Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Mục Tiêu Của Đạo Phật Là Gì?

04/08/201810:49(Xem: 1757)
Mục Tiêu Của Đạo Phật Là Gì?

Mục Tiêu Của Đạo Phật Là Gì?

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

 lotus_6

          Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộ và giải thoát. Cho nên, những ai lập chí xuất gia đều có chung một sở nguyện là mong được thoát khổ, giác ngộ và giải thoát.

          Nhưng tu như thế nào để đạt được mục tiêu cao quý đó?

          Nhiều người nghĩ đơn giản tu tập theo đạo Phật là giữ giới, ăn chay, làm việc lành tránh việc dữ, thực hành hạnh bố thí, giúp đỡ người nghèo khổ bất hạnh, góp tiền của xây chùa, ấn tống kinh sách v.v... là đang trên con đường tiến tới giải thoát. Thực ra, đây chỉ là bước đầu của người Phật tử tập sống lương thiện, đạo đức, trải lòng từ bi với mọi người mọi loài. Những hành động bố thí giúp đỡ này giúp cho người Phật tử dần dần dẹp bớt tham sân si, bỏ bớt lòng ích kỷ, tâm thức mở rộng khiến cho cuộc sống hiện tại của họ được an vui hạnh phúc. Những việc làm tốt đẹp này sẽ kết thành nghiệp thiện lành và người ấy sẽ được hưởng sự may mắn nào đó trong đời sống hiện tại, hoặc hưởng phước báu trong đời sống vị lai. Nhưng nếu nói những việc làm tốt đẹp này sẽ giúp họ được giải thoát thì cần phải xét lại!

          Tu giải thoát với ý nghĩa là tu bây giờ để được kết quả sau khi chết sẽ không bị tái sanh vào ba cõi sáu đường, mà tái sanh theo nguyện lực để giáo hoá chúng sanh hoặc sẽ nhập vào trạng thái Vô Dư Niết Bàn.

          Tu giải thoát còn mang ý nghĩa là chúng ta hành trì tu tập để được giải thoát ngay trong đời sống hiện tại này. Nghĩa là Tâm chúng ta không dính mắc với những đam mê vật chất, không dính mắc với những tri kiến thế gian, không đắm chìm trong hạnh phúc dục lạc cũng không bị phiền não vây bủa. Nếu Tâm của chúng ta hoàn toàn không bị trói buộc với bất cứ vui buồn hạnh phúc khổ đau của thế gian thì Tâm được giải thoát, tức là tuy còn sống trong đời sống nhiểu nhương, mà Tâm thì vẫn an nhiên tự tại trong trạng thái Hữu Dư Niết Bàn.

 

THOÁT KHỔ, GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT

          Muốn thoát khổ, giác ngộ, giải thoát, trước hết chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của nhóm từ này.

          1. THOÁT KHỔ:  "Thoát" là "vượt qua" một giới hạn nào đó để đạt được trạng thái hoàn toàn tự do. Thí dụ: Vượt qua cơn bệnh ngặt nghèo nhờ chửa trị trúng thuốc. Vượt qua nghĩa là thoát khỏi. Giới hạn ở đây là bệnh tật. Trạng thái tự do tức là hết bệnh. Trị đúng thuốc tức là phương pháp tu tập thích hợp với căn cơ của mình. Còn khổ, tạm định nghĩa là trạng thái Thân và Tâm không được hài hoà. Cả hai bị xung đột, bị trói buộc vào những điều bất như ý. Thoát khổ là được giải phóng ra khỏi những phiền não trói buộc Thân Tâm mình.

          Con người gồm hai phần Thân và Tâm. Cho nên bàn đến khổ thì chúng ta phải biết rằng Thân có cái khổ của Thân và Tâm có nỗi khổ của Tâm. Thân bị bệnh hành hạ thì Thân khổ. Tâm bực bội khó chịu thì Tâm khổ. Đau khổ là căn bệnh của Thân. Sầu ưu, phiền não là căn bệnh của Tâm. Nếu Tâm bệnh mà không lo trị liệu thì sớm muộn gì Thân cũng bị bệnh theo. Ngược lại Thân đau ốm triền miên cũng khiến cho Tâm vì chịu đựng mà phải buồn rầu chán nãn, thì đó chính là nỗi khổ của Tâm. Như vậy cả Tâm và Thân tương tác qua lại tạo thành những mối khổ triền miên cho con người.

