho dù máu của Ta khô cạn”.

Đọc thấy điều này trong kinh điển, có thể bạn nghĩ phải nỗ lực hết sức mình. Bạn sẽ làm giống như Đức Thế Tôn. Nhưng bạn không suy nghĩ rằng chiếc xe của bạn chỉ là loại nhỏ. Xe của Đức Thế Tôn là xe rất lớn, Ngài có thể chở hết tất cả trong một lần. Chỉ với chiếc xe bé nhỏ, làm sao bạn có thể chở hết tất cả một lần được? Câu chuyện hoàn toàn khác.  

Tại sao chúng ta suy nghĩ như vậy? Bởi vì chúng ta quá cực đoan. Đôi khi chúng ta đi quá chậm, đôi khi đi quá nhanh. Quả thật là khó đạt được mức quân bình.

Tôi chỉ nói từ kinh nghiệm. Việc thực tập trước đây của tôi cũng như thế. Thực tập để vượt qua tham muốn... nhưng nếu không có mong muốn, chúng ta có thể còn thực tập không? Tôi bị mắc kẹt ở đây. Nhưng thực tập với lòng mong cầu là khổ. Tôi không biết là gì nữa, tôi bị chướng ngại. Sau đó tôi nhận ra rằng, việc thực tập kiên định là điều hết sức quan trọng. Mọi người phải thực tập liên tục trước sau như một. Họ gọi cách thực tập này là “kiên định trong mọi tư thế”. Duy trì, làm cho việc thực tập tinh tế hơn, đừng để nó trở thành một tai họa. Thực tập là một việc. Tai họa là một việc khác.[30] Hầu hết người ta thường tạo ra tai họa. Khi cảm thấy lười biếng, họ không bận tâm đến việc thực tập nữa, họ chỉ thực tập khi cảm thấy hứng khởi tràn đầy năng lượng. Tôi để ý và kinh nghiệm điều này.  

Tất cả bạn tự hỏi lại lòng mình có đúng vậy không? Thực tập khi bạn cảm thấy thích và khi không cảm thấy thích thì thôi không thực tập: Như thế có phù hợp với pháp không? Có đúng không? Có thuận theo giáo huấn của đức Đạo sư không? Chiều theo sở thích như thế làm cho việc thực tập trước sau bất nhất.

Cho dù cảm thấy thích hay không thích, bạn đều có ý thức thực tập như nhau. Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Hầu như mọi ngưòi chờ đợi tâm trạng tốt mới thực tập còn nếu không cảm thấy thích thì thôi, không thực tập gì hết. Họ chỉ đạt đến chừng ấy. Đây gọi là “tai họa”, tức là không thực tập. Thực tập đúng đắn, dù vui hay đang phiền muộn, bạn đều thực tập; cho dù thuận duyên hay gặp khó khăn, bạn cũng thực tập; cho dù trời nóng hay lạnh, bạn đều thực tập. Luôn giữ vững ý chí như thế. Thực tập đúng đắn, dù khi đứng, đi, ngồi, hay nằm bạn đều phải chú tâm chánh niệm liên tục, thực tập một cách kiên định, huân tập chánh niệm luôn có mặt trong mọi tư thế.  

Đầu tiên bạn thực tập chánh niệm ở tư thế đứng trong một khoảng thời gian nhất định, bạn chuyển sang chánh niệm trong tư thế đi; chánh niệm đi trong một khoảng thời gian nhất định, bạn chuyển sang tư thế ngồi... rồi chuyển qua tư thế nằm... Tôi đã từng cố gắng thực tập cách này nhưng không thành công với tôi. Nếu một thiền sinh tập chánh niệm trong đứng, đi, ngồi, nằm đều đặn quân bình, khoảng bao nhiêu ngày vị ấy duy trì cách thực tập đó? Đứng khoảng năm phút, chuyển sang ngồi trong năm phút, rồi nằm năm phút... Tôi không thể kéo dài việc thực tập theo cách này. Thế nên tôi đành ngồi xuống quán xét, suy nghĩ lại phương cách thực tập này thêm: “Cách thực tập như vậy có ý nghĩa gì? Mọi người trên thế giới này không thể đều thực tập giống như thế này!”

