Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tọa Đàm 25 - 36

04/12/201209:25(Xem: 1238)
Tọa Đàm 25 - 36


48 TỌA ĐÀM KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tác Giả: Cư Sĩ Diệu Âm (Úc Châu)


KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 25

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Ngày hôm nay niệm Phật đường chúng ta “Tịnh khẩu,niệm Phật” trong 24 tiếng đồng hồ. Sở dĩ chúng ta tịnh khẩu niệm Phật, là để tập tâm thanh tịnh, tập cho trong tương lai chúng ta tịnh tâm hơn. Tịnh khẩu hai ngày, 48 tiếng đồng hồ, rồi tịnh khẩu lên ba ngày để cho tâm chúng ta định lại trong câu A-Di-Đà Phật. Để cho nghiệp chướng của chúng ta giảm bớt, và để cuối cùng từ cái Niệm Phật Đường này ta đi về một cái đại Niệm Phật Đường ở trên cõi Tây Phương của A-Di-Đà Phật.

Tất cả chư Tổ, vị nào cũng cẩn thận đến vấn đề khẩu nghiệp. Các Ngài luôn luôn nhắc nhở chúng ta, tu hành cần phải cố gắng tịnh khẩu lại. Khẩu mà tịnh được thì tâm chúng ta mới tịnh được. Mà tâm tịnh được thì công phu mới thành tựu và công đức mới có. Trong mười điều ác đức Thế-Tôn đưa ra, thì khẩu nghiệp nó chiếm gần một nửa. Mười điều thiện để cho chúng ta làm phước làm đức, thì cái miệng của chúng ta nó chiếm gần một nửa. Cho nên khi bắt đầu quyết định tu hành, nhất định chúng ta phải cẩn thận về khẩu nghiệp, vì đây chính là cái cửa ngõ nó tuôn hết công đức của chúng ta ra.

Khi mình vào một Thiền Đường, nếu đúng là một Thiền Đường thì mình thấy chư vị luôn luôn giữ im lặng. Đi, các Ngài đi nhẹ nhàng. Đứng, các Ngài cũng đứng nhẹ nhàng. Ngồi, các Ngài ngồi im lặng như tờ, ngón tay không dám động đậy, đừng nói chi là mở lời ra nói. Nếu mình vào trong một mật thất của Mật Tông, chúng ta sẽ thấy các Ngài tịnh khẩu niệm chú, niệm mà câu chú vang ra rào rào giống như là tiếng gió thổi, không còn là tiếng niệm nữa. Khi vào một Niệm Phật Đường, nếu thật sự là một Niệm Phật Đường, thì xin thưa với chư vị, mình thấy người niệm Phật khi đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín… đều ở trong câu A-Di-Đà Phật.

Chúng ta đừng nghĩ rằng...

- Một người đang thái rau trong nhà bếp người ta không niệm Phật. Không phải!Thái rau nhưng người ta đang niệm Phật trong đó.

- Trong khuôn viên Niệm Phật Đường,có ngườiđang nhổ cỏ. Nhổ cỏ, nhưngngười ta đang niệm Phật trong đó.

- Mộtngười đang quét nhà.Quét nhà, nhưngngười ta đang niệm Phật trong đó.

Nếu mà chúng ta tới bên cạnh người đó nói chuyện, người đó sẽ không niệm Phật được. Nếu mình không để ý, cứ tưởng rằng nói vài lời cho vui tươi, thoải mái, đem chuyện thế gian ra kể một vài câu cho đỡ buồn... vô tình chúng ta đã làm mất rất nhiều phước mà không hay. Chính vì vậy, có nhiều vị ở trong Niệm Phật Đường thường hay nhắc nhở với tôi rằng, hãy chú ý vấn đề nói chuyện.

- Nói với chị đó đừng tới nói chuyện, trong khi tôi đang nấu cơm.

- Nói anhđó đừngtới nói chuyện,trong khi tôi đang nhổ cỏ.

- Nói người đó đừngnói chuyện,trong khi tôi đang niệm Phật.

Thật sự có người nhắc đến, nhưng chưa có dịp để nói ra chuyện này. Hôm nay nhân buổi tịnh khẩu niệm Phật, xin đại diện cho Niệm Phật Đường chúng tôi xin nói ra vấn đề này. Thường thường các vị đồng tu vì vị nể, không dám nói. Người ta muốn thanh tịnh niệm Phật, mình lại tới nói chuyện, chẳng lẽ người ta bảo mình đừng nói chuyện được sao? Thật sự là người ta đang niệm Phật, mình lại tới cản trở sự niệm Phật của họ, mình bị mất nhiều công đức.

Trong thế gian cũng có câu: Bệnh từ miệng nhập, tội từ miệng xuất. Nhất là trong một Niệm Phật Đường trang nghiêm, xin chư vị cố gắng tế nhị về chuyện này, tìm cách giảm bớt được chuyện nào hay chuyện đó. Chư Tổ nói: Bớtđimột câu chuyện, niệm thêm câu Phật hiệu.Đánh chết tập khí này,cho chân tâmhiển lộ. Tất cả ở một đạo tràng trang nghiêm nào, một vị Sư nào, một vị Tổ nào cũng đều nhắc nhở chúng ta về chuyện tịnh khẩu. Chúng ta vâng lời, “Y Giáo PhụngHành”lời dạy của các Ngài. Chính chúng ta cũng hiểu được rằng, cái miệng của mình nó phá quá nhiều công đức!...

Cho nên chúng ta tập hành theo các Ngài mà lập ra một ngày 24 tiếng đồng hồ tịnh khẩu. Khi tịnh khẩu, giả như lúc đó trong Niệm Phật Đường không có một ai, chúng ta cũng không nên mở lời lên nói, mà hãy nhiếp tâm vào câu A-Di-Đà Phật. Quý vị nên biết rằng, khi đã sinh ra trong thời mạt pháp này, cái nghiệp của chúng ta nó lớn lắm! Vì mình không để ý đó thôi, chứ để ý một chút là thấy liền. Thấy ở chỗ nào?

- Vào trong bệnh viện,sẽ thấy liền!

- Đi ra ngoài nghĩa địa, sẽ thấy liền!

- Đi vào trongcác nhàquàn, sẽ thấy liền!

Thấy những gì? Hằng ngày, hằng giờ người ta chết đi vào con đường đoạ lạc! Chắc chắn như vậy! Khi biết được như vậy rồi, thì rõ ràng ta cần phải tịnh khẩu tu hành. Ráng cố gắng giảm bớt được câu chuyện nào cứ giảm, để dành thời gian niệm Phật. Thấy một người đang cắm hoa, người ta cắm hoa nhưng mà họ đang âm thầm niệm Phật trong đó, mình không nên tới đứng bên cạnh nói chuyện. Nếu mình nói chuyện thì người ta không niệm Phật được. Người ta không niệm Phật được thì họ không tạo công đức được! Còn mình nói chuyện thì phá mất công phu của người ta. Phá công phu của người ta thì mình mất công đức. Mất công đức thì nhiều nghiệp chướng sẽ đến với mình. Chính vì vậy, người nói chuyện nhiều thường tu không được.

Vì vậy, ở tất cả những đạo tràng trang nghiêm đều nhắc nhở chuyện này. Mỗi lần chúng ta nhắc một chút, mỗi lần chúng ta nhắc một chút. Vì thực sự, chư vị ơi! Đọa lạc quá dễ dàng! Mà giải thoát thì quá khó khăn!Đã quá khó khăn giải thoát mà chúng ta còn tự dễ dàng cho mình nữa, thì không còn cách nào để mong thành tựu được.

Như hôm qua chúng ta có nói chuyện về vấn đề công cứ. Có những người lập hạnh niệm hai mươi lăm ngàn câu Phật hiệu, thì công phu cao. Có những người lập hai mươi lăm ngàn không được thì lập mười ngàn. Lập mười ngàn không được thì lập năm ngàn. Lập năm ngàn không được thì lập hai ngàn... Công phu khác nhau, nhưng có lập công cứ còn hơn không có công cứ. Đừng sợ rằng, hôm qua ta được niệm mười ngàn, nhưng hôm nay niệm chỉ được sáu ngàn, như vậy ta sẽ bị tội! Không! Không có gì là tội cả. Có sáu ngàn câu A-Di-Đà Phật thì chúng ta có sáu điểm. Có mười ngàn thì có mười điểm. Có bữa vì bận chuyện gì quá chỉ niệm được hai ngàn, thì hai ngàn chúng ta có hai điểm. Hai điểm còn hơn những người không có điểm nào.

Như vậy rõ ràng là chúng ta tự nguyện trói mình với câu A-Di-Đà Phật. Để chi? Để cho bánh “Xe Nghiệp” của chúng ta lăn, phải cho cái nghiệp của chúng ta lăn, lăn đến chỗ giải thoát. Nếu “Xe Nghiệp” này đã nặng quá, mà còn trì trệ lại đây, không chịu tiến về con đường giải thoát, thì nhất định đời đời kiếp kiếp chúng ta sẽ chịu nạn!...

Đời này đã mạt pháp rồi, nếu luống qua một đời này, tức là cuộc đời tu hành này chúng ta không giải thoát được, nghĩa là không vãng sanh về Tây Phương được, thì xin thưa, chắc chắn rằng vạn kiếp sau, gọi là “Bá thiên vạn kiếp”,không cách nào mà có thể gặp lại câu A-Di-Đà Phật.

Vì sao vậy?...

- Tại vì đời mạtpháp,thì một đời phải xấu hơn một đời!

- Tại vì đời mạtpháp,thì một kiếp phải xấu hơnmột kiếp!

- Tại vì đời mạt pháp,thì những đời sau của chúng ta nhất định sẽ khổ hơn đời này! Nghiệp chướngcủa chúng ta trong đời sau nhất định phải lớn hơn trong đời này.

Thế nên, đời này mà giải thoát không được, đừng bao giờ hy vọng tới đời sau.

Cho nên chúng ta tịnh khẩu niệm Phật là vì thương cái huệ mạng của chúng ta mà tịnh khẩu, chứ không phải vì cái giới luật của đạo tràng này ban ra ép buộc chúng ta phải tịnh khẩu. Hiểu được như vậy rồi thì một ngày tinh tấn niệm Phật, thật sự mình thấy vui vô cùng. Những người nào thật sự là người chân tu, chân chánh tu hành, thì họ sẽ rất trân quý những cơ hội này để niệm Phật. Còn nếu chỉ là người muốn tu thử, tu chơi chơi, tu giỡn giỡn… thì những ngày giờ này sẽ chán ngán lắm, khổ sở lắm! Và có thể rằng, một ngày nào đó họ sẽ thối lui! Mà một khi đã thối lui, chắc chắn phải thối luôn vào những cảnh đọa lạc, không bao giờ có thể ngoi lên được! Vì sao vậy? Ức ức người tu hành, làm sao tìm cho ra một người giải thoát, trong đời mạt pháp này...

Ấy thế mà đức Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật dạy, quý vị cứ niệm Phật đi, quý vị hãy nương theo pháp niệm Phật đi, nhất định quý vị sẽ thoát vòng sanh tử luân hồi.Tại sao? Tại vì đại thệ của A-Di-Đà Phật sẵn sàng đón tiếp chúng ta về Tây Phương Cực Lạc để thành đạo. Các Ngài không đòi hỏi chúng ta điều gì cao siêu, chỉ đòi hỏi chúng ta Thanh Tịnh, Chân Thành,Buông Xthế gian ra. Nói thêm một câu chuyện, mất đi bao nhiêu phước đức. Niệm một câu A-Di-Đà Phật thêm biết bao nhiêu công đức. Phải đánh chết cái tập khí thế gian, quyết lòng không nói lỗi người khác, quyết lòng không nói chuyện đời, quyết lòng không nói người này xấu, người kia tốt. Để chúng ta đánh cho chết cái tập khí này đi. Vì không đánh chết tập khí này, thì A-Di-Đà Phật cứu ta không được.

Xin thưa với chư vị, ráng cố gắng, quyết lòng tới đây niệm Phật, tịnh khẩu. Rõ ràng đây là cơ hội cho chúng ta tiếp nhận quang minh của A-Di-Đà Phật. Giữ tâm ta trong câu A-Di-Đà Phật, nhất định trong một đời này, chúng ta về thẳng Tây Phương Cực Lạc để thành đạo!...

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 26

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Tịnh Khẩu Niệm Phật”. Tịnh: là tập cho trong tâm chúng ta thanh tịnh. Ba nghiệp Thân Khẩu Ý thanh tịnh. Bên ngoài tịnh nghĩa là buông xả ra, tịnh khẩu để cho chúng ta thanh tịnh. Bên trong và bên ngoài những gì không cần thiết, thì tập buông ra. Vì phàm phu tục tử tội chướng thâm trọng như chúng ta, con đường đọa lạc quá dễ dàng, nếu sơ ý một chút rơi vào trong tam ác đạo liền. Trong khi đó thì đối với con đường giải thoát chúng ta phải cẩn thận từng chút, từng chút, nếu không thì không kịp trở tay!...

Diệu Âm xin kể ra một câu chuyện có thực để chư vị nghiệm thử coi. Câu chuyện này hoàn toàn có thực, ở đời này chớ không phải là chuyện đời xưa. Vào cỡ tháng 6 năm 2004, có một bà Cụ ở Việt Nam, bà Cụ này bảy mươi mấy tuổi, là mẹ của một người bạn. Bà Cụ này bị bán thân bất toại nằm trên giường không đi được nữa đã sáu tháng qua rồi, tức là nằm để chờ chết. Người bạn tới hỏi tôi, bây giờ phải làm sao để cứu người Mẹ? Tôi mới nói là hãy về khuyên người Mẹ buông hết đi, thành tâm niệm Phật cầu vãng sanh, còn mình thì tìm cách tổ chức hộ niệm. Nhắc nhở bà Cụ niệm Phật, gọi là hộ niệm. Người bạn này về Việt Nam khuyên bà mẹ niệm Phật, thì bà Cụ nói rằng:

- Con cứ thử nghĩ đi, thằng em trai út của con chưa có vợ, chưa có việc làm, làm sao mà mẹ đành lòng tu hành đây?...

Người bạn đó khuyên hoài mà người mẹ nhứt định không chịu nghe theo. Bà cứ nói:

- Bây giờ nỡ nào mà Mẹ niệm Phật cho được trong khi người em của con còn khổ như vậy!

Thời gian khuyên qua khuyên lại như vậy bà mẹ cũng vẫn không niệm Phật. Khoảng bốn, năm tháng sau gì đó thì bà Cụ chết. Chết rồi, sau khi mai táng xong thì cái tấm hình của bà Cụ để thờ trên bàn tự nhiên rơi ra nước mắt. Tôi hỏi, nước mắt rơi ra từ khóe nào? Người bạn nói là rơi từ khóe ngoài. Tự nhiên cái khóe mắt trong tấm hình tự nó rơi nước ra lăn xuống má đọng lại một giọt nước. Ban đầu người ta tưởng là có người vô ý làm rơi nước. Nhưng không phải, tấm hình đó để trong khuôn kiếng, và nước vẫn cứ rịn ra liên tục ba ngày như vậy, chặm không khô. Chặm cái giọt nước này rồi lại rỉ ra giọt nước khác rồi lăn xuống má.

Người bạn đó cũng cầu siêu, làm nhiều việc lắm... Sau đó có một cái chuyện lạ lùng khác xảy ra. Khoảng chừng mấy tuần sau thì linh hồn của người mẹ đó ứng mộng về báo cho người con trai rằng, sáng mai hãy đến tại địa điểm đó để nhận việc làm, mẹ đã xin được việc cho con ở đó rồi. Người con đó thấy như vậy mới nói lại với người nhà, thì người nhà bàn rằng, chắc là mẹ hiển linh xin được việc làm thật đó, nên cứ theo lời mẹ đi. Người em trai mặc áo quần chỉnh tề, sáng ngày hôm sau tới tại địa điểm đó... Đúng như vậy, người con tới tại chỗ đó và người ta nhận cho anh làm việc.

Không biết là việc làm đó có tốt lắm không? Nhưng có việc làm thì gia đình cũng thấy yên tâm. Nhưng sau đó lại có thêm một hiện tượng khác xảy ra tiếp. Sau khi cúng thất 49 ngày xong rồi, thì chiều chiều khoảng chừng 5 - 6 giờ, tức là mặt trời vừa lặn, thì bà Cụ lại hiện thân về trước đầu hè của gia đình đó mà khóc! Người ta thấy được, các con cái đều thấy được bà Mẹ hiện về ngay tại đầu hè ngồi khóc. Người con của bà Cụ nghe nói vậy mới sợ quá! Sợ mất hồn! Thực sự là sợ quá! Mới tới tìm tôi và hỏi, làm sao để giải quyết vấn đề đây? Thực sự, là trong trường hợp đó tôi cũng không biết cách nào giải quyết. Tôi chỉ khuyên người bạn đó hãy mau mau trở về lại Việt Nam, lấy số tiền mà bà Cụ tích trữ được đem ra in kinh, ấn tống, in hình Phật, phóng sanh, làm tất cả những việc thiện lành, rồi hồi hướng thẳng cho hương linh của bà Cụ, và mỗi chiều niệm Phật xong, đứng trước bàn thờ của bà Cụ khai thị cho bà Cụ:

- Mẹ ơi! Mẹ đã bị đọa lạc rồi! Vì tình chấp không bỏ, nên Mẹ đã bị khốn khổ rồi! Bây giờ Mẹ trở về đây khóc than với tụi con, tụi con cũng không cứu được Mẹ. Chỉ có Mẹ ngộ ra, quyết lòng buông xả, thành tâm niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương. Con sẽ làm tất cả những việc thiện lành để hồi hướng cho Mẹ. Mẹ phải mau mau ngộ ra để tìm con đường giải thoát cho chính Mẹ.

Tôi khuyên đại khái như vậy. Tôi cũng khuyên người bạn hãy đến một tự viện nào đó, xin các Sư cầu siêu cho Mẹ mình thêm 49 ngày nữa, cứ tận sức mà làm chớ không biết cách nào hơn? Người bạn đó đã về Việt Nam và làm đúng như vậy. Sau đó người mẹ không về khóc nữa, còn vấn đề có giải thoát được hay không thì không dám nói. Khi trở lại Úc, người bạn đó đã đến biếu cho tôi một chồng hình Phật như thế này, và nói với tôi rằng:

- Đây là những việc tôi đã làm được. Tôi cúng dường những hình Phật này ở Việt Nam nhiều lắm, nay tôi đem tới đây gởi cho anh để anh đi phát cho người ta, hồi hướng công đức cho Mẹ tôi.

Sự việc đó có thật đã xảy ra vào khoảng giữa năm 2004.

Mình thấy đó, đã nằm trên giường bệnh trên nửa năm để chờ từng phút ra đi, thế mà tình chấp không buông xả được. Vì tình chấp không buông xả, nên khi chết đi, mới lặn lội kiếm cho người con một việc làm. Việc làm không biết như thế nào? Đến bây giờ người con đó không biết còn giữ được việc làm đó hay không? Không biết! Nhưng vì cái chấp này, người Mẹ đã bị nạn rồi! Sau 49 ngày mà hiện thân về trước đầu hè cho người ta thấy và khóc, thì chắc chắn bị khổ rồi! Địa ngục thì chắc không thể nào xuống được đâu, vì nếu đã rơi vào trong địa ngục, thì dễ gì ra được để báo cho người thân? Nếu mà lọt vào trong hàng bàng sanh súc vật thì cũng không về được nữa rồi, vì đã biến thành bốn cẳng chạy lăn quăn ở đâu đó rồi, nhưng đây không phải. Nếu mà đầu thai chuyển thế thành người cũng không thể nào trở lại được nữa.

Mình dùng cái phương pháp loại suy để tìm hiểu thì rõ ràng bà Cụ này đã rơi vào trong hàng quỷ đói. Kinh Phật chúng ta gọi là “Ngạ Quỷ”. Quý vị thấy không? Dễ sợ không? Người con đó có được việc làm đó, có đánh đổi được sự đọa lạc của người mẹ trong vạn kiếp ở hàng quỷ đói hay không? Khi mà rơi vào đó rồi dù có khóc, khóc cho một vạn đời đi nữa, nước mắt có biến thành biển đi nữa, cũng không giải quyết được gì cả! Trong cảnh giới của quỷ đói còn khổ nhiều hơn tiếng khóc đó nữa! Nó khổ đến nỗi mà khóc không còn ra lời nữa kìa, đừng có nói là ít... Tại vì sao? Vì đói quá rồi! Không nhà không cửa, lang thang, thường thường là tìm những cái cây để mà tấp vào đó, nương vào cái sức nóng của cây đó mà sống. Mà thực sự phải tìm cây nào xấu nhứt, dở nhứt, tệ nhứt chớ những cây tốt thì đã có người chiếm rồi, không dễ gì đâu ạ! Thường khi rơi vào tình trạng đó rồi, thì phải lang thang từ chỗ này đến chỗ nọ, không biết chỗ nào mà sống ổn định cả! Cảnh khổ như vậy đó!...