          Trong kinh Chuyển Pháp Luân (Tương Ưng Bộ Kinh S.v, 420), Đức Phật nêu lên các tướng trạng về Khổ như: "... Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khồ, sầu, bi, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ". Năm thủ uẩn là khổ có nghĩa là: "Chấp ngũ uẩn có thật, cho đó là Ta, thuộc về Ta, là tự ngã của Ta, thì đó là khổ". Tại sao thế? Đó là vì chấp "Ta" có thật nên mong muốn đủ mọi thứ để phục vụ cho cái "Ta", hay nói đúng hơn là phục vụ những cảm giác của giác quan. Nặng nề nhất là Khát ái. Khát ái hay tham dục là lòng khao khát thèm muốn tiền bạc, sắc dục, quyền lợi, danh vọng, địa vị trên thế gian mà cái "Ta" không bao giờ biết đủ. Trong quá trình tranh đấu để đạt điều mong muốn, cái "Ta" này va chạm, tranh chấp với những cái "Ta" của kẻ khác cho nên khổ mình mà cũng khổ người. Ở cấp độ cá nhân thì cái "Ta" tự xung đột, tự lo lắng, tự phiền não... tự mình gây khổ cho mình. Ở cấp độ thế giới thì xảy ra chiến tranh, gây thảm cảnh chết chốc lan tràn khắp nơi khiến nhiều người chịu khổ.

          Đức Phật dạy tất cả hiện tượng trên thế gian này đều vô thường biến đổi, cho nên dù những điều mà cái "Ta" mong muốn, nếu may mắn đạt được, thì cũng sẽ có lúc mất đi, giống như nắm nước trong tay không giữ mãi được, nước sẽ vuột mất khỏi bàn tay không còn một giọt, thì nỗi khổ lại tràn đến. Thân khổ thì nước mắt trào ra, tim đập mạnh, bao tử co thắt, tay chân rả rời, đầu cổ đau nhức... Còn Tâm khổ thì buồn rầu, chán nãn, oán hờn, thù nghịch, trầm cảm, có khi muốn chết phứt đi cho rồi!

          Nói chung ý niệm khổ được thành lập là do những xung đột bên trong Tâm. Vì lòng ích kỷ tham tham vô bờ, nên không bao giờ cái "Ta" chấp nhận hay bằng lòng với những gì đang có. Một lý do khác nữa là bên dưới Tâm Phàm Phu này luôn tiềm tàng lậu hoặc, tập khí, nói chính xác hơn đó là những đam mê ghiền nghiện, những lục dục thất tình, những tham muốn vô độ, không thể từ bỏ được. Ai sống với Tâm này luôn tự làm khổ người và khổ mình mà thôi!

 

          2. GIÁC NGỘ: Tiếng Pàli và Sanskrit đều là Bodhi (Bồ Đề). Tiếng Anh là "enlightenment" hay "awakening",  có nghĩa là "thức tỉnh" hay "sự bừng sáng" thường được dịch là giác ngộ. Đây là trạng thái Tâm của người tu tập đã thoát khỏi vô minh, đã nhận thức được tận cùng bản thể của chính mình và bản thể của vạn vật. Giác ngộ trong đạo Phật là trạng thái Tâm đoạn tận lậu hoặc/tập khí, kiết sử, tuỳ miên, không còn bị tham ái, sân, si... khống chế. Con người giác ngộ sống thanh thản, hoàn toàn tự do, không còn vướng vào vòng sinh tử nữa. Các bậc Thánh thường mô tả trạng thái giác ngộ như là: "Tâm định tĩnh, an lạc, thanh thản, vô sự, ngoài lý luận...".

