Lộ Trình Tâm Thức trong cõi thơ Thanh Trí Cao

13/06/201915:29(Xem: 10072)
Lộ Trình Tâm Thức trong cõi thơ Thanh Trí Cao

LỘ TRÌNH TÂM THỨC

TRONG CÕI THƠ THANH TRÍ CAO

 

THÁI TÚ HẠP

 

Đã có nhiều thời đại trong lịch sử Việt Nam, chứng minh tư tưởng triết học Phật Giáo thâm uyên, ảnh hưởng sâu xa trong đời sống và tâm hồn Dân Tộc, kể từ khi Trung Tâm Phật Giáo Luy Lâu đầu tiên được hình thành tại Bắc Ninh. Đều đáng xiển dương hơn nữa là Phật Giáo, ngoài quan điểm vô ngã phá chấp, tiếp cận mật thiết với mọi tầng lớp xã hội từ vua quan đến thứ dân, từ bản sắc văn hóa đến khuynh hướng chính trị, Phật Giáo còn cấu tạo nên những ý thức hệ căn bản, phát huy tinh thần Dân Chủ, Nhân Bản và Khai Phóng phù hợp với tâm lý tập quán và đạo lý Nhân Ai truyền thống của Dân Tộc. Các bậc Đại Đức Cao Tăng hòa nhập chia xẻ với sinh mệnh thăng trầm đau thương của Tổ Quốc.

blank

Vì tư tưởng Phật Giáo được đặt trên cơ sở CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU - KHÔNG ở đây không có nghĩa là "Hư Vô Chủ Nghĩa". KHÔNG chính là cái CÓ VI DIỆU. Từ ý nghĩa đó, thể hiện tính chất biện chứng dấn thân tích cực để mang lợi ích cho đời sống con người và cho xã hội. Tận tụy phục vụ và sẵn sàng hy sinh cho quê hương Đất Nước nhưng với tinh thần vô cầu và không vướng mắc vào lợi danh hư huyễn.

 

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

(Thiền Sư Vạn Hạnh)

 

Đời sống vốn đã vô thường. Thịnh suy như giọt sương trên ngọn cỏ- Chính vì quan niệm siêu thoát như thế. Khi đất nước thanh bình Tự Do Dân Chủ thật sự, các bậc Thiền Sư hoàn tất bổn phận, trở về mái chùa xưa lo trì giới khổ hạnh, tụng kinh niệm Phật, hoằng dương đạo pháp. Sống cuộc đời an nhiên tự tại giữa núi rừng tịch tĩnh, diện bích soi tâm. Vượt tới bến bờ Liễu Ngộ Chân Như, cứu độ nhân thế qua những lộ trình chuyển hóa tâm linh.

Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam ở hải ngoại, và nhất là trong giới tu sĩ đạo hữu Phật Giáo, tên tuổi Thượng Tọa Thích Quảng Thanh, hay nhà thơ, nhà nghệ sĩ tài hoa đa diện Thanh Trí Cao quả thật không còn xa lạ. Đạo và Đời, thi sĩ - tu sĩ Thanh Trí Cao đã thực sự biểu hiện thiện chí tích cực với tâm lượng bao dung hài hòa chân thật. Lúc nào tâm nguyện của nhà thơ Thanh Trí Cao cũng đem đến cho cuộc đời đầy nhiễu nhương, bi thảm của kiếp người lưu vong nơi đọa đầy viễn mộng, bằng những chia xẻ từ ái như những que diêm bật sáng, cho người lữ khách cô đơn giữa đêm đông lạnh giá, với ý chí kiên trì miệt mài liên tục qua thời gian. Và nhà thơ đã cảm nhận thăng hoa niềm an vui, đem đến cho mọi người cùng khổ là chính tạo cho tâm tác giả sự an lạc thường hằng. Có lẽ từ ý niệm sâu sắc cao quý đó, nhà thơ đã hình thành thi phẩm với nhan đề: "HÁI HOA TUYẾT ĐÔNG", gợi ý cho chúng tôi nhớ đến hai câu thơ thâm thúy-

 

Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt

Chẩm đắc mai hoa phác tì hương?

(Không qua một tiết đông dài

Làm sao mai nở, mùi hương dạt dào?)

 

của Hoàng Bách Hy Vân Thiền Sư sáng tác cách đây một ngàn hai trăm năm trước?

