Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Những Câu Hỏi Tế Vi

18/12/201509:10(Xem: 585)
Những Câu Hỏi Tế Vi

Minh Đức Triều Tâm Ảnh
(Sīlaguṇa-Mahāthera)

NHẶT LÁ RỪNG XƯA
Tủ sách Huyền Không Sơn Thượng

(Phật lịch 2558 – 2015)

Những Câu Hỏi Tế Vi

 

Nguyên văn emai của một cư sĩ:

Con có một thắc mắc bấy lâu không biết hỏi ai, con kính xin Thầy giải thích dùm cho con. Câu hỏi này có liên hệ tới bài kệ cô đọng của Lý Duyên Khởi:

“Cái này có, cái kia có

Cái này sinh, cái kia sinh

Cái này không cái kia không

Cái này diệt cái kia diệt”.

Theo chỗ con hiểu, bài kệ này là công thức rốt ráo tóm tắt sự vận hành của Lý Duyên Khởi. Theo như Thế Tôn nói, nó luôn đúng và cho dù Phật có ra đời hay không có ra đời thì nguyên lý này vẫn đứng vững, không thể nào khác hơn được và không có ngoại lệ.  

Vì nhận thấy nó quan trọng như thế, nên con tò mò xem nguyên bản Pāḷi ghi như thế nào, xin trích: 

 Imasmiṃ sati idaṃ hoti; imass’ uppādā idaṃ uppajjati.
Imasmiṃ asati idam na hoti; imassa nirodhā idaṃ nirujjhati.

Khả năng Pāḷi của con giới hạn, nhưng con để ý các từ mà con biết:  "Sati" tức là "Niệm";   "hoti"  tức là "hiện hữu" --> tiếng Anh  tức là "being" cái mà Bùi Giáng và Heiddergger rất thường hay nói tới.

Như vậy, xét về nghĩa đen, câu đầu tiên con hiểu là:  "Do niệm cái này, mà cái kia có mặt (hiện hữu)"

Ờ đây, đang nói tới cái năng lực không thể nghĩ bàn của Tâm, tức là hễ Tâm nó niệm cái gì, thì tác dụng của sự Niệm đó, sẽ làm cho Pháp ấy có mặt trước khả năng nhận thức của Tâm.  Nói cách khác, do Niệm mà một Pháp trở thành Pháp Thực Tại Hiện Tiền cho Trí Tuệ Minh Sát làm việc.  Đó cũng là cách thực hành rốt ráo Thiền Tứ Niệm Xứ.

Câu hỏi của con là:  Vì sao "Sati" và "Hoti" là hai từ khác nhau mà chúng ta lại dịch sang tiếng Việt chỉ có một từ là "Có"?

Theo chỗ con thấy, dịch như vậy sẽ không làm sáng ý nghĩa thực hành "Tâm cùng Tu với Tuệ" như Phật dạy trong Kinh Đại  Bát Niết Bàn "Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa tới giải thoát hoàn toàn tất cả các lậu hoặc"?  Dịch là "Có" thì  "Vì cái này có nên cái kia có" khiến cho người đọc ngộ nhận là đang nói tới các Pháp Hữu Vi bên ngoài và sự vận hành của nó. Thì các Pháp tương sanh tương diệt, nên không có dính dáng chi tới mình cả.  Còn nếu hiểu là "Do niệm cái này mà cái kia có mặt" (ví dụ, do niệm hữu hoài cho nên tái sanh sẽ có mặt), lúc đó chúng sanh mới biết sợ mà tu. (tàm quý khởi lên, nâng đỡ thế gian). Sợ vì thấy khả năng vi diệu của Tâm và (tư niệm thực--> loại thức ăn thứ 4 trong 4 loại thức ăn).

Trả lời:

Nội dung email của cư sĩ có thể tóm tắt thành 4 ý chính:

- Về “sati”  và “hoti” .