          Giác ngộ đặt trên cơ sở tỉnh ngộ. Tỉnh ngộ nhận ra điều gì đó, rồi quyết tâm dấn thân, bằng những phương tiện thích hợp với căn cơ của mình để phát triển trí tuệ tâm linh. Còn giác ngộ là nhờ hành trì thiền Định mà trí tuệ tâm linh bừng sáng.

          Như vậy phải có Pháp thực hành mới bật ra giác ngộ.    

          Thí dụ: Như Thái Tử Sỹ-Đạt-Ta tỉnh ngộ rời bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp, con thơ để ra đi cầu đạo. Tỉnh ngộ mới quyết tâm ra đi tìm phương pháp tu tập để thoát khỏi sinh lão bệnh tử. Suốt thời gian dài 6 năm không gặp Pháp thù thắng nên Ngài chưa đạt thượng trí, chưa giác ngộ. Ngài phải rời bỏ những Pháp này để đi tìm Pháp khác. Cho nên phải có Pháp tu đúng mới có thể đi đến giác ngộ. Giác ngộ tức Phật tánh bừng sáng lên, soi sáng những điều mà trước đây vì vô minh che phủ nên không thấy không hiểu.

 

          3. GIẢI THOÁT: Đây là mức độ thiền Định mà các vị Phật, A-La-Hán đã chứng được, thoát ra khỏi luân hồi sinh tử, tuỳ hỷ đến đi trong lục đạo để gieo duyên cùng chúng sanh.

          Giải là gở ra, tháo ra, trừ bỏ những điều gì đó. Thoát là vượt qua. Giải thoát trong đạo Phật có nghĩa là từ lâu Tâm thức bị trói buộc, bị dính mắc với đủ thứ thành kiến, thiên kiến, định kiến, đủ thứ chấp thủ, đủ thứ tham lam, ngu si, giận hờn... bây giờ được thiện tri thức có trí tuệ khai mở, giúp giải trừ được những gút mắt đó nên Tâm được giải thoát khỏi những dính mắc nêu trên. Thông thường giải thoát trong nhà Phật có hai nghĩa:

          1) Giải thoát khỏi sinh tử luân hồi tức chấm dứt tái sanh: Muốn vậy phải tu tập để đào thải tận gốc tập khí, lậu hoặc. Nếu không thì lúc lâm chung, cận tử nghiệp sẽ trồi lên, khiến người chết theo cận tử nghiệp tái sanh để trả quả xấu hay hưởng quả tốt trong kiếp sống vừa qua. Nếu chấm dứt tái sanh là được giải thoát.

          2) Khi còn sống đạt được "Hữu Dư Niết Bàn", khi chết đạt "Vô Dư Niết Bàn": Đạt "Hữu Dư Niết Bàn" là trong lúc còn sống ở thế gian này Thân được lành mạnh, Tâm không dính mắc bất cứ đam mê nào. Sáu căn hoàn toàn thanh tịnh khi tiếp xúc với các trần cảnh. Muốn kinh nghiệm sự giải thoát này, đầu tiên ý nghĩ, lời nói hay hành động phải được thanh tịnh. Ba nghiệp thanh tịnh thì không tạo nghiệp, dù là nghiệp tốt hay nghiệp xấu. Chỗ này chính là chỗ mà nghiệp hoàn toàn thanh tịnh hay còn gọi là nghiệp giải thoát. Ngoài ra với Tâm định tĩnh sáng suốt, tiềm năng giác ngộ sẽ bật sáng, tự nó kiến giải những điều mới lạ mà hành giả chưa bao giờ biết tới. Bấy giờ hành giả đạt được trạng thái Niết Bàn ngay trong đời sống, Phật Giáo Nguyên Thuỷ gọi là "Hữu Dư Niết Bàn", và khi bỏ xác phàm thì thể nhập vào "Vô Dư Niết Bàn".

 

 

TỈNH NGỘ LÀ NỀN TẢNG CỦA GIÁC NGỘ

          Giá trị bài Pháp đầu tiên của Đức Phật rất quan trọng đó là tỉnh ngộ. Trong đời tu, hành giả có thể tỉnh ngộ nhiều lần. Có tỉnh ngộ hành giả mới xác định hướng đi của mình. Lúc bấy giờ tạm nói Trí Năng đã tỉnh ngộ nên không còn vẽ vời, suy luận về những tín hiệu của Ý Căn và Ý Thức đưa ra, mà chỉ hướng tâm đến mục đích cao thượng là tu tập để chuyển hoá nhận thức, chuyển hoá nghiệp hầu sớm được thoát khổ, giác ngộ, giải thoát.

