Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Từ Tác Phẩm "Dương Từ Hà Mậu" của Nguyễn Đình Chiểu, nghĩ đến Cuộc Chấn Hưng PG của Tổ Khánh Hòa

20/10/201721:15(Xem: 777)
Từ Tác Phẩm "Dương Từ Hà Mậu" của Nguyễn Đình Chiểu, nghĩ đến Cuộc Chấn Hưng PG của Tổ Khánh Hòa

Tham Luận Tổ Khánh Hòa (II)

 

 to-khanh-hoa


TỪ TÁC PHẨM "DƯƠNG TỪ - HÀ MẬU " CỦA NGUYỄN
ĐÌNH CHIỂU
NGHĨ ĐẾN CUỘC CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO CỦA TỔ KHÁNH HÒA.

 

     ( Đây không phải là cuộc so sánh tương quan luận điểm hay ý nghĩa đúng - sai   của hai nhân vật lịch sử nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu và Tổ Khánh Hòa vì hành trạng và lý tưởng dấn thân của hai người khác nhau, cả về phương diện đấu tranh trước nghịch cảnh , giữa Đời và Đạo và một khoảng cách thời gian nhất định. Bài viết chỉ mong đóng góp nhỏ suy luận phần mình với một nối kết lịch sử nhất định để mở rộng thêm nỗi niềm của Tổ Khánh Hòa và chư tôn thạc đức trong bối cảnh chung đau thương của dân tộc trước và sau phong trào chấn hưng Phật giáo rực rỡ  )

 

 

1- Từ tác phẩm "Dương Từ - Hà Mậu " của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu

            

             Đứng trên mãnh đất Bến Tre, quê hương Đồng Khởi, lòng luôn bồi hồi nhớ lại trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ giữ nước; bên cạnh vũ khí thô sơ từ tầm vông vạt nhọn thời chống Pháp cho đến súng đạn thời chống Mỹ, hào khí chiến đấu của Bến Tre còn có thơ văn yêu nước và đặc biệt phảng phất hương khói anh linh bao nghĩa sĩ hùng anh dựa vào lời thơ Văn Tế Nghĩa Sĩ Lục Tỉnh của Nguyễn Đình Chiều ( 1822 - 1888) năm nào mà đứng thẳng và còn mãi với non sông đất nước (1).

 

             Khi "Day mủi thuyền Nam dạ xót xa/ Chén rượu đỏ lòng xin cạn chén/ Nhớ nhau ngày ấy biết sao mà..." (2) Nguyễn Đình Chiểu đã cắm sào đậu bến Ba Tri để trở thành một công dân ưu tú của đất Bến Tre sẵn ôm vào lòng nỗi niềm chung của đất nước. Từ đây những ngọn đuốc lá dừa cứ thau phiên nhau bập bùng cháy sáng trong đêm dài u tối không bao giờ tắt.

 

             Âu cũng là diễm phúc khi hậu thế cháu con chúng ta hôm nay còn nhìn thấy được ảnh chân dung bán thân của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu tuy nhiều nét còn mờ ẩn nhưng vẫn toát lên được vẻ đỉnh đạt của một chí sĩ đầy khí phách trước bao uy vũ vẫn bất năng khuất ! Từ bức ảnh quý hiếm này, người viết vốn luôn chú tâm vào lãnh vực nghệ thuật sân khấu nên đã may mắn và cũng không kém phần sững sờ khi vào nữa cuối thập niên 80 thế kỷ trước, được xem vở hát bội phát trên tivi đen trắng của Đoàn Nghệ Thuật Hát Bội Hàm Luông, nữ nghệ sĩ Ngọc Ẩn đã vào vai nhân vật Nguyện Đình Chiểu hết sức sinh động và đầy tính thuyết phục. Vẫn áo dài khăn đóng nghiêm trang, nữ nghệ sĩ đã cho người xem thấy lại chân dung của "ông già Ba tri" ngày nào với cách ứng xử đạo đức, từ tốn mà đỉnh đạc dù trước ông chủ tỉnh người Pháp hay với hạng thích bơ sữa chạy theo nâng gót Tây Dương. Như vậy, qua văn thơ, qua nghệ thuật, Nguyễn Đình Chiểu vẫn luôn đứng bên cạnh chúng ta, nhắc nhở nhiều bài học đạo đức làm người và làm một người con dân đất Việt trước đại nạn vong nô : " Thà đui mà giữ đạo nhà/ Còn hơn có mắt ông cha không thờ" (3) .