Rồi tôi nhận ra: “À, cách thực tập này không đúng, không thể đúng bởi vì nó không thể thực tập được. Đi, đứng, ngồi, nằm... khiến người thực tập kiên định, vững chãi trong mọi lúc. Làm cho mọi tư thế vững chãi theo quy định, họ lý giải cách đó là theo sách vở, không thể được!”

Phương pháp này có thể thực tập như sau: Tâm... chỉ chuyên chú trên tâm. Có chánh niệm (sati), giác tỉnh (sampajañña) và trí tuệ, trí tuệ có mặt mọi nơi... Cách này bạn có thể thực tập được. Đây là phương pháp thực tập có hiệu quả thật sự. Cách này có nghĩa là trong khi đứng, chúng ta có chánh niệm; trong khi đi, chúng ta có chánh niệm; trong khi ngồi, chúng ta có chánh niệm; và trong khi nằm, chúng ta cũng duy trì chánh niệm một cách liên tục, kiên định. Cách thực tập này thực hành được ngay. Chúng ta tỉnh giác ngay trong lúc đứng, đi, ngồi, nằm, trong mọi tư thế của thân.  

Khi tâm được rèn luyện như thế chúng ta thầm niệm tiếng Buddho (Đức Phật), Buddho, Buddho... một cách liên tục và nhận biết rõ đang niệm. Nhận biết gì ở đây? Đó là mọi lúc đều biết rõ gì là đúng, gì là sai. Vâng, phương cách này có thể thực tập vậy. Cách này đưa đến thực tập đúng đắn thật sự. Đó là dù đứng, đi, ngồi hay nằm, luôn luôn có chánh niệm.

Bạn nên biết rõ những trạng huống, điều kiện, cái nào nên từ bỏ, cái nào nên huân dưỡng. Bạn biết rõ cảm thọ hạnh phúc, và cũng biết rõ cảm thọ không hạnh phúc. Khi bạn nhận thức được cảm thọ hạnh phúc hay không hạnh phúc đó, tâm bạn sẽ điều động, ổn định lại trạng thái mà không dính mắc cảm thọ hạnh phúc và không hạnh phúc. Hạnh phúc là con đường thoáng đãng (kamasukhallikānuyogo). Không hạnh phúc là con đường nhỏ hẹp, khó chịu (attakilamathānuyogo).[31] Nếu nhận chân được hai cực đoan này, chúng ta quay trở lại. Khi biết tâm có xu hướng cảm thọ hạnh phúc hay không hạnh phúc, chúng ta đưa tâm trở lại, không cho phép nó trượt theo vết cũ. Đạt được sự tỉnh giác này là chúng ta đã nhập vào Độc đạo, vào Nhất pháp. Chúng ta có tỉnh giác, không cho phép tâm đi theo xu hướng của nó.  

Tuy nhiên, việc thực tập của bạn không được như ý muốn phải không? Bạn luôn chiều theo khuynh hướng của thói quen. Chiều theo khuynh hướng của thói quen lúc nào cũng dễ phải không? Nhưng sự dễ dàng này mang đến đau khổ giống như người không chịu gò bó làm việc. Vị ấy làm trông thoải mái thong dong nhưng đến lúc ăn, vị ấy chẳng ăn được gì cả. Sự việc là như thế.      

Vậy nên, nhiều vấn đề trong di huấn của Đức Thế Tôn luôn nghênh chiến với tôi, song thật sự tôi không thể thắng được. Bây giờ tôi công nhận điều đó. Tôi thừa nhận nhiều quan điểm trong giáo huấn của Đức Thế Tôn quá trực chỉ theo nguyên tắc, vì vậy tôi đã áp dụng những phương pháp này để thực tập và áp dụng chúng để rèn luyện cho chính tôi và mọi người.

