Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tọa Đàm 01 - 12

04/12/201209:25(Xem: 1260)
Tọa Đàm 01 - 12


48 TỌA ĐÀM KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tác Giả: Cư Sĩ Diệu Âm (Úc Châu)


KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 1

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Trong thời gian qua, ở tại Niệm Phật Đường chúng ta, thường nhắc nhở về vấn đề tu học. Hôm nay Diệu Âm xin thông tin với chư vị có một vấn đề liên quan đến sự tu học khá là quan trọng, cho nên thay vì những ngày này chúng ta nghe những lời trích đoạn khai thị của Hòa Thượng Tịnh-Không, thì hôm nay Diệu Âm xin dành giờ phút này để phổ biến cho chúng ta biết được cái thông tin này, hầu mong cho sự tu học của chúng ta tránh được những trở ngại đáng tiếc xảy ra.

Cái thông tin như thế này, vừa mới đây ở trong nước có một vị niệm Phật cho biết đã đạt đến cảnh giới nhất tâm bất loạn, biết được ngày giờ vãng sanh, và tin này đã phổ biến rất là rộng rãi, toàn quốc đều hay biết và người ta chuẩn bị cho cuộc đưa tiễn vãng sanh rất rầm rộ và trang nghiêm. Nhưng đến sau cùng rồi thì việc vãng sanh đó không xảy ra! Bị trở ngại! Sự việc gây xáo trộn rất lớn trong tinh thần người tu học. Có một điều đáng tiếc hơn nữa là tin này đã tung lên tới thế giới rồi, trên những cái mạng có tầm vóc quốc tế đã đăng lên rồi. Chính vì vậy mà nó ảnh hưởng cũng khá sâu đậm trong làng Phật Giáo Việt Nam chúng ta.

Xin thưa với chư vị, tại sao lại có những chuyện như vậy? Chúng tôi có điện thoại về hỏi những vị rất là thân cận có trực tiếp tiếp xúc với chuyện đó. Thực ra, không có gì gọi là xa lạ lắm, mà chính là vấn đề tu học cần phải “KHẾ CƠ - KHẾ LÝ”.

-Khế Lý” là tu học đúng theo Pháp Phật, không sai với lời Phật dạy.

- “Khế Cơ” là phải biết ứng dụng cho đúng hợp với căn cơ của người tu học.

Nếu căn cứ vào kinh mà quên đi vấn đề căn cơ của chính người tu học, thì có thể rất dễ dàng dẫn đến chỗ gọi là vọng tưởng, không thực hiện được!

KHẾ LÝlà nói về “”. KHẾ CƠlà nói về “SỰ”. Hai điều này rất là quan trọng. Chính vì vậy mà thời gian qua, trong những cuộc tọa đàm, Diệu Âm cũng thường nhắc nhở chư vị đồng tu là riêng Niệm Phật Đường chúng ta ở đây mong muốn chư vị kết hợp lại thành một nhóm nhỏ, tu hành với nhau, học hỏi với nhau, rồi sau cùng chúng ta nương dựa nhau, hộ niệm cho nhau, giúp đỡ nhau để vãng sanh. Đây là điều rất chính xác và hợp với tình trạng của chúng ta.

Hòa Thượng Tịnh-Không thường nhắc rằng thời mạt pháp này không được đóng cửa tự tu một mình. Lý do đầu tiên là thường thường tu một mình, không có thời khóa, giải đãi! Đây là nói về điều gần gũi nhất. Nói về xa là tại vì căn cơ chúng ta quá yếu, chúng ta chưa ngộ được lý đạo cao siêu của Phật, nên Ngài sợ chúng ta ứng dụng bừa bãi. Dù là ứng dụng kinh Phật nhưng không hợp lý, không hợp lúc, không hợp căn cơ thì chúng ta dễ bị tình trạng như vừa nói bên trên.

Xin thưa rằng, có một sự việc như thế này, là có một vị đó, đầu tiên tu về Thiền, sau đó mới gặp được pháp môn niệm Phật, thấy câu A-Di-Đà Phật nhiệm mầu quá và tự tra trong kinh Vô-Lượng-Thọ, nghĩa là tự nghiên cứu lấy thì mới bắt được một câu trong kinh Vô-Lượng-Thọ, câu đó như thế này:

-Bỉ Phật Như Lai, Lai Vô Sở Lai, Khứ Vô Sở Khứ, Vô Sanh Vô Diệt, Phi Quá Hiện Vị Lai.

Người đó ngộ (?) ra câu này, rồi đóng cửa tự tu. Tự tu một thời gian thì mới chứng đến một cái cảnh giới nào đó rất là vi diệu(?), vi diệu đến nỗi mà làm cho nhiều người có học Phật cũng lầm luôn. Chính vì vậy mà sau cùng mới xảy ra tình trạng là đã loan ra quá rộng rãi, tổ chức quá rầm rộ, động luôn tới vấn đề trật tự an ninh của xã hội, và sau cùng thì đưa đến là trong những cái mạng web của thế giới cũng đăng lên luôn… Nhưng mà thực sự thì vị đó hiện bây giờ vẫn còn sống.

Khi chúng ta đọc kinh hay là nghe lời Tổ, nghe giảng ký, chúng ta phải biết trạch pháp một cách cẩn thận. Trạch pháp là thế nào? Là phải biết… À! Lời này là Phật nói ở cảnh giới nào? Một vị Hòa Thượng đang giảng một đoạn kinh này là giảng ở cảnh giới nào? Ví dụ như Hòa Thượng Tịnh-Không giảng kinh, khi Phật nói cảnh giới của Phật thì chắc chắn là Ngài phải giảng trong cảnh giới của Phật. Nếu một người căn cơ hạ liệt như thế này mà chụp lấy điều đó để tu, coi chừng bị trở ngại! Khi giảng đến một cảnh giới của A-La-Hán (là vì trong kinh của Phật mà), thì bắt buộc Ngài phải giảng ở cảnh giới A-La-Hán. Chúng ta nghe tới cảnh giới A-La-Hán vi diệu quá, chụp lấy mà tu thì coi chừng không hợp với căn cơ của mình, đưa tới cái chỗ vọng tưởng!

Thì câu kinh của Phật nói, “Bỉ Phật”chính là A-Di-Đà Phật; “Lai Vô Sở Lai, Khứ Vô Sở Khứ, Vô Sanh Vô Diệt, Phi Quá Hiện Vị Lai”, nghĩa là Vị Phật đó, Như-Lai đó về thì không biết đâu mà về, đi thì không có chỗ nào đi, không sanh không tử, không có quá khứ, hiện tại, vị lai. Một người căn cơ thấp kém như chúng ta, nghe đến câu này quá ư là vi diệu, tưởng mình là Phật, mình cũng không đi đâu, mình cũng không về đâu, mình cũng không sanh không diệt, mình không có quá khứ vị lai... Như vậy mình là Phật rồi chứ gì nữa? Thế là đóng cửa kiết thất tự tu! Trong khi đó Hòa Thượng Tịnh-Không nói, thời đại mạt pháp này không nên tự kiết thất tinh tấn. Thế mà tự kiết thất tinh tấn tu hành đến nỗi xảy ra tình trạng như nói vừa rồi.

Chúng ta phải nhớ cho rõ, về lý đạo thì rõ rệt vị đó tu đúng lý, vì lý này là lý của Phật mà, trong kinh Phật nói ra làm sao không đúng được? Chắc chắn. Nhưng mà ứng với căn cơ của mình thì hoàn toàn sai. Chính vì vậy mà Hòa Thượng Tịnh-Không thường khuyên rằng, trong thời mạt pháp không được “Tự kiết thất tinh tấn”, mà khuyên chúng ta nên tu theo cách của ông thợ vá lu, tức là ông Cô-Lô-Giang.

Ông thợ vá lu tu như thế nào? Hễ mệt thì nghỉ, khỏe thì tu, ngồi niệm Phật được thì ngồi niệm Phật, ngồi niệm Phật mệt mỏi thì đi kinh hành niệm Phật, đi kinh hành mà thấy mỏi chân thì ngồi trên ghế niệm Phật...

Ngài nói là nên tu theo tùy sức, không được vượt qua cái sức của mình. Nếu sơ ý, nhiều khi cứ tưởng rằng, mình có những năng lực đạt được những cảnh giới cao, có thể tu trì như các vị đại Bồ-Tát, thì thường thường trong kinh Phật và chư Tổ cũng hay nhắc nhở câu này: “LỰC BẤT TÒNG TÂM”. Cái Tâm chúng ta muốn thành Phật, cái tâm chúng ta muốn nhất tâm bất loạn, cái tâm chúng ta muốn đạt được hai năm, ba năm vãng sanh… nhưng cái lực chúng ta không trì nổi. Nếu chúng ta bám theo, đến một giai đoạn nào đó có thể vượt qua sự chịu đựng thì chúng ta bị trở ngại! Thường thường khi đã bị trở ngại rồi thì không còn cách nào có thể cứu chữa được! Ví dụ như vị đã bị trở ngại đó, sau khi bị như vậy rồi thì rất nhiều phiền não đã xảy ra. Khi ách nạn bắt đầu đến chập chùng rồi, thì mới tìm cách lánh nạn. Nhưng xin thưa với chư vị, lánh nạn thì trong khi đã đeo nạn trên mình rồi!...

Chính vì vậy, xin nhắc nhở với tất cả chư vị, ở đây Niệm Phật Đường chúng ta không chủ trương sẽ có một thời khóa nào, hay một phương thức nào để cho chư vị được nhất tâm bất loạn. Ở đây Diệu Âm đóng vai như người đang hướng dẫn đạo tràng này, nên Diệu Âm phải nhắc nhở những điều này để chúng ta cùng tránh, vì nếu không tránh, lỡ bị vướng nạn rồi thì chính Diệu Âm này không cách nào gỡ ra được.

Mong chư vị nhớ những điểm cần yếu như thế này, là chúng ta phải giữ một mực khiêm nhường tối đa, càng tu càng khiêm nhường. Nhất định:

- Không có nảy lên một ý niệm nào là ta tu ngon lành.

- Không có nảy lên một ý niệm nào là ta tu có thể chứng đắc.

- Không có nảy lên một ý niệm nào là ta niệm Phật đã nhập tâm rồi, đã nhất tâm bất loạn rồi.

Diệu Âm đang phổ biến cái chương trình công cứ, nhưng Diệu Âm sẽ theo dõi rất kỹ và thường thường có những lời khuyên chân thành. Ví dụ như thấy quý vị lập công cứ mà ngày đêm bỏ ăn bỏ uống để niệm Phật, thì Diệu Âm xin chư vị hãy giảm bớt lại, thoải mái một chút để có thời gian tắm rửa, lau mặt, lau mày để cho tinh thần của mình được thư thả. Nếu có vị tu giải đãi quá thì Diệu Âm khuyên... À, nên tăng lên một chút, nếu giải đãi quá coi chừng khi nằm xuống thì nghiệp chướng, oan gia trái chủ bủa vây, đồng tu của Niệm Phật Đường A-Di-Đà không cách nào có thể đến giúp được gì cho chư vị.

Cho nên, tùy theo một người mà Diệu Âm khuyên nên tăng lên một chút, cũng vì một người Diệu Âm khuyên nên giảm một chút và luôn luôn theo dõi... Để chi? Vì Hòa Thượng đã dạy rằng, trong giai đoạn này không được quyền tự tu tinh tấn.Tu công cứ là tu tinh tấn. Cho nên xin chư vị nhớ cho, là chúng ta phải cố gắng hết sức trói cái tâm mình trong câu A-Di-Đà Phật, nhưng càng tu nhất định chúng ta phải càng khiêm nhường và càng kết hợp với đạo tràng, để thí dụ như, thấy chị tu trong một thời gian tại sao khuôn mặt trở nên mét mét đi! Là bị mệt quá rồi chứ gì? Giảm bớt lại chị. Cẩn thận. Khi thấy người này tu một thời gian tự nhiên sao thấy hình như là nó lâng lâng trên trời! Giảm bớt lại, đừng sơ ý nữa… Nhờ vậy mà chúng ta giải cứu cho nhau. Chứ nếu không, thì xin thưa với chư vị, thực sự là khó khăn! Nhất là trong giai đoạn này!...

Cố gắng điểm này nhé, càng tu hành chúng ta phải càng buông xả. Nhất định phải buông xả. Nếu không buông xả thì coi chừng rất khó khăn trong công cuộc vãng sanh.

Sắp tới đây tôi sẽ liên lạc về Việt Nam, họ sẽ tìm cách gửi qua một số các hiện tượng vãng sanh nữa cho quý vị coi, nhiều vô cùng. Họ vãng sanh thực sự, hàng trăm cuộc như vậy. Có thể như vậy và tôi đang liên lạc để tìm cách gửi qua rồi tôi sẽ công bố cho quý vị coi. Thật sự đã có vãng sanh. Nhưng thực sự, cũng có những người vì quá vọng tâm mà mất phần vãng sanh. Không những mất phần vãng sanh mà còn bị trở ngại nữa.

Những lời nhắc nhở chân thành này xin chư vị hiểu cho, tại vì trách nhiệm của Niệm Phật Đường là cố giúp người vãng sanh. Nhưng xin chư vị hãy nhớ cho, không thể nào ỷ y, không thể nào lơ là được. Nhất định nhớ cho, chúng ta phải nương theo A-Di-Đà Phật để Ngài cứu độ chúng ta về Tây Phương, chứ không phải là chúng ta chứng đắc để tự về Tây Phương.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 2

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Với lòng chân thành, Diệu Âm xin nói lên những điều này, là tha thiết muốn cho tất cả chư vị đồng tu đến đây tu học, sau cùng được thuận buồm xuôi gió về tới Tây Phương Cực Lạc, ngoài ra không có một ý gì khác cả.

Trong pháp tu chúng ta phải rõ thế nào là Khế Lý? Thế nào là Khế Cơ? Tu học phải dựa vào kinh Phật là Khế Lý, dựa vào những lời giảng dạy của chư Tổ Sư làKhế Lý.Đem tất cả những lời giảng đó ứng dụng trên chính mỗi cá nhân chúng ta để được thành tựu, thì đó gọi là Khế Cơ. Khế Cơlà hợp với căn cơ của chúng ta.