Người tu hành chúng ta hiểu được chỗ này rồi, phải biết sợ. Sợ gì? Sợ cảnh ngạ quỷ! Sợ cảnh bàng sanh! Sợ cảnh địa ngục! Dễ sợ lắm!...

Nếu người con mà nhìn thấy được cảnh người mẹ đó, thì người con mới giật mình.

- Trời ơi! Tại vì con chưa có việc làm, Mẹ vì con mà Mẹ bị đọa lạc vào cảnh ngạ quỷ, bây giờ làm sao đây?

Người con mà ngộ ra đạo lý này, thì ngày đêm lo tu hành, ngày đêm lo niệm Phật, để đem tất cả công đức hồi hướng cho Mẹ, cầu cho Mẹ vượt qua ách nạn. Nhưng xin hỏi, chắc gì người con ngộ được chuyện này?! Thấy thế, rõ ràng người con đã gián tiếp gây tội cho người Mẹ. Người Mẹ vì không biết buông xả, không biết đường thoát nạn, cứ chấp vào tình thức để bị nạn. Khi đã bị nạn rồi, thì làm sao còn có thể trở về nói rằng: “Conơi, thằngem traicủa con chưa có việclàm, thì nỡnào ta tu hành cho được!”.Mà chỉ hiện về ân hận, ngồi khóc mà thôi! Còn lời nào để nói nữa đây? Đau khổ vô cùng!

Khi nghe được mẫu chuyện này, ở đây có ai ngộ ra không? Ngộ ra đi, gọi là “Hồi đầu thị ngạn”, niệm câu A-Di-Đà Phật về Tây Phương thành đạo. Không ngộ ra, tiếp tục mê muội, mê muội này nó sẽ dẫn tới chỗ, nếu tránh khỏi địa ngục, thì cũng phải rơi vào ngạ quỷ! Nếu tránh được ngạ quỷ, thì nhất định phải là bàng sanh! Có những con chó sanh ra lạ lùng lắm, nó cứ chui vào trong nhà của mình, mình đá lăn cù ra, nó cũng lại chui vô. Con cái không biết, cứ tưởng đó là con chó của hàng xóm, lấy roi đánh nó ra, nhưng mà đánh nó, nó cũng chạy vào. Tại sao nó không chạy vào nhà hàng xóm mà cứ chạy vào nhà mình? Coi chừng người Mẹ mình đó mà không hay! Ở quê có nhiều người không biết đạo, thấy con chó vào trong nhà thì bắt nuôi luôn. Nuôi con chó không phải vì thương nó, mà vì con gái mình vừa mới sanh một đứa cháu ngoại, đứa cháu nó bỉnh ra đầy giường đầy chiếu không ai giải quyết. Thôi nuôi con chó để nó giải quyết giùm... Đau khổ vô cùng!

Chính vì vậy, khi nghe câu chuyện này, chúng ta phải biết giật mình. Tự mình cứu lấy mình. Hồi đầu đi. Tỉnh ngộ đi. Một câu A-Di-Đà Phật đi về Tây Phương, giải thoát cho mình, giải thoát cho tất cả dòng họ, bà con, cửu huyền thất tổ trong nhiều đời nhiều kiếp, cứu cho bà con thân thuộc trong vô lượng kiếp về sau. Xin chư vị chú ý.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 27

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Ta bây giờ còn đang sống, chưa có lâm chung!Cho nên ta hướng dẫn cho người trước khi lâm chung, tức là trong những ngày mà chúng ta chưa chết, chớ khi lâm chung rồi thì không dễ gì hướng dẫn được nữa đâu.

Chính vì thế, ta nói đây là đưa ra tất cả những kiến thức về hộ niệm cho vững vàng, để lúc lâm chung ta phải vui vẻ đi về Tây Phương Cực Lạc với Phật... Chớ đừng có sơ ý nói là... niệm Phật khi lâm chung... thì cứ đợi đến lúc sắp “Queo râu” rồi mới kêu A-Di-Đà Phật...

Mấy bài tọa đàm nói về “Hộ Niệm Là Pháp Tuđưa ra, thì có nhiều người vừa nghe nói Hộ Niệm Là Pháp Tu mới viết thư tới nói:

- Tôi đồng ý với anh Diệu Âm, là phải tu hành mới vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, chớ nghiệp chướng nặng quá như vầy mà cứ nằm đó chờ hộ niệm. Làm gì có chuyện hộ niệm vãng sanh? Hòa Thượng Tịnh-Không cũng nói khôngđược hộ niệm.

Nghe người ta nói như vậy, thì tôi mới trả lời:

- Nếu biết mình nghiệp chướng sâu nặng thì phải lo tu hành, khuyến tấn tu hành, đừng nằm đó chờ là đúng. Còn nói rằng Hòa Thượng Tịnh-Không bảo không được hộ niệm, thì xin lỗi tôi chưa nghe.Coi chừng hiểu lầm!...

Có nhiều người không tin rằng có thể vãng sanh, vì đưa ra vấn đề nghiệp chướng chúng ta lớn quá. Còn nghiệp chướng như vậy làm sao có thể vãng sanh? Dù cho trong kinh Phật nói về vãng sanh Tây Phương rất nhiều, nhưng họ vẫn không tin tưởng rằng với người nghiệp sâu tình nặng như thế này có thể được vãng sanh! Cho nên người ta nói làm gì có chuyện hộ niệm vãng sanh? Họ nghe từ đâu không biết, lại nói rằng, Hòa Thượng Tịnh-Không không cho hộ niệm! Tôi mới nói, đừng có nên hiểu lầm về Ngài. Ngài nói chỗ nào đâu? Trong đoạn nào đâu đưa ra coi?

Trong khi đó, thì cách đây cỡ bốn, năm tháng, có một vị ở bên Mỹ ngày đêm dịch một bài khai thị của Hòa Thượng Tịnh-Không với cái chủ đề là “Sự Kiện Quan Trọng Nhất Trong Đời NgườiBài khai thị đó Ngài dạy phải hộ niệm, và hộ niệm là điểm quan trọng nhứt.Tập sách đó dày cũng khoảng chừng hai mươi mấy ba mươi trang, cũng khá dày. Ấy thế mà ngày nay có người nói rằng làm gì có chuyện hộ niệm được vãng sanh? Họ đem việc này ra bài bác! Đây là một nỗi khó khăn! Thật sự, tôi thấy làm đạo cái gì cũng khó khăn hết, không có cái gì mà dễ dàng! Nói một lời cũng khó nữa, chớ đừng nói chi tới chuyện lớn!...

Nhiều người không chịu tin tưởng vào pháp hộ niệm, cứ đòi hỏi tu cho đến chứng đắc để được vãng sanh. Nói về lý đạo thì đúng, ta phải có công phu. Chứng tỏ mấy ngày hôm nay chúng ta cổ động chuyện lập công cứ, để công phu được tinh tấn hơn nữa. Tăng thêm ngày tu tinh tấn. Đúng! Nhưng vì không tin tưởng vào pháp hộ niệm, để trợ giúp tích cực cho người lâm chung vãng sanh, nên suốt cuộc đời của họ, hình như khi gặp một người Phật tử nào ra đi cũng im lìm lặng lẽ!... Không biết đi về đâu? Một người thân thuộc nào ra đi cũng im lìm lặng lẽ!... Mê man, bất tỉnh ra đi!... Không biết đi về đâu? Thậm chí, sau cùng coi chừng chính mình ra đi, bên canh không có một người nào hộ niệm cho mình. Tại vì sao? Tại vì trong suốt cuộc đời, mình không bao giờ giảng giải về phương pháp hộ niệm cho những người chung quanh!... Rồi mình ra đi cũng im lìm lặng lẽ!... Không biết đi về đâu?!!!...

Cái gì cũng có Nhân có Quả. Cái nhân mình gieo ra như thế nào, thì cái quả mình gặt lại như thế đó. Cái nhân mình gieo ra là truyền bá phương pháp hộ niệm, thì cái quả là khi mình nằm xuống, mình cũng được những người chung quanh tới hộ niệm cho mình.

Xin thưa thật, nói về “Khế Lý, thì muốn nói sao nói, muốn lý luận sao cũng được. Vì nói về thì không thể không hay. Nhưng mà “Khế Cơ”, là hợp căn cơ, thì nói làm chi những “Lý Luận” cao siêu mà ngay cả chính mình chưa chắc gì thực hiện được, thì làm sao những người chung quanh có thể thực hiện được? Thực hiện không được, mà tham vào đó thì thường dễ đưa đến tình trạng gọi là Vọng Tưởng!...

Để biết được phương pháp hộ niệm quan trọng như thế nào, thì chúng ta nên đọc quyển sách đó: Sự Kiện Quan Trọng Nhất Trong Đời Ngườichính ngài Tịnh-Không giảng hơn một tiếng đồng hồ. Ngài dặn là phải niệm Phật, phải hộ niệm cho người ta. Ngài chỉ từng chút, từng chút, căn bản, rất rõ ràng. Và cũng để biết phương pháp hộ niệm quan trọng như thế nào, thì ở Tịnh-Tông-Học-Hội lúc nào người ta cũng lập ban hộ niệm rất là cẩn thận, và nhứt là Tịnh-Tông-Học-Hội tại Úc Châu này, cứ mỗi lần ngài Ngộ-Hạnh, là vị Pháp Sư rất uy tín, khi Ngài về Tịnh-Tông thì phiên họp đầu tiên thường là Ngài họp ban hộ niệm. Hễ cứ về là kêu ban hộ niệm họp. Chính tôi đã làm việc trong đó bảy, tám năm. Ngài giảng rất kỹ và Ngài còn viết những lời khai thị mẫu, cho những người hộ niệm đọc để thâm nhập vào tâm. Điều này chứng tỏ các Ngài chú trọng về pháp hộ niệm kỹ lắm.

Ví dụ như ở Việt Nam, có những người họ tu hành đâu có nhiều, nhưng mà nhờ thiện căn phước đức của họ trong quá khứ nó dồn lại, nên gặp cái duyên hộ niệm này mà người ta vãng sanh bất khả tư nghì. Xin thưa rằng, trước đây vài chục năm có nhiều người có được thiện căn phước đức không? Có chứ, làm gì không!... Chắc chắn! Con người tiếp tục sinh, năm nào cũng sinh, càng ngày càng tăng lên. Thời nào cũng có những người có thiện căn phước đức, thời nào cũng có những người tạo ra nghiệp chướng hết. Thế mà những người có thiện căn phước đức trước kia tại sao họ không vãng sanh? Phải chăng vì họ không gặp được cái duyên hộ niệm. Không gặp cái duyên có người chỉ điểm cho họ phải làm như thế nào để được vãng sanh!...

Thường thường khi lâm chung ta có thể thấy Cha, thấy Mẹ, thấy Ông, thấy Bà tới...Có nhiều người đi khoe ra:

- Ông Bà của tôi đã được đắc đạo rồi. Bây giờ Ông Bà tôi về đây để dạy dỗ tôi, để chuẩn bị tiếp dẫn tôi....

Người ta mừng như vậy đó. Thì người biết hộ niệm người ta đã hiểu rõ rồi...

- Không phải đâu chị ơi!... Không phải đâu anh ơi!...

Vì người ta biết là không phải, nên người ta mới nói:

- Anh ơi! Lo niệm Phật đi và hồi hướng công đức cho họ. Hãy chắp tay lại thưa với chư vị đó, là tôi với chư vị không biết duyên như thế nào? Nếu mà tôi làm lỗi lầm với chư vị, thì bây giờ tôi xin thành tâm sám hối. Xin chư vị hộ pháp cho tôi, hộ niệm cho tôi, tôi niệm Phật tôi đem công đức niệm Phật của tôi hồi hướng cho chư vị, để chúng ta cùng về Tây Phương, chứ nếu chư vị đến với tôi, tôi cũng không cứu được...

Nhờ như vậy mà người thấy đó mới giật mình tỉnh ngộ, người ta mới chắp tay lại thành tâm niệm Phật. Trước đó cũng có những người thấy như vậy, nhưng vì không ai giảng giải cho họ biết sự thật, lại còn xúi họ:

- Đúng rồi đó, đi theo ông bà đi!...

Nhiều người đứng trước bàn thờ ông bà thường khấn vái như vầy:

- Ngày nay là ngày giỗ của Cha Mẹ, xin Cha Mẹ linh hiển về đây cứu độ con!...

Càng khấn nguyện chừng nào thì Cha Mẹ, những người thân đã chết của mình càng về nhiều để cứu độ mình! Nhưng xin thưa thực, khi mình biết được pháp hộ niệm rồi, quý vị phải dặn dò cho rõ ràng:

- Khi lâm chung chỉ đi theo A-Di-Đà Phật, không được đi theo bất cứ một người nào.

Được sự hướng dẫn này là vì phước phần của những người trong giai đoạn này, nhờ có duyên hộ niệm mà người ta chỉ cho thấy con đường vãng sanh, tránh đường lầm lạc. Thế thì tại sao có người nói rằng hộ niệm không quan trọng?

Bây giờ đây mình tu hành, có những người nghĩ rằng mình sẽ chứng đắc để được này, được nọ. Có những người niệm Phật được một tuần, nghe được âm vang A-Di-Đà Phật từ trong tâm phát ra(?). Từ chỗ nào nó phát ra và hô hoán lên rằng tôi đã chứng đắc rồi, tôi đã nghe được âm thanh của chơn tâm tự tánh rồi (?). Xin thưa thực, nói về lý đạo, thì chơn tâm tự tánh chúng ta là Phật. Là Phật thì tự niệm Phật. Là Phật thì tự nhiên có tất cả. Nhưng đó là nói về Lý mà thôi, (nghĩa là “Lý Tức Phật”). Chớ còn có “Danh Tự Tức Phật”, còn có “Quán Hạnh Tức Phật”, còn có “Tương Tự Tức Phật”, v.v... mình chưa đạt được. Ngay cái chuyện “Thập Thiện” đơn giản kia mà mình cũng chưa làm được... thì nói chi những chuyện xa vời! Nghĩa là cái chơn tâm tự tánh của mình đang chìm trong trùng trùng lớp lớp của những gì đen tối nhứt. Thế mà mới niệm có năm, bảy ngày thì ra tuyên bố:

- Tôi niệm Phật đãđược nhất tâm bất loạn rồi!

Nếu như những người này may mắn gặp được ban hộ niệm, họ sẽ chỉ dẫn cho:

- Anh ơi! Ngài Ấn Quang Đại Sư nói rằng, phải lo nhiếp cái tâm lại, thành tâm niệm Phật, thì anh sẽ được thiện lợi. Nếu anh mở cái tâm tâm ra, anh hồ hởi lên... thì Ngài nói, Thắng Cảnhđó sẽ biến thành Ma Sựngay lập tức!...

Ai dạy cho những người đó biết vậy? Chính là những người hộ niệm. Người ta biết được những chuyện đó. Cho nên chúng ta ở đây hô hào với nhau, là quyết lòng tinh tấn hơn nữa, nhưng càng tinh tấn phải càng khiêm nhường. Có khiêm nhường mình mới cảm thông được với chư vị oan gia trái chủ, và sau cùng mình mới cảm thông được với chư đại Bồ-Tát và cảm thông được với A-Di-Đà Phật, chư đại Thánh-Chúng ứng ra gia trì cho mình. Chớ đừng có bao giờ sơ ý, cho rằng chứng đắc này, chứng đắc nọ, nhất là trong thời kỳ này đức Phật đã nói rõ rệt: “Vạn ức người tuhành khó tìm ra một người chứng đắc”.Không dễ gì có người niệm Phật năm ngày, mười ngày là được chứng đắc? Có người niệm hai tháng, ba tháng là chứng đắc? Không có bao giờ có chuyện đó đâu ạ! Nếu mà có như vậy thì chư Tổ đã dạy cho mình rồi.

Ngài Ấn-Quang Đại Sư không bao giờ dạy cho ai phải nhất tâm bất loạn. Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói... Tín tâm cho thật vững, Nguyện cho thật tha thiết, thì dù có loạn tâm niệm Phật cũng được vãng sanh. Nếu mà không chịu Nguyện vãng sanh, Tín tâm mình không vững, thấy gì cũng chao đảo... dù niệm Phật cho đến “Nhất tâm bất loạn(!)” cũng không được vãng sanh”.

Các Ngài nói giống giống nhau hết, là để nhắc nhở cho những người phàm phu như chúng ta:

- Luôn luôn khiêm nhường,

- Luôn luôn kính cẩn,

- Luôn luôn giữ niềm tin cho vững. Cứ như vậy mà đi...

Rồi sau cùng, ban hộ niệm này sẽ hộ niệm, sẽ nhắc nhở. Tất cả những kiến thức ta đã biết hết, nên ta vãng sanh Bất Khả Tư Nghì.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 28

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Mới đây có được tin bên New Zealand, một nước sát bên chúng ta bị động đất. Nghe nói cũng khá nặng nề! Thế giới này “Vô An”! Càng ngày những tai nạn này càng nhiều. Thấy như vậy thì nhắc nhở cho chúng ta phải cố gắng tinh tấn niệm Phật.

- Một là hồi hướng cho pháp giới chúng sanh, cầu tiêu tai giải nạn.

- Hai là cầu cho chính mình, sau khi xả bỏ báo thân này đừng có lọt lại đây làm chi nữa...

Những thiên tai, họa hại này rất là kinh khủng! Muốn vãng sanh về Tây Phương thì chúng ta cần phải cố gắng tinh tấn tu hành. Bên cạnh cũng cần phải nghiên cứu cho tường tận phương pháp hộ niệm. Nói chung, chúng ta cần nên lịch lãm cái phương pháp này, nhờ đó chúng ta sẽ giải được rất nhiều ách nạn cho chính mình và cho đồng tu. Vì vậy, khi gặp một ca hộ niệm, một người cần hộ niệm, thì chúng ta nên tham gia. Hay lắm! Cứ tham gia nhiều lần đi, tự nhiên sau cùng khả năng hộ niệm của chúng ta sẽ có hiệu quả.

Hôm trước một người em của tôi dẫn một nhóm hộ niệm ở trên Gia-Lai, Đăk-Lăk về đạo tràng của bà Mẹ tôi để niệm Phật trong hai ngày tu tinh tấn. Những người em của tôi là những trưởng ban hộ niệm, bây giờ chúng nó hộ niệm rất vững vàng. Trước kia thì tôi hướng dẫn chúng nó hộ niệm, nhưng bây giờ hình như tụi nó hộ niệm còn vững vàng hơn anh Năm của nó. Em gái cũng vậy, em trai cũng vậy. Những người trong làng, những người em con người Cô... hầu hết đều là trưởng ban hộ niệm, một khi Mẹ già của Diệu Âm yếu thì tất cả những người đó đều hứa sẽ về hộ niệm. Ngay những ban hộ niệm ở các xã chung quanh đó cũng hứa rằng:

- Anh Diệu Âm ơi! Đừng lo. Nhất định tôi sẽ tới hộ niệm cho bà Cụ...

Nghe vậy mà tôi cảm thấy an lòng! Rất là an lòng! Bà Mẹ của Diệu Âm cũng biết hộ niệm rồi, vì chính bà Cụ là người ngồi bên cạnh Cha tôi niệm Phật cho đến khi ông Cụ tắt hơi ra đi. Trải qua một kinh nghiệm như vậy, thì rõ ràng rằng bà Cụ cũng biết hộ niệm.

Mình thấy lợi ích của sự hộ niệm thật là bất khả tư nghì! Giả sử như trước đây Diệu Âm không phổ biến phương pháp hộ niệm này, nghĩa là chỉ lo tu cho chính mình, không chú ý tới chuyện hộ niệm, thì chắc chắn rằng ngày người Cha của Diệu Âm khi ra đi đã không cứu được, vì một người không có kiến thức về hộ niệm thì không thể hướng dẫn được người bệnh con đường vãng sanh!...