Việc thực tập quan trọng nhất là paṭipāda. Paṭipāda là gì? Rất đơn giản, đó là những hành hoạt của chúng ta, đứng, đi, ngồi, nằm và nhiều động thái khác. Đây là Paṭipāda của thân thể. Còn Paṭipāda của tâm: Mỗi ngày có bao nhiêu lần bạn cảm thấy yểu xìu? Bao nhiêu lần bạn cảm thấy cao hứng, phấn khích? Bạn có thể nhận thấy cảm thọ thô nào không? Chúng ta phải biết rõ tự thân như thế nào. Nhận diện các cảm thọ rồi, chúng ta có thể dễ dàng để chúng trôi qua không? Bất cứ cảm thọ nào chúng ta không thể để chúng trôi qua dễ dàng, chúng ta quán sát chúng. Khi thấy rằng không thể bỏ qua những cảm thọ nổi trội, chúng ta giữ nó lại và quán sát nó bằng trí tuệ. Phân tích chúng. Quán sát chúng. Đây là thực tập. Ví dụ khi chúng ta khởi lòng ganh tị, hãy thực tập ngay và rồi khi bạn cảm thấy lười biếng, cũng vẫn cố gắng tiếp tục thực tập. Nếu bạn không thể tiếp tục thực tập trọn thời gian thì ít nhất cố gắng thực tập một nửa thời gian. Đừng để một ngày lãng phí trôi đi do lười biếng không thực tập. Thực tập không đều đặn như thế sẽ dẫn đến tai họa, một hành giả không nên tu theo cách như vậy.

Tôi nghe có người bảo rằng:

Ôi! Năm nay là năm tôi thật sự gặp toàn chuyện không may.

– Làm sao như thế được?

– Tôi bị bệnh suốt cả năm. Tôi không thực tập được gì cả.

– Ồ! Nếu họ không thực tập khi cái chết đến gần, vậy chừng nào họ mới thực tập? Nếu họ cảm thấy khoẻ khoắn, bạn nghĩ xem, liệu họ có chịu thực tập không? Không, họ chỉ tu khi gặp điều không may thôi. Nếu gặp khổ sở mà cũng không chịu thực tập, họ càng thua lỗ. Tôi không biết đến lúc nào mọi người mới nghĩ đến việc họ cần tu tập! Họ chỉ có thể thấy rằng họ đang bệnh, đang đau, gần chết vì sốt chết... đúng vậy, rất khó khăn chịu đựng bệnh tật, nhưng thực tập chính ngay nơi ấy. Khi mọi người cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ, họ cứ chạy theo cảm giác ấy và rồi họ tự hào, kiêu ngạo.

 Chúng ta cần phải chăm chút cho việc tu tập của mình. Điều này có nghĩa là dù bạn đang vui vẻ hay bất an, bạn phải thực tập như nhau. Nếu cảm thấy khoẻ mạnh, bạn nên thực tập và nếu cảm thấy mệt, bạn cũng cố gắng thực tập. Nhiều người cho rằng: “Năm nay, tôi không thể thực tập được, tôi bị bệnh suốt...”. Nhưng nếu cảm thấy khoẻ, họ cũng chỉ đi lòng vòng đó đây ca hát. Suy nghĩ này sai, không đúng. Đó là lý do tại sao các hành giả trong quá khứ lúc nào cũng thôi thúc trong tâm duy trì sự tu tập liên tục. Nếu cảm thấy giải đãi mỏi mệt, hãy để thân cưu mang cái cảm giác ấy còn tâm phải tinh tấn thực tập.      

Có một giai đoạn, sau khi liên tục thực tập khoảng năm năm, tôi cảm thấy rằng sống với người khác là một chướng ngại. Tôi bèn ngồi trong thất của mình và cố gắng định tâm nhưng tôi vẫn bị phiền toái bởi tiếng nói chuyện, tiếng động ồn ào của mọi người. Tôi chạy trốn để sống riêng với chính mình. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ không thể nào thực tập khi mọi người xung quanh gây phiền toái quá nhiều cho tôi. Tôi chán ngấy nên đi đến tu tại một tự viện nhỏ, ở xa trong khu rừng cạnh ngôi làng ít dân cư. Tôi sống ở đó một mình, không nói chuyện với ai hết, thật ra cũng không có ai để nói. 