Ngài Ấn-Quang Đại Sư nói, tất cả kinh Phật, pháp môn của Phật không có pháp nào cao, không có pháp nào thấp. Ứng hợp với căn cơ của mình thì mới được diệu dụng.

Pháp môn của Phật bình đẳng, đó là Khế Lý. Ứng hợp được với căn cơ của mình, chọn lựa cho đúng, hành cho đúng theo khả năng của mình là Khế Cơ, chúng ta được thành tựu. Nếu chúng ta ứng hợp không đúng, dù là ứng dụng lời Tổ, dù là ứng dụng kinh Phật cũng có thể bị trở ngại như thường. Xin thưa với chư vị, hiện tại bây giờ trong Email của Diệu Âm có khoảng 400 câu hỏi, mà đó cũng là cố gắng giải quyết rồi đó, Diệu Âm không dám mở ra nữa, vì mở ra thì chắc chắn trong đó cũng có những vấn đề tương tự như chúng ta đang giải quyết đây.

Trong quá khứ Diệu Âm đã giải quyết khoảng chừng gần mười người, gần mười người tự khoe mình đã chứng đắc, đã chứng này, chứng nọ. Diệu Âm cũng khuyên hết lời là:

“Phải quyết lòng thành tâm niệm Phậtvà luôn luôn nghĩ mình là phàm phu tục tử tội chướng sâu nặng, oan gia trái chủ nhiều, mau mau nhiếp tâm niệm Phật cầu Phật gia trì thì mới tránh được những hiểm nạn bất ngờ”.

Nhưng hầu hết các vị đó không nghe! Đến lúc đã bị nạn quá nặng rồi, “Hoảng kinh hồn vía” lên, mới la làng la xóm lên!... Xin thưa, là lúc đó thì Diệu Âm cũng khuyên được khoảng sáu người buông được. Khuyên được người thứ sáu, đến người thứ bảy tiếp tục... người thứ tám tiếp tục... Thôi!... Diệu Âm đành phải đóng Internet luôn, không dám trả lời nữa! Vì thực sự lực của Diệu Âm này không đủ khả năng để giải quyết. Trong khi đó, thì xin thưa với chư vị, nguồn tin của những người hiền lành, chất phác, thật thà, một lòng thành tâm thành kính niệm câu A-Di-Đà Phật và được những ban hộ niệm đến hộ niệm trong những tư thế hết sức bình dân, vậy mà họ ra đi với thoại tướng bất khả tư nghì.

Thực sự, những hiện tượng gần gần với chúng ta đây cũng có những người vừa nhìn thấy một quyển sách, hay một phương pháp nào giới thiệu rằng niệm Phật bảy ngày, bốn ngày, năm ngày, hai tuần thì được Nhập Tâm”, được “Niệm Tự Niệm”,tức là Niệmmà Vô Niệm,rồi có thể tăng tiến dần đến cái chỗ “Nhất tâm bất loạn”, thấy hay quá và vội vã chạy theo!... Có nhiều người rất thân thiện, Diệu Âm cũng chỉ thành tâm khuyên, ngoài ra không biết cách nào khác hơn! Nhưng khổ một điều là khuyên mà các vị đó không nghe. Những người ở trong Internet chỉ liên lạc thẳng với Diệu Âm nên không dám thố lộ ra. Trong khi Diệu Âm đi từ nước này qua nước nọ, bất cứ nước nào cũng gặp ít ra một người, hai người hoặc ba người bị vướng cái nạn này. Bây giờ biết làm sao? Thổ lộ với ai đây? Trong dịp vừa rồi, tức là sự việc nó đã lộ ra rồi, làm chấn động khắp nơi trong nước rồi, thấy sợ quá, mới xin thổ lộ cho chúng ta biết con đường nào là đường chúng ta thành tựu, con đường nào là cạm bẫy, nguy hiểm đang giăng ngay trước bàn chân của mình mà không hay!...

Cho nên, chúng ta tới đạo tràng này thì hãy quyết giữ lòng “Thành Tâm Thành Ý”. Hòa Thượng Tịnh-Không có lần gặp Phật tử Ngài lấy nón xuống, Ngài chắp hai tay lại, Ngài cúi đầu xuống... Quý vị nghĩ coi, một vị đại Hòa Thượng gặp đồng tu mà Ngài lấy cái nón xuống, chắp tay lại, cúi xuống. Người ta chụp được tấm hình đó đưa lên thành đề tài: “ChíThành Cảm Thông”. Quý vị coi những hình ảnh đó để hiểu những lời dạy tuyệt vời của các Ngài.

Trở về vấn đề, vì thấy quá nguy hiểm mà không biết cách nào để có thể khuyên nhau! Khi đã chui vào tình trạng đó rồi thì khó gỡ ra lắm! Nhiều khi mình biết một người bạn, một người rất thân của mình sẽ bị nạn đó mà cũng đành nhìn thôi, chứ không biết cách nào khác hơn!Đây là sự thật!

Trở về vấn đề Khế Lý - Khế Cơ. Ví dụ như chúng ta đang tụng kinh A-Di-Đà, trong kinh A-Di-Đà, Phật nói, Một người nào nhiếp tâm niệm Phật từ một ngày đến bảy ngày nhất tâm bất loạn thì khi người đó ra đi, Ta sẽ đến tiếp dẫn, chắc chắn được vãng sanh về Tây Phương.Có nhiều người ứng dụng ngay lời kinh này, lập ra một phương pháp, rồi tuyên bố rằng với phương pháp tu tập này trong bảy ngày sẽ nhất tâm bất loạn liền. Người ta đã ứng dụng đúng kinh. Nhưng nếu là người thực sự cẩn thận, khi nghe nói như vậy thì xin bái chào đi, quyết lòng rút về, âm thầm khiêm nhường mà niệm Phật. Tại sao vậy? Bảy ngày nhất tâm bất loạn gọi là kiết thất tinh tấn đó, đúng lý của Phật dạy. Nhưng mà bảy ngày được nhất tâm bất loạn thì căn cơ của chúng ta nhất định không thể thực hiện được! Chú ý điểm này, chứ đừng thấy một người nói toàn là kinh Phật hết, rõ ràng người ta có nói gì sai đâu? Nếu ứng dụng theo, chạy theo, coi chừng sự hiếu kỳ này sẽ làm chúng ta bị trở ngại!

Ví dụ khác, như ở trong kinh Quán-Vô-Lượng-Thọ, Phật dạy tất cả là mười sáu pháp quán, mà trở về tới thời đại này chư Tổ cấm chúng ta đến mười lăm pháp quán không được sử dụng. Cũng từ trong kinh Phật ra chứ không phải ở ngoài, vậy mà chư Tổ chỉ khuyên chúng ta là một lòng chấp trì danh hiệu A-Di-Đà Phật niệm mà thôi, tức là ứng dụng pháp cuối cùng là pháp mười sáu. Mười lăm pháp khác các Ngài không cho. Tại sao vậy? Là tại vì căn cơ của chúng sanh trong thời mạt pháp này rất yếu! Rất nhiều người nghiên cứu kinh mà không chịu chú ý đến chỗ này, lấy kinh ra đi giảng giải, giảng thì Khế Lýmà ứng dụng cho chúng sanh thì Không hợp Cơ, rất dễ đưa đến tình trạng gọi là, nói thẳng ra là: Tẩu Hỏa Nhập Ma!.

Trong pháp thứ mười sáu đó là pháp “TRÌ DANH HIỆU PHẬT”, cũng có tới bốn loại:

Thật-Tướng-Niệm-Phật.

Quán-Tưởng-Niệm-Phật.

Quán-Tượng-Niệm-Phật và

Trì-Danh-Niệm-Phật.

Các Ngài chỉ cho ta được hành trì hai pháp mà thôi, là trì danh hiệu mà niệm và nhìn hình Phật mà niệm là cùng, còn hai pháp Thực-Tướng và Quán-Tưởng các Ngài cũng không cho. Như vậy để chúng ta biết rằng một phàm phu này niệm Phật, muốn thật sự trong một đời này khỏi bị đọa lạc thì bắt buộc phải nghe lời Tổ, mà phải nghe cho thật chính xác, chứ không phải cứ nghe Pháp ào ào, ào ào... mà không biết “Trạch”. Trạch là chọn lựa cho kỹ.

Trở về với cái ví dụ vừa rồi ở Việt Nam, một vị đó thực sự cũng có nghe Pháp của ngài Tịnh-Không, nhờ pháp của Ngài mới tiến tới chỗ là đọc kinh Vô-Lượng-Thọ, tụng kinh Vô-Lượng-Thọ, rồi ngộ ra từ một câu kinh trong Vô-Lượng-Thọ mà trì, để sau cùng bị trở ngại! Vì sao vậy? Vì đoạn này là Phật nói trong cảnh giới của Chân-Tâm Tự-Tánh. Khứ Vô Sở Khứ, Lai Vô Sở Lailà Chân-Tâm Tự-Tánh của chúng ta. Rõ ràng đó là cảnh giới của Chân-Tâm Tự-Tánh. Trong khi chính phàm phu của chúng ta chưa biết Chân-Tâm Tự-Tánh là cái gì? Chưa bao giờ ngộ tới Chân-Tâm Tự-Tánh, gọi là “Minh Tâm Kiến Tánh”! Không bao giờ có! Không bao giờ có mà ứng dụng cái phương pháp này, nhất định “Lý” thì cao trên mây xanh, mà “Chân” thì lầm lũi lầm lũi đi vào cái hố!... Cho nên muốn chứng đắc?... À được! Ta cho chứng đắc, chứng đắc ngon lành! Chứng đắc đến nỗi mà tất cả mọi người đều phải lầm lẫn hết trơn, để khi thăng lên tòa rồi, ta rút cái chứng đắc đó xuống, thì từ cái tòa đó rớt xuống một cái hố sâu vô cùng! Làm sao ai cứu được đây?

Vì biết được điều này nên cảm thấy khá khổ tâm, nhất là trong giai đoạn này. Diệu Âm chỉ thành tâm khuyên rằng: Đừng nên sơ ý!

Cách đây cỡ chừng năm năm, chính Diệu Âm đã gặp một vị, vị này không phải là một Phật tử bình thường, không phải là một cư sĩ, đã nói với Diệu Âm rằng: Ngày đó... tháng đó... vãng sanh. Tôi nói với vị đó: Có chắc không? Ngài nói chắc... Tôi mới nói, bây giờ xin ký giấy đi... Tôi rút trong túi ra, lúc đó không có tờ giấy, chỉ có cái bì thơ. Tôi nói, Ngài hãy viết vào đây đi. Viết vào cái bì thơ đó: Tên gì, pháp danh là gì, bút hiệu, v.v... Rồi ký tên vào đàng hoàng.... Ngày đó… tháng đó… tôi vãng sanh. Tôi hỏi, là biết trước được bao lâu rồi? Hai năm. Tôi làm thinh không nói gì hết. Tôi cũng có nói với vị đó rằng, đây là một cơ hội rất là may mắn, nhất định phải buông hết tất cả vạn duyên, không còn dính mắc cái gì nữa cả, tuyệt đối không được thố lộ với ai hết để cơ hội này được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Tôi cất kỹ cái thơ đó và tôi bắt đầu trở lại Úc. Tôi tính là đúng khoảng chừng 39 ngày sau, 39 hay 38 ngày sau gì đó là vị đó vãng sanh. Đến gần một tuần là bắt đầu tôi đã điện thoại theo dõi. Điện thoại, điện thoại riết cho đến ngày đó cũng không có gì xảy ra và hiện tới bây giờ vị đó cũng còn đang sống!...

Quý vị thấy không? Tôi là người hết sức cẩn thận, với việc này không bao giờ tôi dám tung tin ra đâu à. Khi vị đó nói cho tôi biết rồi, tôi nói đừng bao giờ báo người khác biết nhé. Vị đó nói, không bao giờ đâu... Mới đó, thì ngày hôm sau tôi điều tra thử đã thấy ba, bốn người biết rồi, mà ba, bốn người này là những người tôi quen, chứ còn những người khác nữa thì như thế nào?...

Xin thưa với chư vị, đây là những điều có thực, nói lên để cho chúng ta biết rằng, nhất định trong đời này muốn vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc thì phải một lòng khiêm nhường, một lòng vui vẻ, buông hết tất cả những sự câu chấp của thế gian ra. Phải thường thành tâm sám hối. Bắt chước theo phương pháp của ngài Tịnh-Không đi, cúi đầu xuống, sám hối đi. Hãy vì chư vị oan gia trái chủ mà thành tâm niệm Phật, ngày ngày hồi hướng cho chư vị oan gia trái chủ liền đi. Nếu sơ ý, xin thưa thật đến lúc cuối cùng rồi không ai có thể cứu được cái huệ mạng của mình đâu! Sơ ý một chút vạn kiếp sau chúng ta vẫn còn bị đọa lạc, chứ không phải là chuyện dễ! Vậy mà, chỉ cần thành tâm đi, buông xả vạn duyên ra, nhất định bám lấy đạo tràng này, nhất định bám lấy đồng tu, thành tâm để niệm Phật đi thì:

- Chư Phật cảm thông.

- Chư Thiên-Long Hộ-Pháp cảm thông.

- Chư Oan-Gia Trái-Chủ cảm thông.

Chúng ta sẽ được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Cống cao ngã mạn, nhất định bị nạn, dù cho xin thưa thật, lúc mà quý vị lâm chung chính Diệu Âm này đứng trước mặt hộ niệm cũng vô ích, tại vì Diệu Âm này không có một lực nào hết, chỉ biết nghe các vị Tổ mà khuyên nhau một lời để chúng ta đi trong con đường gọi là: “CHÍ THÀNH CẢM THÔNG”, để được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 3

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Tu hành trong thời đại mạt pháp này có nhiều chướng ngại lắm, nếu chúng ta sơ ý thì nhiều khi mình tưởng là thuận nhưng lại là nghịch!...