Những tương quan giữa con người với vũ trụ, giữa con người với con người phải chăng không mấy dị biệt trong tâm thức sáng tạo xưa và nay?

- Bông hoa tuyết là bông hoa quý phái. Đúng thế, bạn sẽ là người tiếp thị với môi trường nghệ thuật sống để tạo thành huyền thoại đẹp nhất như một dòng thơ siêu thực chảy bất tận trong dòng thời gian của cuộc đời

Mặc dù dành nhiều thời gian cho công việc Phật sự và từ thiện xã hội, thiền giả - thi sĩ vẫn không quên dành cho chính tâm mình những giây phút trầm lắng riêng tư trong sáng tạo nghệ thuật. Làm thơ, vẽ tranh, cắm hoa, chăm sóc cây kiểng- đặc biệt ở lãnh vực thi ca, nhà thơ Thanh Trí Cao chứng tỏ rất đam mê và phong phú. Bằng chứng chỉ trong một thời gian ngắn, nhà thơ Thanh Trí Cao đã liên tục cho xuất bản các thi tập "Trăng Ngủ Trong Mây", "Trên Dòng Tử Sinh", "Hương Vị Chân Tâm" và bây giờ "Hái Hoa Tuyết Đông".

Riêng với toàn bộ nội dung thi tập "Hái Hoa Tuyết Đông", chúng ta có thể khám phá thi nhân muốn khai triển ở hai phạm trù Nhập Thế và Xuất Thế. Đôi khi nhà thơ băn khoăn chính từ mâu thuẫn nội tâm, giữa lịch sử, tâm linh và thực tại:

 

Bước chân lữ khách nhớ quê

Cánh chim phiêu bạt vỗ về hư không

Bước chân tiếp nối bước chân

Lời ru của Mẹ vết hằn trong tôi

(Bước Chân)

 

Tâm sự người xưa não nề bi thiết có khác gì với tâm sự người trong một tâm cảnh xa lìa cố quận thân yêu. Cái nỗi lòng viễn xứ xúc cảm lưu đày của Thi Bá Tô Đông Pha đến Thi Sĩ Thanh Trí Cao có gì khác nhau.

 

Người đứng đó cheo leo chóp đỉnh

Tô Đông Pha khoác áo lên đường

Sao không giống như ngày xưa ấy

Say mê chi Thánh đế phong sương

 

Tình đạo sĩ đả thông ngữ nghĩa

Không mơ hồ gối mộng phôi pha

Ai để lại dòng thơ hương vị

Nửa cho người, một nửa cho ta.

(Hoa Nở Tàn Đông)

 

Nhà thơ Thanh Trí Cao đã quán triệt chân lý "Chân Không Diệu Hữu" nên nhà thơ không quản ngại dấn thân vào cuộc đời để san xẻ nỗi đau chung của Dân Tộc:

 

Vết tích người trong hồn thơ đó

Tôi lắng nghe âm điệu mây ngàn

Từng chiếc lá mảnh mai huyền diệu

Đời dấn thân tình nghĩa cưu mang

 

Đặc tính của tư tưởng Việt Nam là nâng cao tinh thần nhân ái, bình đẳng nhưng phải trên cơ sở Nhân Chủ Tự Do cho dù phải kiên trì phấn đấu, cho dù đang ở nơi điểm tựa nào trên thế giới. Trong thơ Thanh Trí Cao đã cưu mang nồng thắm lòng yêu mến và tưởng nhớ quê hương:

 

Trên đỉnh tháp của dòng tư tưởng

Mái chùa cong sắc thái đặc thù

Nét cổ kính nghìn năm thử thách

Tình Đông Tây hòa điệu thiên thu

 

Người xót xa lưu đày thân phận

Quê hương ơi! Từ đó mỏi mòn

Vẫn cứ gọi Tự Do chưa đến

Đã bao lần chết dỡ mầm non

 

Những biến thiên của lịch sử, những nổi trôi của vận nước, đã cuốn hút Phật Giáo vào chung cơn Pháp Nạn. Những Tăng Ni bị đuổi ra khỏi chùa, tù đày khổ ải, vong thân trên chính quê hương yêu dấu. Nhà thơ Thanh Trí Cao đã thấu hiểu nỗi niềm xót xa trầm thống đó và đã sáng tạo nên những vần thơ ngậm ngùi hệ lụy, thể hiện tinh thần viên dung vô ngại, vận động nuôi thắp những ước mơ bằng những tư duy hiện thực.