          Trong "Tiến trình tu chứng và thành đạo của Đức Phật", chúng ta ghi nhận Đức Phật đã nhiều lần tỉnh ngộ.

          - Tỉnh ngộ đầu tiên: Khi Đức Phật còn là Thái tử, Ngài nhận thấy sinh, già, bệnh, chết là quy luật khách quan đã, đang và sẽ khống chế con người, nên Ngài quyết định thoát ly khỏi gia đình để đi tìm một phương pháp tu tập hầu thoát ra khỏi sự khống chế của bốn nỗi khổ đó.

          - Tỉnh ngộ thứ hai: Đức Phật từ giả hai vị Thầy Àlàra Kàlama và Uddakka Ramàputta đã dạy cho Ngài bốn tầng thiền Vô sắc, đó là: Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ,  nhưng Pháp này đã không giúp Ngài kinh nghiệm được thượng trí, không giải quyết được bài toán đi tìm cái Vô sanh của Ngài nên Ngài xin phép ra đi.

          - Tỉnh ngộ lần thứ ba: Tu khổ hạnh đói khát suýt chết, cũng không kinh nghiệm được Niết Bàn. Một hôm Ngài té xỉu ngay bìa rừng, may nhờ có một mục nữ chăn cừu cúng dường bát sữa, lay Ngài tỉnh dậy. Lúc đó, Ngài ngộ ra rằng phải có thân khoẻ mạnh để tâm nương vào thân mà tu. Thế là Ngài từ bỏ pháp tu khổ hạnh, quyết định ăn uống trở lại để giữ thân mà tu. Bấy giờ Bồ Tát không có Pháp gì để hành trì, Ngài nhớ lại Pháp Thở đã có lần kinh nghiệm "nhập định" khi theo vua Tịnh Phạn làm lễ hạ điền lúc còn nhỏ. Ngài quyết định áp dụng Pháp Thở qua bốn tiến trình Biết: Từ Biết Có Lời chuyển qua Biết Không Lời, Thầm Nhận Biết, Tỉnh Thức Biết và Nhận Thức Biết. Sau 49 ngày đêm toạ thiền, Ngài đã Giác ngộ nhận ra mình đã hoàn toàn sạch hết lậu hoặc, chứng quả Abhisamaya tức quả vị A-La-Hán.

          Qua những lần tỉnh ngộ như trên của Đức Phật, chúng ta nhận thấy tỉnh ngộ là bước ngoặc rất quan trọng. Nhờ có tỉnh ngộ, chúng ta mới lo tu tập, ban đầu học tập để có tuệ tri. Tuệ tri là sự hiểu biết, nhận ra, ngộ ra những lời dạy của Đức Phật. Sau đó hành trì để thể nhập những lời dạy của Đức Phật vào đời sống hằng ngày trên Thân và Tâm của chúng ta. Giác ngộ chính là sự hiểu biết chứng ngộ của riêng chúng ta qua thiền Định.

 

NHỮNG MỨC CHỨNG NGỘ TRONG THIỀN PHẬT GIÁO

          Giác ngộ có nhiều mức độ. Hành giả tu tập sẽ có dịp kinh nghiệm tiểu ngộ nhiều lần rồi mới đại ngộ. Mức độ đầu tiên là:

          - Tỉnh ngộ (Pabodhana/Awakening): Tỉnh ngộ là chức năng của vùng tiền trán, Trí Năng không còn là công cụ của Ý Căn, Ý Thức mà trở thành ông chủ của hai tâm này. Tạm gọi là Trí năng tỉnh ngộ, không còn suy luận suy đoán, vẽ vời nữa, mà nó học hỏi hướng thượng: Thấy, nghe, đọc kinh sách. Quyết tâm tìm tòi, học tập để biết nguyên nhân của cái Khổ rồi tu tập để diệt Khổ.