Nếu mà chúng ta chú ý, với sự hướng dẫn cụ thể, tiếp xúc được các vị thiện tri thức thì những cái nghịch duyên đó nó biến thành thuận duyên. Cho nên, trong thời đại này nhất định chúng ta phải lắng nghe các lời Tổ dạy cho những người phàm phu tục tử như chúng ta cách tu hành an ổn.

Như hồi sáng chúng ta nói, nhất định phải kết bè với nhau, thành tâm niệm Phật, tâm ý khiêm nhường, buông xả những thế trần xuống, tham sân si mạn những cái câu chấp phải bỏ ra. Xin thưa, tu như vậy, đối với những pháp môn khác, vạn kiếp sau chưa chắc gì thoát ly sanh tử luân hồi. Nhưng mà đối với pháp môn niệm Phật, chỉ cần buông tình chấp xuống, những cái gì phiền não bỏ đi, rồi niệm Phật thành tâm nguyện vãng sanh thì ta được vãng sanh. Đây là con đường tu hành thấp nhất của những người phàm phu như chúng ta.

Xin nhớ, Tu là tu cho chính ta, chứ không phải tu cho người khác. Chúng ta thường nghe nói rằng, “Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc”. Nên sửa ngay những cái lỗi của mình. Trong kinh Phật, có nhiều kinh Phật dạy cho những người phàm phu tục tử tu. Ngài Tịnh-Không khuyên rằng, trong thời mạt pháp này nên trì giữ kinh Vô-Lượng-Thọ. Ta đang trì giữ kinh A-Di-Đà, kinh A-Di-Đà và kinh Vô-Lượng-Thọ là một chứ không phải hai. Nhưng mà xin thưa thực, kinh Vô-Lượng-Thọ có những lúc Phật nói cảnh giới của Phật, có những lúc Phật nói cảnh giới của đại Bồ-Tát, có những lúc Phật nói cảnh giới của các vị A-La-Hán, có những đoạn Ngài nói cho hàng phàm phu tục tử như chúng ta. Vì thế, ngay kinh Vô-Lượng-Thọ, không phải là toàn bộ kinh đó chúng ta đều có thể ứng dụng được đâu.

Một chứng minh cụ thể là mới vừa rồi ở quê nhà, có một vị đã ứng dụng kinh Vô-Lượng-Thọ: “Bỉ Phật Như-Lai, Lai Vô Sở Lai, Khứ Vô Sở Khứ, VôSanh Vô Diệt, Phi Quá Hiện Vị Lai”, ứng dụng câu này mà tu. Rõ ràng là kinh của Phật trong Vô-Lượng-Thọ, nhưng đưa đến một kết quả thực là phũ phàng! Chính vì vậy, ngay giảng ký của Hòa Thượng Tịnh-Không, chúng ta nghe cũng cần phải biết trạch. Trong kinh Vô-Lượng-Thọ, có lúc trên cảnh giới của Phật thì Hòa Thượng phải giảng cảnh giới của Phật. Nếu thấy cái đạo lý quá ư là nhiệm mầu, chấp vào đó, ta áp dụng vào, có thể đi sai liền lập tức.

Ngay trong kinh Vô-Lượng-Thọ, cũng là lời Hòa Thượng Tịnh-Không dạy đó, nhưng muốn áp dụng ta hãy áp dụng theo phẩm 32 đến 37. Nếu quý vị làm được từ phẩm 32 đến 37, thì nhất định sẽ thành công. Vì sao vậy? Từ 32 đến 37, sáu phẩm này Phật dạy cho chính phàm phu tục tử chúng ta. Hãy lật giảng ký của Hòa Thượng ra nghe cho thật kỹ chỗ đó, nếu mà quý vị làm được nhất định thành công. Bây giờ, ví dụ như chúng ta kẹt quá, không có giờ nghe, đọc kinh Vô-Lượng-Thọ cũng đọc không được, thì xin chư vị đến Niệm Phật Đường A-Di-Đà này, ngay trên bảng màu vàng vàng đó, chính đó là nội dung của phẩm 32 đến 37. Phật dạy rõ ràng minh bạch, tóm gọn lại bằng những câu đó:

- Khéo giữ khẩu nghiệp, không nói lỗi người.

- Khéo giữ thân nghiệp, đừng mất luật nghi.

- Khéo giữ ý nghiệp, thanh tịnh vô nhiễm.

- Và sau đó là mười điều thiện.

Đây là nội dung tổng kết từ phẩm 32 đến phẩm 37. Nếu tu như vậy đối với tất cả những pháp môn khác, ngàn đời ngàn kiếp không cách nào vượt qua sanh tử luân hồi! Ấy thế mà nhờ câu A-Di-Đà Phật, chúng ta chỉ tu như vậy thôi, nhưng ta sẽ được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Dễ dàng đơn giản!

Cho nên chúng ta phải biết vấn đề “Khế Cơ - Khế Lý”một cách rõ rệt. Kinh Phật nhất định không có kinh nào nói sai lý đạo. Nhưng căn cơ không xét kỹ, chúng ta áp dụng sai liền!

Chính vì vậy, để cho trong thời mạt pháp này khỏi bị trở ngại, xin thưa nên biết áp dụng thẳng những điều hết sức là cụ thể. Khi quý vị nghe những lời pháp của Hòa Thượng Tịnh-Không, từng điểm từng điểm. Điểm nào là của phàm phu tục tử chúng ta, thì phải làm ngay lập tức. À! Một là một, hai là hai, tự nhiên chúng ta sẽ thành công. Đừng ứng dụng sai...

Tu là tu cho mình, là hàng phàm phu, chứ đâu có phải là tu cho Phật!... Câu nói “Về không có chỗ về, đi không có chỗ đi. Không có quá khứ, hiện tại, vị lai. Không sanh không diệt...” là câu Phật nói cảnh giới của Phật. Ta tu cho hàng phàm phu chứ đâu phải tu cho Phật, mà lại áp dụng những điều đó vào trong hàng phàm phu này? Chính vì vậy, ví dụ như có một đoạn kinh, Ngài nói cho hàng đại Bồ-Tát, Ngài nói với hàng đại Bồ-Tát thì đại Bồ-Tát tu cho Bồ-Tát. Còn ta tu cho hàng phàm phu, tại sao lại tu cho Bồ-Tát? Vì là phàm phu mà tu cho Bồ-Tát, nên bị nạn vậy thôi. Rất nhiều người đã bị trở ngại về chuyện này.

Trở lại chính chúng ta, ta tu sao khỏi bị chướng ngại? Hãy đọc cái “Quy tắc tu học” của ngài Ấn-Quang, đây chính là lời của chư Tổ dạy cho hàng phàm phu. Ngài nói rõ rệt, thẳng vào hàng phàm phu này. Hàng phàm phu chúng ta áp dụng quy tắc của ngài Ấn-Quang thì nhất định thành công. Có một lần ngài Ngộ-Đạo giảng kinh. Ngài nói rằng, có một vị tới hỏi ngài Ấn-Quang: “Bát Chu Tam Muội là gì? Tu như thế nào?”. Ngài Ấn-Quang quát mắng, Ngài la liền: “Nhà ngươi hỏi chuyện này để làm chi?”. Khi mà ngài Ngộ-Đạo giảng tới câu đó làm cho tôi giựt mình!...

Bát Chu Tam Muội là một phương pháp tối thượng để đưa đến cảnh giới “Nhất tâm bất loạn”, trong 90 ngày thì thành đạo. Ngài Ấn-Quang nói: “Nhà ngươi có làm được chuyện đó hay không mà hỏi?”. Hỏi để vọng tưởng, chứ ích gì? Về nhà lo niệm Phật, tìm người hộ niệm cho nhau thì thành công. Có nhiều người khi tu hành không biết trạch pháp một cách cẩn thận. Cứ đem những điều quá cao, quá đà của mình mà tu, sau cùng bị chướng ngại trùng trùng! Mà một khi đã chướng ngại trùng trùng rồi thì không còn cách nào có thể cứu chữa được!...

Trở lại vấn đề cụ thể của chính chúng ta, Hòa Thượng Tịnh-Không dạy, muốn thành đạo trong đời này thì câu nói đầu tiên của Ngài là buông xả.

- Ví dụ, ta thường buồn cái gì, nhất định hãy bỏ cái buồn đó đi thì niệm Phật được vãng sanh.

- Ví dụ, ta ghét một người nào, nhất định phải bỏ cái ghét đó đi thì chúng ta mới được vãng sanh.

- Ngài nói, trong đời của ta mà còn đố kỵ một người nào, thì nhất định không được vãngsanh.

- Nếu trong đời này mà mình ghét một người nào, thì nhất định mình không được vãng sanh.

Ngài nói rõ rệt lý do tại sao. Đây là những lời nói Ngài dạy cho hàng phàm phu tục tử chúng ta. Tại vì toàn bộ phàm phu tục tử chúng ta là chấp trước, phân biệt... không cách nào có thể thoát vòng sanh tử luân hồi được. Chính vì vậy mà tu là tu cho mình. Chắc chắn chúng ta ai cũng có nghe những chuyện một người chết bị vướng vào chỗ nào đó, hàng đêm trở về khóc than với con cái, chiều chiều hiện về đầu hè khóc với con cái, nhập vào thân người này phá, nhập vào thân người khác phá, khóc lên, khóc xuống... Trong những cảnh khổ đó, mình hãy tưởng tượng thử, có phải vì một chút chấp trước cho nó đã cái cơn sân si, mà bị nạn vạn đời vạn kiếp không? Ích lợi gì đâu?

Cho nên, tu là tu cho chính mình. Nhất định không thể nào tu cho đạo tràng, không thể nào tu cho một người nào cả. Nếu mình nghĩ rằng tu để cho vui, tu để đạo tràng có đông người, tu vì cảm tình... thì nhất định oan uổng lắm! Xin thưa chư vị, vì huệ mạng ngàn đời ngàn kiếp phải ráng mà làm cho được chuyện này: Những thứ chuyện cạnh tranh, ganh tỵ trên thế gian này có chi đâu mà tham chấp như vậy? Tại sao không biết bỏ ra để chúng ta đi vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Nếu mà trong đời này, với cái thân phận phàm phu tục tử này mà không gặp câu A-Di-Đà Phật, không gặp pháp môn niệm Phật này, xin thưa thực với chư vị nhất định ta bị nạn! Tại sao vậy? Hòa Thượng Tịnh-Không nói, mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút chúng ta cứ luôn luôn thâm nhập tất cả những cái nghiệp, gọi là nghiệp tam ác đạo trong tâm. Không nói người này xấu thì nói người khác xấu, không chê người này thì cũng chê người khác, không cười người này thì cũng cười người khác, không tham tiền thì cũng tham danh, không tham danh thì cũng tham cái gì đó... Những điều này luôn luôn, luôn luôn trói chặt chúng ta. Tất cả những cái đó là nhân chủng địa ngục hết, tam ác đạo hết. Như vậy làm sao mà chúng ta không bị nạn? Mà khi đã bị nạn rồi, xin thưa thực là bị cả ngàn đời vạn kiếp!

Mình nhìn ra ngoài cây coi, con chim đó, một bộ lông đó, mưa cũng đó mà nắng cũng đó, lạnh cũng đó mà rét cũng đó, nó vẫn chịu đựng như vậy. Mình chịu đựng như nó được không? Không được đâu! Nhưng mà coi chừng mình sẩy một cái, có thể, xin thưa thực khi chết đi rồi thành như vậy đó. Lúc đó rồi vợ chồng cũng đành chịu thua, không cứu nhau được! Cha con cũng đành chịu thua, không cách nào cứu nhau được! Mà thực sự là có cách cứu, A-Di-Đà Phật cứu chúng ta một cách rõ rệt. Phàm phu tục tử này nhất định khi chết phải tùng nghiệp thọ báo, nhưng chỉ cần bứng đi, bỏ đi, ngộ ra liền lập tức đi, liệng những cái chuyện đó đi, chúng ta thành tâm niệm Phật, thì ngày đó chúng ta về Tây Phương thành đạo Vô-Thượng.

Xin thưa quý vị, nếu mà chúng ta ngộ ra chỗ này rồi, thì tại sao không tranh thủ ngày đêm để lo niệm Phật? Tại sao còn buồn cái này, còn giận cái kia, để mà sau cùng chúng ta đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh để chịu nạn? Thực sự đúng như vậy mà. Tôi đi nhiều chỗ lắm chư vị ơi! Tôi gặp những trường hợp, có những vong linh, họ ứng hiện về, họ nhập vào những người bà con, anh em mà than mà khóc! Than khóc không được thì lại quýnh lộn đánh phá với nhau nữa, xé áo xé quần, đâm những người con của mình... Ghê lắm chư vị ơi! Nhìn tới những hiện tượng đó mình biết rằng cái người về nhập đó đang chịu khổ, họ khổ kinh khủng lắm, không phải đơn giản đâu à!

Tại sao họ khổ vậy? Tại vì họ không biết tu. Đã là phàm phu mà không biết tu, nhất định phải chịu cái tình trạng đau khổ như vậy!...

Bây giờ chúng ta đã thấy rõ rệt rồi... Cái Niệm Phật Đường này gọi là Niệm Phật Đường A-Di-Đà, đang nhắc nhở cho chúng ta phải niệm câu A-Di-Đà Phật. Là thân phàm phu này, nhất định suốt cuộc đời này chúng ta không chứng được gì đâu. Bảo đảm với chư vị, không chứng được gì cả. Không chứng được nhưng mà ta được đi về Tây Phương là do lòng chí thành chí kính mà về Tây Phương đó. Nếu người nào mà còn chấp, thì nên nhớ cho, Niệm Phật Đường này quyết lòng đưa tiễn người vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, không thể nhân nhượng một người nào hết… Tới đây thì giới luật phải nghiêm minh…

- Nhất định phải chân thành niệm Phật.

- Nhất định phải buông xả cố chấp ra.

- Buông xả được thì chúng ta cứu nhau mới được.

- Không buông xả thì chúng ta cứu nhau không được.

- Cứu nhau không được thì cảm tình với nhau để rồi ta bị đọa lạc! Ích lợi gì đâu?