Chia xẻ với các Cao Tăng Đại Đức đang thầm lặng thách thức với quyền lực chuyên chính. Tỉnh thức trong sứ mệnh lịch sử, giải trừ ách nạn trầm luân, để nguyện cầu cho Dân Tộc Việt Nam sớm an hưởng một thể chế Dân Chu Tự Do Thanh Bình thực sự.

 

Người xưa ấy đây còn chứng tích

Người hôm nay chuyển tiếp mãi sau

Những tin tưởng nhìn về một hướng

Lòng Từ Bi chia xẻ niềm đau

 

Nửa trái đất không gian ngăn cách

Nén hương lòng, cầu nguyện quê hương

Hỡi thế giới! Lắng nghe tiếng gọi

Người tù già da bọc lấy xương

 (Thách Thức)

 

Sự kiên trì nhẫn nhục khởi phát từ lòng bi mẫn, khoan dung, và tâm niệm: "Không thể lấy thù oán để diệt sân hận, chỉ có tâm Từ Bi mới dập tắt được lửa hận thù". Đó là phương cách duy nhất để hóa giải định kiến vô minh.

 

Cõi thơ Thanh Trí Cao không những viện dẫn những tư duy đơn thuần về những vấn nạn đời thường, thi tập "Hái Hoa Tuyết Đông" còn mở ra những cánh rừng tâm thức Thiền Vị mênh mông. Những hơi thở bàng bạc tạo nên những lộ trình tư duy tỉnh thức trước những lao xao của thời thế nhân sinh- "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", để tự khai ngộ đạt đến an nhiên vô nhiễm trước những giao động hỉ nộ ái ố ai lạc dục. Cái sát na hạnh ngộ đó đã hốt nhiên sáng tạo nên những âm điệu đặc thù trong sáng của tâm linh. Dâng hiến cho đời như những bông hoa tuyết đang rơi trong Hư Không Tịch Tĩnh. Như thi sĩ Thanh Trí Cao đã tâm sự:

 

"Thơ vẫn đẹp như lòng người nghệ sĩ mạo hiểm làm cuộc hành trình "Hái Hoa Tuyết Đông" hiến tặng cho đời, Có hay Không bản thể đồng nhất cơ hồ những cánh hoa tư tưởng mịn màng vô nhiễm. Thơ vẫn là thơ, ngôn ngữ cho dù thực hay siêu thực đều uyển chuyển linh động nhẹ nhàng như những cánh én mùa xuân gợi cảm cả bầu trời trong thanh ngoạn mục hữu tình":

 

Như giòng nước không hề lặp lại

Giữ nụ cười thuở ấy ban sơ

Ôi vũ trụ! Bềnh bồng hoang dại

Ai chẻ chi sợi tóc đôi bờ

 

Trong thực thể hay ngoài thực thể

Bất khả phân ánh sáng như nhiên

Ai níu kéo thời gian huyễn hoặc

Ta chân tình hội nhập vô biên

(Chẻ Tóc Đôi Bờ)

Cuối cùng sự hiện hữu của những hạt bụi trong không gian vô tận, thời gian vô tăm. Tâm phiêu lãng rồi cũng quay về với bản chất uyên nguyên, trong suốt và thanh tịnh được gọi là Tánh Không. Đạt tới trọng điểm Tánh Không là đạt tới cảnh giới An Lạc nơi Niết Bàn.

 

Tâm sanh, sanh hoan hỉ

Tâm diệt, diệt hồ nghi

Pháp Không hay pháp Có

Giọt nước đầy tràn ly

(Cảm Ứng)

 

Anh tự hỏi như bao lần trước

Trọn tâm tình chuyển hướng thiết tha

Nhưng hôm đó anh cười thỏa mãn

Ta tìm ta, ta lại gặp ta!