Tôi ở được mười lăm ngày, sau đó suy nghĩ lại khởi lên trong tôi: “Nếu có một tập sự xuất gia (Pa-kow)[32] ở đây với tôi thì tốt rồi. Cậu ta có thể giúp tôi những việc nhỏ nhặt”. Khi tư tưởng này khởi lên, tôi nhận ra ngay.

– Này! Đúng là cái tật của bạn! Bạn đã chán ngấy bạn bè, những vị Tăng đồng tu, rồi bây giờ bạn lại mong có một tập sự nhỏ. Đây là gì vậy?

– Không phải, ý tôi muốn nói là Tôn muốn có một chú tập sự ngoan tốt”.

– Đó! Ở đâu có người tốt, bạn có thể tìm ra không? Bạn đi tìm người tốt ở đâu? Trong tất cả chùa chiền, không có ai tốt cả. Bạn là người tốt duy nhất đã bỏ đi đó!

... Bạn phải đi theo sự lựa chọn của bạn, làm theo cách bạn đã nghĩ ra cho đến khi nào bạn thật sự nhận ra:

– Này, đây là điều hết sức quan trọng. Người tốt ở đâu mà tìm chứ? Không có người tốt, bạn phải tìm cái tốt ở mọi nơi, ở mọi đối tượng, bạn phải nhìn lại chính bạn. Nếu tâm tánh bạn tốt, vậy thì bất cứ nơi nào bạn đến đều là nơi tốt cả. Dù người ta phê bình hay khen ngợi bạn, bạn vẫn là người tốt. Nếu bạn không tốt thì khi người khác chỉ trích, bạn nổi cáu và khi người tán dương, bạn lấy làm thoả thích”.  

Ngay khi ấy tôi quán chiếu điều này và tìm ra được một sự thật từ ngày ấy cho đến bây giờ. Cái tốt đẹp nằm ở bên trong. Ngay khi nhận ra điều này, cảm giác muốn sống biệt lập biến mất. Thời gian sau này, bất cứ khi nào tôi khởi ý muốn, tôi để nó tự nhiên. Khi nó khởi, tôi tỉnh giác và luôn quán sát nó bằng tất cả sự tỉnh táo sáng suốt. Như vậy, tôi tạo cho mình một nền tảng tu tập vững chắc. Bất cứ nơi nào tôi sống, dù ai lên án tôi hay họ nói điều gì, tôi quán chiếu lại lập trường, vấn đề không phải ở chỗ người ta tốt hay xấu. Tốt hay xấu phải được xem xét từ trong chính chúng ta. Người khác thế nào là chuyện của họ.   

Đừng có suy nghĩ: “Ồ, hôm nay nóng quá,” hay “hôm nay lạnh quá,” hay “hôm nay...”. Hôm nay như thế nào, đó là chuyện của thời tiết. Thật sự bạn đổ lỗi cho thời tiết chính là vì sự làm biếng, trễ nải của chính mình. Chúng ta phải hiểu biết Pháp trong chính chúng ta, như thế chắc chắn chúng ta sẽ là chủ nhân của hòa bình an lạc.

Vì vậy, đối với tất cả các bạn đã và đang thực tập ở đây, mặc dù chỉ trong vài ngày, cũng sẽ có rất nhiều tư tuởng khởi lên. Hàng loạt tư tưởng có thể xuất hiện mà bạn không tỉnh giác nhận diện ra chúng. Một số tư tưởng xác đáng, đúng đắn, một số tư tưởng sái quấy, ... rất nhiều, rất nhiều. Thế nên tôi nói sự thực tập khó khăn là vậy.

Dù có một vài bạn trong số các bạn có thể kinh nghiệm được trạng thái hỷ lạc khi tọa thiền cũng đừng vội mừng cho mình. Cũng thế, nếu có sự nhiễu nhương lộn xộn trong tâm, cũng đừng vội trách giận mình. Nếu tư tưởng dường như tích cực, đừng vì vậy mà hoan hỷ và nếu chúng không tích cực cũng đừng chống đối chúng. Chỉ quán sát tất cả, quán sát những gì đang khởi lên trong tâm bạn. Chỉ quán sát, không can thiệp vào. Nếu tư tưởng tốt đẹp khởi lên, ta không giữ chặt chúng; nếu tư tưởng xấu quấy khởi lên, ta cũng đừng cố chấp chúng. Tốt và xấu có thể hai bên mâu thuẫn nhau, vì vậy đừng nên nghiêng về, giữ chặt bên nào cả.