Rõ ràng những cái chứng minh cụ thể, những cái tin tức đã đưa đến dồn dập... Khi khởi một tâm cống cao ngã mạn: Bị nạn! Khi tham chấp một cái gì: Bị nạn! Bỏ ra đi, dù nghiệp chướng tràn trề, thì A-Di-Đà Phật dạy, hãy thành tâm sám hối đi! Đã thành tâm sám hối thì làm sao mà có thể nói lỗi người? Từ bi, đại thiện, đại lành đi! Đã từ bi, đại thiện, đại lành thì làm sao có thể ghét người? Đơn giản như vậy. Buông ra, tâm ý buông ra, tự nhiên thoải mái. Chúng ta niệm câu A-Di-Đà Phật, A-Di-Đà Phật thề rằng làm được như vậy mà sau cùng niệm được mười câu Phật hiệu của Ngài, cầu về Tây Phương mà Ngài không đón về Tây Phương, Ngài thề không thành Phật. Đây chính là cái đầu mối để chúng ta thành công.

Mong cho chư vị nghe được những lời này nhất định tỉnh ngộ liền lập tức, quyết định thành tâm, chí thành chí kính, nương vào câu A-Di-Đà Phật.

Chúng tôi ở đây có phát hành công cứ niệm Phật, nhưng công cứ niệm Phật bắt buộc những người nào nhận công cứ có xác nhận là chịu buông xả hay chưa? Nếu chưa chịu buông xả mà làm công cứ đó thì vô ích, mà coi chừng bị vọng tưởng. Tại sao vậy? Hồi sáng đã nói rồi, nếu mà vọng tưởng nổi lên, “Ta” cho anh một cái đài để anh ngồi, anh ngồi trên cái đài, “Ta” rút cái chứng đắc ra, bên cái đài đó sẽ có một cái hố thiệt sâu… Đã sụp xuống đó rồi thì chư Phật mười phương cũng buông tay, không cách nào cứu được.

Vì vấn đề thành đạo giải thoát cho chính chúng ta, mong chư vị quyết lòng thành tâm, chí thành, chí thiết, khiêm nhường để nương nhau niệm Phật đi về Tây Phương trong một đời này.

Nam Mô A-Di-Đà Phật

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 4

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Trong khoảng thời gian gần đây, có quá nhiều biến cố cũng khá trầm trọng chung quanh sự tu hành. Trong những ngày qua thì mình có nói qua cái vấn đề tu hành cần phải Khế Cơ - Khế Lý.

- Khế Lý là đúng với kinh Phật, đúng với lời Tổ.

- Khế Cơ là phải hợp với căn cơ của mình.

Sự-Lý viên dung mới có thể thành tựu. Nếu tu hành nhắm tới Khế Lý, tức là lý đạo suôn sẻ đúng với kinh Phật, nhưng mà quên chú ý đến căn cơ của mình, sẽ đưa đến kết quả hết sức phũ phàng và những hiện tượng mà mấy ngày trước chúng ta nêu ra là một chứng minh hết sức cụ thể, đã ảnh hưởng rất tai hại đến căn nhà Phật Giáo ở quê nhà. Thì hôm nay vì vấn đề liên quan đến Khế Cơ, và vì những biến cố đã đến dồn dập như vậy, ảnh hưởng rất lớn trong đường tu hành vãng sanh của chúng ta. Cho nên dành trong khoảng thời gian này, Diệu Âm xin mổ xẻ thêm những điều sơ suất rất là phổ thông, thay vì chúng ta tiếp tục mở các lời khai thị của ngài Tịnh-Không. Thật ra, đến ngày hôm nay thì lời khai thị cũng đã hết, đang tìm những lời khai thị mới, nhưng chưa kịp. Vấn đề Khế Cơ, nếu chúng ta không chú ý, cứ tưởng là dễ, sau cùng rồi có thể chúng ta hưởng lấy cái quả báo phũ phàng!...

Khế Cơ tức là nói về “Sự”, thì hộ niệm thật sự là đúng Cơ, đúng Căn, rất hợp Cơ, hợp Căn trong khoảng thời gian này và trong cái khả năng hạ căn phàm phu của chúng ta. Hộ niệm, như hôm trước mình nói, là một pháp tu, nó bao gồm cả TÍN-NGUYỆN-HẠNH. Thấy nó đơn giản như vậy, nhưng chúng ta phải biết: Tin... Tin cho đúng; Nguyện... Nguyện cho đúng; Hạnh... Hành cho đúng. Nếu chúng ta sơ ý chỉ cần sai lạc thì có thể phạm phải những lỗi lầm mà dẫn luôn tới kết quả là sau cùng chúng ta không được vãng sanh.

Ví dụ đơn giản như Nguyện, ai cũng biết ở đây là chư Tổ dạy, nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Trong kinh Phật dạy, nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc và ngày ngày chúng ta cộng tu với nhau cũng Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ Trung.... Đơn giản, gọn gàng như vậy. Chư Tổ nói, một lòng tha thiết nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

- Nếu cái thân mạng của mình mà còn, tức là chưa hết, thì tự nhiên hết bệnh.

- Nếu cái thân mạng của mình nó đến thời hạn ra đi, nhờ lời nguyện này mà mình được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Có nhiều người cũng niệm Phật, cũng nghe rất nhiều Pháp, có thể nghe nhiều hơn người ta nữa, nhưng khi có bệnh hiện ra, vô thường hình như đã gõ cửa (!)... Khi mình tới thăm thì vô tình mới biết rằng người đó đã phát nguyện sai! Thật là những điều làm cho mình giựt mình! Họ nguyện như thế nào?... “Ngày ngày tôi quỳ trước bàn thờ Phật, tôi tha thiết nguyện với Phật, xin Phật nếu mà cái thân bệnh này mãn thì cho con đi liền đi. Nếu chưa mãn thì xin cho con được hết bệnh để con niệm Phật. Tôi nguyện tha thiết hàng ngày như vậy, mà bây giờ tôi buồn rơi nước mắt! Tôi khóc… vì tại sao tôi tu nhiềunhư vậy mà bệnh vẫn đến với tôi?...”.

Quý vị nghe kỹ đến lời nguyện này, thật sự có phải là đúng hay không? Chư Tổ dạy là, nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, mình không chịu nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, lại lấy cái lời giải thích của các Ngài để làm thành lời nguyện của mình. Sai là sai chỗ này! Tại sao không nguyện rằng: Nam Mô A-Di-Đà Phật, xin Phật cho con về Tây Phương”, gọn gàng đơn giản, hợp lý. Mà lại nguyện: Nam Mô A-Di-Đà Phật, nếu cái thân bệnh của con mà hết thì cho con đi liền hôm nay cũng được. Nếu cái thân bệnh này mà còn, thì cho con được khỏe mạnh”...

Trong lúc nguyện như vậy có phải mình đang sợ cái bệnh mà mới nguyện như vậy không?Rồi khi bệnh xuống lại khóc. Tại sao khóc? Tại sao con niệm Phật như thế này mà bệnh cũng không hết? Có phải mình đang sợ cái bệnh không?

Cho nên khi đối diện tới một sự thật chúng ta mới thấy rõ vấn đề. Khai triển ra mình thấy sai như thế nào rồi! Khi phát hiện những chỗ này, nêu lên đây để chư vị chú ý cho kỹ. Trong rất nhiều những bài viết, những lần tọa đàm, nhất là khi đi hộ niệm, xin chư vị có thể tham gia ban hộ niệm và nghe cho kỹ những lời, gọi là lời hướng dẫn bệnh nhân… không bao giờ Diệu Âm nói những lời như vậy!

- Bác ơi quyết lòng nguyện vãng sanh nghe Bác, đi sớm ngày nào hay ngày đó nghe Bác… Không sợ!... Nói rõ ràng:

- Ngày đêm niệm Phật, căn bệnh này nó đến kệ nó nghe Bác, đừng sợ. Nếu mà Bác sợ bệnh, nhất định cái bệnh nó sẽ bao vây lại, không cách nào thoát được. Đối với đời này khổ quá rồi! Bỏ luôn, không sợ nữa. Cứ một lòng niệm Phật rồi nguyện vãng sanh. Đi hôm nay cũng được. Khi nào A-Di-Đà Phật đến là đi liền. A-Di-Đà Phật hiện ra theo A-Di-Đà Phật mà đi, rồi sau đó chúng con tới hộ niệm sau.

Rõ ràng những lời nói mình thấy đơn giản, nhưng mà nhất định là chú tâm về nguyện vãng sanh. Chứ không phải là: “Bác ơi! Bác niệm Phật rồi năn nỉ với Phật nếu mà mạng này còn thì hết bệnh để an tâm niệm Phật, nếu mà mãn thì cho đi luôn”... Hoàn toàn hai ý nguyện này khác nhau. Lấy lời giải thích của Tổ thành lời nguyện chính của mình, trong khi nguyện chính là nguyện vãng sanh về Tây Phương mình lại không nguyện. Tu như vậy sau cùng nhiều người đã mất phần vãng sanh. Nếu quý vị đã nghe tọa đàm về hộ niệm, chắc chắn Diệu Âm đã đưa ra những cái mẫu mực của những người đã tu 36, 37 năm trường, kiết thất không biết bao nhiêu lần, tất cả những khóa Phật Thất Niệm Phật đều tham dự hết, nhưng sau cùng không được vãng sanh. Tại sao vậy? Là tại vì không có người nhắc nhở cho những điều sơ suất này. Người niệm Phật đã chìm đắm trong những lời nguyện sai lầm! Trong lúc nguyện vãng sanh thì họ sợ chết, họ đã nghĩ tới cái bệnh. Họ nguyện là: “Con niệm Phật như vậy quyết lòng xin Phật cho con được hết bệnh”.

Quý vị có nguyện như vậy không? Nhiều người có trong đó. Xin thưa rằng, chuyện Nhân-Quả của mình A-Di-ĐàPhật không nhúng tay vào được. Tại vì có Nhân thì có Quả. Nhân ở đâu? Nhân trong vô lượng kiếp, nhân trong lúc chúng ta mê mờ làm những điều sai trái. Bây giờ mình tu có giỏi cho mấy, làm thiện nhiều cho mấy đi nữa thì cái nhân nó vẫn còn nguyên đó. Nhân lành thì hưởng quả lành, nhân ác thì bị quả ác. Nhân lành mà muốn hưởng quả lành thì cái tâm của ta phải duyên tới cái nhân lành đó, để cho cái nhân lành nó nở ra cái quả cho chúng ta hưởng. Trong lúc chúng ta tu là tạo nhân lành, nhân lành thì sẽ hưởng quả lành, nhưng cái tâm chúng ta lại sợ bệnh, tức là nó duyên tới những cái nhân bệnh, thì cái nhân bệnh nó sẽ hiện ra. Nếu một người giác ngộ, thì khi cái bệnh hiện tiền, chính đây là một bài pháp sống thực, giúp ta vẫn vui vẻ, thoải mái.

Nếu quý vị nghe, xem những băng đĩa Diệu Âm hộ niệm cho người ta. Người ta bệnh… người ta sắp chết... nhưng mình tới vẫn bắt tay, cười hè hè:

“Như vậy là Bác sướng, Bác được về trước tôi. Không sao! Bây giờ cái bệnh nó đau, nó càng đau chứng tỏ rằng mình sắp đi về Tây Phương rồi. Vui vẻ lên, sẵn sàng trả nghiệp đi, không sợ gì cả. Một lòng niệm Phật, càng đau càng niệm Phật, trông cho nó đau nhiều hơn nữa đi...”.

Chứ tôi không bao giờ nói rằng:

“Bác ơi! Bác niệm Phật... niệm Phật cho nó hết đau nghe Bác.

Mình nói niệm Phật cho hết đau tức là gợi ý để người ta nghĩ đến chuyện đau đó, nhất định cơn đau này nó sẽ càng ngày càng tăng lên. Nó mới tăng có một nửa mà người ta cứ tưởng nó tăng đến một trăm lần! Cái tâm người ta đã chìm đắm trong cái nghiệp đó, chìm đắm trong cơn đau đó, nhất định người ta không còn cách nào thoát được cái ách nạn của bệnh khổ! Trong khi đó, xin thưa thật, chính phụ thân của Diệu Âm, là ông già của Diệu Âm, từ khi bệnh cho đến lúc vãng sanh, ông không bao giờ vô trong bệnh viện, mà nhiều khi mình muốn đưa ông vào bệnh viện, mình cảm thấy sợ ông bị đau, nhưng ông không vô là không vô. Cái lực của ông mạnh như vậy đó. Từ một người bình thường không có tu, khi biết tu rồi thì nhất định không đi. Trước những giờ phút tắt hơi, mười một ngày bí tiểu. Mình mà bí tiểu một ngày thôi, mình sẽ la làng la xóm! Ông ta bí tiểu mười một ngày?... Không cần. Ông nói bí tiểu thì đi về Tây Phương luôn. Thế mà mười một ngày ông ta vẫn cười hè hè trong tình trạng đó để ra đi. Cái năng lực này xin thưa thật, nếu mà ông cụ đó nguyện rằng: “Nam Mô A-Di-Đà Phật, xin cho con hết bệnh để con niệm Phậtthì nhất định ông có thể bị đau lăn lộn từ trên giường xuống dưới giường và ông ta không thể nào an nhiên tự tại ra đi tại nhà, mà phải ra đi trong bệnh viện! Quý vị nghĩ thử, trong bệnh viện làm sao có thể hộ niệm được?...

Chính vì vậy mà bắt đầu từ hôm nay, sẵn trong dịp này, Diệu Âm sẽ cố gắng khai triển ra những điều sơ suất rất là phổ thông để chúng ta tránh. Nếu không tránh được thì coi chừng tu như thế này gọi là KHẾ LÝ, nhưng áp dụng thì không KHẾ CƠ, không hợp! Không hợp thì chúng ta có thể tự rước lấy những ách nạn, chứ đừng nghĩ rằng chúng ta niệm Phật nhiều như vậy là chắc chắn sẽ được vãng sanh, còn những người kia không niệm Phật thì không được. Coi chừng những người không niệm Phật đó, nhưng mà nhờ thiện căn phước đức của họ, đến giờ phút cuối cùng lại gặp những người tới khai thị. Được khai thị, họ phát lòng tin vững vàng, nói đâu nghe đó. Nói một nghe một, nói hai nghe hai, nói một làm một, nói hai làm hai, người ta vãng sanh. Còn mình thì tu nhiều quá (!), nhưng nói một không chịu làm, tưởng những điều này là đơn giản! Đứng trước bệnh nhân khai thị, tưởng là những lời này đơn giản! Đơn giản mà coi chừng mình thực hiện sai! Mình đi sai đường!...