Ấy thế mà bây giờ những người ở Việt-Nam họ rất lịch lãm về phương pháp hộ niệm. Chị Diệu Thường, một trưởng ban hộ niệm ở chùa Hoằng Pháp, là người đầu tiên học cái phương pháp hộ niệm này. Ngay trong lúc đang học thì chị đã cứu được một người, đó là bà Bùi Thị Gái ở tại Quận 7. Người thứ hai là chị Thu Hương ở Đà-Nẵng, chị quyết tâm học phương pháp hộ niệm. Chị đã học từ Đà-Nẵng, theo vô tới Sài-Gòn, theo lên tới Bình-Dương để cố tình học cho được phương pháp hộ niệm. Học xong rồi về áp dụng liền. Diệu Âm lúc đó chưa kịp qua tới Úc thì chị đã báo cáo: “Tôi đã hộ niệm được một người vãng sanh rồi”... Vi diệu quá! Không tưởng tượng được!

Thật sự ở Việt Nam có nhiều người phát tâm, thấy đó mà mình cảm động vô cùng!

Có một anh ở ngoài Quảng-Ninh, vào năm 2006 khi Diệu Âm về Hải-Phòng nói chuyện ở một đạo tràng về pháp hộ niệm, thì anh ở Quảng-Ninh tới nghe. Nghe rồi thì về anh lập ban hộ niệm. Ảnh kéo cả một đại gia đình của anh vào ban hộ niệm. Ảnh hộ niệm luôn... hình như bốn, năm tháng gì đó, mà không có ca nào được kết quả hết. Ảnh tự hỏi, “Ủa tại sao kỳ vậy”?... Lạ lùng! Anh mới kéo luôn cả một nhóm hộ niệm của ảnh đi vào Đà-Nẵng học nghề với chị Thu Hương. Anh học đến một tháng rưỡi, đi hộ niệm chung với chị Thu Hương. Khi anh nắm vững những nguyên tắc hộ niệm rồi, anh quay trở về Quảng-Ninh. Sau đó, hình như là năm 2007, khi Diệu Âm về thì phái đoàn của ảnh đi theo Diệu Âm tới ba chiếc xe bus, mỗi chiếc chở tới năm, sáu chục người... Anh nói:

- Khi cháu học xong rồi, chú Diệu Âm ơi! Cháu hộ niệm luôn hai mươi sáu ca, không có ca nào mà không vãng sanh hết...

Quý vị thấy không?... Nó có những sự tế nhị trong đó. Hồi giờ anh nghiên cứu trong sách vở, anh cứ nghiên cứu như vậy... như vậy... rồi đem ra áp dụng. Áp dụng đâu trật đó! Áp dụng đâu trật đó! Đến khi theo chị Thu Hương học, chị Thu Hương huấn luyện cho anh bằng cách dẫn nhóm của anh theo hộ niệm, ngồi đó mà nghe, có những lúc bắt anh lên khai thị. Ấy thế mà qua một tháng rưỡi về... Anh hộ niệm hai mươi sáu ca liên tục, không có một ca nào mà không có cái thoại tướng tốt.

Thực sự, pháp hộ niệm thấy đơn giản, nhưng thực tế có những điều nhạy bén trong đó mà người ta không hay. Khi hướng dẫn cho mấy đứa em của Diệu Âm hộ niệm. Mắc cười lắm! Tụi nó khai thị hướng dẫn dở quá! Cũng bị la. Khai thị cho người bệnh mà cứng ngắc, coi như nghiêm quá! Cũng bị la. Nói lớn quá! Cũng bị la. Nói nhỏ quá! Cũng bị la... Thật ra là để chú ý rằng, cách khai thị hướng dẫn quan trọng vô cùng. Đi hộ niệm mà sơ ý chuyện này, thì hộ niệm hoài cũng không bao giờ có người được vãng sanh hết. Ví dụ, đối với người lãng tai mà mình nói nhỏ quá thì làm sao người ta nghe? Cho nên nói nhỏ quá, bị la. Còn những người lỗ tai thông mà mình nói lớn quá, giống như hét người ta, thì sao lại không la? Cho nên, điều nào cũng bị la hết! Có nhiều lúc đùa giỡn quá đáng, thì cũng phải la chứ! Biết được điều này, thì người hộ niệm cần phải biết uyển chuyển. Sau những trận la như vậy, bây giờ mấy người em biết hết trơn rồi, vững tâm hết trơn rồi, nên hộ niệm hay vô cùng!...

Có nhiều người nghĩ rằng, hộ niệm chỉ là điều thứ yếu, không quan trọng!... Thì xin thưa rằng, coi chừng nhiều khi suốt cuộc đời của họ không cứu được một người, ngay cả những người sát bên cạnh!... Giờ đây lý luận, giảng giải... thì hay lắm! Mà thực tế thì không cứu được ai!

Họ coi thường pháp hộ niệm? Vì phải chăng trong suốt cuộc đời của họ chưa từng trải qua một lần hộ niệm nào? Nếu có trải qua một lần hộ niệm đi nữa, thì có lẽ lần hộ niệm đó là lần thất bại! Tại vì sao? Vì không chịu học hỏi trước! Không chịu nghiên cứu trước! Khi đi hộ niệm thì hộ niệm với tinh thần “Vạn bất đắc dĩ!... Chính vì lòng tin không có, nên khi ở trước bệnh nhân họ niệm thử! Họ niệm chơi! Họ giả đò khai thị!... Không có tâm chân thành!...

Người không có tâm chân thành thì không có cảm ứng. Họ cũng làm dáng chắp tay lại nói: “Nam Mô A-Di-Đà Phật... Nguyện A-Di-Đà phật phóng quang tiếp độ cho bà này...”, nhưng thật sự tâm của họ không tin! Lòng không tin thì không có “Cảm”! Cảm không có, thì không có tương ứng với đại nguyện của đức A-Di-Đà, thành ra không có “Ứng”. Không Cảm thì không Ứng!.

Chính vì vậy, những lời niệm Phật của họ nó trôi... trôi... trôi trong không gian như trò chơi thôi!...

Xin thưa rằng, một người đứng trước người bệnhkhuyên họ niệm Phật...

- Màlòng mình chân thành.

- Mà lòng mình tha thiết.

- Mà lòng mình thèm muốn cho người đó vãng sanh.

- Mình tha thiết cứu người.

Thì tự nhiên trong âm hưởng đó làm cho người bệnh cảm động, làm cho người bệnh tin tưởng, tự nhiên người bệnh thành tâm niệm Phật theo. Đây là sự thật.

Có nhiều người cứ nói rằng, tu hành mới là chính, làm gì có chuyện hộ niệm vãng sanh? Họ thường mơ tìm những cơ hội chứng đắc. Điều này cũng đúng đấy. Chúng ta cần phải tu hành, cũng như chúng ta đang hô hào phải cố gắng niệm Phật cho nhiều, niệm Phật cho thành tâm. Chúng ta niệm Phật 365 ngày một năm, mà còn phải thêm những ngày tinh tấn nữa để giải bớt ách nạn. Nhưng nếu lơ là, khinh thường việc hộ niệm, thì coi chừng đến ngày chính người Cha của mình ra đi, mình sẽ lúng túng không biết cách nào cứu đó!...

Trong những ngày qua có nhiều người gặp tôi than thở và hỏi rằng:

- Anh Diệu Âm ơi! Làm sao giới thiệu cho tôi một ban hộ niệm?

Thật sự... một người xa lạ tới gặp một ban hộ niệm... Muốn giới thiệu cho họ, mà chính người nhà của họ không tin, chính người nhà không chịu tham dự, thì làm sao những người hộ niệm đó có thể hộ niệm cho người nhà của họ được?...

Phải nói người nhà của mình tới tham gia với ban hộ niệm. Người nhà phải tới hỏi han ban hộ niệm. Để chi vậy? Để kết duyên với họ. Để họ có dịp điều tra thử... Bà này còn bị kẹt chỗ nào? Bà này bị vướng những cái gì? Được vậy họ mới tìm cách hóa giải ra. Trong lúc giảng giải, thì họ lại có thêm những lời khuyên khác. Khuyên một lần không nghe thì họ khuyên hai lần, khuyên ba lần... Khéo léo khuyên nhiều lần khiến cho người bệnh cảm động. Nhờ thế người bệnh mới bắt đầu hạ quyết tâm niệm Phật. Chứ còn khơi khơi tới kêu ban hộ niệm, thì ban hộ niệm làm sao biết được gia đình mình như thế nào? Người bệnh như thế nào?...

Người hộ niệm rất cần gặp gia đình để tìm hiểu về:

- Có đứa em nào, có đứa cháu nào ngỗ nghịch hay không?

- Bà Cụ này có quyến luyến chồng lắm không?

- Ông Bác này có thương đứa con gái lắm hay không?

- Ông Cụ này có lo lắng cái nhà hay không?

- Có thích giữ tiền bạc hay không?...v.v… và v.v…

Nếu người hộ niệm hoàn toàn không biết gì cả, thì làm sao có thể điều giải được? Làm sao có thể gỡ ra được? Chính vì vậy, khi nghe biết những chuyện này rồi, chúng ta hãy đi hộ niệm. Tôi nghĩ rằng, chắc chắn chư vị sau này sẽ là những người hộ niệm rất tài. Rất là tài! Cũng như ở Việt Nam, đầu tiên họ hộ niệm hai ca, ba ca, năm ca đầu... thường thường không có kết quả tốt! Nhưng sau những lần hộ niệm thất bại đó, họ mới bắt đầu tìm tới những người có kinh nghiệm để hỏi:

- Tại sao chị hộ niệm giỏi vậy?...

-À! Thì đến đây đi hộ niệm chung với tôi...

Khi đi hộ niệm chung với nhau, thì tự thấy có điều khác liền.

Trong thời gian Cha của tôi sắp ra đi, có nhiều người tới hộ niệm. Tôi thường thầm để ý đến những người mà tôi nghĩ họ có năng khiếu hộ niệm ngon lành!... Khi thấy người đó tới, thì tôi không đứng ra “Khai Thị” cho Ông già đâu, mà tôi mời:

-Chị ơi! Chị tới khai thị cho Ông Già đi.

-Anh ơi! Anh lên khai thị giùm cho Ông Già đi.

Tôi muốn tập cho người ta khai thị. Tôi lấy ông Già của mình làm người mẫu để họ thực tập hộ niệm. Chính vì mấy đứa em tôi được hộ niệm cho ông Già, chính những người được hộ niệm cho ông Già tôi, một thời gian sau đó họ hộ niệm hay vô cùng!...

Tình thực, bây giờ ở Việt Nam có những ban hộ niệm người ta hộ niệm trên một trăm người vãng sanh... Vững vàng! Mỗi khi tôi về thì người ta cứ kêu, “Anh Diệu Âm ơi! Đi... đi cứu độ...”. Tức là họ cầu cứu tôi! Nhưng mà thực ra là tôi tới đó để âm thầm học hỏi ở họ. Họ hộ niệm còn giỏi hơn tôi nhiều. Tôi hộ niệm được hai, ba, bốn tiếng đồng hồ thì khan tiếng, đành đi về, chịu không nổi! Trong khi đó, có người ngồi hộ niệm suốt đêm. Có những bà Cụ bảy, tám mươi tuổi mà ngồi từ đầu đêm cho tới cuối đêm để hộ niệm. Nếu có cuộc hộ niệm nào không kêu tới bà thì bà buồn. Hộ niệm xong, sáng ra bà còn bưng cái rổ bánh ít đi rao bán ngoài đường phố. Vậy đó! Thế mà Cụ cứ ngồi từ đầu đêm cho đến cuối đêm để hộ niệm cho người bệnh mà không bao giờ biết mệt!...

Hộ niệm vi diệu quá! Khi chính mắt thấy được những hiện tượng vãng sanh, thì niềm tin của người ta đã phát khởi mạnh mẽ. Vậy thì chúng ta nên phát tín tâm mạnh mẽ lên, đừng chao đảo. Quyết lòng niệm Phật cho chân thành, thành tâm đi hộ niệm cho người ta. Cứ tham dự đi, cứ mạnh dạn nói chuyện với người bệnh đi, một, hai lần đầu mình có thể bị vấp, nhưng sau đó mình sẽ là những chuyên gia hộ niệm cứu độ chúng sanh đi về Tây Phương, rồi mình cũng thành đạo luôn.

A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 29

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Chúng tôi ở đây có một tờ giấy in ra từ một trang web chỉ cách hướng dẫn gia đình hộ niệm của ban hộ niệm Hoa-Sen ngoài Đà-Nẵng. Hay lắm! Chúng tôi sẽ in ra và để trong hộp phía trước, chư vị có thể lấy về để nghiên cứu, trong đó có những điều rất cụ thể. Càng cụ thể chừng nào thì chúng ta càng biết rõ rệt để đi hộ niệm cho những người bệnh và đồng tu vãng sanh.

Trở lại chủ đề của chúng ta trong mấy ngày hôm nay: “Hộ Niệm: Khế Lý - Khế Cơ.

Khế Lý” chính là câu A-Di-Đà Phật. Vì “Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”. Niệm Phật, chúng ta thành Phật luôn.Lý đạo này quá nhiệm mầu! Sâu thăm thẳm! Cao vời vợi! Không ai có thể giải thích được viên mãn! Đức Thế Tôn thường hay dùng câu: Bất Khả Tư Nghì”!Chư Tổ nói, bất khả tư nghì, là không thể nào có thể bàn luận được. Bàn luận là sai! Bàn luận sẽ không đi tới đâu hết. Trong kinh Hoa-Nghiêm, Phật nói: Duy Phật dữ Phật phương năng cứu cánh”,là nói cho câu A-Di-Đà Phật. Có nghĩa là chỉ có Phật với Phật mới biết được cái vi diệu của câu A-Di-Đà Phật mà thôi. Chính chư vị đại Bồ-Tát cũng không hiểu được, các vị Bồ-Tát còn phải lấy lòng tin mà niệm Phật để về Tây Phương Cực Lạc.

Nhắc nhở như vậy để củng cố thêm niềm tin của chúng ta thật vững vàng, đừng nên hồ nghi. Chỉ cần một chút hồ nghi thôi thì vô tình công phu chúng ta tu hành nhiều khi bị lạc mất, và sau cùng không vãng sanh được. Đây là một điều hết sức là oan uổng!...

Nói về Khế Cơtức là ta phải tìm một phương pháp nào thật hợp với căn cơ của chính mình để được thành tựu. Nếu sơ ý, chúng ta đi vượt qua khỏi căn cơ của mình thì chịu thua, không cách nào có thể giúp ích nhau được! Trong đó, pháp hộ niệm rất hợp với căn cơ của chúng ta. Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn thì pháp niệm Phật là Tam căn phổ bị, phàm thánh tề thâu. ba hạng Thượng, Trung, Hạ đều có phần. Chúng ta là đại hạ căn đi nữa cũng được câu A-Di-Đà Phật gia bị. Người phàm cũng dùng câu A-Di-Đà Phật để thành Phật. Thánh nhân cũng dùng câu A-Di-Đà Phật để thành Phật, gọi là “Tề Thâu”, “Bình Đẳng”. Hay chính là ở chỗ bình đẳng này. Phàm Thánh tề thâu, chư đại Bồ-Tát và phàm nhân đều được bình đẳng vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Điều này hay lắm! Tuyệt vời lắm!...

Tu theo pháp niệm Phật thì chắc chắn là mình chọn lựa không sai. Nhưng bên cạnh đó, cái pháp hộ niệm còn thấp hơn nữa, còn cụ thể hơn nữa. Vì trước những người bệnh sắp sửa rời bỏ báo thân, mình nhắc nhở họ, mình dụ dỗ họ để họ phát tâm niệm được câu A-Di-Đà Phật, họ tin tưởng vững vàng và họ tha thiết muốn vãng sanh. Làm sao giúp cho người đó có được cái tâm này:

- Nam Mô A-Di-Đà Phật cho con đi liền hôm nay...

- Nam Mô A-Di-Đà Phật con quyết lòng đi về Tây Phương...

Chỉ vậy mà thôi! Tức là làm sao ba điểm Tín-Nguyện-Hạnh này cho vững vàng trong tâm người bệnh, thì họ vãng sanh về Tây Phương. Đây là một chuyện mà xin thưa thật...

- Không cách nào có thể hiểu được!

- Không cách nào có thể bàn được!

- Gọi là “Bất Khả Tư Nghì!”...

Đây chính là sự gia trì của A-Di-Đà Phật. Chính là đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật.

Làm sao một người trước những giây phút ra đi niệm được câu A-Di-Đà Phật. Niệm thành tâm chứ không phải niệm giỡn. Phát nguyện vãng sanh tha thiết. Phải phát nguyện vãng sanh, nhất định đừng có chen cái nguyện nào khác trong lúc sắp sửa buông xả báo thân và có niềm tin vững vàng thì A-Di-Đà Phật sẽ đến tiếp độ. Chỉ ba điểm này thôi xuất hiện ngay trong thời điểm đó, thì người đó được vãng sanh. Cho nên tất cả những gì mà hổm nay chúng ta nói, tất cả những điều chúng ta cộng tu ở đây... đều chuẩn bị cho cái giây phút đó hết.

Nói về Khế Cơthì liên quan rất nhiều đến những gút mắc, những nghi vấn trong lòng, liên quan đến pháp vãng sanh, pháp hộ niệm, pháp niệm Phật. Thì trong giai đoạn này, xin chư vị nào có câu hỏi nên viết ra rồi để vào hộp ý kiến. Chúng ta sẽ cố gắng mổ xẻ càng sâu. Nếu có những thắc mắc chứa chấp trong lòng không thố lộ ra, thì nhiều khi chúng ta cứ đắm vào đó mà có thể bị trở ngại. Ví dụ như hôm qua, khi ở trên xe anh Hai có hỏi một câu mà làm tôi ngộ! Anh hỏi, có phải mười hai lạy là liên quan đến “Thập-Nhị-Nhân-Duyên” không? Mười hai là thập nhị đó! Câu hỏi này rất là hay!

Chính những nghi vấn này mình nên khui ra. Nhiều khi có những vấn đề mình hiểu rồi, nhưng cũng nên hỏi ra, vì biết rằng còn có người chưa hiểu!

Thì xin thưa rằng, mười hai lạy đó không phải là “Thập-Nhị-Nhân-Duyên”. Thập-Nhị-Nhân-Duyên là pháp quán của các vị Bích-Chi-Phật trong hàng nhị thừa. Thanh-Văn, Duyên-Giác, Bích-Chi-Phật và thường thường các ngài Bích-Chi-Phật tu theo cái pháp đó. Còn ở đây thì chúng ta tu pháp niệm Phật để đi về Tây Phương. Hai đường đi, hai chứng đắc khác nhau. Bích-Chi-Phật, Thanh-Văn, Duyên-Giác Gọi chung là A-La-Hán, thường thường các Ngài tu về Thiền Định để tự vượt qua Tam-Giới. Đối với pháp Niệm Phật mà nói, thì các vị đó đã chứng tới chỗ gọi là Vị Bất Thối. “Vị” tức là “Phàm Phu Vị”, các Ngài đã vượt qua Phàm Phu Vị.

Còn chúng ta tu đây là tu theo Bồ-Tát-Thừa, tiến thẳng đến Phật-Thừa luôn. Pháp Niệm Phật được gọi là “Nhất-Thừa Thật-Tướng”. Lạ lắm chư vị! Tu thì dễ mà chứng đắc thì cao! Chứng đắc tới cảnh giới Phật luôn. Khi về Tây Phương Cực Lạc thì đầu tiên chúng ta thành Bồ-Tát Bất-Thối trước. Bồ-Tát Bất-Thối nếu so sánh ra thì... lạ lắm! (Những lý đạo này cao quá, mình nên hiểu sơ như vậy thôi). So sánh ra, năng lực của họ cao tới cỡ Thất-Địa, Bát-Địa Bồ-Tát. Tức là, những vị A-La-Hán còn kém họ rất là xa. Những vị Sơ-Trụ Bồ-Tát, tức là khởi đầu của hàng Pháp-Thân Đại-Sĩ trên cảnh Hoa-Nghiêm rồi vẫn còn thua họ tới ba mươi sáu bậc “Sanh Tướng Vô Minh” cơ. Thật là Bất Khả Tư Nghì!Hòa Thượng Tịnh Không giảng, từ Sơ-Trụ mà muốn tu cho tới chỗ đó phải tu tới hai đại A-Tăng-Kỳ kiếp, trong khi đó thì mình ở đây vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, như là hạng thấp tẹt của mình, thì có thể nhiều lắm là mười hai kiếp, mười hai kiếp mình có thể đạt được Tam-Bất-Thối. (Tức là ba bậc bất thối). Điều này cao quá! Chúng tôi không dám nói sâu hơn nữa. Chỉ xin chư vị hãy phát lòng tin tưởng cho vững vàng là được rồi.

