Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Câu Chuyện Bác sĩ Rajiv Parti và Địa Ngục

08/05/201722:33(Xem: 6677)
Câu Chuyện Bác sĩ Rajiv Parti và Địa Ngục
 
Câu Chuyện Bác sĩ Rajiv Parti và Địa Ngục
Bác sĩ Rajiv Parti
Một bác sĩ Ấn Độ tại California nói rằng ông đã chứng kiến địa ngục, đồng thời nghe tiếng kêu gào của những vong linh bị đọa đày ngay trong cuộc giải phẫu chính mình.
Là một người khoa học, bác sĩ Rajiv Parti, một trưởng khoa hôn mê tại bệnh viện Bakerfield Heart California trải nghiệm thần thức xuất khỏi thân thể trong cuộc phẫu thuật của chính mình. Sau đó, ông bỏ nghề bác sĩ, bán hết tài sản kể cả căn nhà sang trọng và hàng loạt xe hơi giá trị để sống một cuộc sống thanh đạm và đạo hạnh.
Ông kể lại rằng khi ông cảm nhận thần thức xuất ra, ông cảm giác sợ hãi và không biết điều gì sẽ xảy ra, không biết mình có tỉnh lại hay sẽ trở thành hồn ma vất vưởng trong vô định. Ông nhớ mình bay lên trần nhà trong lúc các y bác sĩ đang thực thiện khoa phẫu thuật và tự hỏi là mình còn sống hay đã chết rồi. Ông cảm tưởng mình như một phi hành gia đang cởi bỏ bộ y phục, một bộ quần áo mà coi như không cần thiết ngay từ đầu.
Nỗi sợ hãi dâng cao, ông quan sát đi quan sát lại toàn cảnh cho đến khi tất cả mờ n hạt như bóng hoàng hôn chợt sụp lặn. Mọi thứ trở nên đen tối. Ông thở phào và tưởng mình tỉnh lại nhưng sau đó nỗi kinh hãi. Ông nghe nhiều tiếng kêu gào đau đớn thảm thiết và ông bị cuốn sâu vào lòng chảo lữa và mũi đầy khói cùng mùi khét cháy của da thịt.  Ông biết là mình đang vào vào cửa địa ngục, cố bỏ chạy nhưng mỗi bước lùi lại là có một lực vô hình đẩy ông về phía trước. Rồi ông bị kéo lê đến một chảo lửa giữa tiếng kêu gào đau đớn.   Ông nghe một giọng khiển trách trong thần giao cách cảm rằng ông đã sống một cuộc sống đầy vật chất và ích kỷ. Biết điều đó là đúng, ông cảm thấy hổ thẹn vì trong quá khứ ông đã tỏ ra vô cảm với bệnh nhân mình. Giọng nói nhắc ông lại việc ông đã đuổi một người đàn bà đang trong đau khổ khóc lóc về căn bệnh ung thư giai đoạn cuối của chồng mình tại phòng khám. Khi khói cuồn cuội mịt mù, những vong linh bị đốt kêu thét quanh mình, lúc đó ông nghĩ đến của cải ông đang có và sự vô giá trị của nó. Ông tự hỏi tại sao phải cần những thứ đó, sao phải cần một căn nhà rộng mênh mông mà cả gia đình phải liên lạc nhau bằng điện thoại cầm tay (Iphones)
Trong cuốn sách mới, bác sĩ Rajiv Parti mô tả mình bị chẩn đoán với căn bệnh ung thư tiền liệt tuyến vào năm 2008 và phải chịu nhiều cuộc phẫu thuật sau đó để cắt bỏ khối u. Hai tuần sau cuộc phẫu thuật chỉnh vết sẹo không thành công năm 2010, ông trở bệnh và nhận ra các triệu chứng trong mình là bị sốc nhiễm khuẩn và sẽ chết nếu không điều trị ngay lập tức. Sau khi được tức tốc đưa lên bàn phẫu thuật, ông nhớ rằng mình được bác sĩ gây mê, điều mà ông thường thực hiện cho cả hàng ngàn bệnh nhân.
Bác sĩ Parti cầu ơn trên cơ hội chuộc lỗi lầm trong tuyệt vọng lúc bị kéo đến xử tội. Dường như lời cầu nguyện của ông có hiệu nghiệm và một người đàn ông mà ông nhận ra từ xa là cha mình cầm tay ông dẫn ra khỏi vùng hoả thiêu. Lần đầu tiên ông cảm nhận cha mình, người mà khi còn sống được cho là khắt khe và độc tài, ôm ông vào lòng và nói rằng chỉ có tình thương là điều quan trọng trong vũ trụ này. Sau khi gặp cha mình, ông vẫn chưa tin cho đến khi gặp hai thiên sứ Michael và Rapheal.  Họ bế ông đến một vùng ánh sáng nơi mà ông được một chúng sanh A Tu La đón nhận và cho ông biết rằng ông sinh ra để làm một người an ủi tinh thần cho những kẻ khác.