Việc thực tập đơn giản chỉ là ngồi và quán sát tất cả. Trạng thái thoải mái hay khó chịu đến và đi theo bản chất tự nhiên của chúng. Đừng tán thán hay chê trách chúng, mà nên biết rõ thời điểm đến đi của mọi vọng tưởng. Khi đúng thời tán thán, hãy tán thán nhưng chỉ một chút đừng quá đà. Giống như dạy cho một đứa bé học, đôi khi bạn có thể phát mông nó một cái. Trong việc thực tập của chúng ta cũng thế, có lúc cũng phạt chính mình nhưng đừng lúc nào cũng quở phạt. Nếu bạn thường quở phạt mình, thỉnh thoảng lại tự tặng cho mình khoảnh khắc thoải mái, nhẹ nhàng, đó không phải là phương pháp thực tập đúng đắn. Chúng ta thực tập theo con đường Trung đạo. Con đường Trung đạo là gì? Con đường Trung đạo rất khó đi, bạn không thể tuỳ thuộc theo sở thích trạng huống của mình.

Đừng suy nghĩ rằng chỉ ngồi nhắm mắt là thực tập. Nếu suy nghĩ như vậy vọng tưởng của bạn sẽ liên tục chuyển dời. Thực tập kiên định là tập có nhận thức trong tất cả oai nghi đứng, đi, ngồi và nằm. Khi đang ngồi thiền, khởi thân đứng dậy, quán sát rõ rằng bạn đang thay đổi tư thế thực tập. Nếu tỉnh thức quán sát luôn rõ như thế, bạn sẽ có niềm an lạc. Dù ở nơi nào, cũng luôn giữ vững nhận thức thực tập như vậy, bạn sẽ có một sự tỉnh thức kiên định vững chãi nơi chính mình.

Có một số vị sau khi xong thời thiền tọa buổi tối, lại nuông chiều theo tập tánh cũ, lãng phí cả ngày để tâm rong ruổi theo ý thích; họ cho rằng lúc thiền tọa buổi tối, họ sẽ lọc tẩy sạch sẽ hết những tư tưởng linh tinh cả ngày. Thế là họ không có chút thanh tịnh nào, bởi vì tâm họ bị lạnh nhạt từ sáng đến tối. Nếu thực tập như thế, tâm của bạn dần dần xa rời hẳn việc thực tập. Khi tôi hỏi một vài đệ tử: “Việc thực tập thiền của con tiến triển như thế nào?” Họ trả lời: “Thưa Thầy, bây giờ tâm con đang chạy theo vọng tưởng mất rồi”. Bạn thấy không? Họ có thể giữ tâm một hoặc hai tháng nhưng một hay hai năm sau, họ không còn thực tập nữa.

Tại sao lại như vậy? Chính vì họ không nắm được điểm then chốt của việc thực tập. Khi họ hoàn tất thời thiền tọa, họ trở về với phương pháp định của họ một cách buông thả. Họ cũng ngồi thiền nhưng thời gian ngắn dần, ngắn dần, đến một lúc họ vừa ngồi xuống đã muốn cho xong thời thực tập. Cuối cùng, họ không ngồi thiền được nữa. Cũng giống như việc đảnh lễ Phật. Lúc đầu họ tinh tấn đảnh lễ mỗi tối trước khi đi ngủ, nhưng sau đó tâm họ bắt đầu lười biếng. Thế rồi, họ không đảnh lễ Phật gì nữa cả, họ chỉ gật đầu, rồi sau cùng không đảnh lễ hay gật đầu luôn. Họ hoàn toàn bỏ sự thực tập qua một bên.