 

         Ngoài cốt cách và ý thức sống cũng như sự khẳng khái trước  nhiều cám dỗ vật chất và đe dọa từ giặc Tây, giá trị tinh thần của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu còn nằm trong các tác phẩm có giá trị cao. Nếu truyện thơ "Lục Vân Tiên" được gởi gấm nhiều nỗi niềm về gia thế, khẳng định tinh thần yêu nước, và bản thân thì "Dương Từ - Hà Mậu" (DTHM)là một kết cấu thành câu chyện thời sự, mạch lạc đề cao Nho học; tác phẩm " Ngư Tiều Vấn Đáp Nho Y" thì nói về y pháp và y đức của người thầy thuốc trong xã hội. Đặc biệt thể hiện tinh thần và quan điểm yêu nước thì tất cả đều nằm trong mãng Thơ và Văn Tế.

 

 

        Những tóm tắt về nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu trong bài viết này bằng niềm trân trọng và ngưỡng mộ, xin chỉ dừng lại chừng ấy đôi dòng để chúng ta nhắc đến một sự nối kết tuy âm thầm và cách sau một thế hệ cũng như lý tưởng dấn thân , như là một sự tất yếu. Chúng ta đang nhắc tới công ơn to lớn của Tổ Khánh Hòa ( 1877 - 1947) trong công cuộc chấn hưng Phật giáo rực rỡ mà qua thơ văn, đặc biệt tác phẩm DTHM của Nguyễn Đình Chiểu đã có phần nào ảnh hưởng và thôi thúc chí nguyện lớn lao của Ngài.

 

 

2- Đến nỗi lòng thiết tha Chấn Hưng Phật Giáo của tổ Khánh Hòa

 

        Khi nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đọc Văn tế Nghĩa Sĩ Lục Tỉnh tại chợ Ba Tri-Bến Tre năm 1884 thì Tổ Khánh Hòa ( Ngài) tuổi đã lên tám, cái tuổi vửa đủ ghi vào tâm khảm nhiều diễn biến chung quanh, và bốn năm sau đó, khi nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu tạ thế ( 1888 ) thì Ngài đã bước vào tuổi mười hai. Từ đó cho đến khi Ngài tròn mười chín tuổi, sẵn sàng bước vào nẽo đạo với tâm thế không chỉ cầu giải thoát cho mình hay để mong cầu dựa dẫm vào một thế giới bình an giữa lòng dân tộc đang hồi biến động đau thương từng ngày, mà là bằng nỗi niềm riêng mang với hai bờ vai tuổi thanh xuân, từng bước trưởng thành để mong gánh vác việc lớn mai sau của tiền đồ Phật pháp cũng đang hồi nghiêng ngửa, chung nỗi đau chung của đất nước, của quê hương Bến Tre mà trước đó chưa lâu nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cũng đã từng canh cánh bên lòng.

 

            Có thể nói, riêng tác phẩm DTHM của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu là hồi chuông cảnh báo lớn, rất lớn cho chính những người con Phật có ý thức và trách nhệm. Ở trong đó, DTHM đã vẻ ra một bối cảnh xã hội mà con người buộc phải chọn  lựa giữa cội nguồn dân tộc và sự vay mượn bên ngoài. Có ba ý thức nhận định tác phẩm DTHM của Nguyễn Đình Chiểu: Một là cuộc đấu tranh giữa tà thuyết và chính nghĩa; cũng có thể cho đó là một cuộc chiến giữa các tôn giáo ( ? ) Hai là đề cao Nho học được xem là truyền thống lâu đời của dân tộc. Ba là sự khẳng định lập trường và tinh thần chiến đấu , yêu nước thiết tha, sôi nổi, kêu gọi đồng bào sớm phài nhận ra kẻ thù chung của dân tộc, nói rỏ trách nhiệm và bổn phận của mọi người dân Việt trước họa xâm lăng ( 4). Ban đầu đây là tác phẩm truyền khẩu, trong quá trình lưu hành xuất hiện một hai dị bản nhưng sau này các nhà nghiên cứu đã thống kê và đúc kết lại nguyên bản gốc.

 

          Theo kết quả nghiên cứu của nhiều người, thì DTHM có thể được soạn từ năm 1851 và hòan chỉnh vào những năm trước khi thành Gia Định rời vào tay giặc Pháp. Trong giai đoạn này, nước nhà đứng trước ngưỡng cữa của một cuộc " dưa chia khăn xé".Quân đội viễn chinh của thực dân Pháp muốn xâm lược nước ta, đã âm mưu lợi dụng Hội Truyền Giáo, làm nhiệm vụ quan sát, dò la tính hình, hoặc để mê hoặc, chia rẻ hàng ngũ đấu tranh của nhân dân. Bọn giáo sĩ đã ru ngũ quần chúng bởi những giáo lý huyễn hoặc về thiên đường, địa ngục, làm họ quên mất quên mất nhiệm vụ của mình đồi với Tổ quốc, nhằm tạo ra một thế đối lập bằng cách đề cao xúi giục các hành động cuồng tín " tử vì đạo" để từ đó làm bình phông " bảo vệ công giáo". Đó là một sự thật lịch sử đối với Việt nam cũng như đối với bất cứ một nước nào khác của bọn xâm lược phương Tây ( 4).

 

            Qua đó, nếu cho rằng DTHM chỉ đánh phá Phật giáo thì chưa hẳn đúng dù xuyên suốt nội dung Phật giáo bị đem ra đồng hóa với đạo Da-Tô ( từ dùng của Nguyễn Đình Chiểu ); có chăng đó chính là thủ pháp kê đòn bẩy để nổi bật chủ đề chính, và đương nhiên như vậy thì phải đề cao Nho Học, lấy đó làm niềm tin chính thống. Với 3.455 đoạn thơ ( 4 câu) bản thể tinh túy của Phật giáo không được mổ xẻ tận tường , thay vào đó là sự lên án dị đoan, mê hoặc, không giúp ích cho đời, tăng môn sa đọa.v...v...và bị kết luận là tà đạo(?). Có lẽ như vậy nên tinh thần tam giáo đồng nguyên, vốn được chính Phật giáo đề xướng và thực hành ngay cả những khi nghiểm nhiên ở ngôi vị quốc giáo có thế đứng cao cả, và được ca ngợi từ thời Đinh, Lê ,Lý, Trần.v...v... hoàn toàn vắng bóng trong tác phẩm DTHM.

 

          Về mặt khách quan, cộng vào bối cảnh chung xã hội và dân tình thời bấy giờ, một tác phẩm từ truyền khẩu nhanh chóng luồng lách được và đi vào tận những hang cùng ngỏ ngách, với đủ các giai tầng, trình độ khác nhau của công chúng, thì quả thật DTHM đã vô tình làm điêu đứng thêm hình ảnh Phật giáo vốn đã bị thực dân Pháp đẩy lùi xuống tận cùng khốn khổ ! Hình ảnh " tăng đồ hủ bại, đạo pháp suy vi" dường như đã gắn chặt vận mệnh Phật giáo thời bấy giờ, dù là vô tình hay hữu ý, mà chưa thấy một tia hy vọng nào được nhen nhóm hầu khả dĩ làm an tâm những người con Phật chân chính khác!

 

          Về khía cạnh chủ quan, có một thực tế hiển nhiên do hệ quả ỷ lại mang tính chất truyền thống mạnh ai nấy tu mạnh ai nấy vạch ra con đường riêng cho tông môn, cho bản tự mình, không có sự thống nhất và giám sát từ một tổ chức Phật giáo có hệ thống. Hơn nữa Phật giáo khi đã bị đầy lùi vào u tịch, xa lánh cuộc sống thực tế theo như mong muốn của thế lực thực dân nhằm từng bước làm suy yếu tiềm năng Phật giáo, thì sự suy đời, lung lay giới hạnh của giới tăng sĩ là hệ quả đương nhiên. Cho nên , sư Thiện Chiếu đã có nhận xét "Phật giáo nước ta suy đồi do nơi tăng đồ thất học, tăng đồ ví cũng như nguyên khí, nguyên khí suy mòn tất nhiên sinh nhiều quái chứng; muốn khỏi biến sinh quái chứng và thân thể được bình phục như xưa thì phài bồi thực nguyên khí. Vậy muốn Phật pháp trùng hựng, thì ai là tăng đồ hoặc tín đồ nữa cần phải nghiên cứu Phật học".

 

          Với người con Phật, trước mắt không bao giờ đỗ lỗi cho bất  cứ ai, nguyên do vì đâu và tại sao, mà quan trọng nhất là thái độ dấn thân, âm thầm chấp nhận những nghịch duyên đưa đến và dùng trí tuệ , sở học cũng như đức độ của mình từng bước gỡ rối, xóa vết đau , mong xây dựng lại hình ảnh mạnh lành của ngôi nhà chung Phật giáo khi nào dù đó có phải trải qua những cơn lột xác đau đớn. Tổ Khánh Hòa của chúng ta đã làm được điều đó. Trong ý nghĩa tích cực, việc dấy động phong trào chấn hưng phật giáo, cũng là một cách chống lại các thế lực đen tồi âm mưu đưa Phật giáo vào bước tàn lụi, cũng đồng thời là chống lại thế lực thực dân. Qua nhiều sử liệu, chúng ta thấy Tổ Khánh Hòa tự đặt mình vào trách nhiệm khó khăn mà trước đó đã có không ít vị lắc đầu thối lui, quay gót lại thiền môn tĩnh tu cho bản thân, thậm chí có cả người trút bỏ lớp tăng bào cao cả vì không chịu  đựng nỗi áp lực hoặc chưa đủ trình độ, tư duy Phật học cần thiết trước nghịch duyên đang bủa vây. Tổ Khánh Hòa thì vẫn âm thầm, khiêm cung như chẵng bao giờ chú tâm đến thời cuộc và những tác động chung quanh. Bởi vì tất cả bối cảnh xã hội nhức nhối trong DTHM đã nói thay cho tất cả, Ngài nhận lấy chính cái nghịch duyên ấy để thiết lập lý tưởng dấn thân. Theo nhiều khẩu ngôn của chư tôn thiền đức truyền dạy, người ta nói xấu, chê trách Phật giáo, xem nhẹ tăng đồ trước hết mình phải biết lắng nghe và chấp nhận , muốn thoát khỏi nghịch duyên thì phải từ đây tôn tạo nền móng phước báo cho chính mình, tương lai mới xáng lạn thêm hơn. Không mong cầu quyền lợi hay dựa dẫm thế lực nào vì đó sẽ vô tình tạo gây thêm nghiệp khác. Đó cũng là khung cảnh lạc quan , tươi sáng mà nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã viết: Ngày chiều nhả bức đồng quê/ hưu vào động núi, hạc về đình xưa"(Câu 2650- Ngư tiều y thuật vấn đáp- Nguyễn Đình Chiểu), viễn cảnh đó còn là cái quả tất yếu sau mỗi cuộc phong ba bão táp.

 

            Như vậy chúng ta thấy Tổ Khánh Hòa sớm biết vận dụng nghịch duyên vào lý tưởng hành động, chấp nhận gian khó. Dóng lên hồi chuông cảnh tỉnh ,lay động đến từng mái ngói rêu phong , vốn dĩ vấn vương hương khói u buồn theo năm tháng. Nếu nhà thơ Nguyễn Đình Chiều thể hiện lòng yêu nước qua sở học và ngòi bút sắt nhọn của mình thì Tổ Khánh Hòa cũng thể hiện lòng yêu nước của mình bằng cách riêng của những gì hấp thụ được từ tinh túy của nhà Phật. Ngoài những hành động cụ thể như  âm thầm giúp đỡ các chiến sĩ, cán bộ cách mạng cũng như nương thừa mối giao du thấm đậm tình dân tộc với cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ( 1862 - 1929) để từng bước hổ trợ nhau trên bước đường đấu tranh dành lại độc lập cho dân tộc; Tổ Khánh Hòa trước hết vẫn làm tròn trách nhiệm một người con Phật trước mối suy vong hiện thấy. Hình ảnh một người xuất gia tu Phật đã được Ngài từng bước một xây dựng lại trên nền tảng chấn hưng triệt để. Qua đó, một người xuất gia không chỉ là người có đức độ tu hành, chuyên trì Phật pháp uyên thâm mà còn phải là một hành giả có trang bị đầy đủ những kiến thức cần thiết để có thể đối trước mọi hoàn cảnh của xã hội, đặc biệt các  vị có nhiệm vụ pháp sư đăng đàn giảng pháp. Điều này, ngay từ những năm đầu thập niên 1930, từ khắp mọi nơi đều có sự đồng thuận với Tổ Khánh Hòa ngay khi phong trào chấn hưng Phật giáo vừa hình thành, trước hết qua phương tiện báo chí Phật giáo dù là non trẻ vá ít ỏi thời bấy giờ, nhất là báo Đuốc Tuệ ( Hà Nội), Duy Tâm....đều đã có các chuyên đề mang tính học thuật và tỷ giảo, lên tiếng nêu bậc tính thực tiễn của giáo lý nhà Phật, khẳng định một tôn giáo nhập thế, tiến bộ; không mê tín, lạc hậu, yếm thế và có những hành giã sai quấy lầm đường. Thời thế đen tối khi ấy đã góp phần biến những vị xuất gia trở thành những kẻ yếm thế, tiêu cực đã khiến xã hội không nhận ra đó là một vị thầy hiền từ đức độ từ bi hay một vị thầy ít học và hủ lậu ! Tinh thần Bi Trí Dũng cao sâu của Phật đà không được vận dụng thường hành và xã hội khi ấy vẫn chưa hay, chưa biết tinh hoa Phật pháp có ba đức tính tuyệt vời đó.

 

        

duong kinh thanh

 

Tác giả Dương Kinh Thành tại cuộc Hội Thảo
(hình chụp ngày 19-10-2017)




  Chẵng những chứng minh Phật giáo không như những cái nhìn khiếm diện, méo mó ẩn chứa nhiều ác ý dẫn đến hệ lụy rệu rả, tha hóa của Phật giáo, mà Tổ Khánh Hòa cùng chư tôn đức ngay trong những ngày đầu non trẻ của phong trào chấn hưng Phật giáo còn mở ra cánh cửa học thuật, biện luận nhãn quan duy thức học qua các thời giảng pháp và nhất là trên các phương tiện báo chí, đã phần nào làm dịu tan đáng kể những cái nhìn không hay vể Phật giáo, trước hết trong giới trí thức, thượng lưu, về những vị tăng sĩ xuất gia, và còn để tâm theo dõi, thậm chí hướng tinh thần ủng hộ cho phong trào. Xem lại các số báo Duy Tâm đầu năm 1936, những bài thuyết pháp của Tổ Khánh Hòa tại Hội Lưỡng Xuyên Phật Học được báo này đăng lại với chủ đề "Vũ trụ và nhân sinh quan của Phật giáo" . Chỉ một đọan ngắn này thôi đã đủ hàm chứa tất cả những gì Ngài muốn nói : " Tôi vốn là một nhà Phật học chớ không phải một nhà thực nghiệm khoa học , nên không dám phê bình khoa học; nhưng theo lý học thì Phật pháp tức khoa học, khoa học tức Phật pháp; khoa học là "tướng", Phật pháp là "tính", khoa học là "dụng" Phật pháp là "thể"; khoa học là "sự ", Phật pháp là "lý", khoa học là "hình thức", Phật pháp là "tinh thần". Chưa hề có tướng mà không tính, có thể mà không dụng, có sự mà không có lý, có hình thức mà không có tinh thần bao giờ...". Ngay cả quan niệm thuyết Thượng Đế sáng tạo Tổ Khánh Hòa cũng không ngần ngại chỉ rõ những bất công, vô lý trong việc Thượng đế sáng tạo ra trong xã hội con người để rồi cứu rỗi, cứu chuộc với chính những cái ác cũng do mình "sáng tạo" ra! Lời lẽ từ tốn khiêm nhường mà đanh gọn sâu sắc, làm ngẩn ngơ các thế lực u minh vốn tự cho mình thành phần "Tây học" và những người sớm bộc lộ tri kiến vong nô ( nói theo ngôn từ Nguyễn Đình Chiểu là những người thích bơ sữa phương Tây).

 

 

3- Thay lời kết

 

              Ngày nay, trên mặt trận hoàng pháp chưa thấy các giảng sư mạnh dạng đề cập đến khía cạnh học thuật về lý duyên sinh, về Thượng đế, về thuyết tạo dựng, trong khi trình độ tu học của quần chúng Phật tử có nhiều cơ duyên tiếp cận các mặt đa dạng. Ngày trước trong hoàn cảnh khó khăn, Phật giáo bị gò bó và điều kiện thiếu khốn như thế mà Tổ Khánh Hòa đã còn hết lòng bày giải, chia sẻ với mọi người, so với chúng ta ngày nay, thừa hưởng thành quả cuộc chấn hưng Phật giáo và từng bước bắt nhịp tiến bộ với khắp mọi nơi, xem ra chúng ta có tội và mắc nợ với tiền nhân nhiều lắm.

 

              Từ Hội, đến Tổng Hội và đến khi đấu tranh để được danh xưng Giáo Hội, Phật giáo VN đã trở lại địa vị mà từ xưa vốn vốn luôn được trọng thị. Công ơn đó quả thật không làm sao quên được sự tận tụy dốc lòng của Tổ Khánh Hòa vá chư tôn đức trong phong trào chấn hưng Phật giáo. Qua rồi cái thưở khi nhắc đến một vị xuất gia ai cũng nghỉ đến những "ông thầy chùa làng" cục mịch quê mùa, chuyên đi cúng đám tang, và trong văn chương quần chúng thì nghèo nàn từ ngữ chỉ bấy nhiêu chữ"Bần Tăng" , " Dưa muối nâu sòng", "chay lạt khổ hạnh" .v...v...chạy vòng quanh trang sách ố vàng mỗi khi nói đến thầy tu, Phật giáo.

 

              Cho đến tận hôm nay, sự phát triển đồng bộ của Phật giáo VN vẫn luôn có hình ảnh kiến tạo của phong trào chân hưng Phật giáo do Tổ Khánh Hòa đề xướng. Công đức ấy ngàn năm há dễ nào quên. Nước nhà đã độc lập bình yên, cõi non bồng nước nhược nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu chắc cũng an lòng thanh thản. Những thơ - văn của ông vẫn là bài học ngàn năm cho cháu con hữu dụng. Riêng tác phẩm DTHM, giờ đây trên nền tảng Phật giáo tiếp tục sáng rực trong vòm trời độc lập của dân tộc, chắc chắn rằng DTHM sẽ chỉ còn là bài học nhắc nhớ trong một giai đoan Phật giáo chưa có tiếng nói mạnh mẽ, chưa có chổ đứng vững chắc trong bối cảnh nước mất nhà tan. Thời nào cũng thế, Phật giáo VN chưa bao giờ đi ngược lại tự tình dân tộc, lúc nào và bao giờ cũng sẵn sàng chia sẻ đau thương và chung lưng gánh vác với non sông đất nước. Từ trong ý nghĩa đó, chúng ta càng thấm thía nhiều và hiểu nhiều hơn câu thơ của Huyển Không :

 

             "Mái chùa che chở hồn dân tộc

             Nếp sống muôn đời của Tổ Tông".

 

 

 

                                   Dương Kinh Thành

                       ( Trung Tâm Nghiên cứu Phật Giáo Việt nam )

 

  

 

Chú Thích:

1) Năm 1884 Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã đọc "Văn Tế Nghĩa Sĩ Lục Tỉnh" tại chợ Ba Tri tỉnh Bến Tre.

2) Trích bài thơ " Biệt Cố Nhân" của Nguyễn Đình Chiểu, khi "Hòa Ước Nhâm Tuất 1862", ba tỉnh Miền Đông rơi vào tay thực dân Pháp, NGuyễn Đình Chiểu cùng gia đình rời Thanh Ba (Cần Giuộc) theo phong trào "tỵ địa" về Ba Tri- Bến Tre.

3) Trích bài thơ "Thà Đui" của Nguyễn Đình Chiểu.

4) Nguyễn Đình Chiểu Toàn tập - Tập I - Biên khảo và chú giải Ca Văn Thinh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang. NXB ĐH&THCN -In lần thứ I-1980.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/10/201806:59(Xem: 34)
Sư Bà Húy thượng NGUYÊN hạ PHÚC tự DIỆU TỪ sinh ngày 8 tháng 3 năm 1943 (Quý Mùi) tại thôn Đa Phước xã Hoà Khánh, Quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng Việt Nam. Trụ trì chùa Diệu Quang California, Hoa Kỳ, đã thuận thế vô thường, an nhiên thâu thần thị tịch lúc 10:00 PM thứ Bảy, ngày 20 tháng 10 năm 2018, nhằm ngày mùng 12 tháng 9 năm Mậu Tuật, thế thọ 76, hạ lạp 56.
27/09/201807:40(Xem: 2598)
Thông Báo về Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn Lần thứ 11
23/09/201818:28(Xem: 1330)
Chúng tôi hổ thẹn mang nặng thâm ân 2 bậc Thầy lớn, đã để lại trong đạo nghiệp mình nhiều dấu ấn giáo dưỡng thâm trọng, dù cho có nghìn đời cố gắng cũng chưa thể báo đáp hết:
01/10/201807:13(Xem: 1134)
Thông Báo về Lễ Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Thiện Minh tại Chùa Bảo Vương, Hoà thượng Thích Thiện Minh (1921-1978), là một bậc Cao Tăng Thạc Đức, và có công gầy dựng và lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ngài có công rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo tại miền Nam Trung Phần và Tranh Đấu Phật Giáo năm 1963. Năm 1973, khi Hòa thượng Thích Thiện Hoa viên tịch, Ngài đảm nhiệm chức vụ quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN. Năm 1978 Ngài bị nhà nước Cộng Sản bắt giam rồi mất trong tù. Nay đến ngày húy nhật năm 2018, đúng 40 năm sau ngày vắng bóng của Cố Hòa Thượng, toàn thể Tăng Ni và Phật tử tại tiểu bang Victoria thành tâm thiết lễ tưởng niệm công đức của Ngài vào lúc 10.30am sáng Thứ Bảy 13/10/2018 tại Chánh Điện Chùa Bảo Vương, Victoria. Thành Tâm Cung thỉnh Chư Tôn Đức Tăng Ni & Trân trọng kính mời quý Đồng Hương Phật tử gần xa cùng về tham dự lễ. Địa điểm: Chùa Bảo Vương, 2A Mc Laughlin St, Ardeer, Vic 3032. Tel: 9266 1282 Thời gian: 10.30am ngày Thứ Bảy 1
21/10/201813:36(Xem: 1154)
Ngắm Hoa (thơ của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, cảm tác sáng ngày 09/10/2018 ), Ta với hoa ai già ai trẻ Nghĩ ra rồi cái lẽ như nhau Hoa có từ nghìn xưa, có mãi đến nghìn sau Ta sinh ra từ vô thỉ và còn sinh mãi mãi Tâm Bồ Tát không bao giờ sợ hãi
11/10/201820:07(Xem: 4859)
Tin Viên Tịch: Hòa Thượng Thích Minh Cảnh vừa viên tịch tại Sàigòn, Trang nhà Quảng Đức Chúng con vừa nhận được tin buồn: Hòa Thượng Thích Minh Cảnh, Bào đệ của cố HT Thích Huệ Hưng,Thành viên Ban Chứng minh và Giám đốc Trung tâm phiên dịch Hán Nôm Huệ Quang thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam vừa viên tịch, lúc 01 giờ 30 chiều nay, thứ năm, mùng 3 tháng 9 năm Mậu Tuất (11/10/2018) tại Tu viện Huệ Quang, Sàigòn.
01/04/201704:22(Xem: 3762)
Trọn một ngày làm nhà tu hành – ăn như sư, ngủ cạnh sư, thiền và đọc kinh cùng sư, lao động cùng sư. Có những lúc đã cảm thấy phát điên về sự chậm rãi trong hoạt động, sự khắc khổ trong cuộc sống. Nhưng cũng ngộ ra nhiều điều! Và 24 giờ đó quả là kinh nghiệm đặc biệt trong đời làm báo. Vào những tháng đông đầu năm 1998, khi đang làm việc cho đài phát thanh NHK của Nhật Bản, tôi đề xuất chủ đề tôn giáo với mục đích giới thiệu đầy đủ hơn về các đạo tồn tại ở Nhật cho thính giả Việt Nam, bên cạnh Thần đạo đã được nói đến quá nhiều. Nhưng việc đi thực tế trong lĩnh vực này không đơn giản. May được một đồng nghiệp người Nhật tích cực tìm kiếm và phát hiện một ngôi chùa có thu nhận người nước ngoài. Mọi công việc thu xếp qua điện thoại và… email do người bạn Nhật đảm trách, và đúng ngày hẹn tôi khoác balô lên đường.
19/06/201706:51(Xem: 2318)
Đây là chương cuối cuốn sách tôi dự định cho ra đời như một lời ngỏ chân thành cảm ơn đến với mọi nhân duyên, mọi tình thân mà tôi may mắn nhận được suốt bốn mươi năm ở xứ Mỹ. Tình sâu nghĩa nặng canh cánh trong lòng bấy lâu nhưng cho dù có nói khéo, có viết hay cũng không thể bày tỏ trọn vẹn, nói hết những điều mình muốn nói. Những lời rào đón dông dài nào có nghĩa gì chi bằng hãy thành thật với lòng và xin mời người cùng ngồi ôn lại chuyện cũ không khác chi những lời bộc bạch bên nhau.
04/03/201718:23(Xem: 2708)
Xuất gia là một đại nguyện. Giữ được Tâm trong không thối chuyển là một đại duyên. Tại Việt Nam hôm nay, nếu lấy tròn số sẽ có 45.000 tu sĩ Phật giáo với dân số 100.000.000 người thì trung bình cứ 2.200 người mới có một người đi tu theo đạo Phật. Tại Hoa Kỳ hôm nay, ước lượng có 1.200 tu sĩ Phật giáo trên tổng số 2.000.000 người Việt thì trung bình cứ 1.600 người có một tu sĩ Phật giáo. Con số tự nó không đánh giá chân xác được tình trạng tôn giáo và chiều sâu hành đạo của các tu sĩ thuộc tôn giáo đó. Nhưng ít nhiều phản ánh được những nét tổng thể của mối quan hệ giữa quần chúng và tổ chức tôn giáo.
25/11/201022:25(Xem: 9801)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.