          Hành giả xử dụng Trí năng để học những giáo lý quan trọng mà Đức Phật dạy cho các đệ tử của Ngài là Bài kinh Chuyển Pháp Luân gồm kinh Tứ Diệu Đế và kinh Vô Ngã Tướng.

          Kinh Tứ Diệu Đế, Đức Phật đã chỉ rõ: Đây là Khổ Đế, Đây là Tập Đế, Đây là Diệt Đế và Đây là Đạo Đế.

          Muốn thoát khổ, Phật dạy chúng ta phải quán chiếu tìm nguyên nhân gây ra khổ. Biết nguyên nhân gây ra khổ rồi, chúng ta phải diệt nó đi. Khi hết khổ là lúc chúng ta an trú trong Niết Bàn. Phương pháp để Diệt Khổ là Đạo Đế. Đạo Đế gồm tám chi để chúng ta hành trì tu tập. Đó là: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định. Thực hành tới nơi tới chốn Bát Chánh Đạo thì hành giả kinh nghiệm trạng thái giác ngộ. Giác ngộ rồi thì làm gì còn khổ nữa. Hết khổ thì giải thoát.

          Bài Kinh Vô Ngã Tướng, Đức Phật dạy con người gồm hai phần Danh và Sắc tức Thân và Tâm. Thân là vật chất gồm các giác quan, não bộ và nội tạng. Tâm gồm các yếu tố hợp thành là: Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Từ bài Kinh này mà chúng ta sẽ nhận ra định luật khách quan của hiện tượng thế gian là: Vô thường, Khổ, Vô Ngã, gọi chung là Tam Pháp Ấn. Qua Tam Pháp Ấn, Đức Phật nhắc nhở chúng ta không nên bám víu, chấp Thân Tâm này là thường hằng, vì cả hai không thực chất tính nên nó Vô Ngã. Nhận ra được điều này và thể nhập được điều này vào đời sống hiện tại thì Thân Tâm sẽ không bị trói buộc vào khái niệm "Ngã" là có thật, là thường hằng. Vì thế, khi Thân ốm đau hay cuối cùng nó chết đi chúng ta chấp nhận mà không tiếc nuối đau khổ.

          Giai đoạn này tuy đã tỉnh ngộ nhưng vẫn còn xử dụng Biết Có Lời nên trong đầu vẫn còn Tầm vàTứ.

          - Ngộ hay chứng ngộ : Tiếng Phạn là "Sacchikaroti", tiếng Anh là "to realized". Nghĩa là "nhận ra" hoặc "hiểu biết" điều gì đó qua phản xạ giác quan, nghĩa là khi giác quan tiếp xúc đối tượng, Tâm hoàn toàn yên lặng, chỉ một niệm Biết không lời về cái đang là của đối tượng. Niệm Biết này kích thích vào 3 Tánh: Tánh thấy, tánh nghe, tánh xúc chạm tạo ra phản xạ giác quan là chất xúc tác làm tuệ trí bật ra kiến giải điều mình từng thắc mắc thì đó là ngộ hay chứng ngộ.

          Một cách khác, khi Trí năng suy nghĩ vấn đề gì mà bị bế tắt. Một điều kiện bên ngoài tác động vào một trong ba Tánh thì Tánh Giác bật ra kiến giải. Điều mình hiểu biết từ sự kiến giải của Tánh giác là chứng ngộ.

          - Đốn ngộ hay triệt ngộ (khippàbhinnà): Triệt ngộ qua 4 Tánh, nghĩa là hành giả nghe giảng Pháp ngay trong lúc ở trong Định, ngộ liền tức khắc chứng quả A-La-Hán, không còn vi tế lậu hoặc, như câu chuyện ngộ đạo ông Bahiyà và Lục Tổ Huệ Năng. Các Ngài đã ngộ từ (niệm/nghe) bằng Tánh Nghe. Tánh Nghe đi thẳng vào Tánh Nhận Thức, hai vị này ngộ liền tức khắc. Ngộ này gọi là đốn ngộ hay triệt ngộ.