Do vậy, bạn phải hiểu rõ tầm quan trọng của chánh niệm, thực tập thường xuyên, kiên định. Thực tập đúng đắn chính là thực tập kiên định. Dù trong oai nghi nào, đứng, đi, ngồi hay nằm, việc thực tập phải luôn liên tục. Điều này có nghĩa là thực tập thiền định được thiết lập vững chãi trong tâm, không phải trong thân. Nếu tâm chúng ta luôn tinh tấn, sốt sắng mãnh liệt, thì chánh niệm tỉnh giác luôn có mặt. Tâm hết sức quan trọng, là chủ nhân ông, cố vấn cho mọi hành động của chúng ta.

Một khi hiểu đúng đắn, việc thực tập sẽ đúng đắn. Khi thực tập đúng đắn, chúng ta không còn lạc lối nữa. Dù là chúng ta chỉ thực tập trong thời gian ngắn, việc thực tập ấy vẫn luôn đúng đắn. Ví như khi bạn thực tập xong thời thiền toạ, hãy nhắc tâm mình rằng, thực ra thời thực tập thiền vẫn chưa kết thúc, đây chỉ là thay đổi tư thế thực tập mà thôi. Tâm của bạn vẫn tĩnh lặng. Dù lúc đứng, đi, ngồi hay nằm, chánh niệm vẫn hiện hữu nơi bạn. Nếu bạn đạt được sự tỉnh giác này, bạn có thể duy trì việc thực tập trong nội tâm của mình. Buổi tối khi bạn ngồi trở lại, việc thực tập tiến triển tốt đẹp không hề gián đoạn. Sự tinh tấn của bạn không gián đoạn, giúp cho tâm đạt được sự thanh tịnh, an lạc.

Đây gọi là thực tập kiên định. Dù chúng ta đang nói chuyện hay đang làm việc gì khác, chúng ta cũng nên cố gắng giữ cho việc thực tập liên tục. Nếu tâm của bạn có mặt chánh niệm tỉnh giác liên tục, việc tu tập của bạn sẽ tiến bộ tự nhiên, chúng kết hợp với nhau nhịp nhàng như thế. Tâm có sự an lạc, bởi nó biết phân biệt đúng sai rõ ràng. Tâm nhận diện rõ những gì đang diễn ra bên trong chúng ta và nhận chân sự an lạc.

Nếu chúng ta tu tập Giới (Sīla) hay Định (Samādhi), trước tiên chúng ta phải có Tuệ (Paññā). Nhiều người cho rằng họ tu tập Giới một năm, năm tiếp theo tu Định, và năm tiếp theo nữa sẽ tu Tuệ. Họ nghĩ ba pháp này là ba việc riêng biệt. Họ nghĩ năm này họ sẽ tu tập nhưng nếu tâm không định tĩnh, làm thế nào họ có thể tu tập được? Nếu không có sự hiểu biết thấu đáo (paññā), làm sao họ có thể tu tập? Không có Định và Tuệ, Giới sẽ không được thực tập đến nơi đến chốn.

Thực sự, ba chi pháp này luôn đồng hành với nhau. Khi chúng ta có Giới, tức có Định, khi chúng ta có Định tức có Tuệ. Chúng là một thể, giống như một quả xoài vậy. Dù còn nhỏ, hay lớn, nó vẫn là trái xoài. Khi nó chín, nó cũng vẫn là trái xoài. Nếu nghĩ theo từ ngữ đơn giản, chúng ta có thể nhận chân ra giá trị này dễ dàng hơn nhiều. Chúng ta không học nhiều thứ, chỉ học biết những điều này, biết việc thực tập của chính mình.

Khi bước vào thực tập thiền định, nhiều người không đạt được những gì họ mong cầu, nên họ từ bỏ thực tập và nói rằng họ chưa đủ công đức để thực tập thiền định. Họ có thể làm những chuyện không hay, họ có tài làm những chuyện đó, nhưng họ không có tài để làm những chuyện hay tốt. Họ quăng việc thực tập vào một góc và nói họ không có đủ khả năng làm việc này. Đây là điều thường gặp ở nhiều người, họ chiều theo phiền não trong họ.