Mong cho chư vị quyết tâm nhất định đừng bao giờ để một cái gì sơ suất, ta sẽ vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 5

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Nhân tiện trong những giờ nói về tu hành cần phải “Khế Lý - Khế Cơ”, Diệu Âm xin nêu ra một vài điều sơ suất rất tế vi trong pháp tu niệm Phật mà kinh nghiệm đã gặp qua, từ sự sơ suất đó mà nhiều người đã không được vãng sanh một cách hết sức đáng tiếc! Nói đáng tiếc có nghĩa là đúng ra họ được vãng sanh, nhưng chỉ vì một sơ suất nhỏ, chú ý lắm mới thấy, không chú ý không thấy, nên cứ tưởng là đúng, nhưng sau cùng thì kết quả thực sự là hơi buồn!...

Hôm qua chúng ta có nhắc đến lời nguyện vãng sanh, là chúng ta phải đơn giản, gọn gàng:

- Nam Mô A-Di-Đà Phật con nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc.

- Con thèm vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

- Xin Phật cho con về Tây Phương Cực Lạc.

- Con muốn vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Nói sao nói, mình nói gọn như vậy cũng được, nhất là trước những giờ phút lâm chung xin đừng có nên dài dòng cái đuôi phía sau, nhiều khi chính cái đuôi đó nó lộ ra một cái gì sơ suất chính trong tâm chúng ta. Ví dụ như hôm qua, mình có nói một người đã nguyện: “Nam Mô A-Di-Đà Phật, nếu mà con số phần đã hết thì cho con vãng sanh liền, nếu mà số phần con chưa hết thì xin cho con hết bịnh để con tiếp tục tuhành.... Nghe qua thì thấy không có cái gì sai hết, tại vì người ta vẫn nguyện vãng sanh, nhưng thực ra cái tâm nguyện này là tâm nguyện sợ bịnh, mà nhiều khi còn sợ chết nữa trong đó! Thực ra thì chính những lời này là lời mà chư Tổ dùng để dặn dò những người không biết pháp môn niệm Phật. Ngài dặn như vậy để cho mình an tâm quyết lòng nguyện vãng sanh, mình vô tình lại bỏ lời nguyện vãng sanh mà đem cái lời giải thích của các Ngài thành lời nguyện, nên sức nguyện của mình không đủ mạnh, thành ra không có cảm ứng, không có tương ưng với đại nguyện, và sau cùng có thể mất phần vãng sanh một cách oan uổng!

Hôm nay, mình nói thêm một chút nữa về những điều tế vi trong lời nguyện. Có nhiều người khi bịnh xuống rồi thì phát nguyện như thế này:

- Nam Mô A-Di-Đà Phật, một đời con làm thiện làm lành, con quyết đi về Tây Phương để cứu độ chúng sanh. Hôm nay con bịnh quá cho nên niệm Phật không được, nguyện Phật thương tình cho con hết bịnh để con niệm Phật để về Tây Phương. Khi con hết bịnh rồi con phát nguyện con sẽ làm tất cả những việc thiện lành khác để giúp đỡ cho chúng sanh, còn ngày nào con làm việc thiện lành ngày đó.

Đại khái như vậy... Lời nguyện này nếu những người không hiểu đạo, nghe qua người ta thấy vĩ đại lắm. Nhưng thực ra lời nguyện này cũng đi lệch với pháp tu rồi. Tại vì chư Tổ thường hay dặn chúng ta: Nguyện là nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, không được nguyện hếtbịnh. Các Ngài khuyến tấn chúng ta rõ rệt là cái thân bịnh này nhất định nó có định kỳ rồi. Nếu ta là một vị ở trên Tây Phương Cực Lạc giáng sanh xuống đây, tái lai xuống đây để làm đạo, chúng ta cũng giả đò bịnh, giả đò sao đó cũng được, thì các Ngài muốn nguyện sao nguyện, và các Ngài muốn đi thì đi, muốn về thì về. Thực ra nhiều khi các Ngài không cần nguyện nữa là khác. Các Ngài giáng sinh xuống đây thấy một chúng sanh khổ, các Ngài cứ lăn xả vào làm việc giúp đỡ chúng sanh, các Ngài không niệm Phật nữa, vì các Ngài là người đã ở trên cõi Tây Phương thị hiện xuống đó thôi. Còn chúng ta là một người hạ căn phàm phu, thì nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp nó đã đúc kết đến đời này rồi. Cái thọ mạng này thực ra là để trả nghiệp. Mình sinh ra mình phải trả nghiệp 70 năm, nhất định cầu trước một năm, tức là 69 năm không được, tại vì mình phải trả cho đủ 70 năm. Khi thọ mạng đến rồi, trong khi phước báu của mình nhiều quá, mình cầu thêm nửa tháng nữa để hưởng cũng không được.

Thực sự như vậy. Đây là lời Tổ dạy, cho nên xin chư vị, chúng ta hãy an tâm về vấn đề sanh tử. Tại vì khi đi hộ niệm mình mới thấy rõ rệt điều này, có những người ngày đêm cầu chết: “Con đau quá rồi, cầu Phật, cầu trời, cầu miễu gì đó cho con chết”. Họ cầu chết từng ngày, từng giờ thế mà không chết. Ở tại quê của Diệu Âm có một bà Cụ, 99 tuổi, bà thèm chết đến nỗi bà làm một cái quan tài để tại đầu hè, bà trải chiếu trong cái quan tài và bà nằm trong cái quan tài đó để cho chết. Khi bịnh không ai dám tắm nước, còn bà thì khi bịnh bà lấy nước xối ướt hết áo quần, rồi đến nằm trong cái quan tài đó cho chết, thế mà không chết. Bà thọ trên 100 tuổi, không chết là không chết, không kiêng không cử gì hết, mà cứ nằm... nằm trong quan tài rồi đậy cái nắp lại một nửa, để ló cái lỗ chui vô vậy thôi. Trông chết mà không chết. Tại vì cái thọ mạng người ta nó có định rồi, không mắc mớ gì mà mình sợ hết.

Khi bịnh xuống, lời nguyện của mình nó xác định cái tâm nguyện vãng sanh của mình. “Nam Mô A-Di-Đà Phật, con một đời làm thiện làm lành, chắc chắn con muốn về Tây Phương với Phật, nhưng mà bây giờ đau quá xin Phật thương con cho con hết bịnh để con niệm Phật”. Rõ ràng mình đang nguyện hết bịnh. Chư Tổ dạy nếu mà mình nguyện hết bịnh thì cái bịnh của mình không hết, nhưng nếu lúc đó cái thọ mạng của mình hết thì vì lời nguyện hết bịnh, bắt buộc mình phải trôi theo thân bịnh này mà tiếp tục thọ sanh trong lục đạo luân hồi, không biết là cảnh giới nào. Nếu mình nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc một cách tha thiết, nếu cái thân mạng này hết hạn thì nhờ lời nguyện này mà cảm ứng với 48 đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật, mình được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Nếu cái thọ mạng của mình chưa hết, có nghĩa là ba tháng nữa, năm tháng nữa, một năm nữa... thọ mạng mới hết, thì nhờ cái lòng tha thiết có đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh tự nhiên được chư Bồ-Tát gia trì, được thần lực của A-Di-Đà Phật gia trì, vì đây là một hành giả đã đủ Tín-Nguyện-Hạnh để đi về Tây Phương, thì tự nhiên cơn bịnh sẽ giảm, nó giảm một cách rõ rệt. Có rất nhiều người, Diệu Âm nói rõ ràng là rất nhiều người, đã có hiện tượng này. Lạ lắm! Có nhiều người đã hết bịnh một năm rồi ra đi, có nhiều người hai năm, có nhiều người ba năm, có nhiều người đến nay hiện tại bây giờ là gần sáu năm rồi, từ một bịnh ung thư chuẩn bị chết mà không chết. Có nhiều người bác sĩ đã khám, có ung thư khắp người, như vậy mà niệm Phật tự nhiên cũng khoảng mấy tháng sau thì thực sự không còn ung thư nữa. Lạ lắm chư vị!

Những điều này nói ra đối với khoa học người ta không tin, nhưng Diệu Âm tha thiết nói với chư vị, hãy tin đi, vững vàng tin đi, chắc chắn. Ví dụ như hồi chiều này có khoe mấy tấm hình cho anh Thiện Bình coi, tôi chỉ cho Thiện Bình về cô bác sĩ Vân Hương ở bên Đức, chính người thân của chị là người bị ung thư chuẩn bị chết. Chị là một người bác sĩ trị bệnh ung thư nhưng đành phải bó tay! Nhờ khuyên cô đó niệm Phật, quyết lòng buông xả, không cần gì nữa hết, niệm Phật bảy tháng sau thì tự nhiên bịnh ung thư không còn nữa. Lạ lùng! Hiện tại bây giờ vị đó vẫn còn sống và chính Diệu Âm có gặp trực tiếp được người bịnh đó. Quý vị thấy lạ lùng chưa? Không thể nào mà mình tưởng tượng ra được!

Cho nên khi bịnh xuống mà mình nguyện cầu cho hết bịnh, với lời nguyện này mình tưởng rằng mình tha thiết đi về Tây Phương, nhưng thực ra nó đã dấu cái tâm sợ chết trong đó. Hay nói rõ hơn, mình giả đò nguyện vãng sanh, chứ thực ra mình sợ chết. Chư Tổ nói, đã sợ chết thì nhất định không thể vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Những người có phước báu, những người có tiền bạc thường là người sợ chết. Còn những người khổ khổ một chút, người ta thấy đời này quá khổ, nên không tha thiết nữa. Vì không tha thiết nữa, nên trước những cơn đau họ thèm vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Sự thèm muốn vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, sự nguyện cầu vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc quá mạnh, nó mạnh đến nỗi mà họ quên mất cái đau luôn...

Hôm qua chúng tôi nêu ra một trường hợp như chính phụ thân của Diệu Âm. Là một người bị bịnh, hai vị bác sĩ đứng nhìn thấy một hiện tượng lạ mà phải ngỡ ngàng! Những hiện tượng này nếu ở trong bệnh viện, họ phải chích cái thuốc giảm đau cực mạnh, nếu không thì ông Cụ đau đớn phải lăn lộn từ trên giường lăn xuống đất. Thế mà ông Cụ cười hè hè. Mà đặc biệt nữa, là ông Cụ quyết định không chịu đi vào bệnh viện. Không chịu đi! Nói đi về Tây Phương thì đi chứ đi nhà thương thì không đi. Ông Cụ cười hè hè cho đến khoảng chừng mười, mười lăm phút trước khi ra đi là hết cười nữa rồi, rồi ra đi.

Quý vị hãy coi cái phim của bà Nguyễn Thị Cúc ở Gia-Lai, tám năm nằm trên giường bệnh, hộ niệm mười ngày tỉnh dậy, tỉnh dậy rồi nhưng ngồi dậy không được mà nằm trên giường, chắp tay bái: “A-Di-Đà Phật cho con về Tây Phương”. Bà tha thiết đi về Tây Phương. “Nam Mô A-Di-Đà Phật cho con về Tây Phương”. Chỉ vậy mà thôi, bà Cụ đã biết được giờ vãng sanh. Vì sao vậy? Vì trong những giờ phút trước khi xả bỏ báo thân cái tâm nguyện của Cụ quá mạnh, nó mạnh đến nỗi cảm ứng đến 48 lời nguyện của đức A-Di-Đà mà được vãng sanh. Quý vị coi bà Phan Thị Diệu Anh, người ta xúi giục bà, người ta củng cố tinh thần bà, khuyến tấn bà đến nỗi trước giờ chết bà nói, “Bây giờ tôi mừng quá rồi, tôi muốn nhảy, tôi nhảy múa”. Có nhảy được không? Nhảy mà mấy người chung quanh sợ bà té. Nhờ nỗi vui mừng đó, cộng thêm sự thèm muốn đi về Tây Phương, quyết đi về Tây Phương, bà quên hết tất cả, cơn đau cũng quên luôn, không còn nữa. Nói về tâm lý cũng đúng, mà nói Phật lực gia trì thì thật sự là có. Không phải dễ!...

Còn trước những giờ phút đó mà ta nói “Nam Mô A-Di-Đà Phật, con tu nhiều quá rồi, sao Phật không cho con hết bịnh để con niệm Phật cho nhất tâm để con về Tây Phương...” Đó là cái tâm sợ chết! Đó là lời nguyện sợ bịnh! Nguyện hết bịnh thành ra mất phần vãng sanh. Có rất nhiều cuộn phim vãng sanh, quý vị coi lại những phim vãng sanh rồi, thấy đó mình mới hiểu rằng, được vãng sanh hay không đều nằm trong giây phút này.

Chúng ta nói ở đây là trong lúc chúng ta còn tỉnh táo chứ không phải nói trong lúc chúng ta lâm chung. Nếu không chuẩn bị ngay bây giờ, chưa chắc gì khi lâm chung tinh thần của chúng ta mạnh bằng những người đó. Trong khi những người đó lại tu ít hơn ta, mà người ta thì có tinh thần mạnh hơn ta. Tại sao ta lại thua họ?

Không chịu vững mạnh ngay từ bây giờ, cứ chờ đến giờ phút lâm chung tưởng rằng ta ngon hơn sao? Nhưng mà coi chừng tinh thần chúng ta hình như yếu hơn đó. Vì yếu hơn nên oan gia trái chủ cũng có những đòn thế dành cho những người tu hành với tâm không vững!... Sau cùng vướng nạn là tại vì vậy.

