Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Học Từ Bi Với Chính Mình

22/04/201407:11(Xem: 5247)
Học Từ Bi Với Chính Mình

lotus_4
Chúng ta nghe khá nhiều về việc phải tu tập hạnh từ bi nhưng mình cứ loay hoay mãi không biết bắt đầu từ đâu! Có người bảo rằng mình phải học cách sống hy sinh cho người khác thì tâm từ bi mới nở rộ. Nhưng có người lại nói rằng từ bi mà không có trí tuệ là một kẻ dại khờ, ngu dốt. Câu chuyện làm đề tài từ bi thêm hấp dẫn là câu hỏi: 'có nên hay không nên cho tiền người vô gia cư, không nhà, không chốn nương thân (homeless)?' Có người cho rằng không nên vì nếu cho tiền họ, họ có thể mua ít rượu để uống và khi rượu vào thì có thể tâm trí họ sẽ không còn minh mẫn; do đó, họ có thể trở nên bạo động, và có thể, giết người. Nghiệp họ gây ra là do chính mình đã cho họ một số tiền, dù nhỏ, nên tạo duyên cho họ gây tội ác. Thế nên, mình cũng có dính phần trong đó!

Có người lại cho rằng đã từ bi thì không nên tính toán. Mình cứ cho người đi còn họ dùng tài vật vào chuyện gì đó là chuyện của họ. Vì lỡ có người quá đói cần ăn để sống nếu chúng ta phân vân không cho, có thể họ sẽ bị chết vì đói. Như vậy, có phải là mình thiếu đức từ bi hay không? Người khác lại bàn rằng: chắc ăn nhất là mua thức ăn cho họ, nếu họ đói, họ sẽ có cái gì đó bỏ bụng. Nếu họ không đói, họ có thể để dành khi nào đói thì ăn. Như vậy, sẽ tránh được tình trạng tạo duyên xấu cho họ gây tội ác.

Tùy theo ý thích của mỗi người chọn cho mình cách thể hiện lòng từ tốt nhất. Tuy nhiên, bạn có thấy rằng nếu mình rãi tâm từ không hợp thời và không đúng cách sẽ khiến mình thêm phiền não và khó chịu! Bạn thử chiêm nghiệm câu châm ngôn: ‘Một miếng khi đói bằng một gói khi no.’ Hiệu ứng giá trị của một miếng và một gói khác nhau thật là nhiều khi mình biết cho đúng thời và hợp lúc. 

Nhưng nếu suy xét kỷ bạn có thấy rằng sỡ dĩ mình phân vân không biết chọn cách thể hiện lòng từ nào cho đúng là vì mình có bao giờ ứng dụng lòng từ đó với chính mình chưa? Mình đã có bao giờ ‘thử’ từ bi với chính mình? Đương nhiên, khi nói đến lòng từ bi là chúng ta thường liên tưởng đến từ bi đối với người khác. Nhưng Phật thường dạy: ‘Hãy tự thắp đuốc lên mà đi!’ Có nghĩa là, hãy tự độ mình rồi mới độ tha là vậy. Chính nhờ biết từ bi với chính mình mà ta mới hiểu cách nào để rộng mở lòng từ bi đến cho mọi người. Chúng ta sẽ dễ cảm thông khi có người đang tự làm khổ lấy chính bản thân họ.

Nếu bạn còn lấn cấn vì cho rằng từ bi với chính mình thì sẽ sanh ngã ái thì bạn hãy đọc lời Phật đã dạy: “Ai còn tham luyến (tức còn ngã ái chấp đây là của tôi, ngã mạn chấp đây là tôi, ngã kiến chấp đây là tự ngã của tôi), thời có dao động. Ai không tham luyến thời không dao động. Ai không dao động thời được khinh an. Ai được khinh an thời không thiên chấp (nati). Ai không thiên chấp thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh thời không có đời này đời sau, không có giữa hai đời. Đây là sự đoạn tận khổ đau.” (phẩm Niết bàn-Tương Ưng Bộ Kinh). Ngã ái là luôn luôn chấp ngã và sinh tâm mê thích ta và cái của ta. Chỉ biết nghĩ đến mình và những gì thuộc về mình. Còn từ bi là ban vui, cứu khổ, một tình thương yêu không bờ bến, không phân biệt ta hay người.

Lòng từ bi không phải chỉ để ứng dụng đối với người khác mà còn bao gồm luôn cả chính bản thân mình nữa. Vì mình cũng là một chúng sinh! Nếu ai cũng thực hành hạnh Từ Bi với chính mình là không để cho những thị phi, đàm tiếu khiến làm cho mình bớt đau, bớt khổ, giúp cho mình giảm bớt bệnh tật, bớt tâm tham, sân, si. Không ai thương mình, bằng chính mình thương mình. Nếu tâm ta cứ tham muốn điều này đến điều khác thì rất dễ dẫn đến sân hận, bực bội và lo lắng. Đó có nghĩa là mình không biết từ bi với mình.