(Ta Tìm Ta)

 

Cho dù tài hoa đến mấy, con người là thể chất hữu hạn không thể nào diễn đạt hết cái tuyệt kỹ vô hạn của vũ trụ. Thơ Thiền là sáng tạo trong tinh thần phương tiện thiện xảo thời thượng của các Thiền Sư truyền đạt ý chỉ Chân Như, bằng cung cách chuyển vận ngôn ngữ của nghệ thuật thi ca và tư tưởng siêu việt. Thiền Sư Đạo Hạnh đã dạy:

 

Tác hữu trần sa hữu

Vi không nhất thiết không

Hữu không như thủy nguyệt

Vật trước hữu không không

(Hữu Không)

 

Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

Vầng trăng vằng vặc in sông

Chắc chi có có, không không mơ màng

 (Khuyết Danh)

 

Trong thế giới thi ca của Thanh Trí Cao cũng ẩn chứa lời kinh siêu thoát mênh mông, huyền diệu, thâm trầm triết lý uyên bác của Phật Giáo. Những băn khoăn, những thao thức về thân phận, về quê hương đất nước, về con người từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Niết Bàn hay địa ngục nơi trần thế?

 

Nghìn xưa mãi đến nghìn sau

Hương thơ ngự trị vá khâu mảnh trời

Chuông ngân xao xuyến bụi đời

Người ơi! Khoác áo dạo chơi Niết Bàn?

 (Bước Chân)

 

Với kiến thức am tường giới hạn về triết học Phật Giáo. Chúng tôi mạo muội bước vào cõi thơ của thiền giả - thi sĩ Thanh Trí Cao với cảm xúc thế tục chắc chắn không thể hiện trọn vẹn những phong thái sâu sắc của nguồn triết học Đông Phương, mà nhà thơ Thanh Trí Cao đã quán triệt. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến với một nhận định khiêm tốn, khách quan, dĩ nhiên không phải là tuyệt đối. Bất cứ một tác phẩm văn học nghệ thuật nào được sáng tạo đã tự nó mang một giá trị riêng biệt. Giá trị được nâng cao nếu tác phẩm đích thực được đón nhận nồng nhiệt nơi quần chúng qua nội dung tác phẩm cưu mang những ý tưởng uyên bác và thâm viễn. Nhà thơ Thanh Trí Cao, tu sĩ có tâm hồn nghệ sĩ đa dạng.

Ngoài tài hoa sáng tác thi văn, nhà thơ Thanh Trí Cao còn là một nhà họa sĩ, qua những bức tranh bìa và những phụ bản trong các tác phẩm "Trăng Ngủ Trong Mây", "Trên Dòng Tử Sinh", "Hương Vị Chân Tâm", và "Hái Hoa Tuyết Đông" đầy những nét thanh thoát siêu nhiên. Đặc biệt khi nhìn bức tranh "Thuyền Về Bến Giác", tôi liên tưởng đến mấy câu thơ Đường của Vương Chi Hoán trong bài Xuất Tái:

 

Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian

Nhất phiến cô thành vạn nhận san

Khương địch hà tu oán dương liễu

Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan

...

Hoàng Hà nước chảy tận mây

Cô đơn một mảnh thành xây đỉnh ngàn

Sáo Khương chớ oán ly tan

Gió xuân khôn đến Ngọc Quan biên thùy

 (Chi Điền)

 

Giòng thơ của Thanh Trí Cao cũng giống như giòng nước chảy từ đỉnh non cao, miên man vô tận từ Đông sang Tây, từ Đạo đến Đời. Chúng ta không tìm thấy hình bóng của cuồng nộ hận thù. Chỉ thấy tâm như bầu trời xanh thong dong những làn mây trắng - Một cánh rừng mở ra với muôn ngàn hoa lá Hương Thiền tỏa ngát, giữa thanh khí tĩnh lặng của Thiền Môn. Tất cả ngôn từ không làm hay hơn một bài thơ tự nó đã là diễm tuyệt. Giòng đời trôi qua như giòng nước cuốn phăng bao nhiêu cánh bèo tử sinh hư huyễn, nhưng vầng trăng sẽ không bao giờ bị cuốn mất trong tâm người nghệ sĩ như một ý niệm về Thiền đã giải thích:

 

...

Dù suối chảy phăng phăng

Không mang trăng đi mất...

 

Nước là nước, trăng là trăng, đó là lẽ sinh tồn tự nhiên của sự chuyển hóa trong vũ trụ. Thời gian sẽ qua đi. Chúng ta hy vọng vầng trăng "Hái Hoa Tuyết Đông" sẽ mãi mãi trường tồn trong tâm hồn nhân thế - Đẹp và thơ mộng như vầng trăng trên giòng sông tâm thức yêu dấu nơi quê nhà.