Trước đó, ông không để ý việc bệnh nhân kể lại về việc xuất hồn và quan sát cuộc phẫu thuật của chính họ mặc dù họ không nhớ rõ là vào lúc nào nhưng nó xảy ra vào lúc mà đáng lẽ họ hoàn toàn hôn mê. Nhưng bây giờ, trong khi các bác sĩ cố gắng đoạt lại mạng sống cho ông, bác sĩ Parti cảm nhận mình đang lơ lửng trên trần nhà và nhìn xuống bàn mỗ quan sát những phẫu thuật mà ông thường làm. Ông nghe được những câu đùa giỡn xàm tấu của vị bác sĩ gây mê và thấy được cảnh mẹ và em gái mình đang bàn về phải nấu món gì cho buổi cơm chiều ở Ấn Độ.
Sau khi tỉnh lại trong bệnh viện, bác sĩ Parti kể cho đồng nghiệp về trải nghiệm của mình, điều mà ông đoán là họ không quan tâm lắm. Ông đã viết một cuốn sách về sự hiện thân mới được gọi là “Dying to Wake Up: A Doctor’s Voyage into the Afterlife and the Wisdom He Brought Back” [1].
blank
Hình bìa sách của bác sĩ Rajiv Parti
Trước cuộc trải nghiệm tâm linh, bác sĩ Parti là người vô thần và không tin vào thế giới bên kia sau khi chết. Bây giờ, ông là một người an ủi tinh thần và đoạn từ cuộc sống vật chất đầy ích kỷ trước đây. Ông nói rằng mệnh lệnh của bề trên vẫn như in trong đầu mình và ông dùng Chánh pháp để giúp những kẻ khổ đau khác. Đây là bảy chân lý mà bác sĩ Parti tin sau trải nghiệm tâm linh và ông lấy sự hiểu biết đó làm sứ mệnh giúp truyền đạt đến người khác:
  1.  Thần thức tồn tại riêng biệt với thân thể
  2. Thế giới vô hình là có thật
  3.  Nghiệp quả trong tiền kiếp ảnh hưởng đến kiếp hiện tại
  4.  Tất cả chúng sinh liên lệ với nhau vì có cùng nguồn năng lượng nhưng cấu tạo bởi nhiều hình thức vật chất khác nhau
  5.  Có Chư thiên giúp đỡ và dẫn dắt chúng ta
  6. Có nhiều cảnh giới tỉnh thức khác nhau
  7. Từ bi và trí tuệ là nguồn của vũ trụ, trong đó từ bi là điều tất yếu để sinh ra muôn loài.
Sức mạnh tâm linh, sự tỉnh thức đã khiến bác sĩ Parti, một vị bác sĩ thành đạt từ bỏ hào quang vật chất ông đang có để chọn một cuộc sống thanh đạm và đạo hạnh. [2]  Trải nghiệm tâm linh vô giá đó khiến ông tỉnh thức và chọn một hướng rẽ mới trong cuộc đời.  Khái niệm  cõi vô hình hay địa ngục không còn là điều mơ hồ đối với tôi vì tôi từng có nhân duyên nói chuyện với người quen bên kia thế giới sau khi anh trở về “mượn xác” người thân của tôi. Thú thật trước đây mặc dù tôi tin vào những nguyên lý sâu sa của đạo Phật nhưng vì tôi trưởng thành bên Mỹ và có chút ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ nặng tính khoc học nên đôi khi tôi nghĩ sự trừng phạt ở địa ngục mà kinh điển ghi nhận là cố ý răn đe người cõi trần để bớt gây tội lỗi cho đến khi tiếp xúc với người quen ở bên kia thế giới cách đây vài tháng.
blank
Hình minh họa nhiều sự trừng phạt ở địa ngục
Những điều anh cho biết giống như những điều tôi từng đọc qua trong các kinh điển Phật giáo.  Điều đầu tiên sau khi “nhập xác” là than khát nước. Anh mô tả cảnh bị nhốt trong “lồng sắt” và bị đốt nóng.   Đốt nóng nhưng mỗi ngày được cho nghe kinh. Lâu lâu, “cai ngục” thả ra cho “đi chơi”.  “Đi chơi” là đi thăm những vong linh mới xuống (chết).  Những người mới xuống (chết) phải chờ đến lượt “hỏi cung”.  Hỏi là  hỏi coi vong linh có nhớ những điều mình làm mà kể lại nhưng thật ra cõi âm có “sổ sách” ghi lại phước và tội của tất cả những kẻ còn sống trên cõi trần. Chúng ta có thể không thật với chính mình, với người thân, nhưng chắc chắn là không thể qua “sổ bạ” cõi âm.