“Đứng về phương diện đối trị cái giận, Từ Quán và Bi Quán là những phương pháp rất thực tế mà rất mầu nhiệm. Kinh có nói tới bảy cái bất lợi của sự giận hờn, của người không chịu buông thả, không chịu chuyển hóa cơn giận của mình. Thứ nhất, người đó trông xấu xí…; điểm bất lợi thứ hai là ta nằm kẹt đau đớn trong cơn giận của ta. He lies in pain. Người giận nằm co quắp trong niềm đau của mình. Niềm đau này là do cái giận làm ra. Thứ ba là không có sự phát triển phong phú. Thân thể cũng như tâm hồn không phát triển và bừng nở được như một đóa hoa. Thứ tư là nghèo đi về tiền tài cũng như về hạnh phúc. Thứ năm là không được tiếng tốt. Thứ sáu là không có nhiều bạn. Và thứ bảy là người đó sẽ tái sanh trong cõi A Tu La, không có hạnh phúc. Đó là bảy điều bất lợi của những người ôm cái giận của mình mà không biết buông bỏ để chuyển hóa.” (Trái Tim Của Bụt - Sư Ông Nhất Hạnh).

Có một câu chuyện có thật xảy ra như sau: Một giáo sư và cũng là nhà nghiên cứu về đề tài hạnh phúc trải qua suốt 20 năm để tìm ra công thức mang đến hạnh phúc. Cuối cùng ông cũng tìm ra và đem tất cả những sở học của mình viết thành nhiều quyển sách nói về hạnh phúc. Chẳng bao lâu, ông trở nên nổi tiếng vì trên thế gian này, ai cũng muốn có hạnh phúc. Thế là ông được mời đi thỉnh giảng khắp nơi trên thế giới về hạnh phúc. Ông bận rộn suốt ngày đêm nào lo soạn bài, nào bay đi khắp nơi để diễn thuyết. Công việc của ông ta tưởng chừng như không bao giờ hết! Một hôm, sau khi diễn thuyết xong có một khán giả muốn biết xem ông đã diễn giảng cho mọi người về hạnh phúc, nhưng chính bản thân ông có cảm nhận được hạnh phúc hay không? Câu hỏi như tiếng sét đánh ngang tai vì suốt bao năm qua ông miệt mài tìm kiếm giải đáp cho câu hỏi hạnh phúc. Nhưng tự bản thân ông chưa bao giờ nghĩ đến là chính mình phải cảm nhận nó!

“Maitri Bhavana Pháp Quán Từ Bi là một trong những pháp thiền thâm nhập sâu sắc nhất… Nó là một nỗ lực đem cái tâm tự-nhiên của bạn trở lại với bạn; nó là một nỗ lực mang cái bản lai diện mục trở lại với bạn; nó là một cái nỗ lực mang bạn tới cái điểm mà bạn mới sinh ra và xã hội chưa khởi sự vo tròn bóp méo bạn, chưa biến đổi bạn thành kỳ quái (the society had not yet corrupted you). Khi một đứa trẻ được sinh ra nó ở trong trạng thái thiền quán Từ bi. Pháp thiền Từ bi chính là cảm-thức mênh mông của thân hữu, từ bi yêu thương, đại bi. Khi đứa trẻ được sinh ra nó không biết thù ghét, nó biết chỉ có từ bi yêu thương. Từ bi yêu thương là tự nó có; sân hận là cái nó sẽ học về sau. Tính tức-giận-cay-đắng-khi-có-đua-tranh (jealousy), tính chiếm-hữu (possessiveness), tính thèm-khát-được-như-người (envy), nó sẽ học về sau. Những cái này chính là những cái xã hội sẽ dạy những đứa trẻ: làm thế nào để tức-giận-cay-đắng-khi-có-đua-tranh, làm thế nào để lòng-chứa-đầy-thù-ghét, làm thế nào để lòng đầy sân hận hoặc bạo lực… Trẻ con đang tín nhiệm nơi con người, nhưng dần dần chúng sẽ có những kinh nghiệm bị lừa dối đưa chúng tới những khó khăn, những vấn đề – những kinh nghiệm trong đó chúng bị chống đối, bị đàn áp, những kinh nghiệm trong đó chúng trở nên kinh sợ. Dần dần chúng sẽ học tất cả các trò lừa đảo của thế giới. Đó là những gì xảy ra, nhiều hoặc ít, cho tất cả mọi người.” *