- Tâm cùng tu với tuệ

- Về pháp hữu vi

- Về tư niệm thực

Bây giờ ta đi từng câu một.

1- Về “sati”  và “hoti” .

Câu này khá phức tạp. Nó đòi hỏi trình độ học thuật, nhất là phân tích ngữ pháp Pāḷi. Do từ lâu khi đụng đến từ “sati” là người ta dịch là “niệm”, và ngay chữ niệm này người ta cũng hiểu năm bảy nghĩa khác nhau. Và từ “hoti” được dịch là là (being), là hiện hữu cũng là cách hiểu của nhiều người. Thật ra, những quyển tự điển Pāḷi-Anh thường chính xác hơn. Một từ Pāḷi người ta thường đưa ra nhiều nghĩa, tuỳ theo chỗ dùng, chức năng của nó đôi khi là động từ, đôi khi là danh từ - rồi họ còn dẫn nguồn tương thích.

Bây giờ, muốn hiểu cho thật chính xác, xin cư sĩ chịu khó đọc bài phân tích đúng “bài bản nhà trường” sau đây (đệ tử của tôi làm):

Imasmiṃ sati idaṃ hoti; imass’ uppādā idaṃ uppajjati.
Imasmiṃ asati idam na hoti; imassa nirodhā idaṃ nirujjhati.
(S 2.28)

“Khi điều này hiện hữu, điều kia hiện hữu; do sự sinh khởi của điều này, điều kia sinh khởi. Khi điều này diệt, điều kia diệt; do sự biết mất của điều này, điều kia biết  mất”.

Imasmiṃ sati idaṃ hoti

Theo các nhà ngữ pháp  Pāḷi imasmiṃ sati  được gọi là absolute clause [mệnh đề tuyệt đối]. Bởi vì nó hội đủ hai yếu tố: Có một participle (phân từ) “sati” và một chủ từ được chia ở locative (định sở cách) “imasmiṃ”. Mệnh đề tuyệt đối này diễn tả “khi hành động một xảy ra thì hành động hai xảy ra sau đó”. Như  vậy, câu Imasmiṃ sati idaṃ hoti”  có  thể được dịch “khi điều này hiện hữu/sinh khởi điều kia [cũng] hiện hữu”.

Note:

- Imasmiṃ [nt.loc. sg, of ima]  =  điều này

- Sati [prp. loc. sg . of santa (√as)] =  đang hiện hữu,  đang có, đang là (hiện tại phân từ “sati” phải ở cùng tánh và số với chủ từ của nó “imasmiṃ”

- Imasmiṃ  sati [Active Subject Relation = Liên hệ chủ từ trong thể chủ động] = điều này hiện hữu

- Idaṃ (nt.nom. sg. of ima) = điều này, điều kia

- Hoti (3rd, sg. of √hū) = có, là, hiện hữu

- Idaṃ hoti [Active Subject Relation = Liên hệ chủ từ trong thể chủ động] =  điều kia hiện hữu.

- Sati  hoti [Definitive Relation = quan hệ xác định]

[nt= neutral (trung tánh); prp = present participle (hiện tại phân từ); loc = locative (định sở cách); sg = singular (số ít); nom = nominative (chủ cách)].

imass’ uppādā idaṃ uppajjati.

“Bởi vì sự sinh khởi của điều này, điều kia sinh khởi”  hay “điều này sinh khởi do sự sinh khởi của điều kia”

Note:

- Imassa [nt.gen.sg of ima] = của điều này

- Uppādā [m. abl. sg. of uppāda) = bởi sự sinh khởi, do sự sinh khởi

- Imass’ uppādā  = imassa uppādā [Possessor Relation = Liên hệ sở thuộc]  = do sự sinh khởi của điều này

- Idaṃ (nt.nom. sg. of ima) =  điều này

- Uppajjati [3rd, sg. of ud +√pad +ya + ti] = sinh khởi, được sinh ra

- Idaṃ  uppajjati [Active Subject Relation = Quan Hệ Chủ Từ trong dạng Chủ Động] =  điều kia sinh khởi

- Uppādā  uppajjati [Causality Relation = Quan Hệ Nguyên Nhân] =… sinh khởi bởi/ do sự sinh khởi….