Bây giờ, bạn có cơ hội này để thực tập cho tốt, hãy nhớ rằng dù bạn gặp phải khó khăn hay suông sẻ trong việc tu tập phát triển Định đều hoàn toàn tùy thuộc vào bạn, không phải do pháp môn tu Định. Nếu gặp phải khó khăn, đó là bởi bạn thực tập sai. Trong việc thực tập, chúng ta phải có “Chánh kiến” (Sammādiṭṭhi). Nếu quan điểm của chúng ta đúng, mọi thứ khác đều đúng cả: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định - là Tám con đường chân chánh. Khi có Chánh kiến, chi phần này sẽ kéo theo tất cả chi phần khác có mặt.  

Bất cứ vọng tưởng nào khởi lên, đừng để tâm lạc theo dấu vết chúng. Hãy quán sát nội tâm chính mình và bạn sẽ nhận diện rõ ràng. Phương pháp thực tập tốt nhất là nhận diện ngay nó, không cần thiết phải đọc nhiều sách vở. Gom hết sách vở cất đi. Chỉ đọc ngay tâm mình. Bạn đã tự chôn mình vào đống sách vở từ lúc đặt chân vào trường học. Tôi nghĩ bây giờ bạn có cơ hội này và có thời gian cất hết sách vở lên kệ sách và đóng cửa phòng lại. Chỉ đọc tâm của chính bạn.

Bất cứ khi nào điều gì khởi lên trong tâm, dù thích hay không thích, dù nó đúng hay sai, bạn liền cắt ngang nó ngay với suy nghĩ rằng: “Ý tưởng này thật tạm bợ”. Bất cứ tư tưởng nào khởi lên liền cắt ngang ngay: “Vô thường, phù du”. Với lưỡi cưa này bạn cắt đứt mọi vọng tưởng. Tất cả chúng “không có thật”.

Suốt tháng tới, bạn sẽ ở lại tu viện trong rừng này, bạn sẽ có tiến bộ rất đáng kể. Bạn sẽ nhận chân  ra sự thật. “Sự vô thường” này là một điều vô cùng quan trọng. Nó sẽ giúp trí tuệ bạn nhạy bén, tinh tế hơn. Càng quán sát, bạn càng nhận chân “sự không thật” của vạn pháp. Sau khi bạn cắt đứt những thứ “tạm bợ, không thật” này, nó cũng có thể bất ngờ vòng trở lại. Vâng, đúng là “vô thường”. Bất cứ điều gì bất ngờ khởi lên, chúng ta hãy dán cho nó một cái nhãn “vô thường” lên đó... Bạn dán tín hiệu “vô thường” lên rồi... và trong một chốc, nó vòng trở lại, nó trồi lên lại... “À, vô thường”. Đào xới ngay đây! Không có thật. Bạn xem điều này giống như một ông lão luôn phỉnh lừa bạn hết tháng này qua tháng nọ, hết năm này qua năm nọ từ lúc bạn vừa chào đời. Chỉ có mỗi người này đã phỉnh lừa bạn suốt thời gian dài như thế. Quán chiếu điều này và nhận ra lẽ thường của vạn pháp.

Khi việc thực tập của bạn đến giai đoạn này, bạn sẽ không còn tham chấp vào các cảm thọ bởi vì chúng không có thật, luôn thay đổi. Bạn đã từng để ý đến chúng chưa? Có thể bạn thấy một chiếc đồng hồ và nghĩ: “Ồ, chiếc đồng hồ này thật đẹp”. Mua nó và hàng ngày nhìn nó, nhưng không bao lâu bạn cảm thấy chán, không thích nó nữa. “Cây bút này thật sự xinh đẹp”, bạn mua cây viết ấy và không bao lâu, chỉ vài tháng bạn lại chán nó. Cảm giác này cứ tiếp diễn như thế. Đâu là sự ổn định bền vững?  

Nếu nhận chân mọi thứ rằng tự tính chúng không chắc thật, thế thì giá trị của chúng sẽ nhạt nhòa dần đi. Mọi thứ không còn quá quan trọng nữa. Tại sao chúng ta nắm giữ những thứ không có chút giá trị gì hết? Chúng ta giữ chúng chỉ như giữ một miếng giẻ rách để lau chân mà thôi. Chúng ta thấy tất cả cảm thọ như nhau về mặt giá trị, bởi vì chúng có bản chất giống nhau.

Khi nhận biết rõ mọi cảm thọ, chúng ta hiểu biết thân tâm này rõ ràng. Thân tâm là chuỗi cảm thọ và chuỗi cảm thọ là thân tâm. Nếu không bị cảm thọ lừa phỉnh, chúng ta không bị thân tâm lừa phỉnh. Nếu không bị thân tâm gạt phỉnh, chúng ta cũng không bị cảm thọ gạt phỉnh.

Tâm nhận ra được điều này sẽ làm cho nền tảng trí tuệ kiên định vững chắc. Tâm như thế sẽ không còn làm phát sinh vấn đề gì nữa cả. Mọi vấn đề đều có thể giải quyết ổn thoả. Khi không còn vấn đề sẽ không còn nghi hoặc, an lạc tràn ngập trong tâm. Đây gọi là “thực tập”. Nếu chúng ta thật sự thực tập, kết quả tất nhiên sẽ như thế.



[27] Một trong những chi nhánh từ tu viện chính Nong Pah Pong của Ngài Thiền sư Ajahn Chah.

[28] Khái niệm (sammuti) chỉ cho thực tại tạm thời hay mang tính giả thiết, trong khi đó tính siêu việt (vimutti) chỉ cho sự giải thoát khỏi vòng lẩn quẩn của tham chấp và vô minh.

[29] Trong đạo Phật, Ma vương (Māra) là hiện thân của sự xấu, ác, kẻ quyến rũ, xúi giục làm ác. Ma vương luôn chống đối lại với các thế lực tốt lành, Thánh thiện, đạo đức.

[30] Ở đây sử dụng lối chơi chữ trong ngôn ngữ Thái “phadtibut”(có nghĩa là thực tập) và "wibut” (có nghĩa là tai họa), chi tiết này không có trong bản tiếng Anh.

[31] Có hai cực đoan và đức Phật khẳng định cả hai đều sai trong bài Pháp đầu tiên của Ngài. Hai cực đoan ấy là “Mê đắm khoái lạc” và “Tự khổ hạnh ép xác”.

[32]Pa-kow”: Người tập sự xuất gia giữ tám giới thường sống tu chung với các Tỳ-kheo. Những vị ấy ngoài việc thực tập thiền định còn làm những việc nhỏ nhặt phụ giúp cho các Tỳ-kheo vì những việc ấy theo Luật định Tỳ-kheo không được tự làm.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/05/202105:58(Xem: 132)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
01/01/202109:18(Xem: 78430)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
15/05/202112:01(Xem: 103)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/202111:49(Xem: 57)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/202111:23(Xem: 135)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/202111:18(Xem: 74)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/202111:13(Xem: 94)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/202119:02(Xem: 75)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/202111:49(Xem: 159)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.
04/05/202118:51(Xem: 299)
Một khi Đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng, ngài sẽ phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn về việc nói với thế giới những gì đã xảy ra ở quê hương ngài và cố gắng để có được sự giúp đở cho người dân của ngài. Ngài cũng phải chạm trán với sự tuyên truyền của truyền thông Tàu Cộng rằng ngài đã bị bắt cóc. Tuy nhiên, nhu cầu thiết yếu nhất là để bảo đảm nhà ở và thực phẩm cho những người Tây Tạng đã đi theo ngài lưu vong. Ngài đã hướng đến chính phủ Ấn Độ, và họ đã không làm ngài thất vọng. Trong thực tế, Ấn Độ cuối cùng đã tiếp nhận hơn một trăm nghìn người tị nạn, cung cấp chỗ ở, và nuôi dưỡng họ, cho họ làm việc, và thiết lập những ngôi trường đặc biệt cho trẻ em Tây Tạng. Những tu viện Phật giáo Tây Tạng cũng được xây dựng ở Ấn Độ và Nepal.