Trong thân phàm phu tục tử bệnh hoạn như thế này, mà mình phát khởi niềm tin vững vàng, niệm câu A-Di-Đà Phật, thì trong kinh Phật nói rằng, trong vô lượng kiếp về trước ta có thiện căn phước đức cúng dường tới vô biên ức đức Phật Như-Lai rồi mới có hiện tượng này, chứ không phải dễ gì đâu! Lạ lắm!Nên nhớ, có những vị Bồ-Tát khi gặp câu A-Di-Đà Phật cũng không tin. Thế mà nếu quý vị phát tâm tin tưởng vững vàng thì chứng tỏ công đức thiện căn trong quá khứ của quý vị đã bất khả tư nghì rồi. Chính nhờ cái thiện căn bất khả tư nghì đó, nên trong một đời này chỉ tu như vậy, nhiều khi một phẩm chấp trước không phá nổi, nhưng lại vượt về được tới Tây Phương Cực Lạc để đạt được cái năng lực như vậy.

Trở về vấn đề mười hai lạy. Phương pháp tu niệm Phật của chư Tổ trong Tịnh-Độ-Tông để lại hay lắm, đơn giản lắm. Ví dụ như mình dùng pháp này để tu. Chúng ta thấy có những lúc đi kinh hành, có những lúc ngồi, có những lúc khai thị, có những lúc thư giãn để xoa bóp, rồi có những lúc lạy Phật để cho thân thể của chúng ta được điều hòa, làm cho ba giờ cộng tu hay cả ngày niệm Phật giống như trải qua chỉ có mấy tiếng đồng hồ. Nếu không có phương pháp này, mình tu một ngày không nổi. Thế mà nhờ pháp tu này, làm cho mình hình như là một ngày, hai ngày, ba ngày tu hành trôi qua một cách đơn giản dễ dàng. Nhờ vậy mà chúng ta dễ nhiếp tâm niệm Phật... Bất khả tư nghì!...

Thì pháp lạy mười hai lạy, là khi chúng ta lạy thì luôn luôn hướng về Tây Phương Cực Lạc. Quý vị hãy nhìn lên bàn thờ, có ba vị là: A-Di-Đà Phật, Quán-Âm, Thế-Chí, mỗi vị ta đảnh lễ Ngài ba lạy. Như vậy ba vị ta đảnh lễ chín lễ. Bên cạnh đó có một câu là: “Hòa-Nam Thánh-Chúng”. Chư Thánh-Chúng trên cõi Tây Phương chúng ta sẽ hội nhập với các Ngài. Bây giờ chúng ta đảnh lễ chung các Ngài ba lễ nữa, thành ra tất cả là mười hai lễ. Ý nghĩa của nó là như vậy.

Còn nói về sự điều hòa, thì chúng ta ngồi niệm Phật lâu quá, bây giờ lạy để được đứng lên, lạy xuống cho thân thể được điều hòa. Thực ra chỉ là vậy mà thôi! Chứ không có liên can gì đến “Thập-Nhị-Nhân-Duyên”.

Nên nhớ, niệm Phật thì tất cả chúng ta đều dồn hết vào câu A-Di-Đà Phật, dồn hết vào một đường để đi, đừng nên đi hai đường! Hòa Thượng Tịnh-Không thường nói, tu pháp nào một pháp. Nghe pháp cũng phải tuyển chọn để nghe. Những vị nghe nhiều pháp quá thì thường khó có chỗ định. Ví dụ, nghe người ta giảng pháp Thập-Nhị-Nhân-Duyên thì thấy pháp Thập-Nhị-Nhân-Duyên hay lắm! Nhưng thực ra chúng ta làm không nổi!

Tiện đây xin kể chuyện một chút xíu ra cho vui. Ở Việt Nam có một ban hộ niệm, năm đó tôi đến đó nói chuyện, thì các vị đó mới biếu cho một đĩa VCD, gọi là hộ niệm vãng sanh! Khi về mở ra xem mới thấy vị Trưởng lão đó “Khai Thị” cho người bệnh mà giảng từ Tứ-Diệu-Đế, đến Bát-Chánh-Đạo, rồi Thập-Nhị-Nhân-Duyên... Tức là nói luôn một dây như vậy. Khi xem VCD đó rồi, tôi mới viết thư khuyên vị đó rằng, đừng “Khai Thị” như vậy nữa. Đừng đem những lý đạo này ra “Khai Thị” cho người bệnh, vì người bệnh sắp chết rồi, không bao giờ có thể tiếp nhận được đâu. Chỉ khuyên người ta là nhiếp tâm niệm Phật và cầu A-Di-Đà Phật phóng quang tiếp độ, nhờ vậy thì người ta mới được vãng sanh. Thực tế thì cái phim đó cũng không phải là phim vãng sanh, vì họ chỉ quay trong lúc người đó còn sống chứ chưa phải là ra đi. Nghe vậy thì các vị đó mới trả lời, hứa sẽ sửa đổi lại.Khi sửa đổi lại rồi, thì mười ngày sau đã phát hiện ra một người vãng sanh.

Tức là từ trước các vị đó chưa biết hộ niệm, khi biết được rồi điều chỉnh lại thì tự nhiên có người vãng sanh. Cũng giống như hôm qua chúng ta nói, những ban hộ niệm mới, thường thường người ta chưa có kinh nghiệm trong vấn đề khai thị, nên khi ngồi trước bệnh nhân người ta cứ mở ra nào là Bát-Chánh-Đạo cũng giảng cho, Tứ-Diệu-Đế cũng giảng cho, Thập-Nhị-Nhân-Duyên cũng giảng cho... Giảng những bước đi của các hàng Nhị Thừa thì ta bị lạc đường đi về Tây Phương. Con đường về Tây Phương là nhắm thẳng tới: Tín-Nguyện-Hạnh, cứ vậy mà đi thì người ta được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Chuyện này mỗi ngày chúng ta mỗi nắm vững. Nhất định ta sẽ thấy hình như đường đi về Tây Phương của chính mình, của người thân của mình đang ở trong hào quang của A-Di-Đà Phật, và chúng ta đều được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc hết!...

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 30

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Hộ Niệm để được vãng sanh về Tây Phương cực Lạc là chúng ta áp dụng cái phương pháp căn bản, cụ thể và gần gũi nhất đối với người phàm phu tục tử nghiệp chướng sâu nặng.

Nếu là người căn cơ cao thượng thì không bao giờ dùng đến phương pháp hộ niệm làm chi!... Ngay trong mỗi chúng ta, nếu thật sự là hàng căn cơ cao thượng cũng khỏi cần. Tuy nhiên, nếu mình muốn độ người khác thì cũng phải nghiên cứu phương pháp hộ niệm để áp dụng. Vì ta có thể thuộc hàng căn cơ cao?! Nhưng mà Mẹ ta, Cha ta, anh em, họ hàng... họ không có căn cơ cao. Không có căn cơ cao thì nghiệp chướng bao phủ, trước những giây phút ra đi thường thường bị trở ngại. Nếu không nhờ đến sự hộ niệm thì sẽ bị rối trong khi hấp hối, không cách nào vãng sanh được!

Khi hộ niệm chúng ta cố gắng phải nghiên cứu cho thật kỹ quy cách hộ niệm. Rất nhiều người không chịu nghiên cứu, cứ thấy rằng ngồi bên cạnh người bệnh niệm Phật, cứ niệm A-Di-Đà Phật... A-Di-Đà Phật... Rồi vỗ tay mấy cái vui vui, tưởng vậy là đơn giản! Thật ra, có khá nhiều sự sơ hở làm cho người bệnh không thể tiếp nhận, không thực hiện được Tín-Nguyện-Hạnh.Không thực hiện được ba tư lương này, thì người ta không được vãng sanh. Mỗi ngày chúng ta cố gắng khai thác một chút, mong cho mọi người sau một thời gian sẽ nắm vững vấn đề.

Ngày hôm qua, trong lúc đang bàn chuyện hộ niệm ở phòng bên kia, chúng ta có khuyến cáo rằng khi hộ niệm cần phải cố gắng làm sao cho người bệnh vui vẻ. Mình ráng cố gắng chiều người bệnh để cho họ vui vẻ ra đi. Nếu mình không có chiều theo ý của họ, làm cho họ phiền não thì không thể vãng sanh. Ví dụ như Mẹ của chúng ta muốn tới cái nhà này để niệm Phật, mình lại thấy căn nhà này không thích hợp, nên cứ bắt người Mẹ mình tới ở nhà kia, nhưng nơi đó Mẹ mình lại không thích. Làm vậy phải chăng, khi hộ niệm mình đã bắt người bệnh phải chiều theo ý muốn của mình? Làm vậy khiến cho người bệnh phiền não! Một khi họ phiền não thì chắc chắn không cách nào có thể vãng sanh được!

Do đó phải nhớ điều này, nhiều khi mình thấy người bệnh thích một chuyện gì đó, dù không được thuận lợi lắm, nhưng trước tiên ta cần phải cố gắng chiều người bệnh trước đã. Ví dụ, như trước những ngày sắp chết, người bệnh lại đòi vào bệnh viện, họ muốn bác sĩ khám họ thử như thế nào? Mình biết đây là cái tâm thoái hóa của người bệnh, nhưng một khi người bệnh đã quyết đòi như vậy, mà mình lại ép buộc người bệnh phải ở nhà, thì chắc chắn từ lúc đó cho đến khi chết không cách nào mà họ yên tâm niệm Phật được!

Vì thế, khi gặp trường hợp này, việc đầu tiên là nên đưa người bệnh vô trong bệnh viện trước đã. Đây có thể là do sau một thời gian niệm Phật người bệnh bị thối tâm, người ta sợ chết hay sao đó?... Tại sao mình không đưa họ vào trong bệnh viện, rồi nhờ bác sĩ khuyên người bệnh vài câu. Ví dụ, Bác sĩ nói:

- Anh ơi! Chư vị ơi! Cái bệnh này chúng tôi chữa không được nữa rồi. Cho nên ở lại cũng chết, về nhà cũng chết.

Người bệnh nghe được bác sĩ nói một câu như vậy, thì chính đây là lời khai thị rất tốt cho người bệnh, nhờ vậy mà họ an tâm về nhà lo niệm Phật vãng sanh.

Có một lần chính đứa em của Diệu Âm muốn Cha Mẹ của Diệu Âm vào trong Sài-Gòn để niệm Phật, vì nhà ở thành phố thì có máy lạnh, thoải mái hơn, mà lúc đó Ông già Bà già thì thích ở tại quê. Nó khuyên không được, nên mới lập mưu như thế này... Nó mướn một chiếc xe Taxi từ Sài-Gòn đi về tới Bình-Định. Về tới nhà, trước tiên đem bánh trái dọn ra ăn uống cho ngon lành, rồi sau đó mới dụ Cha Mẹ đi xuống Qui-Nhơn chơi, xuống Qui-Nhơn để thăm biển chơi cho vui! Ông bà nghe nói đi Quy-Nhơn thì bằng lòng đi.

Khi Ông già Bà già leo lên xe xong rồi, nó chở tuốt vô Sài-Gòn luôn. Tức là lúc đó đã leo lên xe... Ông già Bà già đã yếu rồi, đâu còn cách gì cưỡng lại được nữa! Khi Diệu Âm về nghe tin như vậy... Bên cạnh thì ông bà già cứ đòi về lại quê. Diệu Âm kêu đứa em ra la rầy:

- Em làm như vậy không được! Kỳ này nếu anh không về, mà Ông già chết thì chắc chắn không cách nào vãng sanh được!

Do vậy, sau khi tẩm bổ cho Ông già khỏe lại một chút, lại tìm cách đưa Ông về Bình-Định. Khi về lại Bình-Định thì lúc đó trời nóng quá chịu không nổi! Ông về đến đó thì muốn xỉu liền. Vì thấy nắng chịu không nổi, nên Ông giật mình! Ở tại quê không có máy lạnh! Thế thì, lại tìm cách, nhờ chị Nhung ở từ Bình-Phước đem xe ra ngoài Bình-Định đưa Ông vô lại trong Sài-Gòn. Lúc đó Ông ta mới an tâm niệm Phật!...

Thường khi mình phải chiều người bệnh, chứ không thể nào bắt người bệnh phải chiều chúng ta. Có nhiều người quá sơ ý trong phương pháp hộ niệm vãng sanh, không chịu nghiên cứu kỹ, cứ nghĩ sao làm vậy, vô ý tạo ra nhiều phiền não cho người bệnh. Một khi người bệnh phiền não rồi thì thôi chịu thua! Cứu không được!

Ví dụ như trong bữa nói chuyện hôm qua, sau khi nghe đến vấn đề này, bà Cụ đưa ra một cái câu giải quyết rất là hay. Bà nói:

-Mình quyết lòng niệm Phật đi về Tây Phương rồi, thì thôi ở nhà nào cũng được, tới chỗ nào cũng được, không cần chấp nữa.

Chính đây là câu giải quyết rất hay. Mình biết rõ rệt là con cái mình sau này có thể đưa mình tới chỗ này, đưa mình tới chỗ kia. Nhiều khi con cái biết tu nó đưa mình tới chỗ rất là tốt, nhưng vì chấp mình muốn trở lại cái chỗ của mình. Vì cái chấp của mình mà làm cho chính mình bị trở ngại, từ đó mà mình có thể mất phần vãng sanh. Cho nên bà Cụ nói rất là hay:

- Đừng có chấp nữa... Nhất định bây giờ con nó muốn đi vô Sài-Gòn thì ta đi vô Sài-Gòn, con nó muốn đi về quê ta đi về quê.

Thoải mái như vậy thì tự nhiên người hộ niệm chúng ta cũng thoải mái, tới bất cứ chỗ nào ta cũng niệm Phật được.

Vậy thì, là một người hộ niệm, chúng ta phải nhớ cố gắng uyển chuyển đừng nên gây phiền não cho người bệnh. Nếu ta là người bệnh, ta cũng phải tập cái tánh gọi là không chấp. Một người tới niệm lớn quá, điều này không đúng phương pháp hộ niệm, ta biết như vậy rồi nhưng lỡ có một người nào tới niệm lớn quá thì ta cũng đừng có giận. Nếu mà hàng ngày thấy người ta niệm lớn quá mà mình giận, thì lúc đó có nhiều người niệm lớn mình sẽ nổi giận lên! Đây là do “Chấp” mà tự mình làm mất phần vãnh sanh. Tất cả những đạo lý này không có gì là cao siêu cả, nó cụ thể vô cùng.

Ví dụ như ở nhà mình có một người bệnh. Nên nhớ, người bệnh thường thường cảm thấy khó chịu dữ lắm, tại vì đau lưng, vì nhức đầu, vì mệt mỏi... Điều quan trọng là ta nên cố gắng làm cho người đó vui lên. Yểm trợ tinh thần họ, củng cố tinh thần họ. Đây là hộ niệm.

Ví dụ khác, như người bệnh niệm Phật không nổi, mình khuyên hoài mà họ cũng không chịu niệm Phật, thì mình hãy làm gương, mình niệm Phật trước. Mình niệm Phật ngày niệm Phật đêm, và nói:

- Má ơi! Con còn trẻ nè mà con còn niệm Phật như thế này, Má không niệm Phật làm sao Má vượt qua cái ách nạn đây?

Mình làm gương trước, rồi chính sự niệm Phật của mình sẽ có công đức. Nhờ có công đức đó mới hồi hướng cho Cha Mẹ. Nhiều khi trước đó một tuần mình nói Mẹ mình không nghe, nhưng sau một tuần niệm Phật, nhờ có công đức nên lời nói của mình hình như có hiệu lực hơn... Lạ lắm!...

Chính vì vậy, muốn đi hộ niệm cho người được vãng sanh, thì người hộ niệm chúng ta cũng phải cố gắng niệm Phật để có công đức. Luôn luôn lúc nào cũng vậy. Khi mình tới ngồi hộ niệm... “Nam Mô A-Di-Đà Phật... A-Di-Đà Phật... A-Di-Đà Phật”. Nếu mình có công phu tu hành thì thường thường chư Thiên-Long Hộ-Pháp gia trì cho mình, câu niệm Phật của mình có giá trị, lời nói của mình được các Ngài gia trì luôn. Chính nhờ vậy, khi mình khai thị cũng dễ làm cho người bệnh cảm động, làm cho người bệnh hình như có một sự cảm ứng, và người ta dễ nghe theo.

Thông thường nhiều vị cứ để Mẹ mình nằm ở nhà thương cho đến khi yếu thật yếu rồi mới tới kêu:

- Anh Diệu Âm ơi! Bây giờ làm sao? Mẹ tôi ở Sài-Gòn... Mẹ tôi ở Đà-Nẵng... bây giờ làm sao giới thiệu cho tôi ban hộ niệm....

Thật ra mình giới thiệu là vị nể mà giới thiệu thôi, chứ cũng chưa chắc gì cứu được người đó đâu! Vì hồi giờ người đó không có niệm Phật! Đừng nên nghĩ sai lầm rằng ban hộ niệm có thể giải quyết được! Cho nên, gặp những trường hợp này Diệu Âm thường thường khuyên người con đó hãy phát tâm ra trước đã.

Chứ còn như, khi hỏi tới:

- Hồi giờ Mẹ chị có niệm Phật không?...

- Có, nhưng lười biếng lắm!

- Có ăn chay chưa?

- Dạ chưa.

Còn vướng đủ thứ hết trơn! Vậy thì làm sao bây giờ?...

-Chính mình phải lo niệm Phật.

- Chính mình phải phát tâm phóng sanh.

- Chính mình phải in kinh ấn tống.

- Chính mình phải cầm xâu chuỗi niệm Phật trước Mẹ mình...

- Mẹ ơi! Con niệm Phật để hồi hướng cho Mẹ, chứ nếu không lỡ Mẹ bị chết rồi, con không có cách nào có thể cứu Mẹ được...

Chính cái tâm thành của người concảm ứng đến Mẹ. Chính người con cũng nên dẫn người Mẹ tới gặp ban hộ niệm và hứa với ban hộ niệm rằng:

-Tôi sẽ cố hết sức để khuyên Mẹ tôi niệm Phật. Xin chư vị giúp Mẹ tôi...

Chính lòng chân thành của người con mà làm cho ban hộ niệm mới dám nhận cái ca này để hộ niệm. Chứ nếu mình ỷ lại ban hộ niệm, mình không chịu tham gia tích cực với họ thì nhiều khi ban hộ niệm đó họ hộ niệm cũng không được.

Nói chung, nhất định đừng bao giờ chờ đến phút cuối cùng rồi nhờ ban hộ niệm... Không hay! Xin thưa chư vị, phải lo trước...

- Nhất định phải niệm Phật trước,

- Nhất định phải tạo công phu trước,

- Nhất định nhớ rằng, chúng ta ở đây toàn là những người trên trên sáu mươi tuổi hết trơn. Một sớm một chiều là xong...

Nếu không có công đức để hóa giải những ách nạn của chính mình, thì sau cùng rồi cũng phải chịu khó khăn! Nếu từ giờ phút này chúng ta quyết lòng niệm Phật, xin thưa rằng, trong một ngày, hai ngày, ba ngày hay một tuần lễ, hai tuần lễ mà chúng ta quyết lòng niệm Phật đó thì tự nhiên phước đức mình sẽ tăng lên, nghiệp chướng của mình sẽ giảm xuống và có thể có sự cảm ứng rõ rệt. Đừng nên thấy có ban hộ niệm rồi ỷ lại, mà phải nhớ rằng là mình phải lo công phu niệm Phật. Lòng chân thành này nhất định sẽ cảm ứng đến A-Di-Đà Phật.

Nếu lòng chân thành thật sự có, thì tự nhiên vấn đề được vãng sanh sẽ đơn giản lắm! Dễ dàng lắm!... Vãng sanh vi diệu bất khả tư nghì!...

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 31

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Mỗi khi mình ngồi với nhau niệm Phật, nhiều lúc chúng ta thấy cảm động vô cùng! Khi niệm Phật như vậy, hãy cố gắng lắng nghe tiếng niệm Phật của mình nó hòa theo tiếng địa chung. Làm sao cho giọng niệm mình tha thiết, thì tự nhiên có nhiều lúc mình thấy cảm động! Có nhiều người niệm Phật đã cảm động mà rơi nước mắt. Nước mắt rơi tầm tã!...