Mong tất cả chư vị quyết lòng nguyện vãng sanh. Rõ ràng! Minh bạch! Đừng ngại, đừng ngùng gì nữa cả, chắc chắn chúng ta được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 6

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Chúng ta đang triển khai vấn đề Khế Lý - Khế Cơ, trong đó: “Khế Lý” tức là chúng ta tu đúng theo lời Phật dạy, “Khế Cơ” là tùy sức, tùy căn mà áp dụng những lời nào chính xác cho căn cơ của chúng ta.

Khế Lý hoàn toàn không phải là ta nói cho hay, ta luận cho giỏi, ta nói những điều cao siêu huyền diệu. Hoàn toàn không phải như vậy! Thường thường những người thích nói điều cao siêu huyền diệu, hầu hết sau cùng không được phần vãng sanh nếu là người niệm Phật. Còn tu pháp môn khác mà thích nói cao siêu quá, sau cùng cũng khó thành tựu!

Khế Lý tức là đúng kinh Phật. Tuy nhiên kinh Phật nói có lúc thật là cao, cũng có lúc ứng dụng trong những hàng phàm phu tục tử chúng ta. Nên lựa những lời các Ngài chỉ cho hàng phàm phu tục tử chúng ta, rồi ứng dụng mà tu thì gọi là Khế Cơ.

Trong pháp niệm Phật của chúng ta, nhất định tâm tâm nguyện nguyện là làm sao trong một đời này vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Nếu niệm Phật mà không nghĩ tới cái chuyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, là không Khế Lý mà cũng không Khế Cơ luôn! Tức là đi lạc đường, dù hình thức có hay cách nào đi nữa, sau cùng cũng bị uổng thời gian công phu tu tập!

Ngày hôm qua chúng ta đang nói đến chỗ một người có cái tâm định vào Tây Phương Cực Lạc, định vào câu A-Di-Đà Phật thì mọi chuyện xảy ra với họ, họ tự nhiên thoải mái, họ không bị phân vân, chao đảo, thối chuyển. Thường thường điều làm cho chúng ta thối chuyển nhiều nhất là những cơn bịnh đến với chúng ta. Có nhiều người trong lúc khỏe mạnh tu hành tưởng là mình hay lắm, nhưng khi một chút thử thách đến, ví dụ như căn bệnh đến thì tự nhiên tinh thần của họ sụp đổ, và ý chí của họ hình như tan biến. Lúc đó ta mới thấy rõ rệt là chính cái tâm mình quá yếu rồi, không còn đủ nữa. Vì vậy, có nhiều người trước những cơn bịnh, họ cười vui vẻ thoải mái. Có những người khi mà cơn bịnh xảy ra thì tự nhiên tinh thần của họ đã bay ngõ nào mất hết, và cái định của họ nó cũng bay ngõ nào mất tiêu. Họ không còn tự tại nữa!... Đây là điều chúng ta nhắc nhở ngày hôm qua.

Trong kinh Bảo-Vương-Tam-Muội có nói, người học Phật đừng bao giờ cầu cho thân thể này không bịnh, vì những người thân thể không bịnh thường thường không tu được. Chính vì thế, khi mà bịnh đến với chúng ta, xin chư vị nếu đã biết đạo, biết đường về Tây Phương rồi, thì một căn bịnh đến giống như là một ân huệ giúp cho chúng ta được một chuyến đò để về Tây Phương Cực Lạc. Nếu chúng ta không chịu ngộ ra đường đạo, thì một cơn bịnh đến tự nhiên có điều cản trở, làm cho tâm thối chuyển, hoang mang, lo sợ...

Hôm nay chúng ta nói tiếp một chút xíu nữa về những sơ suất của người học đạo, mà thường thường những cái sơ suất căn bản này làm cho chúng ta mất phần vãng sanh. Hẳn nhiên, xin nói cho rõ ra, là không phải sơ suất ở trong lý đạo cao siêu, mà chính là sơ suất ở những chỗ căn bản, gần gũi nhất, chứ không đâu xa lạ cả.

Vãng sanh về Tây Phương, nên nhớ rõ, là do quyền lợi của chính mình và được đức từ phụ A-Di-Đà thương xót chúng sanh, do lòng đại từ đại bi của Ngài tiếp dẫn mình về Tây Phương để một đời khi mình xả báo thân này, thay vì mình phải chịu đọa lạc trong những cảnh khổ sở đau đớn qua nhiều kiếp, kiếp này qua kiếp nọ, gọi là Lũy kiếpnan xuất, thống bất khả ngôn. Như vậy thì khi vãng sanh về Tây Phương chính là cái quyền lợi của mình, chứ không phải là quyền lợi của Phật.

Ấy thế mà có nhiều người tu hành lại nghĩ ngược lại, là khi ta vãng sanh về Tây Phương là do quyền lợi của Phật. Vì quyền lợi của Phật cho nên ta nguyện vãng sanh về Tây Phương. Chính vì vậy mới sinh ra những lời nguyện sai lầm, để dẫn tới chỗ sau cùng mất phần vãng sanh. Thường thường những người này họ nguyện như thế nào? Cứ... “Nam Mô A-Di-Đà Phật, Phật cho con về Tây Phương. Nhưng dù sao đi nữa Phật cũng cho con hết bịnh, dù sao đi nữa cũng cho con làm cho hếtviệc này, làm cho hết cái việc kia… rồi con mới đi”.

Thường thường người ta đặt điều kiện như vậy, nhiều lắm! Vì những lầm lẫn nho nhỏ này mà làm con đường đi về Tây Phương của họ bị đoạn mất. Rất nhiều chứ không phải là không có. Khi đi hộ niệm sẽ thấy những trường hợp này. Những người nghèo người ta không nguyện như vậy, mà thường nguyện rằng, “Nam Mô A-Di-Đà Phật, xin Phật cho con về Tây Phương, về lúc nào cũng được, con không sợ gì cả, con quyết lòng về Tây Phương, nguyện thành Phật độ chúng sanh”.

Tại vì họ khổ quá rồi! Họ không muốn ở đây nữa. Nhưng một người sống sướng một chút, thì thường thường họ nguyện như vầy: “Nam Mô A-Di-Đà Phật, trong một đời của con, con đâu có làm điều gì sai. Tại sao con lại bị bịnh? Nam Mô A-Di-Đà Phật, con cũng bố thí, cũng cúng dường, cũng xây chùa, cũng cất miễu, cũng làm cầu... nhiều lắm, tại sao Phật lại bất công... không chịu giúp cho con khỏe mạnh, an khang? Bất công quá!”.

Trong lúc tu hành họ có cái tâm trách móc. Mà thực ra, rõ rệt là những căn bịnh này, những sự khổ ách này, nhất định là do chính mình gây ra, chứ không phải là người khác. Chắc chắn. Nếu đời này mình có làm việc đại thiện đại lành gì đi nữa, mà mình vẫn bị tai nạn, vẫn bị đau đớn, vẫn chịu nhiều cảnh khổ là do trong tiền kiếp mình tạo ra cái nhân đó, nhất định không cách nào từ chối được. Thế gian còn có câu, “Nhất ẩm nhất trát mạc phi tiền định”. Một cái ăn, một cái uống, một cái gặp nhau trong đời này nhất định cũng do tiền định, thì một cơn đau mà đến với chúng ta, một căn bịnh ngặt nghèo đến với chúng ta, hoàn toàn là do chính chúng ta tạo ra. Vì thế, khi tu hành cần phải cố gắng nhớ điều này, “Nhân DuyênQuả Báo tơ hào không sai”!

Ba cái nó đi với nhau. Vì ưa nói gọn nên thành ra Nhân-Quả. Chứ thật ra phải nói là: Nhân-Duyên-Quả. Chính nhờ cái Duyên này mà ta mới thoát nạn đây. Duyên như thế nào? Nếu ta định vào trong câu A-Di-Đà Phật, quyết lòng đi về Tây Phương thì ta cứ một lòng niệm Phật, một lòng cầu về Tây Phương. Một cơn bịnh đến ta mừng ta vui, vì ta trả cái nghiệp này trong ngày hôm nay thì ba tháng sau ta khỏi trả. Nếu ta trả căn bịnh ngặt nghèo trong tháng này thì tháng sau ta khỏi trả. Ta trả tất cả những cái chuyện đau đớn này thì lúc lâm chung ta khỏi đau đớn. Hiểu được vậy thì tự nhiên ta an nhiên đón nhận căn bịnh.

Xin chú ý cho kỹ điểm này, là ta an nhiên đón nhận căn bịnh của ta, chứ không phải ta cầu mong cho căn bịnh đến với ta. Hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Xin nhớ kỹ, chứ không thì dễ hiểu lầm chỗ này mà chúng ta lại có thể bị đại nạn. Có nhiều người sơ ý, khi tu hành thường phát ra những lời nguyện hết sức sai lầm! Ví dụ: “Nam Mô A-Di-Đà Phật, con nguyện sẽ trả cho hết tất cả những nghiệp chướng của con để con đi vãng sanh về Tây PhươngCực Lạc. Con quyết tâm giải cho hết mọi ách nạn để rồi con được thành tựu”.

Đây là lời nguyện hoàn toàn sai lầm đối với một người niệm Phật cầu sanh Tịnh-Độ. Mà đúng ra nên nói rằng, ta an nhiên tự tại đón nhận căn bịnh. Căn bịnh nó đến nhiều ta an nhiên nhiều. Tâm ta định vào câu A-Di-Đà Phật. Xin nhớ, cái lực định này tự nó phá tan nghiệp chướng ngay lúc đó hồi nào không hay. Chứng tỏ được rõ rệt rằng, có nhiều người đau trên giường, các vị bác sĩ tới thăm, họ nghĩ rằng người này phải bị tê liệt, bán thân bất toại, nằm dài trên giường, không nói được, không đi được... thế mà họ đi ngờ ngờvì tâm lực của họ nó quá mạnh. Cho nên mình phải nhớ, không nên tạo cái duyên cho cái nghiệp nó nở ra.

Làm sao không tạo cái duyên cho cái nghiệp khỏi nở ra?...

- Đừng sợ cái nghiệp,

- Đừng mong cái nghiệp,

- Đừng lo cái nghiệp,

- Đừng khổ vì cái nghiệp thì tự nhiên cái nghiệp nó nằm đó, nó chờ trong tương lai một kiếp nào đó nó mớihiện ra.

Trong thời gian chờ đợi tương lai hiện ra, thì ta đã được tương ứng với đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật, đã về Tây Phương Cực Lạc rồi. Khi về tới Tây Phương Cực Lạc ta trở thành Bồ-Tát Bất-Thối-Chuyển, thần thông đạo lực, vô cùng nhiệm mầu, bao trùm pháp giới. Ta dùng cái thần thông đạo lực đó vì chúng sanh chịu khổ mà xuống các quốc độ cứu độ chúng sanh. Lúc đó ta trả nghiệp nhưng không phải là ta xuống dưới địa ngục để chịu hành hình, mà ta trả nghiệp bằng cách dùng thần thông đạo lực và trí huệ của một vị Bồ-Tát Bất-Thối đi cứu độ chúng sanh, giảng kinh thuyết đạo dẫn chúng sanh đi về Tây Phương để mà trả nghiệp. Cách này hay vô cùng.

Chính vì thế, xin thưa, nghiệp nó đến với chúng ta là do chúng ta mời nó. Còn nếu chúng ta cứ một lòng một dạ:

- Duyên với Tây Phương Cực Lạc.

- Nghĩ A-Di-Đà Phật.

- Nhớ A-Di-Đà Phật.

- Niệm A-Di-Đà Phật.

- Nguyện về Tây Phương với A-Di-Đà Phật...

Thì tự nhiên cái nhân đi về Tây Phương đã chín muồi trong tâm chúng ta, nhờ do sức nguyện làm thành cái Duyên để nảy nở cho chúng ta cái Quả báo, Quả báo đi về Tây Phương thành đạo.

Chính vì vậy, khi mà mình biết được một chút tu hành rồi, mong cho tất cả chư vị cố gắng bắt đầu từ hôm nay, tất cả những căn bịnh nào đến, chúng ta hãy an nhiên tự tại lên, đừng sợ... Nhất định đời này đã có vận hạn rồi, không sao cả. Khi cái tâm chúng ta buông ra thì tự nhiên cái nghiệp nó cũng buông chúng ta ra, nó nằm im đó để cho chúng ta lấy cái Nhân “A-Di-Đà Phật” để thành cái Quả “A-Di-Đà Phật”, gọi là Niệm Phật Là Nhân, Thành Phật Là Quả.

Còn tất cả những nghiệp khác ta “Đới” nó. Đới là đem về Tây Phương. Đem về Tây Phương ta dùng thần thông đạo lực, biết hết trong vô lượng kiếp chúng ta làm gì, ta bắt đầu đi cứu độ chúng sanh để trả nghiệp. Đây là con đường rất là vi diệu, tuyệt vời của những người niệm Phật vãng sanh như chúng ta.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 7

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Tu hành cần phải “Khế Lý - Khế Cơ”. Người phàm phu tục tử chúng ta, ráng cố gắng tránh những hiếu kỳ ngoài khả năng của mình, để sau cùng mình khỏi bị vướng những cái bẫy hay những sơ suất đáng tiếc! Trong pháp niệm Phật vãng sanh, hai điểm này rất là quan trọng.

- Thứ nhất là “Niềm Tin”. Đừng nên nói, “Để khi lâm chung rồi tôi phát khởi tin cho nó vững, chứ bây giờ đây chưa cần”!Không phải như vậy! Cho nên ráng chú ý xét soi coi mình có thiếu niềm tin hay không? Nếu mà thiếu niềm tin vãng sanh, thiếu niềm tin về Tây Phương Cực Lạc thì bây giờ chúng ta tu ba, bốn chục năm, một ngày niệm Phật mười vạn tiếng, tức là một trăm ngàn câu A-Di-Đà Phật, sau cùng chúng ta cũng không hưởng được phước phần giải thoát.

Nếu mà lời NguyệnVãng Sanhcủa chúng ta không vững, thì dầu cho có đến đạo tràng này tu suốt cả cuộc đời, ngày nào cũng tu, một ngày chúng ta niệm một trăm ngàn tiếng Phật hiệu, thì đến sau cùng cũng không hưởng được phước phần vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Đây là điều mà chư Tổ thường cũng nhắc nhở như vậy đó.