[gen. =genitive (sở thuộc cách); abl =ablative (xuất xứ cách)]

Imasmiṃ asati idam na hoti; imassa nirodhā idaṃ nirujjhati

Mệnh đề thứ hai là tương tự như trên nhưng mang nghiã ngược lại. Tức là “khi điều này diệt [biến mất], điều kia diệt [biến mất]. Do sự diệt của điều này, điều kia biến mất” 

Note:

- Asati = na sati = nghĩa phủ định của sati ở trên

- Nirodhā  (m. abl. sg.of nirodha) = do sự diệt.

- Nirujjhati (3rd,sg .of ni+√rudh + ya)=được phá hủy, biết mất, diệt.

Đoạn văn Pāḷi trên được tìm thấy trong bài kinh“dutiya-ariyasāvaka-sutta”, thuộc phẩm “gahapativagga” của Samyuṭṭanikāya. Nội dung trình bày về sự thực duyên khởi (paticasamuppada) hay tuỳ thuộc phát sanh:

Trích một đoạn:

 ‘imasmiṃ sati idaṃ hoti, imass’uppādā idaṃ uppajjati. Avijjāya sati saṅkhārā honti; saṅkhāresu sati viññāṇaṃ hoti; viññāṇe sati nāmarūpaṃ hoti; nāmarūpe sati saḷāyatanaṃ hoti; saḷāyatane sati phasso hoti; phasse sati vedanā hoti; vedanāya sati taṇhā hoti; taṇhāya sati upādānaṃ hoti; upādāne sati bhavo hoti; bhave sati jāti hoti; jātiyā sati jarāmaraṇaṃ hotī’ti. So evaṃ pajānāti: ‘evamayaṃ loko samudayatī’ti (chiều thuận, chiều sinh khởi).

‘imasmiṃ asati idaṃ na hoti, imassa nirodhā idaṃ nirujjhati. Avijjāya asati saṅkhārā na honti; saṅkhāresu asati viññāṇaṃ na hoti; viññāṇe asati nāmarūpaṃ na hoti; nāmarūpe asati saḷāyatanaṃ na hoti … pe … jātiyā asati jarāmaraṇaṃ na hotī’ti. So evaṃ pajānāti: ‘evamayaṃ loko nirujjhatī’ti (chiều ngược, chiều diệt).

Hy vọng cư sĩ thấy “sati”“hoti”  trong đoạn kinh văn trên mang ngữ nghĩa như thế nào rồi. Vậy “sati” ở đây được dịch theo hiện tại phân từ, có nghĩa là “đang hiện hữu, đang có, đang là” chứ không phải là “niệm” theo nghĩa thông thường. “Hoti” cũng nghĩa như vậy. Cả hai “sati”“hoti” nằm trong thế tương lập quan hệ xác định (Xin lỗi cư sĩ, tại chỗ này tôi tự giới hạn không bàn đến hai phạm trù “có, không” vì nó phức tạp, cần một bài viết dài dòng hơn. Lại nữa, cái sâu sắc, tế vi, trẩn mật từ nguyên bổn Pāḷi mà không một chuyển ngữ nào có thể nói được chính là từ “sati”“hoti”. Tại sao vậy? Cái đang hiện hữu, đang là, là nghĩa động, trong lúc dịch là có, “có cái này thì có cái kia” hoặc “cái này có thì cái kia có”  lại là nghĩa tĩnh? Thì làm sao nói được “cái hiện hữu ấy đang sinh khởi!” mà hành giả minh sát tuệ nào cũng đang hiện quán?)