          - Abhisamaya (A-La-Hán): Bồ Tát Cồ Đàm sau bốn tuần toạ thiền đã lần lượt chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Ngày cuối cùng của tuần lễ tứ thiền, Ngài chứng ngộ ba minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh, hoàn toàn sạch lậu hoặc, Ngài an trú trong Tâm Tathà (Tâm Như). Kinh ghi Bồ Tát "chứng ngộ hoàn toàn" gọi là  "Abhisamaya" tức quả vị A-La-Hán, là quả vị cao nhất trong thiền Phật giáo lúc bấy giờ.

          - Anuttara-Sammà-Sambodhi (Chánh đẳng chánh giác, quả vị Phật): Tuần lễ thứ bảy Bồ Tát chứng ngộ Pháp Tánh (Idappaccayatà) và Pháp Giới Tánh (Tathatà của hiện tượng thế gian) được tôn xưng là vị Phật lịch sử.

 

TÂM SINH DIỆT VÀ TÂM GIẢI THOÁT

          Trong kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật chia Tâm làm hai loại. Đó là Vọng Tâm và Chân Tâm. Tâm là cái Biết. Cái Biết cũng có hai loại: Biết có lời, là cái Biết của Vọng Tâm. Biết không lời là cái Biết của Chân Tâm.  

          Ngày xưa Đức Phật thành đạo qua pháp tu thiền Định. Vì thế nếu hành giả muốn tu "Giác Ngộ Giải Thoát", thì sau khi Quán chiếu kinh điển hay những lời Phật dạy, thì hành giả cũng phải tu thiền Định để kinh nghiệm những giáo lý đó trên Thân và Tâm của mình hầu phát huy trí huệ tâm linh tức giác ngộ.

          Nguyên tắc tu tập là huấn luyện tế bào não từ quán tính lăng xăng dao động do suy nghĩ, xúc cảm, buồn, vui, đau khổ là trạng thái của Vọng Tâm còn gọi là Tâm Sinh Diệt, trở thành quán tính yên lặng. Tâm yên lặng khi giác quan tiếp xúc đối tượng, thấy, nghe, xúc chạm... biết như thật về đối tượng mà Tâm không dao động bởi sự phân biệt so sánh khen chê, ưa ghét. Tâm biết như thật về mọi vật, đó là Chân Tâm. Chân Tâm là Tâm giải thoát không còn phiền não khổ đau.

 

KẾT LUẬN

          Cuối cùng, muốn đạt mục tiêu "Thoát Khổ, Giác Ngộ, Giải Thoát", thì phải tu tập thế nào cho Tâm luôn được thanh tịnh sáng suốt. Đức Phật thì nói rằng Tâm "hoàn toàn sạch lậu hoặc" là giải thoát. Phật Giáo Nguyên Thuỷ đòi hỏi Tâm này "không còn tham sân si" thì sẽ chứng quả A-La-Hán.  Phật giáo Phát Triển nói Tâm này là "tự ngã thanh tịnh" để chỉ Chân Tâm là Tâm Bậc Thánh, còn "tự ngã thanh tịnh tuyệt đối" để chỉ Tâm Phật.

          Trên đây Phật và chư vị Tổ chỉ mượn lời khác nhau nhưng cùng một ý nghĩa, để diễn tả cái chỗ không lời là chỗ yên lặng tuyệt đối. Như vậy cốt lõi của con đường tâm linh đi từ Tâm Phàm Phu đến Tâm Bậc Thánh hay cao hơn là Tâm Phật chính là sự thanh tịnh của Thân và Tâm. Tâm là ý nghĩ, là sự tác ý. Thân là hành động và lời nói. Tất cả ba nghiệp này thanh tịnh sẽ đưa đến toàn bộ thanh tịnh. Nhưng quan trọng nhất vẫn là cái Tâm, từ nơi Tâm mới sinh ra những động thái khác, ngay cả việc phát huy trí huệ cũng phát xuất từ cái Tâm định tĩnh chứ không từ đâu khác. Cho nên, sự thanh tịnh của Tâm như là một ly nước được lóng sạch những chất dơ bẩn, nước trong veo thì chúng ta có thể nhìn xuyên suốt tới tận đáy ly. Cũng vậy khi Tâm hoàn toàn trong sáng, không cấu nhiễm và định tĩnh... thì chuyện gì mà chúng ta không giải quyết được.