Trong ngày hôm nay, chúng ta có đi hộ niệm. Quý vị thấy đó, muốn cứu một người vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, không phải đơn giản đâu! Khó vô cùng!...

Tại sao mà khó dữ vậy? Là vì chúng sanh trong đời này ít hiểu đạo. Nhiều người muốn tìm hiểu mà không có ai dẫn dắt. Suốt cuộc đời tu hành, có người đến khi gần mãn báo thân cũng không biết đường nào để đi! Ngày hôm nay mình đi hộ niệm, mình thấy rõ rệt chuyện này. Nhiều khi muốn cứu người ta mà không biết làm sao để cứu. Người ta cứ xác định rằng, tu hành tức là không ăn gian của ai, không ăn cắp của ai, tức là tu hành rồi... Người ta không biết gì về Tây Phương Cực Lạc cả, họ không có quan niệm gì về vãng sanh hết trơn. Phải chăng, trong suốt cuộc đời của họ không bao giờ gặp qua một người dạy cho họ niệm một câu A-Di-Đà Phật, chỉ cho họ lời phát nguyện vãng sanh Tây Phương!...

Cũng ngày hôm nay, bác Minh Trí nói một câu mà tôi thấy hay vô cùng. Bác nói rằng:

- Thực sự là trong đời này mình đã gặp chuyện này, chuyện niệm Phật này nè, để được về Tây Phương là may mắn, may mắn không tưởng tượng được. Nếu không gặp trường hợp này, bảo đảm rằng nhiều khi suốt cuộc đời của mình cho đến khi nằm xuống, cũng không biết đường về Tây Phương đâu à! Mà đã không biết đường về Tây Phương, thì chắc chắn không bao giờ mình cất một lời nguyện, “Nguyện con được vãng sanh Tây Phương”. Không bao giờ đâu à!... Rồi chắc chắn đến giờ phút nằm ngáp ngáp để rời bỏ báo thân này, không bao giờ cất lên được một câu danh hiệu Phật đâu à!...

Bác Minh Trí nói hay quá! Trong đời này mà gặp được cái cơ hội này, thực sự là may mắn, may mắn không tưởng tượng được. Chính Diệu Âm này cũng có lăn lộn trong trường đời, cũng có học hỏi, cũng có đọc sách, đọc kinh đủ thứ hết, nhưng đến năm mươi tuổi đầu, hoàn toàn không biết câu A-Di-Đà Phật. Cho đến một lúc tới Tịnh-Tông Học-Hội, vừa nghe người ta niệm câu A-Di-Đà Phật, mới ngộ ra, giựt mình luôn, tỉnh ngộ luôn. Giựt mình đến nổi mà đổ mồ hôi ra luôn! Ngỡ ngàng!...

Có cơ hội này thực sự là do thiện căn phước đức của chính mình trong nhiều đời nhiều kiếp chắc có tu hành rồi, đến nỗi bây giờ gặp một câu A-Di-Đà Phật giựt mình tỉnh ngộ. Còn khi trong quá khứ mình không có thiện căn phước đức, thì quý vị thấy không?... Năn nỉ hết lời cũng không bao giờ người ta nghe đâu.

Cho nên cứu người khó! không phải là cái pháp Niệm Phật không vi diệu, mà tại vì chính con người không chịu tin!

Chúng sinh trong đời này rõ ràng tam ác đạo đang chờ trước mắt họ nhưng mà…

- Họ vẫn không sợ!

- Họ vẫn không ngại!

- Họ coi chuyện đó là quá bình thường!

Vì thực sự cũng do chính cá nhân những người đó trong vô lượng kiếp đã quên đi con đường tu hành.

Ta biết rằng trong vô lượng kiếp chúng ta đã tu hành, đã tu hành mà còn rớt lại đây chứng tỏ rằng, trong những lúc tu hành đó, trong những lúc cúng dường Phật đó, trong những lúc làm thiện làm lành đó, ta có sơ suất điều gì?Nhất định. Nếu sự sơ suất đó mà lập lại một lần nữa trong đời này, thì nên nhớ, đời này là đời mạt pháp rồi, bắt buộc ta phải trôi lăn trong cảnh gọi là, tử tử sanh sanh, khổ đau bất tận, không biết bao nhiêu kiếp nữa.

Những sơ suất đó là gì? Nhiều lắm. Nhưng trong đó chắc chắn có một điểm rất là chính yếu, là điểm này:

- Trước những giờ phút buông xả báo thân ra đi, ta không chịu niệm Phật.

- Trước khi xả bỏ báo thân, ta không nguyện vãng sanh.

- Trước khi xả bỏ báo thân, tâm ta đang chú ý đến chuyện gì khác, chứ không chịu chú ý đi về Tây Phương Cực Lạc.

Đây là cái điểm cuối cùng để mình chịu nạn...

Chính vì vậy, xin thưa với chư vị, ở đây chúng ta cứ nói chuyện hộ niệm, nói liên tục, thực ra tâm ý của chúng ta là muốn cho sự hộ niệm này được loan truyền rộng rãi ra. Chính tôi cũng có viết một lá thư, gọi là thư “Vận Động Hộ Niệm”, tôi gửi đi khắp nơi, và người ta in luôn thành sách. Tôi muốn nhiều người biết về hộ niệm. Nhiều người biết hộ niệm thì sẽ có nhiều người được cái duyên phần vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Trong một gia đình có một người biết hộ niệm, thì hy vọng trong gia đình đó mười người, ít ra cũng có được một người vãng sanh. Ví dụ, xã hội này có một ngàn người mà có một trăm người biết hộ niệm, thì ít ra một trăm người đó được vãng sanh, rồi có thể cứu thêm được một trăm người nữa. Chứ nếu xã hội này có hàng triệu người, mà không một người nào biết hộ niệm, thì với đời mạt pháp này, xin thưa, nhất định phải “Tùng nghiệp thọ báo”. Tùng nghiệp thọ báo là đi trong cảnh tử tử sanh sanh. Trong kinh Phật nói rõ ràng: “Độc sanh, độc tử, độc khứ, độc lai. Khổ lạc tự đương, vô hữu đại giã”.

Độc Sanh” là mình sanh ra trong cái thế giới này chỉ có một mình! Đi đầu thai một mình, lủi thủi, không ai theo mình hết. Theo nghiệp mà mình thọ sanh...

Độc Tử” là khi mình chết đi, cũng một mình mình đi thôi! Không có một người nào đi theo mình để chết cả. Trong đời này, thì vợ vợ chồng chồng, anh anh em em, cha cha mẹ mẹ... nhưng khi chết rồi thì... “Trời ơi!... Sao sợ quá! Hãy né xa ra một chút!”. Khi chưa chết thì cha cha mẹ mẹ. Khi chết rồi thì... Trời ơi! Sợ quá! Hãy đứng cách xa ra một chút!Đây là chuyện hết sức lạ lùng!

Chính vì vậy, khi biết được chuyện này, xin chư vị phải trân quý giai đoạn này. Phải củng cố phương pháp hộ niệm cho chính mình, lý hộ niệm cho chính mình. Một lần đi hộ niệm rõ ràng đã hiểu thêm một lý đạo. Lý đạo gì? Con người tham chấp. Một khi họ tham chấp thì không cách nào gỡ ra được! Đã tham chấp rồi thì nhất định lục đạo luân hồi không thể nào thoát được, mà còn sợ rằng bị vướng vào tam ác đạo nữa là khác!...

Xin kể ra đây một câu chuyện hoàn toàn có thật, chính người con của người chết đó đã kể cho Diệu Âm nghe. Anh ta nói rằng, khi mẹ anh chết, vì suốt cuộc đời mẹ anh cứ làm tần tảo để xây căn nhà cho đẹp. Khi mẹ anh ta chết rồi thì không đầu thai được mà cứ bám vào cái nhà đó, bám vào đến nỗi anh phải bán cái nhà luôn. Những người khác không biết, họ mua căn nhà đó, mua xong rồi thì ở không được. Đổi qua đổi lại đến năm đó đã đến bảy đời chủ rồi. Bây giờ đời chủ thứ tám thì không ai dám mua nữa. Mỗi đời chủ như vậy, họ kêu “Thầy Pháp” đến dán bùa, dán đầy hết trước cửa để yếm cái hồn của bà mẹ anh. Nhưng bà mẹ anh đó cũng dữ quá, vẫn không sợ. Có lần người ta nghĩ đến câu: “Nhứt quỷ nhì ma, thứ ba học trò”. Họ bèn kêu năm, sáu đứa học trò tới cho ở không. Học trò nghèo mà, chúng nó kéo nhau đến ở đầy một nhà vậy và chúng quậy phá rầm rầm... Họ nghĩ rằng, chắc chắn con quỷ cũng phải bỏ đi thôi! Nhưng chúng cũng chỉ ở được khoảng chừng hai, ba ngày thì Bà la làng, Bà vác xoong, vác chảo liệng rổn rảng... Tụi học trò sợ mất hồn!... Bỏ luôn!...

Anh đó đến hỏi, bây giờ làm sao? Có cách nào giúp giải quyết được không? Thì Diệu Âm nói rằng, anh muốn thực sự giải quyết thì anh hãy nghe lời tôi. Bây giờ căn nhà đó hình như người ta cho không, không cần bán phải không? Bán rẻ như cho không. Anh hãy mua lại đi... Mua xong rồi, dọn dẹp sạch sẽ đàng hoàng, gỡ hết tất cả những lá bùa liệng đi. Lập bàn thờ Phật lên. Anh mời chư vị đồng tu tới niệm Phật với anh và anh quỳ trước bàn thờ của mẹ anh, khai thị cho mẹ anh hằng ngày:

- Mẹ ơi! Mẹ tham chấp làm chi cái nhà mà Mẹ bị trở ngại? Giữ cái nhà thì làm sao mà Mẹ có thể siêu sanh! Bị đọa lạc đời đời kiếp kiếp khổ lắm Mẹ ơi! Mẹ hãy quyết lòng niệm Phật đi...

Cứ ngày ngày khuyên Bà. Kêu đồng tu tới niệm Phật. Nhất định niệm Phật sẽ có quang minh phóng tới gia trì, chắc chắn sẽ có một ngày mẹ của anh ngộ ra. Nên nhớ, đã là Mẹ của anh rồi thì không bao giờ nỡ hại anh đâu. Anh hãy làm đi.

Anh đó hứa sẽ làm. Nhưng một năm sau Diệu Âm về Việt Nam, anh đó ở từ rất xa đi tới thăm.Tôi hỏi:

- Anh đã mua lại căn nhà chưa? Anh nói:

- Dạ chưamua. Tôi hỏi tiếp:

- Tại sao vậy?...

- Tôi sợ quá!...

Anh sợ bà Mẹ của mình!!!... Đây là chuyện có thật.

Quý vị thấy không? Khi mà tình chấp lớn quá rồi. Chịu thua! Gỡ không được. Biết được những chuyện này, muốn vãng sanh về Tây Phương đơn giản lắm. Phương pháp hộ niệm mình nói hàng ngày ở tại đây quý vị nắm vững được chứ gì?... Còn không thì nghe những băng đĩa. Tôi nói 48 ngày thì làm ra băng đĩa, để quý vị lấy ra mà nghe. Những băng nói kỳ trước người ta bắt đầu in thành sách rồi đó. Cái băng này chưa nói xong mà người ta cũng chuẩn bị viết ra nữa rồi. Nghĩa là, nghe nói trong băng rồi viết ra để in thành sách. Nghe tin như vậy mình có chút lòng mừng. Vì sao? Để phổ biến cái chương trình hộ niệm ra. Cái phương pháp hộ niệm này nếu được lan rộng ra bằng DVD, bằng MP3, bằng sách, bằng cách gì cũng được để cho nhiều người biết...

Một gia đình mà có một người biết hộ niệm thì họ rủ-rỉ, rủ-rỉvới nhau cũng thêm được hai người trong gia đình. Rồi rủ-rỉ, rủ-rỉtiếp, được ba người trong gia đình... Nhờ ba người đó mà gia đình đó có thể sẽ có một người vãng sanh. Chứ nếu như không biết hộ niệm, không biết đường vãng sanh thì thế gian này chúng sanh sẽ tiếp tục chìm đắm trong biển khổ, sông mê! Dù tu gì thì tu, nói hay gì thì nói, lý luận gì thì cứ việc lý luận... nhưng chúng sanh đọa lạc vẫn cứ tiếp tục bị đọa lạc, tại vì người ta không biết con đường vãng sanh. Chứ nếu một người nào biết được phương pháp hộ niệm, tức là biết được con đường vãng sanh, thì nhất định, tham chấp phải bỏ ra liền để khi mình nằm xuống, nó rời ra... Bên cạnh đó, nhất định bắt đầu niệm Phật liền. Không bao giờ được quyền chờ đâu à! Đừng nghĩ rằng tôi niệm như vầy là đủ! Nếu chúng ta nói đủ, thì nhất định bị thiếu! Chắc chắn.

Trong những ngày khác tôi sẽ kể ra những chuyện tại sao thiếu cho chúng ta nghe.

Phải lập công cứ. Phải cố gắng tăng thêm giờ niệm Phật. Phải lấy tờ giấy ra ghi vô rõ ràng. À! Mình niệm như vậy yếu quá rồi! Một ngày mình niệm chưa tới hai ngàn câu thì làm sao có thể đủ? Có tờ giấy nó nhắc nhở mình, hãy ráng cố gắng niệm ba ngàn, bốn ngàn, năm ngàn câu... Cứ vươn lên, vươn lên. Nhờ vươn lên mà mình có công phu. Trong công phu đó mình nhiếp tâm được, mới có công đức. Còn mình cứ niệm chơi chơi, mình nghĩ rằng đủ, khi mà tưởng đủ thì nhất định bị thiếu! Thiếu ở chỗ công đức của mình chưa đủ để bồi đắp lại những tội ác mà mình đã gây cho chúng sanh. Cho nên chúng sanh đang chờ từng giờ từng phút cái ngày lâm chung của mình, để họ tới đòi cho được cái nợ sinh mạng. Ghê lắm chư vị ơi!...

Khi đi hộ niệm nhiều cuộc rồi mình mới thấy đến chuyện này, mà thấy chuyện này rồi nhất định mình phải sợ! Sợ thì ngày ngày cần phải ngồi trước bàn thờ Phật mà nguyện:

- Nam Mô A-Di-Đà Phật, nguyện đem công đức này hồi hướng cho pháp giới chúng sanh, hồi hướng cho tất cả chư vị oan gia trái chủ trong nhiều đời nhiều kiếp. Tôi đã lỡ hại chư vị, hôm nay xin thành tâm sám hối với chư vị, nguyện cầu chư vị buông xả oán thù, cùng với chúng tôi niệm câu A-Di-Đà Phật để vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Tôi hứa với chư vị là hồi hướng tất cả công đức cho chư vị và khi tôi đã về Tây Phương Cực Lạc, tôi sẽ trở về đây tìm mọi cách độ chư vị. Chúng ta cùng nhau vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Phải nói liên tục như vậy. Người bệnh cũng nói, mà người khỏe cũng phải nói. Phải nói trước, đừng để đến lúc đã tới nơi rồi, thì xin thưa thật, không còn cách nào nói gì được nữa đâu!

Mong cho chư vị hiểu được. Vì một tâm ý muốn chúng ta đừng bị trở ngại trong con đường vãng sanh...

Cố gắng phải tu hành. Nhất định đi về Tây Phương thành đạo trong đời này. Đừng hy vọng đời sau. Xin nhớ cho chuyện này!...

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 32

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Khế Lý - Khế Cơ”!Chúng ta cần phải nói rõ hơn nữa để cho đồng tu yên tâm niệm Phật và tin tưởng rằng với cái pháp tu hành này ta được vãng sanh về Tây Phương. Không thể nào không được vãng sanh, chỉ khi nào chúng ta sơ ý đi lạc đường hoặc là ba cái tư lương Tín-Nguyện-Hạnh của mình đã bị giảm sút một cái nào đó. Chứ còn không thì không thể nào mà không được vãng sanh…

Khi nói về Khế Cơnghĩa là mình tự nhận mình là hàng phàm phu thấp nhất. Nhất định! Xin chư vị tự hứa với mình rằng, ta đã thấy rõ ràng mình là hàng hạ căn thấp nhất. Thấy cái chỗ thấp nhất đó thì ta mới ứng dụng cái phương pháp cụ thể nhất và an toàn nhất của người thấp nhất, thì tự nhiên ta được vãng sanh không có gì trở ngại. Nếu sơ ý chúng ta khởi tâm cao ngạo một chút, hay là sơ ý thấy mình cao một chút, thì ngay giờ phút đó ta sẽ có chướng ngại ngăn cản con đường vãng sanh. Mình biết mình hạ căn thì thường thường với công phu mình tu hành như thế này chưa đủ để xóa những nghiệp chướng đó đâu.

Những người đang còn khỏe mạnh đừng bao giờ nghĩ rằng ta sẽ tiếp tục khỏe mạnh cho đến giây phút cuối cùng và được an nhiên tự tại ra đi. Không phải!... Thường thường nghiệp chướng nó đổ ra rất bất ngờ!... Khi nó đổ ra như vậy thì sẽ cản trở rất nhiều công phu tu hành của mình. Lúc đó...

- Mình muốn mở lời niệm Phật, niệm cũng không được... Đau quá!...

- Mình muốn mở lời nguyện vãng sanh, nguyện không được…

- Lúc đó tự nhiên bao nhiêu mối u sầu, sợ hãi, lo lắng tới dồn dập... làm mình quên hết, quên trụi lủi trụi lui...

Chính vì vậy, dù sao đi nữa cũng khuyên tất cả phải cố gắng phát tâm dũng mãnh tinh tấn hơn nữa, để cho nghiệp chướng nhẹ đi, có vậy chúng ta mới hy vọng sẽ được tỉnh táo trong giờ phút cuối cùng để nghe những lời của người hộ niệm đến khai thị, rồi niệm Phật theo người ta, nhờ đó mà A-Di-Đà Phật sẽ phóng quang tiếp độ ta về Tây Phương.

Hôm trước, có một số vị tới thăm đạo tràng và hỏi chuyện. Có một vị hỏi:

- Đạo tràng của anh có tổ chức tu tinh tấn để đạt được “Niệm-Vô-Niệm” hay không?... Thì Diệu Âm có trả lời:

- Ở đây không chủ trương niệm Phật cho đến Vô-Niệm.

Niệm-Vô-Niệmlà khởi đầu của cảnh giới chứng đắc Nhất tâm bất loạn. Vị đó lại hỏi:

- Tại sao vậy?... Nếu không được Niệm-Vô-Niệmthì làm sao được vãng sanh?

(Niệm-Vô-Niệm nghĩa là tự mình niệm mà không cần niệm nữa, tức là trong tâm mình tự niệm)...Diệu Âm mới nói là:

- Vì hầu hết đồng tu tại đây đều là hạ căn. Mà đã là hạ căn thì đạt đến cảnh “Vô-Niệm” không dễ đâu! Đạt không được tới cảnh giới đó, mà lại xúi giục người ta ráng sức niệm cho đến “Vô-Niệm”, thì cái lực này nhiều khi vượt qua giới hạn chịu đựng của họ. Lúc đó không cách nào cứu được.

Chính vị hỏi đó cũng đang tu để cầu cho được “Vô-Niệm”, được “Nhất tâm bất loạn”. Khi nghe nói vậy, thì mấy vị kia cũng nói:

- À!... Anh Diệu Âm nói đúng đó...

Vị đó nghe vậy, có vẻ hơi giật mình! Tôi nói tiếp:

- Vấn đề niệm Phật để đạt tới cảnh giới này cảnh giới nọ!?... Chuyện này hãy để tự nhiên đi, đừng nên mong cầu. Thay vì hồi giờ mình lấy cái công phu này, công phu rất cao này để cầu cho Nhất Tâm Bất Loạn, cầu cho Vô-Niệm, thì tại sao mình không đơn giản lại một chút...Nghĩa là, cũng tu y hệt như vậy, cũng tinh tấn như vậy, cũng siêng năng như vậy... nhưng mà chú tâm vào lời nguyện vãng sanh, để cầu mong mình được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc...