Còn chữ “being” mà triết gia Heidegger và Bùi Giáng nói tới, nó không đơn giản là “động từ là” mà lại nói tới “thực tại đang là”, là cái “hữu thể”  đang vận hành, đang diễn tiến qua “thời thể” như đã được nêu ở trên. “Cái là, cái đang là - seiend, étant, being”  thật sự không phải dễ hiểu đối với các triết gia Tây phương kể từ thời Platon. Chữ “là”  là quá hiển nhiên, ai cũng biết, ai cũng quen, ai cũng thừa hiểu “là” là thế nào rồi, nhưng Heidegger tuyên bố ngay rằng sự việc không phải minh bạch dễ dàng như vậy đâu:“Trong thời đại của chúng ta hiện nay, chúng ta có trả lời được câu hỏi về ý nghĩa mà chúng ta hiểu thực sự về chữ là?” (cf. Sein und Zeit, p.1: “Haben wir heute eine Antwort auf die Frage nach dem, was wir mit dem Wort “seiend” eigentlich meinen?”).  

“Cái là, cái đang là” chính là hoa nở, chim hót; là sự sống, là “sinh thể của mọi tồn thể”. Là “cái là”, là “cái đang là” của mọi hữu tồn duyên khởi sinh diệt.

2- Về tâm cùng tu với tuệ:

Nguyên văn Việt dịch cụm từ này được tìm thấy trong kinh Đại Bát Niết-bàn của Nikāya: “Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định cùng tu với giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với định đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu”.

Giới thì ai cũng hiểu rồi nhưng định đây phải là chánh định như lập ngôn của đức Phật để so sánh nó khác xa với định của Bà-la-môn giáo, ấy là “ly dục, ly ác pháp” (Đức Đại Bồ-tát đã từ bỏ hai tầng định cao nhất là Vô sở hữu xú và Phi tưởng phi phi tưởng xứ). Vậy thì chánh định là định không dính mắc, không chấp thủ dù an trú tầng thiền nào. Rồi sử dụng định ấy (thường là cận hành định) để minh sát ngũ uẩn, thập nhị duyên khởi - được gọi là cùng tu với tuệ. Còn tâm cùng tu với tuệ là muốn nói cái tâm đã đã yên lặng mọi tham ưu do chánh định mà có (kinh gọi là bát giải thoát tâm) để cùng tu với tuệ thì giải thoát hoàn toàn mọi lậu hoặc. Nói cách khác, giải thoát tâm là giải thoát phiền não chướng, giải thoát tuệ là giải thoát sở tri chướng.

3- Về pháp hữu vi:

Trong Pāḷi, từ Saṅkhāra có nơi thì dịch là “hữu vi”, có nơi dịch là “hành”, đều đúng cả nhưng mà tuỳ nội dung chuyên chở của nó.

3.1- Saṅkhāra dịch là hành, được hiểu là tạo tác các nghiệp thiện, nghiệp bất thiện và nghiệp bất động làm nên thức tái sanh vào tứ ác đạo, người bất hạnh, người hữu phúc, trời Dục giới, trời Sắc giới và trời Vô sắc giới. Saṅkhāra – hành - này được dùng trong thập nhị duyên khởi: Vô minh, hành, thức...

3.2- Saṅkhāra dịch là hữu vi, hàm chỉ các pháp được kết hợp, được cấu tạo, được làm nên. Hữu vi này cũng có nhiều dạng: Một, thế giới vật chất từ hạt cát đến sơn hà nhật nguyệt, sum la vạn tượng được kết hợp bởi các yếu tố, đơn vị vật chất đều được gọi là hữu vi. Hai, thế giới tinh thần được kết hợp bởi các yếu tố tâm lý, các trạng thái tâm lý diễn tiến một cách tự nhiên cũng được gọi là hữu vi.

Loại hữu vi 3.2 này bị chi phối bởi những định luật tự nhiên của vũ trụ (5 định luật - ngoại trừ định luật nghiệp báo) nên những hữu vi ấy đều vô thường, vô ngã nhưng không có dukkha.

3.3- Saṅkhāra dịch là hành, đây là loại hành do mình chế biến, đẻ ra; loại hành do tâm lý, tình cảm, sở thích, quan niệm chủ quan của mình tự tạo, hành ấy mới đưa đến dukkha. Hành này là hành trong  hành uẩn; và chính hành này mới đầy đủ tam tướng vô thường, vô ngã, dukkha. Nó biến đổi từ thương ra ghét, từ ghét ra hận rồi tạo ra các nghiệp.

Sabbe saṅkhāra aniccāti (tất cả hành là vô thường).

Sabbe saṅkhārādukkhāti (tất cả hành là khổ).

Còn: Sabbe dhammā-anattāti (tất cả pháp đều vô ngã). Pháp hữu vi, pháp vô vi đều vô ngã. Pháp vô vi không phải là pháp cấu tạo, kết hợp; cũng không phải là pháp do mình đẻ ra, chế biến ra nên pháp vô vi là vô ngã nhưng không vô thường, không khổ. Niết-bàn là pháp vô vi.

Tóm lại, khi nói các “pháp hữu vi” là muốn nói đến thế giới thiên nhiên, ngoại vật, cái gì cũng do cấu tạo, kết hợp, duyên sinh. Thời đại vật lý lượng tử ngày nay họ hiểu rất rõ điều này. Thế giới hữu vi này chúng vô thường, vô ngã nhưng không có dukkha. Khi nói các “pháp hành” là nói đến sự duyên khởi của căn trần thức; và chính ở đây, chúng vô thường, vô ngã và có cả dukkha. Đức Phật nhấn mạnh duyên khởi này, thấy rõ nó để chấm dứt dukkha chứ không bàn đến vũ trụ vạn hữu. Trùng trùng duyên khởi sum la vạn tượng như kinh Hoa Nghiêm thì đúng nhưng đức Phật chỉ nói “nắm lá trong tay thôi”, vừa đủ cho chúng sanh thoát khổ.

4- Về tư niệm thực:

Tư niệm thực là một trong 4 loại thức ăn. Do tôi thấy nhiều nơi giảng giải 4 loại thức ăn này không được rõ ràng hoặc chỉ nói cái phần ngọn hơi xa gốc nên tiện đây tôi ghi ra theo Abhidhamma.

- Đoàn thực (kabalikāra-āhāra): Thức ăn vo tròn. Thời đức Phật người ta ăn bằng bàn tay phải, sử dụng mấy ngón tay để vo tròn thức ăn nên gọi là đoàn thực (đoàn là tròn). Đây là thức ăn của cõi người dùng để nuôi dưỡng cơ thể, các tế bào sắc chất (hiện nay cách ăn này còn tồn tại ở Ấn Độ, Srī Laṅkā, Myanmar, Thái Lan...).

- Xúc thực (phassa-āhāra): Thức ăn của xúc giác. Do xúc mới có thọ. Khi mắt tiếp xúc với sắc liền phát sanh cảm thọ. Tương tự như vậy là tai, mũi, lưỡi, thân đối với thanh, hương, vị, xúc. Nhờ ăn “sắc thanh hương vị xúc” nên nó cung cấp chất bổ để nuôi dưỡng các cảm thọ.

- Tư thực (cetanā-āhāra): Thức ăn của tư, tức là tư tâm sở (cetanā), là tư tác. Cái gì là thức ăn của tư tác? Chính là hành nghiệp: Nghiệp thiện, nghiệp bất thiện và nghiệp bất động. Chính vì thức ăn là tất cả mọi hành nghiệp này, chúng cung cấp chất bổ để nuôi dưỡng chúng hữu tình tái sanh trong ba hữu: Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.

- Thức thực (viññāṇa-āhāra): Hàm chỉ thức ăn của thức tái sanh. Thức ăn của thức tái sanh là cận tử nghiệp (hoặc năng lực của nghiệp cuối cùng trước khi lâm tử). Sau khi “ăn” nghiệp ấy, nó lấy “chất bổ” ở đấy để nuôi dưỡng danh-sắc trong kiếp sống kế.

Tóm lại, cách nói gì, cách trả lời nào tôi cũng cảm giác chúng chỉ là những khái niệm vật vờ, dập dờn trên cái thực. Nhưng giới hạn muôn đời của ngôn ngữ là vậy, tôi cũng không biết làm gì khác hơn.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/03/201808:55(Xem: 1019)
Vừa qua, bản thảo cuốn sách này, « Con Người và Phật Pháp » được tác giả Lê Khắc Thanh Hoài gởi đến cho tôi với lời đề nghị tôi có vài dòng đầu sách. Tôi có phần e ngại, vì có thể tôi không nắm rõ hết ý tưởng của tác giả và cũng có thể không nêu hết ý nghĩ của mình. Thế nhưng đối với một tác giả, một nữ cư sĩ Phật tử trí thức thuần thành, một nhà văn, một nhà thơ và là một nhạc sĩ mà tôi vẫn lưu tâm, cảm phục, cho nên tôi quên đi phần đắn đo mà mạnh dạn có mấy dòng, gọi là chút đạo tình và lòng trân trọng đối với chị Thanh Hoài.
21/04/201817:34(Xem: 118)
Hoa Đàm Ngát Hương_HT Thích Bảo Lạc_2007
21/04/201808:40(Xem: 95)
Quan sát, nhìn nhận đúng sự việc, nhà Phật gọi là chánh kiến. Chánh kiến là cách phân biệt bản chất của sự việc tốt hoặc xấu. Trong tiềm thức mỗi người đều có sẵn tính tốt và tính xấu. Ví dụ lòng trung thành và phản bội. Ai cũng có hạt giống trung thành và hạt giống phản bội. Người chồng nếu sống trong môi trường, hạt giống của lòng trung thành được tưới tẩm nuôi dưỡng hàng ngày, thì người chồng sẽ là một người trung thành, nhưng nếu hạt giống của sự phản bội được tưới tẩm nuôi dưỡng hàng ngày, người chồng có thể phản bội
19/04/201820:33(Xem: 136)
Audrey Hepburn; nữ tài tử Hollywood nổi danh ở thập niên 1950s, có vẻ đẹp thánh thiện với chiếc cổ thiên nga đã làm cho bao chàng trai mới lớn thời ấy từng ươm mơ dệt mộng. Tình cờ tấm ảnh của nàng đã xuất hiện trên mạng không khỏi làm nhiều người hâm mộ xúc động trước sự tàn phá của thời gian.
31/03/201807:10(Xem: 322)
Sống để gặt những gì mình đã gieo và gieo tiếp việc thiện, tích cực tu tập để tiến hóa, có những tái sinh ngày càng tốt hơn, cuối cùng đạt quả vị giải thoát, đi đến chấm dứt sinh tử luân hồi. Đạo Phật tóm gọn trong mấy chữ nhân quả, thiện ác mà thôi. + Chúng ta có tái sinh, có kiếp trước và kiếp sau không? Có rất nhiều câu chuyện trên khắp thế giới về những người chết đi sống lại kể về linh hồn, những người nhớ về kiếp trước của mình như những vị Lạt Ma Tây Tạng, nhà ngoại cảm giao tiếp với linh hồn để tìm được rất nhiều ngôi mộ, v.v Con người được sinh ra từ những nghiệp tốt và xấu mà mình đã gieo từ vô số kiếp. Trong đời này ta buộc phải nhận quả. Để giảm thiệt hại từ những quả xấu và tăng cường quả tốt thì cần phải làm lành lánh dữ việc xấu dù nhỏ cũng không nên làm còn việc thiện dù nhỏ mấy cũng cố gắng làm. Phật nói số người được tái sinh làm người hoặc chư Thiên (thần thánh) nhiều như 2 cái sừng trên đầu con bò, còn số người sinh vào cõi khổ (rơi vào địa ngục, hóa thành