          Tóm lại, Tu Phật giúp cho Thân Tâm chúng ta được hài hòa, Tâm chúng ta được sáng suốt và cõi lòng chúng ta luôn từ bi cởi mở. Ở bước đầu này, chúng ta cảm nhận được sự an lạc hạnh phúc và nhận thấy mọi người thân cận chúng ta cũng hài hoà vui vẻ... Bấy nhiêu đây cũng đã là quá hạnh phúc rồi, nói chi đến việc chúng ta tu tới mức Giác Ngộ, Giải Thoát, được an trú trong Hữu Dư Niết Bàn một trạng thái Tâm vượt ra ngoài nhận thức thế gian thì còn gì để nghĩ bàn nữa.

          Chúng tôi tạm dừng bài viết nơi đây. Kính chúc quý vị an vui trong đời sống của người biết đạo. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

August 03-2018

 

           

           

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/202109:18(Xem: 78069)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
10/05/202119:02(Xem: 28)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/202111:49(Xem: 117)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.
04/05/202118:51(Xem: 269)
Một khi Đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng, ngài sẽ phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn về việc nói với thế giới những gì đã xảy ra ở quê hương ngài và cố gắng để có được sự giúp đở cho người dân của ngài. Ngài cũng phải chạm trán với sự tuyên truyền của truyền thông Tàu Cộng rằng ngài đã bị bắt cóc. Tuy nhiên, nhu cầu thiết yếu nhất là để bảo đảm nhà ở và thực phẩm cho những người Tây Tạng đã đi theo ngài lưu vong. Ngài đã hướng đến chính phủ Ấn Độ, và họ đã không làm ngài thất vọng. Trong thực tế, Ấn Độ cuối cùng đã tiếp nhận hơn một trăm nghìn người tị nạn, cung cấp chỗ ở, và nuôi dưỡng họ, cho họ làm việc, và thiết lập những ngôi trường đặc biệt cho trẻ em Tây Tạng. Những tu viện Phật giáo Tây Tạng cũng được xây dựng ở Ấn Độ và Nepal.
30/04/202120:39(Xem: 273)
Thưa Tôi. Hôm nay là ngày sinh nhật của Tôi, xin được phép thoát ra khỏi cái tôi để nhìn về tôi mà phán xét và đưa ra cảm nghĩ. Hình dạng tôi đã già rồi, tóc đã bạc hết cả đầu. Tôi đã trải qua một thời gian dài sinh sống làm việc và cuối đời nghỉ hưu. Tôi đã bắt đầu thấm thía cái vô thường của thời gian mang lại. Tôi cũng đã thấm thía cái sức khỏe đã đi xuống nhanh hơn đi lên. Tôi cũng đã thấm thía tình đời bạc bẽo cũng như tình cảm (Thọ) là nỗi khổ đau của nhân sinh. Tôi cũng đã hiểu rõ thế nào là ý nghĩa đích thực của cuộc sống, đó là bất khả tương nghị không thể thốt lên thành lời. Chỉ có im lặng là đúng nghĩa nhất. Ngày xưa khi lục tổ Huệ Năng của Thiền tông chạy trốn mang theo y bát thì thượng tọa Minh rượt đuổi theo để giết lấy lại. Đến khi gặp mặt thì lục tổ mang y bát ra để trên tảng đá rồi núp dưới tảng đá bảo thượng tọa Minh hãy lấy y bát đi mà tha chết cho người. Thượng tọa Mình lấy bát lên, nhắc không lên nổi vì nó quá nặng bèn sợ hãi mà quỳ xuống xin lục tổ tha c
30/04/202120:35(Xem: 221)