Còn chuyện Vô Niệmhay Nhất Tâm Bất Loạnnó đến cũng kệ nó, nó đi cũng kệ nó, muốn đến hay đi cũng khỏi cầu mong làm chi. Như vậy mình thấy có vui sướng không? Chứ như trong ba tư lương Tín-Nguyện-Hạnh, thì chữ Nguyệnnày chư Tổ nói là nguyện vãng sanh, tại sao mình không nguyện vãng sanh, mà lại cầu nguyện cho được Vô-Niệmlàm chi? Cầu nguyện cho Nhất tâm bất loạnlàm chi? Nếu đến lúc lâm chung, mình chưa được cái cảnh giới gọi là Niệm Vô Niệm, chưa được cảnh giới gọi là Nhất Tâm Bất Loạn, chẳng lẽ mình nằm đó chờ cho nhất tâm bất loạn sao? Rồi lỡ giai đoạn mãn báo thân đến rồi... Mình đi đâu đây?!...

Cho nên tôi nói, đã có công phu quyết lòng cầu cho vô niệm thì bây giờ hãy lấy công phu đó để cầu vãng sanh đi. Chư Tổ nói: Không cầu nhất tâm bất loạn thì mới có thể nhất tâm bất loạn... Chớ đã cầu nhất tâm bất loạn thì không thể nào là nhất tâm bất loạn được, mà nhiều khi vì cái lực của mình không theo kịp cái tâm, mà mình cứ cầu cho nhất tâm bất loạn, thì coi chừng cái “Bất Loạn giả” xảy ra, cái “Vô Niệm giả” đưa đến, nhiều khi chính mình không kềm chế được, mà sau cùng có thể bị trở ngại!...

Nếu thật sự có những người tu được chứng đắc nhất tâm bất loạn, thì đây là những hạng người căn cơ rất cao. Căn cơ cao thì họ chỉ âm thầm tìm đến những người căn cơ cao, chứ không bao giờ phổ biến rộng rãi ra đâu, vì phổ biến vấn đề này rộng ra có thể khiến cho nhiều người vọng tưởng! Tôi nói như vậy thì vị đó có lẽ hơi ngộ!

Trong kinh Phật có nói, chúng sanh thời mạt pháp này căn cơ thấp lắm!Như chúng ta đây cũng vậy, rõ rệt là căn cơ thấp lắm! Căn cơ thấp mà muốn được vãng sanh, muốn được thành tựu, thì tốt nhất hãy nhắm đến việc tu hành cần cù, siêng năng. Thay vì về nhà buổi trưa mình ngồi trên giường đọc báo, bây giờ mình hãy nghĩ rằng tờ báo này nó không giúp ích gì cho đường thành đạo! Vậy thì, liệng tờ báo đi. Thay vì mình mở phim Tàu ra coi, bây giờ mình hãy nghĩ rằng… À!... Nghiệp chướng mình sâu nặng, khi đến giai đoạn hết báo thân mình sẽ bị đọa lạc, sự đọa lạc này dễ sợ lắm!... Thôi mạnh dạn bỏ phim Tàu đi, lập tức cầm xâu chuỗi lên niệm Phật. Khi niệm Phật, niệm hai ba chuỗi cảm thấy mệt, ta lại muốn đi chơi?... Ta liền tự nghĩ, đây chính là nghiệp chướng đó!.. Mới tu như vậy đâu thể là đủ được! Cố gắng tự quán xét lấy…

Mấy ngày nay chúng ta đưa ra chương trình công cứ. Khi cầm công cứ lên niệm Phật, mình thấy tờ công cứ của mình sao còn trống rỗng!? Người ta thì đầy hết trơn rồi, còn mình thì trống rỗng, chứng tỏ công phu của mình còn quá yếu!... Đã không được nhất tâm bất loạn rồi, mà công phu còn yếu nữa, thì khi nằm xuống mình sẽ không có đủ công đức để hóa giải chướng nạn, mình sẽ bị trở ngại! Thấy vậy thì nên biết giật mình. Thôi! Hãy ráng niệm thêm năm sáu ô nữa đi. Tự mình phải làm chứ không ai bắt mình hết. Một ngày mình niệm một ngàn, tức là tô một ô cũng được. Một ngày mình niệm mười ô, cũng do chính mình chứ không ai bắt mình hết. Nhưng mà mình làm được hai ô, ba ô... chắc chắn mình sẽ an tâm hơn một ô. Mình thấy... À!... Còn yếu quá! Tại sao người kia lại niệm được hai mươi lăm ô trong một ngày, tức là 25.000 câu Phật hiệu. Như vậy họ đã quyết tâm về Tây Phương. Nhìn họ mà mình phải ráng lên, tinh tấn lên. Cứ tấn tới... Phải tấn tới... để cho giải bớt ách nạn của mình đi...

Mình không cầu nhất tâm bất loạn vì mình không có khả năng niệm Phật đến nhất tâm bất loạn. Mà không có khả năng niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, thì chướng ngại nhất định vẫn còn ê hề trước mắt, không bao giờ mất! Mình vẫn biết có những người đồng tu tới hộ niệm cho mình, khai thị cho mình. Nhưng phải nhớ:

- Căn bản là mình cần phải có cái Công-Phu.

- Căn bản là mình cần phải có cái Tín-Lực.

- Căn bản là mình cần phải có cái Nguyện-Lực.

- Căn bản mình cần phải có cái Hạnh-Lực.

Hạnh-Lực chính là tô màu vào những cái “Nút” nhỏ trong bản công cứ đó. Cái nút này hay lắm, nó tăng cái phước mình lên, nó giảm cái nghiệp mình xuống. Nhờ giảm nghiệp mình xuống, nên bệnh hoạn cũng giảm bớt đi. Khi lâm chung mình bớt đau đầu, bớt nhức óc... Nhờ thế mới dễ được vãng sanh.

Nói tóm lại, trong pháp tu của người hạ căn như chúng ta là xin cố gắng hơn nữa, siêng năng thêm một chút nữa để tự mình giải cứu cho mình. Xin đừng đợi đừng chờ...

Hôm nay, xin kể một câu chuyện khác, gọi là “Xin đừng nên chờ!”. Câu chuyện này đã xảy ra tại một làng cận kề với làng của Diệu Âm. Ở nơi đó cũng có ban hộ niệm, có chùa cũng biết hộ niệm. Có một anh năm đó mới 42 tuổi thôi, anh rất có hiếu với người Mẹ. Mỗi thứ bảy, Chúa Nhật anh dùng xe Honda chở người Mẹ lên chùa niệm Phật, tụng kinh, nhưng còn anh thì luôn luôn ngồi ở ngoài hút thuốc lá, nói chuyện, không chịu vào Niệm Phật Đường để niệm Phật. Người ta mời anh vào niệm Phật, Anh nói:

- Bây giờ tôi chưa niệm Phật được đâu!... Tôi phải lo cho bà Mẹ của tôi xong đã. (Bà Mẹ lúc đó 86 tuổi, năm 2006... 86 tuổi). Khi mà Mẹ tôi xong phần rồi tôi sẽ tu sau, bây giờ tôi còn nhiều chuyện lắm...

Thì một bữa nọ anh bị cảm. Ngày hôm trước cảm sơ sơ, ngày hôm sau anh chết... Chết trong lúc 42 tuổi. Bà Mẹ đến nay là hơn 90 tuổi rồi vẫn còn sống một mình, không có ai nuôi hết. Còn anh đó thì đã chết bốn, năm năm nay rồi. Chết mới 42 tuổi, lúc còn đang khỏe mạnh, lái xe Honda chạy ào ào.

Thật sự, Vô-Thường tấn tốc!... Rõ ràng là “Triêu tồn tịch vong, sát-na dị thế!. Ấy thế:

- Đừng bao giờ ỷ lại là ta còn khỏe thế này, còn lâu lắm mới đi.

- Đừng bao giờ nghĩ rằng một người đó bệnh thì người ta đi trước mình...

Không phải vậy đâu!...

Ông Già của Diệu Âm cách đây bốn, năm năm... Khi nói chuyện về bà sui-gia của ông. Bà bác đó đã nằm một chỗ không đi được, bị bán thân bất toại... Ông Già tôi nói:

- Chắc bà sui phải đi rồi!... Chắc chắn trước sau cũng đi liền thôi!...

Trong khi ông Già của Diệu Âm lúc đó còn vác cuốc ra đồng, còn cuốc cỏ được. Thì bây giờ đây, ông Già đã ra đi ba, bốn năm rồi mà bà bác đó hiện vẫn còn sống. Lạ quá!

Chính vì vậy, nghĩ tới chuyện vô thường, xin chư vị đừng nên bao giờ ỷ lại rằng sức khỏe của mình còn khỏe?... Không đâu!... Một sớm một chiều, nó đến lúc nào không hay! Mà lỡ nó đến quá sớm, trong khi công phu của mình không có, công đức mình không có... Xin thưa thật chư vị, nghiệp chướng trùng trùng trong vô lượng kiếp, oan gia trái chủ đang chờ từng ngày từng giờ... Nó sẽ đổ dồn tới làm cho mình hứng chịu những hậu quả rất đau đớn đó!...

Hiểu được chỗ này, xin ráng phát tâm tu hành. Không ai bắt phải “Nhất tâm bất loạn”, nhưng mà phải tạo công phu, phải siêng năng, phải cần cù để tự mình giải ách nạn trước. Rồi khi lâm chung đồng tu sẽ đến hộ niệm, nhờ thế thì phần vãng sanh Cực Lạc mới an toàn được…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 33

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Từ khi chúng ta vận động chương trình tinh tấn công cứ, thì nhiều vị đồng tu trong chúng ta phát tâm tham gia và bắt đầu hạ thủ công phu. Đây là một tin rất mừng và không ngờ chuyện hô hào này nó lại loan ra ngoài, các nơi cũng có người lên tiếng tham gia. Đây cũng là một chuyện Bất Khả Tư Nghì!...

Tri ân báo ân!Mình biết được con đường niệm Phật một đời này vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, thì xin chư vị dũng mãnh phát tâm rộng lớn, gieo duyên lành cho chúng sanh, cố gắng cứu được người nào hay người đó, bất kể là thân hay sơ. Có người được cứu là chúng ta mừng.

Trở lại câu chuyện “Khế Lý - Khế cơ”. Tiếp tục trong vấn đề hôm qua nêu ra, là một người quyết tâm niệm Phật cho đến cảnh giới “Vô-Niệm”, mà chưa đạt được cho nên cảm thấy khó khăn!... Người đó đến đây hỏi, thì Diệu Âm khuyên rằng, thay vì dùng cái công phu tốt như vậy để quyết lòng đạt được cảnh giới vô niệm, thì bây giờ hãy dùng cái công phu đó, cũng tu y hệt như vậy nhưng để nguyện vãng sanh. Tức là tu cũng tinh tấn như vậy mà quyết lòng nguyện vãng sanh, đâu cần chi phải nguyện cho “Nhất tâm bất loạn”? Đâu cần chi phải chờ đến cảnh giới “Niệm Vô Niệm”, kiểu như là tự ta thiết lập thêm cái cầu khác, trong khi đó thì A-Di-Đà Phật đã thiết lập cho chúng ta cái cầu rất là vững vàng. Chúng ta chỉ cần bước lên cái cầu của A-Di-Đà Phật là được qua bờ Giác... Cái cầu đó chính là sự phát nguyện vãng sanh Tây Phương.

Nếu mình thành tâm tha thiết phát nguyện vãng sanh Tây Phương là ta được đi thẳng lên cái cầu đó. Còn chúng ta không tha thiết nguyện vãng sanh Tây Phương, mà chờ cho đến nhất tâm bất loạn rồi mới vãng sanh thì vô tình tự ta lại thiết lập một cái cầu khác. Ta thiết lập xong cái cầu đó rồi mới bước lên cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Nếu ta thiết lập được cũng tốt đó, tại vì ta đi cái cầu mà chính ta thiết lập thì sẽ vui hơn. Nhưng mà khó lắm! Lỡ thiết lập không được thì sao? Đến lúc cuối cùng, với “Chiếc cầu vãng sanh” của A-Di-Đà Phật đã thiết lập sẵn mà ta chưa muốn lên, lại cứ chờ đến sự thành công của mình rồi mới leo lên, thì coi chừng bị luống qua một cơ hội!...

Trong tất cả các pháp tu sau cùng rồi cũng đi đến một chỗ, có nghĩa là giống nhau. Bên Mật-Tông gọi là “Tam Mật Tương Ưng”, thân khẩu ý thanh tịnh. Bên Thiền thì gọi là “Minh Tâm Kiến Tánh,Kiến Tánh Thành Phật”. Bên Giáo-Hạ gọi là Đại Khai Viên Giải”. Còn bên niệm Phật chúng ta gọi làNhất Tâm Bất Loạn - Lý Nhất Tâm Bất Loạn”... Tất cả những danh từ khác nhau, nhưng chủ đích là một. Chính vì vậy, muốn được nhất tâm bất loạn, muốn được cho chơn tâm hiển lộ, thì làm sao chúng ta bước lên được cái cầu của A-Di-Đà Phật thiết lập đó để chúng ta đi qua bờ Giác, chúng ta qua bên bờ Tây Phương Cực Lạc.

Ngài Vĩnh-Minh Đại Sư nói, “Nhược đắc kiến Di-Đà, hà sầu bất khai ngộ?”. Câu này vô cùng hay. “Nhược đắc kiến Di-Đà”, là nếu chúng ta bước lên cái cầu đó, ta đi về trên Tây Phương Cực Lạc, thì khi về tới Tây Phương Cực Lạc nhất định chúng ta sẽ gặp được A-Di-Đà Phật, gọi là “Nhược đắc kiến Di-Đà”. Nếu gặp được A-Di-Đà Phật thì “Hà sầu bất khai ngộ?”... Nghĩa là:

- Lo gì mà không được khai ngộ...

- Lo gì mà không được chứng đắc...

- Lo gì mà không được nhất tâm bất loạn...

- Lo gì mà không được thành Phật...

Chính vì vậy, chúng ta cứ “Y giáo phụng hành”. Phật dạy Tín-Nguyện-Hạnh,ta cứ một lòng Tín-Nguyện-Hạnhmà đi. Ta về Tây Phương không phải là ta chứng đắc mà về... Mà về Tây Phương chính vì nhờ lòng Chân Thành - Chí Thành - Chí Kính,được cảm ứng với A-Di-Đà Phật mà ta được vãng sanh. Ngài Ấn-Quang nói “Ta về Tây Phương là do lòng chí thành chí kính”. Ngài không nói rằng, ta về Tây Phương vì được chứng đắc nhất tâm bất loạn, ta về Tây Phương vì niệm được đến vô niệm rồi mới về Tây Phương... Lời nói này là của một vị Tổ Sư dạy cho hàng phàm phu tục tử chúng ta. Ngài không thố lộ gì về chuyện nhất tâm bất loạn, vì xét căn cơ của chúng sanh không đủ khả năng đó.

Rõ ràng về “” thì các Ngài là chư Thượng-Thiện-Nhân ở cõi Tây Phương giáng sanh mà chúng ta không hay. Về “” thì các Ngài nói cho hàng phàm phu tục tử chúng ta một đời này được thiện lợi.

Cho nên, “Khế Cơ” có nghĩa là phàm phu chúng ta phải tu theo cách của người phàm phu, không nên tu theo cách của chư Thượng-Thiện-Nhơn... Quyết lòng niệm cho nhất tâm bất loạn thì không hợp với căn cơ. Đó là cách tu của hàng thượng căn thượng cơ, chúng ta không dám mơ tới. Điều này đã quyết định rồi...

Bây giờ trở về vấn đề tu niệm. Chúng ta nên ngày đêm tinh tấn hơn nữa, cần cù hơn nữa. Hôm qua chúng ta nói chuyện về cần cù, thì bây giờ chúng ta cần cù... Cần cù, siêng năng chính là cách tu của người hạ căn. Hạ căn thì nhất tâm bất loạn không được. Nên nhớ, khi một người đã nhất tâm bất loạn rồi, thì...

- Nhìn thấy họ, hình như họ không tu.

- Nhìn thấy họ, hình như họ không niệm Phật.

- Nhìn thấy họ, hình như là họ lúc nào cũng an nhiên...không cần mở lời gì ra nữa.

Vì thực ra trong tâm của họ đã tự niệm rồi. Đối với họ, những người căn cơ như vậy, chỉ nhìn nhau thì họ đã biết rồi. Hòa Thượng Tuyên-Hóa gặp ngài Quảng-Khâm, các Ngài gặp nhau không nói một lời nào hết. Một người giơ tay lên nói: “Như Thị”.Người nọ giơ tay lên trả lời: “Như thị”, là đủ rồi. Các Ngài âm thầm nhìn với nhau, các Ngài không bao giờ nói rằng… “Ta đã nhất tâm bất loạn rồi”. Ngài kia cũng không bao giờ nói: “Ta đã nhất tâm bất loạn rồi”... Không bao giờ có chuyện đó đâu!...

Cho nên, khi mà một người tự nói rằng mình được nhất tâm bất loạn, thì hình như họ đã lỡ lời rồi! Khi đã lỡ lời rồi thì chỉ cần thành tâm sám hối là xong. Còn bây giờ chúng ta không phải là hạng người đó thì nên cần cù.

“Cần cù”là gì? Niệm Phật theo công cứ là cần cù. Ở Tịnh-Tông Học-Hội họ cho thỉnh những cái máy bấm, bấm, bấm là cần cù. Chính chúng ta cũng tìm cách mua một ngàn cái máy bấm vậy đó, (ai muốn phát tâm thì phát?), để phát cho những người quyết tâm tu hành. Họ bấm bấm như vậy, rồi đếm thử coi một ngày niệm được mấy ngàn câu A-Di-Đà Phật? Hai ngàn thì ít quá, ráng lên chị ơi! Ba ngàn?... Ráng lên anh ơi! Năm ngàn?... Năm ngàn cũng chưa đủ đâu!... Mười ngàn?... Ráng lên! Ráng lên! Đó gọi là cần cù. Nếu nhất tâm bất loạn không được mà không cần cù nữa thì không phải là cách tu của người hạ căn hạ cơ. Tức là chúng ta tu lại mất Khế Cơnữa rồi...

Khế lýtức là niệm Phật. Niệm Phật là Nhân, thành Phật là Quả. Đừng có lo cái chuyện này, vì niệm Phật nhất định là khế lý. Nhưng niệm Phật vẫn phải để ý vấn đề khế cơ! Ví dụ, như Hòa Thượng Huyền-Vi, Ngài thường hay nói câu này: Lý sự viên dung,viên thành Phật đạo... “Lý” là ta niệm Phật. Niệm Phật là niệm ngay chân tâm tự tánh. Chân tâm tự tánh hiển lộ là “Lý viên dung”. Nhưng mà “Sự”chúng ta tu giải đãi, ta mở tâm không được, ta khai tâm không được. Nghiệp chướng bao trùm... Nhất định ta bị nghiệp chướng lôi kéo vào lục đạo luân hồi. Ngài Ấn-Quang nói, “Đời sau chưa chắc đã trở lại làm người”. Ngài nói như vậy. Nếu hiểu chút đạo thì chúng ta phải tự lo cho chính ta, không có một người nào lo cho mình được. Mấy ngày nay anh Hai thường nói câu này, thực sự hay vô cùng... Anh nói:

- Chồng tu chồng đắc, vợ tu vợ đắc, cha tu cha đắc, con tu con đắc... không ai có thể giúp được.

Trong đồng tu chúng ta, người nào phát tâm dũng mãnh kịp thời, thì trong đoạn đường còn lại đây cho đến ngày lâm chung chúng ta kịp thời gỡ nạn. Chúng ta đắc. Chúng ta qua được cái cầu đi về Tây Phương. Còn chúng ta chờ, chần chừ... coi chừng lỡ luống qua cơ hội này, nghĩa là khi lâm chung ta bước lên cầu không được...

- Tại sao vậy? Oan gia trái chủ ngăn chặn...

- Tại sao vậy? Bệnh khổ quá nặng, chúng ta ngóc đầu không được...

- Tại sao vậy? Cận tử nghiệp đã xoay hướng, đã che mất cái cầu rồi, ta không cách nào có thể bước lên cầu được.

Vì thế mà luống qua cơ hội này rồi!...

Luống qua cơ hội này thì coi chừng ngàn vạn kiếp sau không cách nào có thể nghe lại câu A-Di-Đà Phật để niệm, lúc đó mới thấy ân hận!... Ân hận rồi thì càng ân hận hơn nữa! Ân hận đến nỗi nước mắt, gọi là giọt nước mắt khổ, nó tràn ngập đại dương, tràn ngập biển khổ!

Hôm nay Diệu Âm xin kể ra một câu chuyện, quý vị nghe thử có thấm không? Tất cả những chuyện này xin hứa rằng hoàn toàn có thực, không bao giờ có điều gì ra khỏi sự thật hết.