blank
Hình minh họa về cảnh hỏi tội ở địa ngục
Mặc dù những vong linh chịu những nghiệp quả mà họ đã gây ra khi còn sống nhưng vẫn được hướng dẫn và khuyên răn để trở nên thấm nhuần, tỉnh ngộ và được cho đi tái sinh.  Thời gian bao lâu tuỳ theo nghiệp quả và sự tỉnh ngộ  của mỗi người. Sự hướng dẫn vong linh đặt nặng nền tảng đạo lý và Phật giáo.  Người quen của tôi vẫn chưa siêu thoát sau hơn mười năm cũng vì phải chịu sự trừng phạt (đốt nóng trong lồng sắt), và một phần cũng vì anh còn quyến luyến cõi trần.
Mốt số  Kinh điển Phật giáo Nam tông và Bắc tông đều ghi nhận có địa ngục như kinh Trung bộ (Majjhima Nikàya), Tăng chi bộ (Anguttara Nikàya), Tiểu bộ (Khuddaka Nikàya) trong Phật giáo Tiểu Thừa, và kinh A Hàm, kinh Địa Tạng Bổn Nguyện trong Phật giáo Đại Thừa.  Trong Kinh A Hàm, “Đức Phật cho biết Ngài nhìn thấy luân hồi sinh tử của chúng sinh rõ ràng cũng như người đứng nhìn giọt mưa rơi xuống chỗ thấp chỗ cao, như bong bóng của nước mưa sinh ra rồi biến mất, như người đứng nhìn người qua lại, tất cả đều rõ ràng, không sai sót, không hư dối.” [3]  Bao ngàn năm trước, Ngài đã bảo các Tỳ Kheo: “Ta dùng Thiên nhãn thanh tịnh nhìn thấy chúng sanh sinh ra chết đi, chết đi sanh ra, sắc đẹp sắc xấu, thiện hoặc ác, chỗ lành hoặc chỗ dữ tùy theo nghiệp mà chúng sinh đã tạo ra. Ta thấy những sự kiện ấy đúng như thật, không hư dối. Nếu có chúng sanh nào làm ác, nói ác, nghĩ ác, phỉ báng Thánh hiền, tà kiến, thì do nhân duyên ấy, khi chết chắc chắn đi vàochỗ dữ, sinh nơi địa ngục. Nếu chúng sinh nào làm lành từ thân miệng ý, ca ngợi bậc Thánh hiền, không có tà kiến, do nhân duyên này, khi chết người ấy sẽ đi vào chỗ tốt, sanh nơi cõi trời.” [4]
Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện cũng có đề cập rõ về những cảnh giới ở cõi âm, nghiệp báo chiêu cảm và tội phước trong cảnh địa nguc. Đức Phật cho chúng ta biết là có địa ngục và sự trừng phạt. Trong kinh Địa Tạng, Ngài Địa Tạng Bồ Tát nói với Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: “Thưa Nhơn Giả! Đó đều là do chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Đề làm những điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra những địa ngục như thế. Nghiệp lực rất lớn, có thể sánh với núi Tu-Di, có thể sâu dường biển cả, có thể ngăn đạo thánh. Vì thế chúng sanh chớ khinh điều quấy nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dầu đến mảy mún đều phải chịu lấy.” [5]
Trong tôi dấy lên niềm xúc cảm sau nhiều cuộc tiếp xúc với người quen.  Trải  nghiệm tâm linh là một sự hy hữu.  Như người tìm được mảng puzzle cuối cùng, lòng tôi hoan hỷ vì có nhân duyên hiểu được điều mà có thể cả đời không có cơ hội trải nghiệm.  Đức Phật đã nhìn thấy chúng sanh trầm luần trong sinh tử với trùng trùng nghiệp quả nên Ngài đã dạy rõ trong kinh.  Có lẽ tôi sẽ luôn mơ hồ như bao nhiêu người khác về một thế giới mà khoa học không thể chứng minh nếu không có trải nghiệm bản thân. Địa ngục là một sự thật của nhân quả-nghiệp báo, một cảnh giới, một cõi sống cụ thể, không phải là ẩn dụ hay biểu tượng.  Chết không phải là hết. Thân thể vật chất của chúng ta như những chiếc áo, khi chúng ta chết đi là cởi bỏ những bộ y phục mang trên người và sẽ khoác lên mình bộ y phục khác sau khi tái sanh. Cho dù bạn có tin hay không, quy luật nhân quả không thay đổi. Đơn giản chỉ là việc mỗi chúng ta nhận thức được điều đó sớm hay muộn, trước hay sau mà thôi. Những ai từng trải nghiệm tâm linh về thế giới vô hình, về địa ngục hẳn cảm niệm sâu xa về sự sống và cái chết.