Thiền Uyển Tập Anh chép Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu (933 – 1011) tu ở chùa Phật Đà, Thường Lạc nay là chùa Đại Bi núi Vệ Linh Sóc Sơn, Hà Nội. Ngài thuộc thế hệ thứ 4 Thiền phái Vô Ngôn Thông. Ngài người hương Cát Lợi huyện Thường Lạc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế (Ngô Quyền). Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, Thiền sư Ngô Chân Lưu tên huý là Xương Tỷ, anh trai Thái tử - Sứ quân Ngô Xương Xý, con Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, cháu đích tôn của Ngô Vương Quyền. Ngài dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tánh tình phóng khoáng chí khí cao xa, có duyên với cửa Thiền từ năm 11 tuổi.
27/04/202121:03(Xem: 199)
Tánh Không ra đời một thời gian dài sau khi đức Phật Nhập diệt do Bồ tát Long Thọ xiển dương qua Trung Quán Luận. Mặc dầu khi còn tại thế đức Phật có nói về Tánh Không qua kinh A hàm và Nikaya. Nơi đây Phật có nói về tánh xuất gia của hành giả đi tu. Hạng người tâm xuất gia mà thân không xuất gia thì gọi là cư sĩ. Và hạng người tâm và thân xuất gia thì gọi là tỳ kheo. Tánh Không cũng có hiện hữu trong kinh Tiểu không bộ kinh trung bộ. Phật có dạy: nầy Ananda, Ta nhờ ẩn trú Không nên nay ẩn trú rất nhiều. Kế tiếp Phật có dạy trong kinh A hàm về các pháp giả hợp vô thường như những bọt nước trôi trên sông: sự trống không của bọt nước.
27/04/202120:48(Xem: 204)
Đêm yên tĩnh. Nhìn ra khung kiếng cửa sổ chỉ thấy một màu đen, đậm đặc. Cây cối, hàng giậu, lẳng hoa, bồn cỏ, ghế đá, và con đường ngoằn ngoèo trong công viên, có thể sẽ khó cho khách bộ hành nhận ra vị trí và thực chất của chúng. Cây bên đường có thể bị nhầm là kẻ trộm đối với cảnh sát, và sẽ là cảnh sát đối với kẻ trộm (1). Giây thừng hay con rắn. Con chim hay con quạ. Con sóc hay con mèo. Người hay quỉ. Mọi vật đều một màu đen. Trong bóng đêm, mọi thứ đều dễ trở nên ma mị, huyễn hoặc.
27/04/202120:35(Xem: 202)
Cũng như tình trạng nghiêm trọng của Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi chỉ có thể theo đuổi một trong ba trường hợp – chiến đấu, bỏ chạy, hay đàm phán. Ngài có thể tập họp lại đội quân ít ỏi, vũ khí thô sơ, rèn luyện sơ sài và đưa họ đối mặt với một lực lượng quân sự mạnh mẽ vượt trội, biết rằng ngài gần như chắc chắn đang kết án tử hình cho đội quân của ngài và xứ sở của ngài cuối cùng sẽ bị đánh bại. Ngài có thể trốn chạy khỏi đất nước, nhưng như vậy sẽ để lại dân tộc ngài không có lãnh đạo và vẫn chịu sự thương hại của những kẻ xâm lược. Hay, ngài vẫn ở lại Tây Tạng và cố gắng để đàm phán một thỏa hiệp với Tàu Cộng để bảo vệ dân tộc ngài và nền văn hóa của họ. Để thực hiện một quyết định đúng đắn, ngài phải biết hơn về Trung Hoa.
27/04/202120:27(Xem: 268)
Được sự cho phép của lãnh đạo chính quyền và sự trợ duyên của nam nữ Phật tử, câc nhà hảo tâm khắp nơi, chùa Diên Khánh đã khởi công trùng tu ngôi Tam Bảo vào ngày 12/3 năm Tân Sửu, nhưng kinh phí còn quá khiêm tốn, nên việc tái thiết trùng tu ngôi chánh điện đang dang dở, trì trệ... Nay nhà chùa một lần nữa tha thiết đăng lại bức "Thư Ngỏ", kính gửi lời đến quý đạo hữu, nhà hảo tâm, Phật tử gần xa để công việc trùng tu sớm được hoàn thành.