Có một vị kia tuổi trong khoảng tám mươi. Vị đó có một người con đã xuất gia đã hơn bốn chục năm. Vị Sư Cô đó về nhà khuyên ông Cụ niệm Phật tu hành. Ông Cụ không chịu niệm Phật, không chịu tu hành, mà luôn luôn trả lời rằng:

- Cô lo niệm Phật, Cô lo tu hành sao cho đắc đạo để mà cứu tôi. Có Cô rồi tôi đâu có cần lo...

Vì sợ thân phụ bị đọa lạc, nên người con tha thiết, năn nỉ hết ngày này qua ngày nọ, tìm mọi cách để khuyên, mà ông Cụ nhất định cứ nói rằng:

- Tu gì mà tu? Cô tu là được rồi, về cứu tôi là cũng an tâm rồi.

Đến khi Ông chết, sau khi mai táng xong rồi thì phát hiện cái hình của ông Cụ trên bàn thờ rơi ra nước mắt, cả hai con mắt đều rơi hết, rơi luôn 49 ngày! Quý vị tưởng tượng đi!... Chuyện này xảy ra năm 2004. Rơi luôn 49 ngày.

Người con sợ quá tiếp tục cầu siêu, tụng kinh, nhưng càng tụng kinh nước mắt càng rơi, không cách nào có thể làm cho nước mắt hết rơi được...

Tấm hình rơi nước mắt là một sự thật! Với những chuyện này Diệu Âm không dám dự đoán là hiện tượng gì? Nhưng chắc chắn rằng đã rơi nước mắt thì không thể nào gọi là sướng được! Chuyện này hơi giống như trường hợp hôm trước. Một người mẹ vì quyến luyến một người con, không chịu buông xả. Đã nằm trên giường rồi mà cứ nghĩ đến đứa con. Khi chết rồi vẫn còn lo cho đứa con. (Chuyện linh hồn người mẹ chạy tìm việc làm cho người con). Lo xong rồi, thì chiều chiều trở về hiện thân ở đầu hè ngồi khóc. Khi chết xong, trên cái tấm hình đó cũng rơi nước mắt ba ngày. Có phải là ân hận lắm không?! Rơi gì rơi cũng không còn cứu được nữa rồi!...

- Con Tu con đắc. Cha không tu cha nhất định bị đọa lạc...

- Chồng tu chồng đắc. Vợ không tu vợ nhất định bị đọa lạc

Dù có rơi nước mắt đi nữa, Phật cứu cũng không được, đừng nói là thân nhân, anh em, bà con…

Mong chư vị tự lo nghĩ tới thân phận của mình. Sợ địa ngục, sợ ngạ quỷ, sợ súc sanh vạn vạn kiếp về sau mà phải lo... Lo liền đừng chờ đừng đợi. Nếu không, coi chừng nước mắt sẽ rơi, rơi đầy biển đông vậy!...

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 34

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Ấn-Quang Đại Sư thường nhắc nhở chúng ta, tâm Chí Thành ChíKínhlà đạo nhiệm mầu để cho chúng ta thành tựu.

Chư vị đồng tu ở trong Tịnh-Tông Học-Hội đều y giáo phụng hành lời dạy này và nghe pháp của Hòa Thượng Tịnh-Không, nên ở tại đó người ta tu rất trang nghiêm, rất cung kính. Nếu có dịp chư vị đi khắp thế giới mới phát hiện ra điều này, là khi đến một đạo tràng thuộc Tịnh-Tông, ta thấy rất trang nghiêm! Mình không dám đi mạnh, mình không dám tằng hắng trong Niệm Phật Đường của họ. Ấy thế mà khi ra ngoài một chút, thì ít khi thấy được hiện tượng đó. Ngài Ấn Quang dạy:

- Một phần thành kính thì một phần lợi ích.

- Hai phần thành kính thì hai phần lợi ích.

- Mười phần thành kính thì ta được đại thiện lợi. Cái thiện lợi của người niệm Phật chúng ta là sau cùng được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Chính vì vậy mà chúng ta nên cố gắng tu hành, phải tỏ ra hết sức cung kính, thanh tịnh, trang nghiêm. Nếu chư vị đến đạo tràng trang nghiêm tu một tuần, hai tuần tự nhiên mình cảm nhận hình như có những Chư-Thiên, Thiên-Long, Hộ-Pháp tu chung với mình. Chỉ có những người rất chân thành, rất thành kính mới cảm nhận được những điều này, còn những vị không có lòng thành kính, không có trang nghiêm thì không bao giờ được cảm ứng này đâu. Đây là sự thực.

Vì vậy, khi mình vào một đạo tràng, dù lúc đó không có ai, ta cũng phải giữ cung cách trang nghiêm, nghi tiết phải đầy đủ, để chúng ta được Thiên-Long, Hộ-Pháp bảo vệ, nâng đỡ, giúp cho chúng ta thoát ra nhiều khó khăn để thành tựu. Nếu chúng ta sơ ý thì có thể bị chư vị la rầy. Một khi bị chư vị la rầy thì phiền não nhiều, nghiệp chướng tăng, chúng ta tu sẽ không đem lại được ích lợi gì hết.

Trở về vấn đề chúng ta bàn thảo trong mấy ngày hôm nay: Khế Lý - Khế Cơ. Thực ra, ở đây nhắc nhở cho chúng ta biết rằng, pháp tu trong Phật giáo có rất nhiều, không phải là một. Nhưng ta cần phải tuyển trạch cho được một pháp tu hợp với căn cơ hạ liệt của chính ta thì mới có khả năng thành tựu. Ngay trong pháp niệm Phật, ta cũng phải biết, gọi là Y Giáo Phụng Hànhchư Tổ, thực hiện những phương pháp hết sức là căn bản của những người thấp kém như chúng ta thì mới được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Nếu sơ ý, cũng là pháp niệm Phật này, nhưng chưa chắc sẽ được thiện lợi!

Một trong những cái hợp với căn cơ của người hạ liệt chính là lời dạy của ngài Ấn-Quang: Chí Thành, Chí Kính. Nếu chư vị tới một đạo tràng mà chưa có lòng chí thành, chí kính, nghĩa là tâm còn ngạo mạn, thì ngài Vĩnh-Minh Đại Sư nói: “Tu hành mà khởi một cái tâm ngạo mạn thì nhất định không thể nào thành tựu, mà còn bị đại họa”. Chính vì vậy mà thường thường, ở trong Tịnh-Tông Học-Hội, quý vị coi, nếu không phải là đang kinh hành, không bao giờ người ta đi ngang qua tượng Phật mà không đứng lại chắp tay xá, dù là ở ngoài trời. Đó là gương mẫu tốt nên theo. Niệm Phật Đường ở đây, chúng ta tới sớm, nếu đi ngang qua lại bàn thờ, khi mà đi qua trước Phật chúng ta nên ngừng lại, quay về hướng Phật đứng đàng hoàng chắp tay xá xuống, khi cái thân mình ngang với mặt đất, rồi đứng lên “Vấn Tấn” một cái mới được đi. Tốt nhất là chúng ta nên đi sau tượng Phật, không nên đi ở phía trước. Tượng Phật chúng ta bây giờ có vách che phía sau rồi, rất là trang nghiêm. Có trang nghiêm, có thành kính như vậy thì chư vị sẽ được chư Thiên-Long Hộ-Pháp chú ý gia trì, nghiệp chướng chúng ta bớt đi, tự nhiên trí huệ càng ngày càng phát sinh ra.

Trong Tịnh-Tông Học-Hội, các vị pháp sư không bao giờ chấp nhận cho mình đi ngang qua khu vực trước bàn thờ, tức là từ bên này đi ngang qua bên kia. Không bao giờ chấp nhận đi như vậy. Ví dụ, như ở bên kia có một cái bồ đoàn hay cái gì đó để bị xéo, mình không được phép đi băng qua đó để sửa, mà phải đi vòng qua phía sau Phật. Phải có lòng cung kính như vậy mới được. Khi vào trong Niệm Phật Đường rồi, xin nhớ cho, vô trong chánh điện rồi thì tuyệt đối không được cất tiếng nói chuyện. Nếu có điều gì quá khẩn cấp, vạn bất đắc dĩ mới mở lên một lời nói nhỏ nhỏ.

Những vị hộ thất có thể được quyền làm dấu gì đó để ổn định đạo tràng, còn riêng chúng ta thì xin chư vị nên hết sức cẩn thận, trang nghiêm tối đa. Người nào hộ thất thì lo việc hộ thất, người nào đứng trong hàng thì lo đứng trong hàng, nhất định không được sơ ý điều này. Đây là những điểm Diệu Âm này học hỏi được từ Tịnh-Tông Học-Hội, người ta rất là trang nghiêm. Mình có trang nghiêm như vậy thì mình mới thoát ra những ách nạn, là vì nhờ Thiên-Long Hộ-Pháp gia trì cho mình, hộ niệm cho mình để cho sau cùng mình mới dễ được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Ngày hôm qua mình đang nói tới chỗ “Niệm Vô Niệm”, “Nhất TâmBất Loạn”. Hôm nay cũng tiếp tục vấn đề đó, nó liên quan tới đề tài “Khế Lý - Khế Cơ”.

Niệm Phật nhất tâm bất loạn là “Khế Lý”, nhưng người phàm phu chúng ta cầu cho nhất tâm bất loạn, nói dễ hiểu, tức là cầu chứng đắc. Nói thẳng thắn ra, là cầu chứng đắc thì không “Khế Cơ”. Đức Phật nói rằng, thời mạt pháp vạn ức người tu khó tìm ra một người chứng đắc. Chúng ta là người phàm phu, đã nhận rõ căn cơ của mình như vậy rồi, thì đừng nên mong cầu chuyện chứng đắc! Ngày hôm qua mình nói, thay vì tu hành để cầu cho chứng đắc, thì bây giờ mình niệm Phật cầu được A-Di-Đà Phật tiếp độ vãng sanh về Tây Phương, nghiệp chướng của mình vẫn còn nguyên, nhưng do lòng chân thành, chí thành, chí kính của mình, thực sự được A-Di-Đà Phật cho mình gói nghiệp lại, gọi là “Đới Nghiệp” để mình vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Chính vì vậy, những vị căn cơ cao, chắc chắn họ là những vị đại Bồ-Tát, thì...

- Họ có chứng đắc trong đó.

- Họ có niệm Phật “Nhất tâm bất loạn” trong đó.

- Họ có “Minh tâm kiến tánh” rồi trong đó, tại vì là đại Bồ-Tát mà.

- Nhưng mà các Ngài không bao giờ thổ lộ chuyện này cho chúng sanh biết đâu. Đó là sự thật.

Có nhiều người sơ ý, ví dụ như đưa ra một chương trình giúp cho đồng tu niệm Phật được nhất tâm bất loạn. Khi mà đưa ra như vậy thì đây thực sự là một sự sơ suất rất đáng kể! Tại vì sao? Vì chính Phật đã nói, thời mạt pháp này căn cơ chúng sanh hạ liệt. Hạ liệt thì không thể nào chứng đắc được! Như vậy nếu mình đưa chương trình chứng đắc ra, thì những người hạ cơ đó có thể bị vọng tưởng! Vọng là sai! Vọng tưởng là những tư tưởng sai! Những suy nghĩ sai! Những cảm tưởng sai!... Càng ngày càng sai!... Càng sai!... Nó có thể thấm dần, đến một lúc nào đó nhiều khi người ta không còn cách nào gỡ ra được!

Chính vì vậy khi chúng ta quyết lòng niệm Phật vãng sanh, thì xin chư vị càng niệm Phật càng khiêm nhường. Nhất định phải khiêm nhường! Đừng bao giờ tự nhận mình là có chứng đắc, dù rằng trong lúc chúng ta niệm Phật ở đây cũng có đôi khi cái tâm chúng ta nó an khang, tĩnh lặng, tâm chúng ta rất là thoải mái… Nhưng xin thưa thực, đó chẳng qua chỉ là một chút ít gì “Tịnh Tịnh” đó thôi! Nhưng rồi sau đó chúng ta cũng lại nhức đầu, cũng đau lưng, cũng mỏi mệt!... Chúng ta không phải là chứng đắc gì đâu. Giữ tâm được như vậy, thì mới an toàn vãng sanh về Tây Phương.

Xin nhắc đi nhắc lại: Chí Thành, ChíKính. Chí thành, chí kính nó thể hiện ra trong tư cách của mình khi tu hành. Nhất định phải thành tâm. Ví dụ như đối trước một vấn đề mình thấy: “À!... mình hơn người khác”... Khi thấy mình hơn người khác tức là cái tâm ngạo mạn đã nổi lên rồi! Mà một khi tâm ngạo mạn nổi lên nó sẽ phá mất hết cả những đức tu của chúng ta.

Ví dụ như ở đây mỗi tối chúng ta tu hành, khi chư vị hộ thất mở cái đèn lên, đó là dấu hiệu cho khóa lễ chuẩn bị bắt đầu thì xin mời chư vị đồng tu mau mau sắp vào hàng liền, trang nghiêm, đứng im lặng. Thực ra, đó chính là trang nghiêm cho chính mình. Trang nghiêm cho đạo tràng là trang nghiêm cho chính mình. Có Trang nghiêm thì chư Thiên-Long Hộ-Pháp sẽ hỗ trợ cho mình. Chứ không phải lúc đó mà còn có người đứng, có người ngồi, có người đi!... Thời gian đó là thời gian chúng ta bắt đầu đứng vào hàng để Niệm Phật Đường được thanh tịnh trang nghiêm.

Xin thưa với chư vị, pháp tu chúng ta không đòi hỏi làm điều gì khó khăn hết, chỉ đòi hỏi làm sao càng ngày càng trang nghiêm, càng ngày càng thanh tịnh. Chỉ cần được vậy, nhất định chúng ta sẽ được chư đồng tu kính nể, được chư Thiên-Long Hộ-Pháp kính trọng, gia trì. Xin nhớ cho, người chí thành niệm Phật thì chư Thiên-Nhân kính trọng. Người niệm Phật mà không có tự trọng, người niệm Phật mà không có giới luật, thì thường thường, như ngài Quán-Đảnh Đại Sư nói, cái tội này nặng vô cùng nặng! Trong những lần trước Diệu Âm đã nói qua rồi, phá mất hình tướng của người niệm Phật, cái tội này rất là kinh khủng! Mong chư vị cố gắng gìn giữ. Đây toàn là những điều hết sức căn bản để cho chúng ta, là người...

- Tội lỗi quá nặng.

- Nghiệp chướng quá lớn.

- Oan gia trái chủ quá nhiều.

- Căn cơ quá thấp.

- Trí huệ chưa phát sinh, ấy thế mà được vãng sanh về Tây Phương.

Khi về Tây Phương rồi thì Thiên-Nhãn Thông, Thiên-Nhĩ Thông, Thần-Túc Thông, Tha-Tâm Thông, Túc-Mạng Thông… tất cả những thần thông đạo lực chúng ta có đầy đủ. Đây là do công đức gia trì của A-Di-Đà Phật.

Xin chư vị quyết lòng thành kính tu hành để hưởng trọn sự gia trì của Ngài để một đời này ta được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 35

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Khi nói về Khế Cơlà để chúng ta tự tìm lấy, moi ra cho hết những gì còn sơ suất trong lúc niệm Phật để cuối đời ta vững tâm đi về Tây Phương.

Những sơ suất này có thể ở những chỗ cao kỳ như hổm nay chúng ta cũng có nói qua, là những mộng ý chứng đắc để thành tựu. Những điều này quá cao so với chúng ta! Nếu chúng ta với không tới mà ráng với thì đây là do vọng tưởng làm cho mình thất bại.

Trở về với hạng hạ căn hạ cơ của chúng ta, thì trong những pháp tu hành, trong những tình ý hàng ngày nhiều lúc cũng có những sự vướng bận... Chương trình nói về Khế Cơ - Khế Lýcũng sắp xong rồi, xin chư vị cố gắng là còn những gì thắc mắc nên viết ra. Tại vì khi nói về Hộ Niệm - VãngSanhthì có những lời khai thị trước người bệnh, mà lời khai thị đó thường không phải là nói những đạo lý cao siêu, mà chỉ làm sao gỡ cho được những mối hồ nghi, những thắc mắc còn vướng lại trong người bệnh.

Ví dụ như hôm trước mình đi tới thăm bác Năm, thì bác có nói một vài câu. Bác nói:

- Không biết mình niệm như vậy, Phật có nghe hay không?

Đây là những điều mình phải chú ý. Đây là những thắc mắc mà mình phải gỡ ra cho người bệnh. Thường thường khi đặt câu hỏi thì đừng hỏi chi những câu cao, hãy hỏi ngay những câu thấp như thế này. Tại vì thấp như vậy thì mới hợp với chúng ta, mà hợp với chúng ta thì chúng ta mới gỡ được, mà gỡ được tức là vãng sanh về Tây Phương. Rồi bác nói nữa:

- Không biết là mình niệm Phật này, mình không niệm Phật kia, thì thấy tội nghiệp cho Phật kia quá!...

Quý vị có thấy không nè!... Đây là những cái thắc mắc mà chính ra là mình phải khui ra. Để chi? Mẹ mình có thể bị trở ngại như vậy, chị mình có thể trở ngại như vậy và khi mình đi hộ niệm cho người ta cũng có thể trở ngại như vậy. Những thắc mắc này nếu mình không giải ra thì người ta vãng sanh không được.

Cho nên, vấn đề vãng sanh không phải là ở những đạo lý cao siêu, mà ở chỗ tâm được An tịnh.

Làm sao “An”?

- Làm cho người đó không còn sợ sệt nữa.

- Không còn phân vân nữa.

- Không còn hồ nghi nữa... thì tự nhiên người ta “An”.

Tâm “An”thì tự nhiên “Lý”đắc. Đắc ở chỗ khi người ta không sợ nữa, người ta quyết lòng đi về Tây Phương. Lý đắc ngay tại chỗ này, chứ không phải là Lý ở trên trời mây đâu!

Người ta quyết lòng đi về Tây Phương vững vàng rồi. Vững lòng thì niềm tin vững vàng. Niềm tin vững vàng, thì khi họ chắp tay niệm: “Nam Mô A-Di-Đà Phật cho con về Tây Phương”. Lời nguyện này là lời nguyện thực, lời nguyện tha thiết. Trong ba phần Tín-Nguyện-Hạnh, rõ ràng họ được hai phần ba con đường rồi. Đơn giản như vậy....

Rồi sao nữa? Họ chắp tay lại, khi họ chắp tay lại niệm: “Nam Mô A-Di-Đà Phật… Nam Mô A-Di-Đà Phật”... Lời niệm này hoàn toàn là chân thành, hoàn toàn là thành kính. Một câu niệm Phật thành kính như vậy, Hòa Thượng Tịnh-Không nói, trước giờ phút ra đi chỉ cần niệm một câu thôi, không cần nhiều, người ta cũng được vãng sanh.

Còn những người cứ tìm những lý đạo thiệt là cao!... Nhất định lời niệm của họ không bao giờ chân thành đâu! Quý vị để ý coi, những người hiểu được chút ít lý này lý nọ, đưa họ vô trong Niệm Phật Đường, họ thường đứng chắp tay sau lưng nhìn Phật, ít khi họ chịu niệm Phật đâu à!... “” thì họ nói cao trên mây, nhưng “Sự” thì hoàn toàn trống rỗng!... Vô tình, họ không được phần vãng sanh.

Chính vì vậy, hôm nay bắt đầu mình phải khui những điều nhỏ nhỏ này ra. Để những người nào nghe được tới những đoạn này, nhất là những bà Cụ không biết tụng kinh, hồi giờ không có ai giảng giải đạo lý gì hết trơn, khi nghe những lời nói này thì vững vàng tin tưởng. Chắc chắn bà Cụ hiền lành này, bà Cụ không biết gì lý đạo này, chỉ cần Anlà được... Hỏi rằng:

- Chú ơi! Hồi giờ tôi làm hại, làm hư nhiều quá rồi, bây giờ có được vãng sanh không?

Đây là những câu hỏi thường xuyên mình gặp. Vì trong đời, một người nếu không bắt cá thì cũng bắn chim, không bắn chim thì cũng làm gà, làm heo... Trước khi họ biết câu A-Di-Đà Phật, họ đã làm hại chúng sanh quá nhiều rồi. Họ sợ lắm!... Xin thưa thực, đây là một cái mối nghi có thể làm cho người ta mất vãng sanh. Nếu mà phá được mối nghi này, họ có thể vãng sanh. Vì sao? Vì A-Di-Đà Phật đã phát đại thệ: Dẫu cho một chúng sanh làm những tội đại nghịch, đại hại, gọi là ngũ nghịch thập ác, là những tội mà thế gian nghe đến phải rợn tóc gáy ra!... Những tội lớn như vậy, nhưng trước những giờ phút lâm chung được cơ may gặp các vị thiện tri thức khai thị...