Lời Phật dạy cách đây 2.600 năm chứa đựng một sự thật căn bản về bản chất của chúng sinh. Đó là, con người là một loại sinh vật xã hội (social animal). Chúng ta không thể sống thiếu sự đoàn kết, thương yêu cho mình và cho người. Cho nên, ai thực hành hạnh từ bi sẽ được những lợi ích như sau: “Này các Tỷ-kheo, với từ tâm giải thoát được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được tác thành căn cứ địa, được tiếp tục an trú, được tích tập, được khéo khởi sự, thời chờ đợi là mười một lợi ích. Thế nào là mười một? 1. Ngủ được an lạc; 2- Thức dậy được an lạc; 3- Không thấy các ác mộng; 4- Ðược mọi người thương yêu, quý mến; 5- Ðược các hàng phi nhân thương yêu, quý mến; 6- Ðược chư thiên hộ trì; 7- Lửa hoặc chất độc hoặc các loại vũ khí… không thể làm hại được; 8- Tâm dễ dàng an tịnh; 9- Gương mặt sáng sủa; 10- Lúc lâm chung, tâm không mê muội (tâm sáng suốt); 11- Ðề mục niệm rải tâm từ có khả năng chứng đắc các bậc thiền sắc giới (trừ đệ ngũ thiền); nếu chưa trở thành bậc Thánh A-la-hán, thì sau khi chết, bậc thiền sắc giới sở đắc của mình cho quả tái sanh lên cõi trời sắc giới phạm thiên…” (Kinh Tăng Chi, Phẩm Từ - H.T. Minh Châu dịch).


 Có một câu chuyện về một vị Lạt ma, vốn là bạn và cũng là thầy dạy của đức Đạt lai Lạt ma đời thứ 14. Một hôm vị lạt-ma này xin yết kiến đức Đạt-lai Lạt-ma sau khi trốn khỏi nhà tù do chính quyền Trung quốc quản lý bên Tây tạng. Khi tiếp kiến, ngài rươm rướm nước mắt, ngỏ lời xin đức Đạt lai Lạt ma chủ trì cho lễ sám hối của ngài. Kinh ngạc, đức Đạt lai Lạt-ma hỏi ngài đã phạm tội gì! Ngài trả lời đã phạm tội mất từ bi khi bị những người lính Trung quốc hành hạ, đau đớn. Ngài đã có ý tưởng trả thù và muốn làm tổn thương những người hành hạ ngài. Như Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 từng nói: “Nếu bạn muốn người khác được hạnh phúc, phải thực hành lòng từ bi. Nếu bạn muốn được hạnh phúc, phải thực hành lòng từ bi.” Khi mình đánh mất lòng từ bi với chính mình thì cũng như chúng ta đánh mất hạnh phúc của chính mình vậy!

 Khi quay nhìn lại tất cả những gì mình đã làm trong đời, từ việc tốt đến việc xấu. Chúng ta không chỉ hãnh diện với những việc mình đã làm đúng, mà cũng phải mở rộng lòng chấp nhận những điều sai sót, mình hối tiếc, đã lỡ gây ra. Chính vì còn chất người nên mình đã có lúc làm đúng, sai như vậy! Đương nhiên, mình sẽ cố gắng sửa đổi những sai phạm đã gây ra; nhưng không vì đó mà tự hành hạ mình. Mình phải học cách biết tha thứ và từ bi với chính mình vì, nếu không, mình đang không chấp nhận con người thật của mình, một con người có lúc đúng và có lúc sai, như tất cả mọi con người khác! Khi mình chối bỏ tâm từ bi với chính bản thân mình, thì thử hỏi, làm sao bạn có thể mở lòng từ bi với người khác?

Giáo sư Kristin Neff của Đại học Texas là người tiên phong xét nghiệm lòng từ bi với bản thân như một công cụ để thúc đẩy sự chữa lành về mặt tâm lý, hạnh phúc và những mối quan hệ tốt đẹp hơn. Bà so sánh lòng từ bi với bản thân (self-compassion) và lòng tự trọng (self-esteem). Trong khi lòng tự trọng cao dựa trên những giá trị về sự thành công cao, thì lòng từ bi với bản thân là một phẩm chất cá nhân, ở đó chúng ta đánh giá cao bản thân và đối xử tử tế với bản thân chỉ vì chúng ta là con người. Với thái độ quan tâm cho bản thân giúp chúng ta nhận ra điểm tương đồng và sự liên đới giữa chúng ta với những người khác, những người chia sẻ với chúng ta những khát vọng chung và những mầm mống của đau khổ.