Lê Diễm Chi Huệ
05.07.2017
—————————————
Chú thích
[1]    Sách và Trang Nhà  Bác sĩ. Rajiv Parti [ xem trang điện tử http://drrajivparti.com/ ]
[2]   Câu Chuyện Bác sĩ Rajiv Parti  [xem trang điện tử https://www.thesun.co.uk/news/ 1657724/doctor-rajiv-parti- glimpses-the-afterlife-during        atonishing-near- death-experience/]
[3,4] Toàn Không [xem trang điện tử https://thuvienhoasen.org/ a17875/coi-dia-nguc]
[5]    Nguyên Thảo [ xem trang điện tử  http://www.daophatngaynay. com/vn/pg-nganh/khoa-   hoc/8339-The-gioi-coi-am.html  ]
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/01/2023(Xem: 34)
Lời mở đầu của người chuyển ngữ Phương pháp phát triển cá nhân mà nhà sư Sangharakshita nói đến trong bài này là phép thiền định của Phật giáo, một phép luyện tập nhằm biến cải một con người bình dị trở thành một con người đạo đức, sáng suốt và cao quý hơn, và ở một cấp bậc sâu xa hơn nữa còn có thể giúp con người đạo đức, sáng suốt và cao quý ấy thoát ra khỏi thế giới hiện tượng luôn trong tình trạng chuyển động và khổ đau này.
27/01/2023(Xem: 38)
Phần này bàn về cách dùng đặc biệt "vợ lẻ" từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo. Cụm danh từ này - cũng như một nhóm từ vựng liên hệ như vợ chính, chính thê, vợ cả, vợ lớn, thiếp, vợ bé, vợ mọn - vợ nhỏ phản ánh truyền thống đa thê của các nước Á Châu từ xa xưa. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ). Không phải ngẫu nhiên mà các giáo sĩ đều ghi nhận quan sát cá nhân và nhận xét của mình về truyền thống này khi sang Á Đông,
26/01/2023(Xem: 83)
Lời mở đầu của người chuyển ngữ Chúng ta có thói quen nhìn vào Phật giáo xuyên qua các phương tiện thiện xảo cùng các ảnh hưởng văn hóa, phong tục, và cả các phương pháp tu tập đại chúng của Trung quốc, thế nhưng dường như chúng ta không mấy khi ý thức được đúng mức về điều đó. Chúng ta cứ nghĩ rằng Phật giáo là như vậy. Thế nhưng Giáo huấn của Đức Phật sau khi được đưa vào Trung quốc qua các con đường tơ lụa, đã bị biến đổi rất nhiều qua hàng ngàn năm thích ứng với nền văn minh của đế quốc này, một nền văn minh hoàn toàn khác biệt với nền văn minh trong thung lũng sông Hằng, nhất là trên phương diện tư tưởng, ngôn ngữ và chữ viết.
16/12/2022(Xem: 319)
Được sự thương tưởng và hỗ trợ của chư Tôn đức và quí vị thiện hữu hảo tâm, chúng con, chúng tôi vừa thực hiện xong 9 giếng cần giục (Well hand-pump) cho những ngôi làng nghèo lân cận vùng núi Khổ Hạnh Lâm & các làng ven quốc lộ từ Bodhgaya đi Varanasi, tiểu bang Bihar India .
10/12/2022(Xem: 986)
Kính chia sẻ cùng chư Tôn Đức, chư pháp lữ, và quí thiện hữu một số hình ảnh trong mùa Tipitaka (Đại Tạng Kinh PaLi) khai hội tại Bồ Đề Đạo Tràng. Đây là lần thứ 17 trùng tụng Tipitaka theo thông lệ hàng năm. Lễ hội quan trọng năm 2022 này do Phật Giáo Việt Nam đăng cai tổ chức nên tất cả mọi trần thiết, trang hoàng đều do Ban tổ chức Hội trùng tụng Kinh tạng Pali VN thực hiện, nổi bật nhất là cổng chào với hình ảnh hoa tươi rực rỡ “Lưỡng Long chầu Pháp Luân” rất đẹp mắt, khiến ai ai cũng trầm trồ ngợi khen và tán dương công đức. Lễ hội trùng tụng Tipitaka năm nay có các nước Phật Giáo tham gia trùng tụng Đại Tạng như: Nepal, Sri-Lanka, Lao, Campuchia, ThaiLand, Myanmar, Việt Nam, Bangladesh, India, International...Chương trình được khai mạc trang trọng vào ngày 2 tháng 12 cho đến ngày 12/12/2022 là bế mạc, với gần 5000 người tham dự . Nguyện cầu tiếng kinh này vang vọng đến ba ngàn thế giới khiến chúng sanh vạn loài thảy đều nghe ba nghiệp từ đó được thanh tịnh. Và xin nguyện
03/12/2022(Xem: 282)
Loạt bài "Tiếng Việt từ TK 17" đã đề cập đến một số cách dùng Hán Việt đặc biệt như sinh thì (~qua đời, chết), Kinh Tại Thiên, Kinh Tin Kính, Kinh Thiên Chúa, lịch sự, thượng hoà hạ mục, thượng phụ, trung phụ, hạ phụ, thượng đế, thiên chủ/chúa2 ...v.v…Phần 37 này bàn thêm về cách dùng một số từ Hán Việt thời LM de Rhodes đến truyền đạo: sự (~thờ) 事, thửa (~ sở) 所, kì 其, giao cảm 交感, tinh thần 星晨, đang/đương thì 當時, củ thủ 糾手, thiểu ngữ 少語. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ). Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&
25/11/2022(Xem: 281)
Lời mở đầu của người chuyển ngữ Bài kinh Kevaṭṭa-Sutta là một bài kinh dài giảng cho một người thế tục trẻ tuổi tên là Kevaṭṭa khi người này đến xin Đức Phật chỉ định một vị tỳ-kheo trong Tăng đoàn thực thi các phép lạ để thu phục được nhiều người hơn. Thế nhưng Đức Phật khẳng định là Ngài không hề dạy các tỳ-kheo của mình làm phép lạ, mà chỉ giảng dạy họ phải làm thế nào để biến mình từ một con người bình dị trở thành một con người cao quý hơn, đưa mình đến sự Giải thoát cuối cùng và sự Giác ngộ tối thượng. Sự giảng và học hỏi đó tự nó cũng đã là một phép lạ. Đấy là nội dung của toàn bộ bài kinh, và cũng là "kim chỉ nam" giúp chúng ta theo dõi bài kinh rất phong phú, khúc triết, nhưng cũng rất phức tạp này.
25/11/2022(Xem: 656)
Hành Hương Thắp Sáng Tâm Đăng và Cảm niệm Thâm Ân Đức Thế Tôn VỊ THẦY VĨ ĐẠI BẬC NHẤT CỦA NHÂN LOẠI. Suốt tuổi vị thành niên ưu tư, trăn trở, đến tuổi lập gia đình thấy mọi niềm vui, khoái lạc đều phù du, trống rỗng; tháng năm dài tìm cách giúp vua, cứu nước, Thái Tử Siddhārtha Gotama luôn cảm thấy mình làm cái việc của con dã tràng xe cát - vì không giải mã được hố thẳm của lòng người (nguyên nhân của khổ uẩn). Với ý chí kiên định, ngài thoát ly gia đình, vợ con, vương vị, quyết tìm ra con đường thoát khổ, giải trình giá trị và ý nghĩa vĩnh cửu cho kiếp nhân sinh.
22/10/2022(Xem: 679)
Chia sẻ hình ảnh của Khóa tu nhân Lễ Vía Đức Bồ Tát Quan Âm tại Chùa Pháp Hoa Seattle Washington State do Ni Sư Thích Hạnh Nguyện và chư Đạo hữu Tịnh Thanh, Trí Tín tổ chức. Xin thành tâm cảm niệm tất cả chư Tôn Đức Tăng Ni, chư thiện hữu, Phật tử đã nhiệt tâm hỗ trợ cho Khóa tu được thành tựu viên mãn và giai đại hoan hỷ...
12/10/2022(Xem: 597)
Xin có lời tâm sự, rằng trong lòng tôi vẫn luôn luôn là một đứa trẻ rất mực ngây thơ, nghĩa là, chưa bao giờ lớn cả. Nói cho đúng, tôi đã lớn dậy giữa rừng văn học cổ tích quê nhà, đã say mê đọc truyện cổ về những vị Bụt bay tới khi có ai đó gặp nạn và ngồi than khóc, đã miệt mài với những thần thoại tuyệt vời trong Kinh Phật… Và rồi, tôi tin rằng Đức Phật không bao giờ rời bỏ chúng sinh.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
102,113,890