 

Source: https://vietbao.com/p112a295269/lo-trinh-tam-thuc-trong-coi-tho-thanh-tri-cao





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/01/2026(Xem: 235)
Thời gian qua thật mau, vậy mà đã hai năm Thầy rời bỏ Ta Bà bỏ chúng con ra đi, để lại cho chúng con niềm tiếc thương vô hạn.. Hôm nay giữa xứ lạnh của mùa Giáng Sinh gần kề nơi xứ người, con ngồi đây đọc bài "Ôn Cố Tri Ân" trong báo Viên Giác mà bồi hồi, xúc cảm … Đã lâu lắm rồi Thầy ơi, con không còn được nghe thông điệp của các Ngài, những thông điệp của Đức Tăng Thống mà con nghĩ rất cần thiết cho hàng Phật tử chúng con, cũng như cho tất cả những ai có lòng yêu thương đất nước, đất nước Việt Nam đã chịu qúa nhiều đau khổ bởi chiến tranh, bởi thiên tai, và nhất là dưới chế độ phi nhân tính của cộng sản. Phải chăng Giác Linh Thầy đã về đây để hộ trì cho chúng con, nước mắt con lăn dài, hình ảnh sự biến Lương Sơn lại hiện về trong con qua bài tường thuật của Thầy tại đồn biên phòng Lương Sơn, ngày 8.10.2003, Thầy đã dùng lý luận để vạch rõ dã tâm của cộng sản, giả trá, chụp mũ, vu khống, bắt cóc, hình ảnh Hòa Thượng Quảng Độ bị chúng dìu lên xe, mặc cho Hòa Thượng chống đối, chú
16/12/2025(Xem: 1767)
Người viết đọc bản tin xong , mà trong đầu vẫn vấn vương với những lời viết như sau : những hành động dấn thân phụng sự cộng đồng bằng nhiều hình thức thiết thực: tổ chức cứu tế, ủy lạo những gia đình gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, trợ giúp người già yếu và đơn, ân cần an ủi, nâng đỡ tinh thần cho những người đang chịu mất mát và đau khổ là sự khẳng định vai trò tích cực của Phật giáo trong đời sống xã hội, đặc biệt trong những thời khắc khó khăn nhất của nhân loại.
14/12/2025(Xem: 1218)
Ngài là Pháp hữu cùng thế hệ với chư vị Tôn túc: Ôn Huyền Quang, Ôn Trí Nghiêm, Ôn Đổng Minh, và các bậc cao tăng đồng thời với Ngài Huyền Tôn bên Úc. Những hình ảnh mà Thầy nhắc đến chính là Tu Viện Kim Sơn tại Huế, nơi được xem là Đại học Phật giáo đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Bức ảnh ấy không chỉ là một tư liệu đơn lẻ, mà là dấu ấn của cả một thế hệ Cao Tăng Phật giáo Việt Nam. Có những tấm hình do chính Hòa Phụ bấm máy, cách nay đã hơn 60 năm.
10/12/2025(Xem: 1319)
Trọn niềm thương nhớ hướng quê hương Mùa Đông Ất Tỵ cảnh tang thương Bao nhiêu đổ nát, bao chua xót Quả thật thế gian, cõi vô thường! Vẫn biết duyên trần chẳng bền lâu Người nỡ ra đi chóng thế sao? Vốn hẹn Hiển Nam ngày tái ngộ Nhưng người Pháp Lữ, biết tìm đâu?!
06/12/2025(Xem: 793)
Nghĩ gì về Thầy Tuệ Sỹ? Nếu có ai hỏi như thế, tôi sẽ nói rằng tôi chưa thể hiểu tới một phần rất nhỏ những gì Thầy viết, mặc dù tôi vẫn đọc Thầy đều đặn. Cũng như một người đứng dưới chân núi, biết được những gì để dám nói về núi. Tôi không dám so sánh Thầy Tuệ Sỹ với bất kỳ ai, vì tôi không đủ kiến thức và trình độ để đối chiếu bất kỳ kho kiến thức và hành trình tu học của bất kỳ ai.
06/12/2025(Xem: 926)
Khi đại thụ ngã xuống, một khoảng trời trống vắng cô liêu bày ra nhưng trong tâm tưởng con người thì bóng dáng đại thụ vẫn sừng sững không thể xóa nhòa. Khi lau sậy gầy hao phơ phất trong nắng tà quái chiều hôm, bông lau trắng xóa cả trời chiều, tưởng chừng như vô thanh nhưng sóng âm đồng vọng ngập trong đất trời.
28/11/2025(Xem: 1297)
Kính bạch Giác Linh Thầy Từ Tây Đức xa xôi con theo chân Chư vị Tôn Đức, thân bằng thuộc cùng Phật tử về đây để dự lễ Trà Tỳ, tiễn đưa Thầy về Quê Hương Phật, trên nắp kim quan Thầy phủ đầy những cành hoa hồng đủ màu sắc của mà chư vị Tôn Đức Tăng Ni, quý Phật tử kính thương Thầy đã đặt trên đó với lòng tri ân và sự tiếc thương dâng cúng Thầy, con như ngửi được mùi thơm, như hương đức hạnh của Thầy, một vị Thầy đã suốt đời hiến dâng cho Dân Tộc và Đạo Pháp. Nhìn chiếc kim quan Thầy được nâng lên, đẩy vào đài hỏa táng, bao nhiêu cành hồng dạt xuống, con nghe như Thầy bảo "cảm ơn các con thương yêu, tạm biệt các con, các con về đi, chịu khó tu học, Thầy chúc các con thân tâm thường an lạc, Thầy sẽ trở lại.." tim con như quặn thắt, con mới biết ra rằng từ nay vĩnh viễn con không còn được nghe tiếng Thầy nữa…Thầy ơi!
14/11/2025(Xem: 1119)
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ — húy thượng Nguyên hạ Chứng, đời thứ 44 dòng Lâm Tế — đã thuận thế vô thường, viên tịch vào ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại Chùa Phật Ân, Việt Nam. Ngài là bậc Cao Tăng Thạc Đức, người đã cống hiến trọn đời cho Phật Giáo Việt Nam, Dân Tộc, và Giáo Dục. Từ Viện Đại Học Vạn Hạnh đến các Viện Cao Đẳng Phật Học như Hải Đức – Nha Trang và Quảng Hương Già Lam – Sài Gòn, Ngài đã dìu dắt và đào tạo bao thế hệ Tăng, Ni, Phật tử. Ngài là nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh Điển với những công trình vĩ đại như Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết, Kinh Thắng Man, A-hàm, Luận Câu-xá, Luận Thành Duy Thức, cùng Đại Tạng Kinh Việt Nam được phục hoạt vào năm 2021.
12/11/2025(Xem: 1337)
Hôm nay, nghe tin Người an nhiên viên tịch, con chỉ xin dâng một lời ngưỡng vọng — như đóa sen nở trong cõi lòng, tưởng nhớ bậc thầy vô hình mà con vẫn luôn thấy hiện hữu giữa ánh sáng Pháp. Dù chưa từng có duyên được diện kiến, nhưng bao năm qua, giáo pháp của Người đã như dòng suối trong mát tưới tẩm tâm hồn con giữa những tháng ngày trần thế.
11/11/2025(Xem: 1762)
Thế Danh Trần Thanh Hùng Tiểu Sử Cá Nhân, Quá Trình Xuất Gia, và Học Vấn • Sinh ngày 12 tháng 8 năm 1935 tại Nam Định, Việt Nam • Trở thành Chú Tiểu, vào chùa tu học với thầy bổn sư là Hoà Thượng Thích Đức Hải (thế danh Nguyễn Bỉnh Nam), ngày 6/2/1943 • Học tại Trường Trung học Chu Văn An, Hà Nội • Tốt nghiệp Phật Học Đường Quán Sứ ở Hà Nội, Việt Nam – năm 1954 • Tị nạn chính trị từ Hà Nội vào Sài Gòn năm 1954 khi Việt Nam bị chia cắt 2 giữa miền Bắc và Nam • Tốt nghiệp Viện Phật học Hải Đức ở Nha Trang, Việt Nam – năm 1960 • Sang Hoa Kỳ du học năm 1965, tốt nghiệp Thạc sĩ và Tiến sĩ Chính trị học và Nghiên cứu Á châu tại Đại học Claremont Graduate, Claremont, CA năm 1969