Theo giáo sư Kristin Neff lòng từ bi với bản thân không làm chúng ta yếu đuối, mà đúng hơn là một phương thuốc có thể làm giảm lo lắng và làm tăng khả năng phục hồi sau thất bại. Nó không đòi hỏi chúng ta phủ nhận hoặc đè nén những kinh nghiệm tiêu cực của chúng ta. Bản chất của từ bi với bản thân là thừa nhận nỗi đau, cảm xúc của riêng chúng ta; và sau đó, an ủi mình bằng cách tạo ra những cảm xúc ấm áp, dịu dàng, và chăm sóc đến nỗi khổ, niềm đau của tự thân. **

Tóm lại, lòng từ bi với bản thân thường đem lại nhiều lợi ích. Khi mình biết đối xử tử tế với bản thân, chúng ta học cách mở rộng lòng mình với mọi kinh nghiệm, cảm xúc của chúng ta. Chúng ta cũng trở nên dể dàng từ bi với người khác hơn khi lòng yêu thương không có sự chiếm hữu hay vụ lợi, vì tình yêu thương chân thật đó sẽ giúp cho ta có một tâm hồn trong sáng để lắng nghe. Và một khi trái tim được rộng mở, thì toàn bộ cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp và hài hòa. Nhờ thế mà lòng từ bi, mong muốn cho tha nhân được hạnh phúc, sẽ được nhân đôi lên với niềm hạnh phúc của tự thân. Chính những điều đó là một năng lực từ trường có khả năng trị bệnh cho mình; đồng thời, cũng có thể giúp cho mọi người xích lại gần nhau hơn.

 
Tháng 4 – 2014
Thiện Ý



Nguồn
:

* Đặc san Hiện Thực (Úc), số 16/2009, năm thứ 5, trang 154-165. Bản Anh ngữ: Robert A.F. Thurman. “Asanga’s Teaching of Great Compassion.” Trích từ: Essential Tibetan Buddhism. [1996] - Đặng Hữu Phúc dịch.

**The Surprising Secret to Success – Be Kind to Yourself (Is Self-Compassion the Key to a Wiser, Happier Me?) Published on Feb. 8, 2012, Melanie Greenberg, Ph.D, in The Mindful Self-Express.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/202109:18(Xem: 78381)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
15/05/202112:01(Xem: 77)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/202111:49(Xem: 54)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/202111:23(Xem: 95)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/202111:18(Xem: 52)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/202111:13(Xem: 82)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/202119:02(Xem: 71)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/202111:49(Xem: 154)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.
04/05/202118:51(Xem: 296)
Một khi Đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng, ngài sẽ phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn về việc nói với thế giới những gì đã xảy ra ở quê hương ngài và cố gắng để có được sự giúp đở cho người dân của ngài. Ngài cũng phải chạm trán với sự tuyên truyền của truyền thông Tàu Cộng rằng ngài đã bị bắt cóc. Tuy nhiên, nhu cầu thiết yếu nhất là để bảo đảm nhà ở và thực phẩm cho những người Tây Tạng đã đi theo ngài lưu vong. Ngài đã hướng đến chính phủ Ấn Độ, và họ đã không làm ngài thất vọng. Trong thực tế, Ấn Độ cuối cùng đã tiếp nhận hơn một trăm nghìn người tị nạn, cung cấp chỗ ở, và nuôi dưỡng họ, cho họ làm việc, và thiết lập những ngôi trường đặc biệt cho trẻ em Tây Tạng. Những tu viện Phật giáo Tây Tạng cũng được xây dựng ở Ấn Độ và Nepal.
30/04/202120:39(Xem: 298)
Thưa Tôi. Hôm nay là ngày sinh nhật của Tôi, xin được phép thoát ra khỏi cái tôi để nhìn về tôi mà phán xét và đưa ra cảm nghĩ. Hình dạng tôi đã già rồi, tóc đã bạc hết cả đầu. Tôi đã trải qua một thời gian dài sinh sống làm việc và cuối đời nghỉ hưu. Tôi đã bắt đầu thấm thía cái vô thường của thời gian mang lại. Tôi cũng đã thấm thía cái sức khỏe đã đi xuống nhanh hơn đi lên. Tôi cũng đã thấm thía tình đời bạc bẽo cũng như tình cảm (Thọ) là nỗi khổ đau của nhân sinh. Tôi cũng đã hiểu rõ thế nào là ý nghĩa đích thực của cuộc sống, đó là bất khả tương nghị không thể thốt lên thành lời. Chỉ có im lặng là đúng nghĩa nhất. Ngày xưa khi lục tổ Huệ Năng của Thiền tông chạy trốn mang theo y bát thì thượng tọa Minh rượt đuổi theo để giết lấy lại. Đến khi gặp mặt thì lục tổ mang y bát ra để trên tảng đá rồi núp dưới tảng đá bảo thượng tọa Minh hãy lấy y bát đi mà tha chết cho người. Thượng tọa Mình lấy bát lên, nhắc không lên nổi vì nó quá nặng bèn sợ hãi mà quỳ xuống xin lục tổ tha c