Mình là thiện tri thức nè! Mình là người hộ niệm nè! Mình tới giảng giải cho họ, rồi nếu người đó phát tâm sám hối liền lập tức, chắp tay lại:

- Nam Mô A-Di-Đà Phật con biết lỗi của con rồi, hồi giờ con không biết tu, con sát hại sinh vật quá nhiều rồi, con ăn cắp nè, con ăn trộm nè, con ăn cướp nè... Đủ thứ! Bây giờ con thành tâm sám hối, xin cúi đầu sám hối.

Nói những câu đơn giản, như nói gọn: “Con thành tâm sám hối” cũng được. “Con lạy Phật xin sám hối” cũng được... Nghĩa là, có tâm thành là được.

Rồi sao nữa? Ta hãy an ủi, giải thích cho người ta:

- Phật đã cho chị sám hối để vãng sanh. Phật cho bác thành tâm sám hối để vãng sanh. Bây giờ bác hãy nguyện vãng sanh đi...

- Nam Mô A-Di-Đà Phật, con quyết lòng xin vãng sanh, con tha thiết được vãng sanh. A-Di-Đà Phật... xin Phật cho con về Tây Phương càng sớm càng tốt...

Chỉ cần như vậy thôi, họ đã có được hai phần ba con đường để vãng sanh rồi.

- Thôi! Bác ơi! Bây giờ đau quá phải không? Kệ nó, đừng lo nữa. Quyết lòng lên để niệm A-Di-Đà Phật. Niệm đi bác...

- Nam Mô...A...Di...Đà... Phật...

Họ niệm những câu Phật hiệu hụt hụt như vậy! Họ nói không nổi nữa! Nhưng tâm họ thành vô cùng. Lúc đó mình mới bắt đầu tiếp sức theo niệm:

- Nam Mô A-Di-Đà Phật... Nam Mô A-Di-Đà Phật...

Khuyên người đó quyết lòng niệm theo, tự nhiên khoảng chừng năm phút sau, mười phút sau... người ta bắt theo cái trớn đó mà niệm Phật leo lẻo: Nam Mô A-Di-Đà Phật”... Tâm chân thành, thanh tịnh... cái lòng chí thành này tự nhiên cảm ứng đến A-Di-Đà Phật liền. Những người đó... quý vị đi hộ niệm rồi mới thấy, họ vãng sanh bất khả tư nghì! Đây là lời nói thực. Họ vãng sanh ngon hơn những người tu hành ba, bốn chục năm mà có tâm cống cao ngã mạn.

Đây là những lời mà hầu hết những đoạn trước Diệu Âm cũng có nói qua. Bây giờ nhắc lại chuyện này: Vãng sanh hay không, không phải là ở chỗ Tu giỏihay Tu dở, mà chính ở chỗ Chí thành, Chí kính. Ngày nào quý vị chí thành thì ngày đó quý vị vãng sanh. Ngày nào quý vị chưa chí thành, bây giờ có tu đến năm chục năm đi nữa... Không cần biết! Không vãng sanh là không vãng sanh! Vì thực sự có những người tu bốn, năm chục năm, từ bốn chục tuổi đã bắt đầu tu rồi, tu thẳng cho đến năm, bảy mươi mấy tuổi mà không được vãng sanh. Vậy mà, lại có những người chưa có pháp danh, tức là chưa tu, ấy thế mà người ta vãng sanh. Tại sao vậy? Tại vì những mối hồ nghi trong đầu của họ mình đã giải ra hết trơn rồi.

Trong những ngày tới, nếu quý vị có câu hỏi thì xin viết ra tờ giấy để ở ngoài hộp góp ý, rồi chúng ta giải ra, giải từng điểm nhỏ nhỏ như thế này. Những người nào trước đây làm những điều sai lầm, nhưng bây giờ đã đến đạo tràng này niệm Phật rồi thì đều có khả năng được vãng sanh Tịnh-Độ. Đã đến đây niệm Phật thì đã có tâm sám hối. Nếu ngày hôm qua cái tâm sám hối chỉ có một thôi, thì hôm nay xin tăng tới mười đi.

Làm sao sám hối?... Một câu A-Di-Đà Phật mà sám hối, chứ không phải như bác Năm nói: “Tôi muốn tụng kinh gì đó... để sám hối”. Một câu A-Di-Đà Phật mà sám hối là hay nhất.

Sám hối bằng cách nào?... Có người niệm Phật ở tại Niệm Phật Đường từ sáu giờ tới tám giờ rưỡi, về nhà thì đi chơi mất! Rồi tới chiều, lại đứng trước bàn thờ Phật, nói... “Nam Mô A-Di-Đà Phật, con xin sám hối!”....

Đây là sám hối giả! Bảo đảm. Thấy rõ ràng! Nếu biết sám hối thì phải lo niệm Phật chứ? Tại sao ở nhà lại đi chơi? Có lẽ vì nghĩ rằng tu như vậy là đủ rồi phải không? Một khi đã nghĩ là đủ rồi, tức là mình cho rằng nghiệp chướng của mình đã hết rồi phải không?

- Con cá nó vẫn còn nằm đó.

- Con gà nó vẫn còn nằm đó.

- Con heo nó vẫn còn nằm đó.

- Hàng vạn chúng sanh đã bị chúng ta giết, chúng vẫn còn nằm đó chờ... Tại sao chúng ta nói đủ rồi?...

Sám hối có nghĩa là phải tinh tấn tu hành, Phải thành tâm niệm câu A-Di-Đà Phật. Rõ rệt!...

Những người hồi trước tới giờ họ không biết tu, nên mới làm những điều sai lầm! Nhưng cuối cùng mình giảng giải cho họ nghe được câu danh hiệu A-Di-Đà Phật. Họ phát lòng tin tưởng, họ Kiệt thành sám hối, tự khả chuyển phàm tâm. Họ chuyển tâm phàmnày thành tâm Phật... Còn người tà tà sám hối, đó là gì? Hòa Thượng Tịnh-Không nói, “Buổi sáng chư vị gạt Phật một lần! Buổi chiều chư vị gạt Phật một lần! Mỗi ngày gạt Phật hai lần. Cái tội của quý vị còn lớn hơn gì nữa! Làm sao mà có thể vãng sanh?”.

Xin thưa chư vị, càng ngày càng tu, mình càng phải nắm vững được yếu tố nào để vãng sanh Tây Phương Cực lạc. Tổ Ấn-Quang đã nói, “Chí thành chí kính là cái đạo nhiệm mầugiúp cho ta vượt qua cái ách nạn của hạng phàm phu tục tử này, thành bậc Chánh-Giác trên cảnh Tây Phương Cực Lạc.

Biết được như vậy, mau mau quay đầu làm cuộc cách mạng rất mạnh để cho chúng ta vượt qua được cái ách nạn này. Nếu chúng ta không chịu làm cuộc cách mạng tự thân, thì coi chừng nhiều đời nhiều kiếp qua ta đã bị đọa lạc rồi, bây giờ vẫn tiếp tục đọa lạc nữa. Oan uổng vô cùng!...

Một câu A-Di-Đà Phật.

Lục tự Di-Đàvô biệt niệm. Sáu chữ A-Di-Đà Phật vô biệt niệm là một câu A-Di-Đà Phật mà niệm. Đừng niệm cái gì khác. Bây giờ chư Tổ còn cắt cho ta hai chữ, còn lại “A-Di-Đà Phật”. Tứ tự Di-Đà vô biệt niệm”. “Vô biệt niệm” là không có niệm gì khác cả. Tức là niệm một cái thôi, gọi là vô biệt niệm. Bất lao đàn chỉ đáo Tây Phương. “Bất lao”là không mệt mỏi gì hết, không làm cái gì cho cực thân. Đàn chỉ”là khảy móng tay một cái như thế này thì tới Tây Phương liền.

Cho nên, khi một người ngộ ra chỗ này, khảy móng tay một cái tới Tây Phương liền. Mà không ngộ? Tức là ở đây niệm Phật một vài tiếng, về nhà bỏ đi chơi, cạnh tranh, ganh tỵ... thì bây giờ có khảy cho đến quẹo cái tay này đi nữa cũng không vãng sanh là không vãng sanh!...

Mong quí vị hiểu cho, con đường vãng sanh nhất định ở trước mũi bàn chân của những người Chí Thành - Chí Kính - Niệm Phật.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 36

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Mỗi ngày chúng ta đều nhắc nhở với nhau là nhằm giúp cho chúng ta càng ngày càng vững vàng, tin tưởng vào pháp môn niệm Phật. Đây là cơ hội cuối cùng để trong thời mạt pháp này ta được giải thoát.

Chương trình nói về Hộ Niệm: Khế Lý - Khế Cơcũng gần xong rồi. Trong những thời gian cuối cùng là dành để giải quyết những vấn đề cụ thể, những thắc mắc còn vướng lại, cho đồng tu chúng ta vững tâm, yên chí niệm Phật. Ví dụ như hôm trước bác Tiên có nhắc đến câu: Thiền-Tịnh song tu. Có tu Thiền, có tu Tịnh thì mạnh như con cọp thêm sừng. Nhiều người nghe như vậy mới cho rằng phải tu Thiền, phải tu Tịnh. Trong khi đó thì ngài Đại-Thế-Chí Bồ-Tát trong kinh Lăng-Nghiêm có nói: Đóng hết sáu căn lại, thanh tịnh niệm Phật liên tục, không nhờ một phương tiện nào khác, tâm ta sẽ tự khai mở. Ta thấy hình như giữa ngài Đại-Thế-Chí và ngài Vĩnh-Minh nói hơi ngược ngược với nhau! Một người thì nói không cần phương tiện nào hết, còn ngài Vĩnh-Minh thì hình như khuyên ta nên tu cả hai, vừa Thiền vừa Tịnh, tu như vậy thì giống như con cọp mà thêm cái sừng, tức là không có gì có thể địch lại!...

Vấn đề này, khi chúng ta đọc “Đại Sư Ấn Quang Văn Sao” thì Ngài giải thích rất rõ. Đến khi nghe Hòa Thượng Tịnh-Không giải thích nữa thì mình thấy lại càng rõ hơn. Thật sự thì hai vị này giải thích rất thấm thía! Ngài Ấn-Quang Đại Sư nói rằng, lời của ngài Vĩnh-Minh Đại Sư:Hữu Thiền, hữu Tịnh-độ, du như đới giác hổ,có ý nghĩa rằng, người tu Thiền là người có ý chí rất mạnh, có một trí huệ rất sắc bén mới tu được. Họ quyết lòng tự lực để thành đạo. Đây là những người thượng căn thượng cơ, chí khí rất lớn. Chí khí lớn thì ví như con cọp, nghĩa là rất mạnh! Đã mạnh như vậy mà niệm thêm một câu A-Di-Đà Phật nữa, thì đường tu của họ càng vững hơn, càng mạnh hơn nữa, giống như con cọp có thêm cái sừng. Con cọp đã mạnh mà thêm cái sừng nữa thì ai có thể chống lại nổi!

Ngài mới nói là, được như vậy thì đời này sẽ là Nhân Sư và đời sau sẽ làm Phật Tổ. Tương lai sẽ là Phật là Tổ. Ấn-Quang Đại Sư giải thích như vậy. Đến khi Hòa Thượng Tịnh-Không thì Ngài giải còn rõ hơn nữa. Ngài nói, Đại SưVĩnh-Minh nói như vậy là tại vì Ngài đang bị khó khăn! Trong thời nhà Tống, nhà Đường, pháp môn Thiền Định đang rất thịnh hành. Lúc đó người ta chê pháp môn niệm Phật là của bà già. Ngài Vĩnh-Minh thực sự là A-Di-Đà Phật tái lai, Ngài thị hiện trong thời đại đó. Ngài đóng một vai trò đi ăn cắp, ăn cắp kho của nhà vua để mua cá trạch phóng sanh. Sau cùng thì Ngài bị án tử hình. Nhưng trước bản án tử hình thì Ngài chỉ cười hè hè! Không sợ!.. Nhà vua mới hỏi tại sao nhà ngươi không sợ? Ngài nói:

- Ta chỉ có một cái mạng này mà cứu không biết bao nhiêu mạng chúng sanh, thì đâu có gì mà sợ. Cứ giết ta đi, ta về Tây Phương.

Thấy vậy nhà vua mới khoan hồng cho Ngài. Ngài xin xuất gia, sau đó trở thành Quốc Sư.

Hòa Thượng Tịnh-Không nói, A-Di-Đà Phật sao lại không chịu tu pháp môn niệm Phật mà tu pháp môn Thiền, rồi sau cùng mới khuyên ta chuyển qua Tịnh-Độ? Là tại vì Ngài muốn làm gương cho tất cả mọi người…

- Ta là một vị Thầy của Hoàng Đế đây.

- Ta là người tu Thiền Định đây... Chứng đắc đây!... Nhưng ta vẫn khuyên các con phải niệm Phật.

Khi Ngài chuyển qua niệm Phật, thường thường các hàng đệ tử cứ theo hỏi:

- Sao Hòa Thượng tu thiền mà bây giờ Hòa Thượng lại niệm Phật?...

Bây giờ biết làm sao? Ngài mới nói:

- “Hữu Thiền” là ta đang tu thiền, mà còn “Hữu Tịnh-Độ”, tức là có niệm Phật nữa, thì ta giống như con cọp mà thêm cái sừng. Đời này ta làm Thầy, là thầy của Quốc Vương, đến đời sau ta làm Phật.

Đây là ngài Tịnh-Không giảng đại ý như vậy. Rất hay!

Có nhiều người trong thời này, căn cơ quá yếu mà vội vã chụp lấy những lý đạo cao siêu, rồi bám theo hành trì, thì sẽ đưa đến tình trạng không có “Khế cơ. Những chuyện hổm nay chúng ta nói rất nhiều. Căn cơ chúng ta thực sự không đủ khả năng tự mình vượt qua ách nạn sanh tử luân hồi. Ngài Ấn-Quang Đại Sư nói:“Giả sử như Bồ-Đề-Đạt-Ma Sư-Tổ mà có tái sinh trong thời này thì Ngài cũng phải dạy chúng sanh niệm Phật mà thôi. Tại vì căn cơ thời này không thể nào tự lực chứng đắc được”. Chính vì vậy mà các vị Tổ Sư luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải vững vàng tin tưởng vào câu A-Di-Đà Phật.

A-Di-Đà Phật phát một đại thệ “Mười niệm tất sanh, nhất định đại thệ này Ngài giữ cho đến vô lượng vô biên kiếp về sau. Có nhiều người nói rằng, ba nghìn năm trước Phật dạy như vậy, nhưng bây giờ thời gian đã chuyển biến, thì mình cũng phải chuyển biến chớ? Đâu có thể nào giữ mãi một chỗ được? Nhiều người nghĩ như vậy, nên chủ trương rằng, trong thời này đã văn minh rồi, ta hãy tự lập ra những gì mới mẻ một chút để tu hành!...

Xin thưa rằng, thọ mạng của A-Di-Đà Phật đến vô lượng vô biên kiếp, và thọ mạng của mình khi về Tây Phương cũng vô lượng vô biên kiếp. Thời gian từ lúc đức Thích-Ca-Mâu-Ni Phật thị hiện xuống thế gian này, rồi tịch diệt cho tới ngày nay chưa tới ba ngàn năm. Chưa tới ba ngàn năm. Với thời gian này nếu một người xuống địa ngục mới thọ hình có một ngày rưỡi!... Lên trên các cảnh giới trời, ví dụ cảnh trời Hóa-Tự-Tại chẳng hạn, thì mới có đâu khoảng hai ngày rưỡi à!... Còn lời thề của đức A-Di-Đà Phật cứu độ tất cả chúng sanh nó lưu truyền từ bây giờ cho đến mãi mãi mãi về sau...

Hòa-Thượng Tịnh-Không nói, cho đến khi nào mà những người có duyên với Ngài niệm được câu A-Di-Đà Phật, về cho được tới Tây Phương rồi, không còn một người nào lọt lại trong cảnh lục đạo luân hồi, thì lúc đó Ngài mới thị tịch. Mình hãy thử tưởng tượng đi, làm gì mà có chuyện hết được? Nhất định! Mình đem một con cá đi phóng sanh, mình niệm cho nó ít ra cũng hai ba chục tiếng A-Di-Đà Phật. Chủng tử A-Di-Đà Phật đã nhập vào A-Lại-Da Thức của nó rồi. Bây giờ thì nó không biết gì hết, nhưng vô lượng kiếp về sau nhất định cái chủng tử này sẽ hiện ra, và khi nào con cá đó đi về Tây Phương thành đạo rồi Ngài mới tịch. Vậy thì chúng ta yên chí đi, đừng bao giờ lo ngại nữa.

Ngài Ấn-Quang Đại Sư nói:

- Nếu chư Phật trên mười phương bỏ câu A-Di-Đà Phật, thì chư Phật không cách nào cứu độ hết được tất cả chúng sanh.

- Nếu trong cửu pháp giới bỏ câu A-Di-Đà Phật, thì cũng không có cách nào vẹn toàn thành đạo Vô-Thượng được.

Cửu pháp giới chúng sanh là gì? Là lục đạo cộng thêm Thanh-Văn, Duyên-Giác, Bồ-Tát nữa. Chúng ta chỉ mới là Nhân, là con người thôi. Xin quý vị phải tin tưởng vững vàng. Có vững vàng như vậy thì tự nhiên trong một đời này nhất định chúng ta được vãng sanh.

Ngày mai chúng ta sẽ tiếp tục mổ xẻ những vấn đề liên quan tới những điều cụ thể của người khi bịnh, để chúng ta vững tâm. Vì xin thưa thực, tất cả chúng ta ai cũng có nghiệp chướng rất nặng!...

- Chúng ta bệnh là do nghiệp.

- Chúng ta bị vào trong bệnh viện, bị mổ xẻ là do nghiệp.

- Chúng ta bị ung thư, tất cả đều là do nghiệp hết.

- Làm ăn thất bại, tất cả đều có nhân quảhết...

Khi biết được Nhân-Quả rồi, chúng ta phải vững vàng, yên chí đi. Vì Nhân-Quả nó trói buộc phải khổ như vậy, nên chúng ta phải tiếp tục trong cảnh sanh tử luân hồi không bao giờ thoát nạn được!

Ấy thế, từ trong cảnh vô cùng tăm tối như vậy, nay gặp được câu “A-Di-Đà Phật” cũng giống như ta gặp được ngọn đuốc. Nghiệp chướng là cảnh tối tăm từ vô lượng vô biên kiếp, giờ đây gặp một ngọn đuốc, đuốc “A-Di-Đà Phật”. Câu A-Di-Đà Phật là ngọn đuốc, khi thắp lên thì sáng trưng, tự nhiên bao nhiêu cái nghiệp của chúng ta tan biến hết trơn rồi. Nếu thực sự chúng ta muốn bỏ cái nghiệp đi, chúng ta muốn liệng cái nghiệp đi, thì nhất định từ đây chúng ta sẽ hết rồi, không còn nữa đâu. Ta chỉ xả bỏ báo thân một lần chót nữa, tức là cái nghiệp chúng ta nó làm cho chúng ta bị một đại nạn nữa, đó là đại nạn “Tử”, đại nạn bỏ báo thân này một lần nữa là xong...

Niềm tin vững vàng, niệm một câu A-Di-Đà Phật, tức là “Tịnh niệm tương kế. đừng nên xen tạp… Được như vậy thì nhất định A-Di-Đà Phật sẽ đưa ta về Tây Phương. Về được Tây Phương thì lúc đó:

- Ta không còn là phàm phu vị nữa.

- Ta không còn là những người bình thường nữa.

- Ta là những vị đại Bồ-Tát trên cõi Tây Phương.

- Ta sẽ dùng tất cả nhữngthần thông đạo lực của chân tâmtự tánh này mà đi cứu độ vô lượng vô biên chúng sanh, giúp cho họ thoát khỏi ách nạn của nghiệp chướng giống như ta đã từng thọ qua trong vô lượng kiếp.

Xin chư vị vững vàng tin tưởng như vậy để cho trong một đời này tất cả chúng ta đều được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn