Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phật dạy về ngày lành tháng tốt

21/04/201506:53(Xem: 3135)
Phật dạy về ngày lành tháng tốt

Hoa cuc quang duc (3)

Phật dạy về ngày lành tháng tốt
Mang Viên Long



Tôi có quen với một gia đình, có thể nói là thuộc thành phần trí thức, bởi cha mẹ người bạn đều là nhà giáo, bản thân anh là kỹ sư và vợ là dược sĩ. Tuy vậy, không biết suy nghĩ thế nào, anh luôn tin vào các sách bày bán nhan nhản ngoài phố được cải biên, “làm đi, làm lại” mỗi năm như Lịch vạn niên, Xem ngày giờ, việc lành dữ trong năm và thường lên internet truy cập các trang chuyên hướng dẫn về ngày lành tháng tốt, cúng kiếng, xem tuổi kiết hung?

Anh là một Phật tử thuần thành, có hiểu biết một ít kinh sách, thường đi chùa lễ Phật, làm công tác từ thiện…, nhưng niềm tin của anh vào ngày lành tháng tốt vẫn không hề thay đổi, và ngày càng tỏ ra say mê hơn! Sự tin tưởng của anh, có lúc, tôi nghĩ giống như một sự cuồng tín - nhưng không biết đã bắt nguồn từ đâu? Do nhân duyên gì? Do thói quen, hay do ảnh hưởng bởi xã hội?

Người cha đã đôi phen “đàm đạo”, góp ý với anh nhưng tuyệt nhiên cách nghĩ của anh về ngày lành tháng tốt/việc tốt-xấu/rủi-may/v.v… cũng không suy suyển! Nghĩa là anh vẫn cứ tin vào mãnh lực siêu nhiên mầu nhiệm mơ hồ, bám theo những lịch sách về ngày giờ/bói số/rủi may… , hay từ các trang mạng, từ những ông/bà thầy quê mùa xem quẻ, bói số (có khi thất học, mù lòa), để cầu được hướng dẫn về cách đem lại phước báo và an lành cho mình cùng gia đình…

Có lần tôi hỏi anh: Do đâu anh tin vào những điều “bói đoán và khuyên dạy” viển vông ngoài kinh sách của Đức Phật? Anh im lặng.

Tôi nhớ, Đức Phật có dạy rất rõ về sự vui và khổ (thành/bại và tốt/xấu) của đời người đều do nghiệp lực của chính mình đã tạo tác, do tâm niệm và hành vi thiện ác của con người mà sinh - không thể do bất cứ điều gì khác. Bởi “Nếu nói hoặc làm với tâm ô nhiễm, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo”. Và ngược lại: “Nếu nói hoặc làm với tâm thanh tịnh, sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình” (Kinh Pháp cú, phẩm Song yếu, kệ 1 & 2, HT.Thích Thiện Siêu dịch).

Lời dạy này, phù hợp với lý Nhân quả và Nghiệp báo tuyệt đối: Gieo nhân nào, phải gặt quả ấy! Không thể đã gây tạo điều xấu ác mà nhận được thiện lành, an vui, tốt đẹp được. Không có bất kỳ vị thánh thần nào (hay ông bà cha mẹ…) có thể đem đến cho ta phước báo và hạnh phúc khi chính tâm ta cùng việc làm của ta đều hướng về hành vi bất thiện, tà ác cả. 

Ngược lại, cũng không thể có vị thánh thần nào đem đến cho ta khổ nạn và bất hạnh khi chính tâm ta cùng việc làm của ta đều hướng về điều thiện lành, tốt đẹp. Ví như “Với bàn tay không thương tích, có thể nắm thuốc độc mà không bị nhiễm độc; Với người không làm ác thì không bao giờ bị ác” (Kinh Pháp cú, kệ 124). Đây cũng là một lẽ rất tự nhiên, công bình, bởi vì “Người nào cầu yên vui cho mình, mà lại lấy dao gậy não hại kẻ khác, thì sẽ không được yên vui!” (Kinh Pháp cú, kệ 131). 

Câu kết luận sau đây sẽ là một định luật cho muôn đời: “Nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy” (Kinh Pháp hoa). Nếu “đã lỡ” tạo nghiệp chẳng lành từ lâu xa vì vô minh, cách duy nhất là cần nỗ lực chuyển nghiệp, làm theo lời Phật dạy, để dần dần có quả lành, nghiệp lành trong tương lai... Không một ai có quyền năng hay phép mầu nào có thể làm thay ta để “chuyển nghiệp giúp” được cả - ngay Đức Phật Thế Tôn!

Trong Kinh tạng Nikaya, kinh Tăng chi bộ I, chương 3, phẩm Cát tường, phần Buổi sáng tốt đẹp, có ghi lại: “Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: Các loài hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện; các loài hữu tình ấy, này các Tỳ-kheo, có một buổi sáng tốt đẹp. 

Các loài hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện; các loài hữu tình ấy, này các Tỳ-kheo, có một buổi trưa tốt đẹp.

Các loài hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện; các loài hữu tình ấy, này các Tỳ-kheo, có một buổi chiều tốt đẹp...”.

Tin hiểu lời Phật, chúng ta dễ dàng nhận thấy, việc tin sẽ có sẵn ngày lành tháng tốt cho mỗi người được sách vở ghi lại là mơ hồ, không có cơ sở. Có thể nghĩ, sẽ có ngày tháng tốt (thích hợp) cho mỗi người, là tùy vào hoàn cảnh, sự sinh hoạt và khả năng lo liệu của người ấy mà thôi. Như gần đây, những ngày hiếu hỷ, sum họp, cưới hỏi… thường được chọn vào ngày thứ 7, Chủ nhật, hay vào ngày cuối tháng; bởi dường tất cả đều được thư thả, sẽ dễ dàng tham dự, chung vui.

Suy nghĩ như vậy, theo thiển ý, mọi người hãy nên tự làm cho mình mỗi ngày đều là ngày lành, ngày tốt với “Thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện”. Đó mới là phương cách duy nhất để đạt được ước nguyện chân chính của người con Phật; phù hợp và cần thiết với đời sống của con người hiện đại, của xã hội văn minh! 

Mang Viên Long

ngay lanh.jpg
 
Ngày nào cũng là ngày lành tốt nếu ta biết 
gieo mầm thiện, tưới tẩm hạt thiện nẩy mầm mỗi ngày - Ảnh minh họa
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/05/202105:58(Xem: 132)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
01/01/202109:18(Xem: 78430)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
15/05/202112:01(Xem: 103)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/202111:49(Xem: 57)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/202111:23(Xem: 135)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/202111:18(Xem: 74)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/202111:13(Xem: 94)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/202119:02(Xem: 75)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/202111:49(Xem: 159)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.
04/05/202118:51(Xem: 299)
Một khi Đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng, ngài sẽ phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn về việc nói với thế giới những gì đã xảy ra ở quê hương ngài và cố gắng để có được sự giúp đở cho người dân của ngài. Ngài cũng phải chạm trán với sự tuyên truyền của truyền thông Tàu Cộng rằng ngài đã bị bắt cóc. Tuy nhiên, nhu cầu thiết yếu nhất là để bảo đảm nhà ở và thực phẩm cho những người Tây Tạng đã đi theo ngài lưu vong. Ngài đã hướng đến chính phủ Ấn Độ, và họ đã không làm ngài thất vọng. Trong thực tế, Ấn Độ cuối cùng đã tiếp nhận hơn một trăm nghìn người tị nạn, cung cấp chỗ ở, và nuôi dưỡng họ, cho họ làm việc, và thiết lập những ngôi trường đặc biệt cho trẻ em Tây Tạng. Những tu viện Phật giáo Tây Tạng cũng được xây dựng ở Ấn Độ và Nepal.