16/03/201817:26(Xem: 344)
Video pháp thoai: Kinh Pháp Cú Phẩm Già 01 HT Thích Minh Hiếu giảng 11-03-2018
08/03/201806:59(Xem: 367)
Cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn. Tôi nghĩ , như một dấu hiệu của tôn trọng, tôi sẽ đứng để nói chuyện. Cách ấy, tôi cũng có thể thấy thêm những khuôn mặt. Tôi thường diễn tả tất cả chúng ta như những anh chị em. Chúng tađều là những con người giống nhau ở trình độ nền tảng. Chúng ta giống nhau từ tinh thần, cảm xúc, đến thân thể. Ở trình độ vật lý, có những khác biệt nhỏ, như độ lớn của lổ mũi. Lổ mũi của tôi được xem như là một cái mũi lớn. Tôi không nghĩ nó là một cái mũi lớn. Cho nên đó là điều quan trọng. Chúng ta phải nhận ra mỗi người khác như một con người – không có gì khác nhau. Rồi thì, ở trình độ thứ hai – vâng, có những khác biệt về tín ngưỡng, khác biệt về màu da, khác biệt về quốc gia. Tôi nghĩ, ngày nay vấn nạn mà chúng ta đang đối diện là chúng ta nhấn mạnh quá nhiều về tầm quan trọng ở trình độ thứ hai, quên lãng rằng ở trình độ thứ nhất thì chúng ta là những con người giống nhau.
07/03/201804:29(Xem: 353)
Lại ngày 8 tháng ba. Mấy ngày nay đã thấy những email, những lời chúc đầy hoa trên mạng để chúc mừng ngày này. Trước 75, hình như ngày này chẳng ai biết tới. Những ngày tháng ba những năm ấy hoặc Lễ Hội tưởng niệm Hai Bà Trưng (6 tháng hai âm lịch), Giỗ Tổ Hùng Vương (10 tháng 3 âm lịch), có ai để ý ngày 8 tháng 3. Thời ấy, đa số phụ nữ trong nam ở nhà lo cho con cái, nếu có đi làm hay ra buôn bán thì trong gia đình vẫn người chồng là trụ cột.
28/02/201811:40(Xem: 371)
Ở đời có những người không đức lại tự cho rằng quá nhiều đức; không tài lại nghĩ mình kỳ tài không ai bằng; làm lợi ích cho người không được bao nhiêu mà nghĩ mình làm quá nhiều; thành tựu không lớn mà nghĩ là thành tựu chưa từng thấy… là bởi “cái tôi” quá lớn. Cái tôi (the Self, the Ego) ấy vượt khỏi giới hạn của thân xác, đóng cọc cắm rào khắp nơi nào nó hướng đến. Nó vô hình nhưng lại mượn cái hữu hình để tự thể hiện sự hiện hữu của nó. Và sự hiện hữu theo cách thế bành trướng, lấn lướt của một cái tôi lớn, làm cho không gian chung quanh chật chội, tù túng. Ngay cả môi trường sống của gia đình, trường học, làng xóm, tổ chức tôn giáo, quốc gia, cho đến thế giới, trước sự hung hăng hãnh tiến, tự tin, tự mãn của một “cái tôi đáng ghét,” (1) sẽ bị ô nhiễm, khó thở. Cái tôi ấy nếu là người bình thường thì chỉ gây khó chịu, hoặc làm trò cười cho hàng thức giả trong vài phút giây; còn như cố gắng giành lấy trách nhiệm lãnh đạo tập thể nữa thì mới là hiểm họa cho nhiều người, trong một