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói... “Niềm Tin vững vàng, phát nguyện vãng sanh tha thiết, thì dẫu cho tán tâm niệm Phật, loạn tâm niệm Phật cũng được vãng sanh”.

Xin chư vị nghe cho kỹ những lời của Tổ, đừng nên hiếu kỳ tìm những lý luận xa vời cao siêu làm chi! Hãy nghe cho thật kỹ những lời Tổ dạy. Ngài nói...

“Vãng sanh về Tây Phương được hay không là nhờ TÍN và NGUYỆN”. Nghĩa là, phải tin tưởng cho vững và phải tha thiết nguyện vãng sanh về Tây Phương. “Còn phẩm hạnh ở trên cõi Tây Phương cao hay thấp là do niệm Phật sâu hay cạn”.

Câu này quan trọng lắm! Nhiều người tu mà quên câu này nên sau cùng chúng ta mới thấy những chuyện xảy ra khá lạ lùng! Có nhiều người tu rất nhiều mà không được vãng sanh, có lẽ là sơ ý chỗ này. Muốn vãng sanh về Tây Phương cao phẩm hay hạ phẩm, thì chúng ta cũng phải về tới Tây Phương trước đã, sau đó mới có thể nói cao phẩm hay thấp phẩm. Chứ nếu không về được tới Tây Phương thì cao phẩm ở chỗ nào? Thấp phẩm ở chỗ nào? Yếu tố nào để về được Tây Phương? Chính là Niềm Tinvà sựPhát Nguyện… Rõ ràng!

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói, “Nếu không phát nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, niềm tin yếu ớt, thì dẫu cho niệm Phật đến “Nhất tâm bất loạn” cũng không được vãng sanh”. Ngài nói rõ rệt như vậy!

Ở đây có nhiều người thấy những tập sách hướng dẫn một cách tu trì nào đó sao hay quá! Người ta định được ba năm vãng sanh, hai năm vãng sanh, quyết được “Nhất tâm bất loạn”... thì liền muốn chạy theo để được “Nhất tâm bất loạn”! Trong khi đó thì chính mình nguyện vãng sanh không tha thiết. Điều này được chứng minh rõ rệt là khi vừa ngã bịnh xuống thì tinh thần hình như mất hết! Nhìn vô thấy không còn một nét vui nào trên khuôn mặt nữa! Từng giờ, từng phút lo âu!... Lo lắng không biết làm sao để chữa bịnh này? Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói, nếu mà bạn niệm Phật cho đến nhất tâm bất loạn, mà bạn không nhắm về Tây Phương, nhất định cũng không được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Ngài Trung-Phong Đại Sư nói,“Niệm Phật mà không nguyện vãng sanh về Tây Phương, dẫu cho công hạnh có cao dày cho đến đâu đi nữa cũng trở nên nên thiết”. Tất cả các vị Tổ đều nói như vậy.

Chính vì thế, khi quý vị quyết lòng đi về Tây Phương để một đời này thành đạo, thì xin thưa thực, ở đây có A-Di-Đà Phật, ảnh tượng của Ngài tại đây, lời thề của Ngài cũng tại đây, Ngài phóng quang chiếu khắp tất cả mọi nơi để cứu độ từng người, từng người vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Về Tây Phương với Ngài chúng ta thành Phật. Ấy thế mà trong sự tu hành, chúng ta không chịu tự kiểm điểm lấy, cứ chạy theo những cái lý hão huyền xa vời! Với năng lực của một người phàm phu tục tử tội chướng sâu nặng này, không chịu nắm lấy những cái hết sức căn bản, hết sức vững vàng, gọi là “Sự tu vững vang” để đi về Tây Phương, mà cứ chạy theo cái “”, gọi là “Lý nhiệm mầu!”mà quên mất“Sự tu vững vàng”...

Chúng ta nên biết, là đức Thích-Ca-Mâu-Ni Phật Ngài dạy có những cái “Lý nhiệm mầu”, tối nhiệm mầu. Ngài nói cho ai? Đại Bồ-Tát tu trì. Bên cạnh đó, Ngài cũng nói những cái “Sự tu hành” cụ thể, chắc chắn, vững vàng cho người chấp trì để thành tựu. Người này là ai? Là hạng hạ căn phàm phu. Cho nên đối với pháp Phật, người thượng căn thành tựu đạo quả?... Dư! Người hạ căn có thành tựu đạo quả không?... Cũng dư luôn! Chính vì vậy mà pháp Phật được gọi là Pháp Cứu ĐộNhất Thiết Chúng Sanh, không phải chỉ cứu độ hàng thượng căn thượng cơ, còn bỏ rơi hàng phàm phu đâu. Chỉ vì hàng phàm phu chúng ta không chịu xác định mình là phàm phu, cứ tưởng mình là hàng cao cơ nên sơ suất đó thôi!...

Hôm trước Thượng Tọa Thích-Trí-Thoát đã giảng câu hay quá. Ngài nói rằng, Càng tu chúng ta càng cúi mình xuống để cho cái vạt áo của mình, vạt áo trước nó có thần thông, nó dài ra. Nó dài ra như vậy, mỗi lần mình bước đi cái áo nó cứ đập, đập, đập vô trong chân của mình, nó nhắc nhở cho mình đi phải chậm chậm, đi phải từ từ, để đi vững vàng. Đừng quá vội mà vấp, mà té. Một lần mà vấp té rồi thì muôn đời muôn kiếp không cách nào có thể gỡ được.

Thường thường những người tu hành hay bị chướng nạn này, là không chịu cúi mình xuống, mà cứ ngửa lên nhìn trên mây xanh để tìm đạo lý nhiệm mầu? Trong khi đó cái chân của mình cứ muốn bước đi cho nhanh mà không để ý những cạm bẫy, những gai góc đang giăng giăng phía trước. Một lần lỡ sa vào hố rồi, rơi xuống hố sâu thăm thẳm, lúc đó, nhìn lên bầu trời cao những lý đạo nhiệm mầu đã tan biến vào hư vọng hết rồi! Rồi nhìn lại một thực tế gì đây? Có phải chăng đang nằm dưới hố sâu đời đời kiếp kiếp, biết bao giờ mới có thể ngóc đầu lên được?!

Thầy Trí-Thoát nói lên một câu nhắc nhở chúng ta cần nên nhớ, nhất định phải khiêm nhường!...

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư, thị hiện một đời của Ngài cống cao ngã mạn. Ngài khinh thường câu A-Di-Đà Phật, Ngài coi đó không ra gì hết. Nhưng khi Ngài ngã một cơn bịnh, cơn bịnh thập tử nhất sanh, Ngài tưởng rằng Ngài phải chết trong cơn bịnh đó. Nhưng may mắn Ngài vượt qua được. Khi Ngài vượt qua được rồi, Ngài nói rằng: “Ủa! Nếu trong lúc bịnh nhưvậy, mà ta chết, thì ta đi đâu?”. Đặt lên một câu hỏi này, làm Ngài giựt mình! Ngài tưởng rằng hồi giờ Ngài tu tốt, tu cao! Nhưng khi đau xuống, những cơn đau quằn quại chịu không nổi! Lúc đó tâm thần tán loạn, không biết đường nào mà đi! Ngài hỏi, trong lúc tán loạn như vậy, ta đi đâu? Ngài cầm quyển kinh A-Di-Đà lên, Ngài ngộ ra liền con đường niệm Phật vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Ngài quyết lòng buông xả, niệm Phật cầu vãng sanh. Ngài trở thành vị Tổ thứ 9 của Tịnh-Độ-Tông Trung-Hoa.

Trong khi chúng ta là phàm phu tục tử, tội chướng sâu nặng mà không tự liệu thân. Bịnh là do nghiệp, là do tội chướng mang đến cho mình. Nó là của mình, nhất định không trước thì sau mình cũng phải nhận. Nếu ngộ ra một chút đạo này, thì nhận trước khỏi nhận sau. Nếu ngộ ra một chút đạo này, thì bịnh nó đến mình càng vui hơn nữa. Vì sao vậy? Vì nó nhắc nhở cho mình biết mình là phàm phu tục tử, nó nhắc nhở cho mình nhất định Tín-Hạnh-Nguyện không thể nào ly ra được.

Cho nên:

- Càng bịnh càng nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

- Càng bịnh càng khiêm nhường.

- Càng bịnh càng phải ngày ngày ráng cố gắng niệm Phật để tạo công đức hồi hướng cho oan gia trái chủ, hồi hướng cho những cái nghiệp nhân mà mình đã tạo ra trong quá khứ.

Phải thành tâm làm hàng ngày, cứ Tín-Nguyện-Hạnh, Tín-Nguyện-Hạnh như vậy mà đi. Nếu tín vững vàng, tin vào lời Phật dạy. Phật dạy sao? Người nào tội chướng nặng cho mấy đi nữa mà bây giờ quyết lòng sám hối... Làm sao sám hối? theo lời Hòa Thượng Tịnh-Không dạy đi, Bất nhị quá, đừng có làm như vậy nữa...

- Tôi ghét một người nào, nhất định hôm nay tôi không ghét nữa.

- Tôi chửi một người nào, nhất định từ nay tôi không chửi nữa.

- Tôi cống cao ngã mạn, nhất định tôi không cống cao ngã mạn nữa.

- Tôi không làm ra những điều sai nữa...quyết định tự mình phải bỏ.

Nếu tự mình không bỏ, thì nhất định “Tín” mình không đúng. Mình không bỏ thế gian này xuống, không chịu nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, thì khi bịnh xuống, mình sợ! Sợ là phiền não!... Mình có đầy đủ những thứ chướng nạn đó, thì nhất định cái cõi Ta-bà này nó sẽ trói mình lại. Mình niệm Phật dù cho mười vạn tiếng, ngài Tịnh-Không nói, mười vạn tiếng là niệm 100.000 câu A-Di-Đà Phật hàng ngày, Ngài nói cũng như không! Ngài Trung-Phong nói, không nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, dẫu cho công hạnh cao cho mấy đi nữa cũng trở nên Hư Thiết. “Hư” là không; “Thiết” là cần thiết. Hư Thiếtlà không thiết thực!... Rõ ràng.

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói, nếu không chịu tha thiết nguyện vãng sanh mà cứ nguyện những cái gì khác. Tu để kiếm chút phước này, kiếm chút phước nọ... Niềm tin không đủ! Nói chung, hai cái điểm đầu không đủ, thì dù cho quý vị có tu suốt cuộc đời cũng không được vãng sanh! Nên nhớ như vậy...

Cho nên rõ rệt Tín-Hạnh-Nguyệnlà điều căn bản để cho chúng ta vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải “Nhất Tâm Bất Loạn” mới được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Nên nhớ, thời mạt pháp này chính trong kinh Phật đã nói: “Ức ức người tu hành, khó có mộtngười nào có khả năng chứng đắc”. Nhất tâm bất loạn là cảnh giới chứng đắc, chứ không phải là một điều an khang nào đó trong lúc nhiếp tâm niệm Phật. Vậy mà có rất nhiều người sơ ý, cẩu thả mong cầu chuyện nhất tâm bất loạn!

Ngài cư sĩ Hạ-Liên-Cư nói, “Niệm Phật không cầu nhất tâm bất loạn, mới được nhất tâm bất loạn”. Người nào cầu nhất tâm bất loạn, nhất định tâm sẽ loạn. Loạn đến có thể bị tẩu hỏa nhập ma, vì đời này là đời mạt pháp rồi!... Ngài Tịnh-Không nói, cư sĩ Hạ-Liên-Cư không phải là người bình thường, thân phận dù chưa có thố lộ ra, nhưng Ngài nói, đây không phải là người tầm thường?...

Nguyện mong cho chư vị nhớ những điểm này, đã đến đạo tràng này thì quyết lòng phải đi, đi đúng đường, đi cho đến Tây Phương Cực Lạc để thành đạo. Đây là điều mong ước của A-Di-Đà Phật đang chờ đợi chúng ta thành đạo giải thoát, trên cõi Tây Phương Cực Lạc vậy.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 8

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Mỗi lần nổi lên một cơn bịnh, mình mới ngộ ra rằng mình chính thị là phàm phu tục tử!

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư bị một cơn bịnh thập tử nhất sanh thì Ngài ngộ ra, Ngài lo niệm Phật và trở thành một đại Tổ Sư, còn mình chính hiệu là phàm phu tục tử, bịnh rề rề, năm này cũng bịnh, năm kia cũng bịnh, mình có quá nhiều dịp để ngộ rằng mình là phàm phu tục tử!

Vô thường đến bất kỳ lúc nào, không bao giờ nó chờ đợi, không có hẹn được. Chính vì vậy mà khi mình biết được con đường niệm Phật, mình biết trước cả khi mình bịnh nữa, tức là so ra mình hơn ngài Ngẫu-Ích Đại Sư một chút. Ngài ngộ ra sau khi cơn bịnh, còn ta biết niệm Phật trước khi cơn bịnh, vậy thì phải lo chuẩn bị.

Trong đường vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, hôm trước mình có nói qua, cái điểm quan trọng nhất là “Niềm Tinvà “Lời Phát Nguyện”. Nếu mà niềm tin yếu thì ta phát nguyện không có tha thiết. Nếu ta không muốn đi về Tây Phương thì thường thường ta sẽ có những sự phát nguyện lệch đi và sau cùng thì mất phần vãng sanh. Xin đưa qua đây vài mẫu chuyện có thực...

Ví dụ như ở bên ngoài kia có cái phần hộ niệm vãng sanh, quý vị coi đĩa Sư Bà Thích-Như-Định, Ngài là Sư Bà trụ trì một Ni-Viện, nhưng mà khi Ngài bịnh, Ngài dặn dò các hàng đệ tử và Ngài viết thư nhờ các Ngài khác đừng lo gì khi Ngài chết, mà phải giao cho các ban hộ niệm họ hộ niệm. Họ hộ niệm xong rồi quý vị mới làm theo các nghi lễ. Thấy lạ lùng không? Một Sư Bà mà khi ra đi lại giao cho các vị Phật tử, tôi nhớ không lầm, chính chị Diệu Thường hộ niệm cho Sư Bà. Sư Bà ra đi bất khả tư nghì, thoại tướng tốt không thể nào tưởng tượng. Trong khi đó thì cách đây cũng không lâu cũng có một vị Ni, đã tuyên bố là nhất tâm bất loạn, định được ngày giờ ra đi và có rất nhiều vị Tăng Ni, đông lắm tới hộ niệm. Nhưng mà sau cùng thì không đi! Không đi được, mà sau đó thì những chướng nạn đến dồn dập!...

Trong những lời tọa đàm về hộ niệm trước đây, chắc quý vị còn nhớ một câu chuyện, cũng là một vị Ni, khi bị bịnh rất nặng và bác sĩ đã chịu thua. Vị này được một vị Đại Đức cùng với những ban hộ niệm, ban hộ niệm đó Diệu Âm biết, những người đó họ khai thị tốt lắm. Vị Đại Đức cũng quyết lòng hộ niệm cho vị Ni đó. Hộ niệm được mười sáu ngày thì tự nhiên căn bịnh hết, không còn bịnh nữa và vị Ni đó công phu trở lại được, coi như người bình thường. Sau khi có hiện tượng như vậy, thì vị Ni đó mới nói với Thầy rằng, Chắc là con nghiệp chướng còn, nên Phật muốn con đem cái thân nghiệp chướng này để độ chúng sanh chăng?. Vị Ni đó đã đổi lời nguyện, (nghĩa là nguyện độ chúng sanh chứ không nguyện vãng sanh nữa). Đổi lời nguyện xong thì khoảng mười ngày sau bị phát bịnh trở lại. Thì cũng chính vị Đại Đức và ban hộ niệm đó đến hộ niệm, nhưng mà vị Ni này ra đi không có một cái thoại tướng nào chứng tỏ rằng được vãng sanh Cực Lạc cả, ngay cả cái thân thể mềm cũng không được luôn!

Tại sao lại như vậy?...

Tại vì lời nguyện. Lời nguyện không chính! Lời nguyện không thẳng! Chúng ta tu hành, nhiều khi có những điều sơ suất, như vọng tâm nổi lên, một sự ngã mạn hay một sơ ý nào đó nổi lên, nó có thể đưa chúng ta đi lệch con đường vãng sanh về Tây Phương liền.

Ví dụ như hôm qua mình có nói vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc thứ nhất là do quyền lợi của chính mình. Trong vô lượng kiếp qua mình bị đọa lạc trong sáu nẻo luân hồi, chắc chắn ở đó cũng có những cảnh giới tam ác đạo trong đó mà mình không hay. Với tai nạn lớn như vậy mà bây giờ gặp được câu A-Di-Đà Phật, nhờ đại nguyện của đức A-Di-Đà mà mình được về tới Tây Phương, mà về tới Tây Phương thì ngay trong những lời nguyện đầu Ngài nói, hễ về tới Tây Phương thì tất cả chư vị đều thành Bồ-Tát hết, thần thông đạo lực nhiệm mầu. Như vậy cơ hội này là để cho chúng ta thoát nạn. Ấy thế mà chúng ta sơ ý, cứ tưởng rằng là đi về bên Tây Phương là do quyền lợi của A-Di-Đà Phật... Cho nên, có nhiều người than:

“A-Di-Đà Phật ơi! Con tu hành tốt quá, con muốn về Tây Phương. Nhưng mà có gì có chứ Ngài cũng cho con hết bịnh, Ngài phải làm cho con hết bịnh… Tức là đặt điều kiện với Ngài. Con hết bịnh rồi thì con niệm Phật mới được chứ. Tại sao con niệm Ngài mà Ngài hổng cho con hết bịnh”.

Rõ ràng đây là lời nguyện sai lầm! Nhân-Quả của chúng ta chư Phật không có xen vào được. Trong kinh Vô-Lượng-Thọ, Phật có nói là Nghiệp nhân quả báo bất khả tư nghì, chư Phật không thể chen chân vào được, mà chính chúng ta phải giải quyết. Giải quyết bằng cách nào? Nếu chúng ta bây giờ không nhớ A-Di-Đà Phật, không niệm A-Di-Đà Phật, không nguyện về Tây Phương Cực Lạc thì nhất định chúng ta nhớ lục đạo luân hồi. Nhớ lục đạo luân hồi thì “Duyên” với lục đạo luân hồi, nhất định chúng ta bị kẹt lại. Niệm Phật là để vãng sanh, khi một cơn bịnh xảy ra mà mình sợ chết. Sợ chết là gì? Thèm cái thân mạng. Thèm cái thân mạng này chứng tỏ là quyến luyến cái thân mạng, tâm chúng ta quyến luyến cái nào nhất định đây là cái “Duyên”, ta sẽ theo cái duyên đó để thọ những cái đại nạn trong lục đạo luân hồi.

Cho nên, những người không hiểu đạo, nên lúc lâm chung thường thường sợ chết. Vì sợ chết nên khi chết không bao giờ nhắm mắt được, con mắt mở trao tráo ra. Tại sao vậy? Tại vì trong lúc ngộp ngộp người ta sợ chết chứ có gì đâu, người ta ráng mở con mắt ra, hả cái miệng thiệt to ra để thở, để cố kéo lại sự sống. Vì tha thiết cái mạng sống này nên bắt buộc họ phải theo cái cục thịt này mà xuống dưới nấm mồ, rồi lang thang từ chỗ này qua chỗ nọ, bám víu vào những gốc cây... Vô tình ngàn đời vạn kiếp chịu khổ! Còn người niệm Phật lúc thấy ngóp ngóp, biết rằng sắp chết, họ quyết lòng niệm A-Di-Đà Phật, quyết lòng đi về Tây Phương, họ mừng lên, họ vui lên, tự nhiên những lúc đó họ mỉm cười. Họ mỉm cười ra đi, để về Tây Phương Cực Lạc. Niềm tin tưởng của họ mạnh mẽ vô cùng! Sức nguyện của họ tha thiết vô cùng! Trong những lúc đau đớn đó, có thể họ niệm Phật không vô, nhưng nhờ những vị đồng tu hộ niệm, họ nghe lời niệm của người hộ niệm để niệm theo, dù là có thể nghe mang máng, nhưng giúp cho tâm nguyện của họ quyết chí hơn để đi về Tây Phương.

Phật dạy tất cả đều do tâm tạo. Tâm ở đâu? Ở ngay cái ý muốn của mình đó. Chính vì vậy, khi chúng ta niệm Phật mà không muốn về Tây Phương, thì dù cho mình tu có một trăm năm đi nữa, một ngày mình niệm mười vạn câu Phật hiệu đi nữa, nhất định đây cũng chỉ là phước báu nhân thiên, mà phước báu nhân thiên của những người niệm Phật lớn lắm. Nếu việc ác không làm, việc thiện làm, mà còn niệm Phật nữa thì họ sẽ trở nên những người giàu có, những người trong nhà vua chúa. Nếu biết đạo mình nên sợ chỗ này, vì khi thuộc về hàng đó rồi, thì quyền lực quá mạnh, thế lực quá mạnh rồi, thường thường không ai tu được cả, mà bên cạnh cái quyền lực đó, sinh sát ở trong tay, tạo ra nghiệp trùng trùng để đời sau nữa phải chịu nạn nặng vô cùng! Đó gọi là “Tam Thế Oán”: Một đời làm thiện, một đời hưởng quả phước báu, giàu có, sau đó là đại nạn!

Chính vì vậy, mà cái cơ hội vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc này, xin chư vị nắm cho vững, đừng để sơ suất. Nếu sơ suất thì mình đi vào con đường sai lạc, sau cùng không ai có thể cứu mình được nữa. Cách đây cỡ chừng hai tuần chúng ta có đi hộ niệm cho mấy vị, gia đình đó ở ngoài Inala. Tôi dặn dò rất kỹ. Nhưng có một lần tình cờ tôi đem cái máy bấm để tới biếu cho bà Cụ, thì vì đi tới bất ngờ, khi bước vào nhà tôi thấy hai mẹ con đang ngồi coi phim. Đang coi phim Đại Hàn... Tôi không nói một tiếng nào hết, nhưng thứ bảy sau đó trong một buổi hộ niệm, tôi nói rất nhẹ nhàng nhưng mà rất cương quyết:

Nếu bác không lo cái vận mệnh của bác, nếu bác không muốn về Tây Phương, mà ngồi ôm coi cái phim này, tôi bắt gặp một lần nữa, nhất định, bây giờ bác có năn nỉ, tôi cũng không đi hộ niệm. Tại vì có hộ niệm cho bác, chắc chắn bác cũng không được vãng sanh”...

Vì sao? Vì rõ ràng là bác bị bịnh, đang chờ từng ngày để chết mà không lo cho chính cái huệ mạng của bác, không lo cho bác thì Phật cứu cũng không được, làm sao tôi có thể cứu?”. Tôi nói rất là nhẹ nhàng. Tôi nói tiếp...

Bác phải bỏ hẳn từ ngày hôm nay, nếu để tôi bắt gặp một lần nữa, bây giờ bác có năn nỉ đi nữa, tôi không đi hộ niệm là không đi hộ niệm, tại vì đi hộ niệm như vậy... Vô ích!”.

Xin thưa với chư vị, không phải mình niệm Phật này là niệm cho A-Di-Đà Phật, mà niệm cho mình và phải tương ứng cho đúng với đại nguyện của Ngài. Tín-Hạnh-Nguyện phải cho đúng. Hạnh là lo niệm Phật chứ không phải là ngồi coi phim, không phải hạnh là sợ này sợ nọ. Chỉ cần đi đúng như vậy, đơn giản rõ ràng, người tội chướng nghiệp nặng này... chúng ta vẫn được Ngài tiếp độ về Tây Phương để một đời thành tựu đạo quả.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 9

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Trong đề tài đang nêu ra, nhằm để chúng ta tránh bớt những sơ suất về vấn đề “Khế Lý - Khế”. Tại vì mình sơ suất, nên thường có những sự lầm lẫn có tính đáng tiếc để sau cùng bị trở ngại!

Nên nhớ, chúng ta toàn là người hạ căn hạ cơ, mà hạ căn hạ cơ thì chuyện hộ niệm rất quan trọng. Hộ niệm chính là dành cho những người không có khả năng chứng đắc, nói đúng theo danh từ của người niệm Phật, tức là không có khả năng đạt đến cảnh giới “Nhất tâm bấtloạn”. Chứ nếu chúng ta có thể đạt được cảnh giới “Nhất tâm bất loạn”, thì không cần hộ niệm nữa. Nói rõ ra, pháp hộ niệm chỉ dành cho những người rất dở, gọi là dở thậm tệ! Chúng ta xin tự nhận là những người dở thậm tệ, nên phải chú ý đến điểm này.

Cách đây cũng mấy năm, có một người tới nói với tôi như thế này:

- Bây giờ chúng ta phải quyết lòng tu một thời gian, cho đến khi nào mình có năng lực đã. Khi thấy có năng lực rồi thì tôi sẽ đi ra làm đạo, cứu người.

Nghe nói vậy thì tôi nói:

-Tốt! Rất là tốt! Có chí khí!

Nhưng mà trong tâm của tôi thì thầm nêu ra câu hỏi:

- Ủa!... Chứ chừngnào anh mới có đủ nănglực vậy?

Chỉ thầm nghĩ như vậy chứ không dám nói ra. Khi tu hành mà tự nhận mình có năng lực, thì chưa biết cái năng lực đó đúng hay sai? Chưa biết! Nhưng theo lời khai thị của các vị Tổ Sư, thì chúng ta đã đi ngược lại với lời dạy của các Ngài rồi. Các Ngài luôn luôn dạy chúng ta càng tu càng phải khiêm nhường, càng tu càng thấy mình còn phàm phu, tội chướng sâu nặng. Mà càng thấy mình tội chướng sâu nặng rồi, thì làm sao dám đặt vấn đề là đến một ngày nào đó tôi sẽ có năng lực!... Năng lực gì đây?

Cách đây cỡ chừng sáu năm, có một vị tu rất tốt! Rất tinh tấn! Một ngày hành trì của vị này cỡ 16-17 tiếng đồng hồ niệm Phật. Thật không phải dễ! Vị này đã tuyên bố mình chứng đắc và định được ngày giờ vãng sanh, rồi đã thông báo cho nhiều người biết rằng A-Di-Đà Phật đã chính thức thọ ký rồi. Vị này cũng lập ra một chương trình cho đại chúng tu học: Mười ngày thì ngửi được hương thơm. Bốn tới năm tuần thì nghe được âm thanh niệm Phật từ trong tâm phát ra. Khoảng một đến hai tháng, khoảng thời gian như vậy thì thấy được ánh sáng, quang minh... Vị đó đã đưa ra một chương trình tu học trong vòng ba năm nhất định được “Nhất tâm bất loạn”, chắc chắn được vãng sanh. Vị đó tuyên bố rằng:

- Tôi sẽ lấy chính cái năng lực của tôi, cái chứng đắc của tôi để chứng minh cho chư vị biết.

Sự việc có như vậy…

Đến ngày giờ đã định để vãng sanh, thì… làm thinh? Không chịu vãng sanh! Vị đó ra tuyên bố rằng, A-Di-Đà Phật đã thông báo cho tôi biết ngày đó Ngài bị bận... nên không tới tiếp dẫn được. Ngài hẹn lại một tháng sau...

Thì một tháng sau nó cũng đến liền, rồi sự việc cũng im lặng như tờ. Vị đó lại thông báo lại, nói rằng, tại vì trong thời gian qua quý vị làm ồn ào quá, tôi báo cho chư vị biết mà chư vị đi nói lung tung, nên A-Di-Đà Phật quở trách. Ngài phải dời lại cuộc vãng sanh hai tháng.

Rồi hai tháng nữa, sự việc cũng im lìm. Người đó lại nói, tại vì có một chút chuyện, nên bây giờ Ngài lại dời thêm hai tháng nữa. Chắc chắn?!...

Sự thực là đến bây giờ người đó vẫn còn sống... mà kèm theo cái sống đó... trở ngại chập chùng!...

Xin thưa, đây là những chuyện có thực xin nói lên để nhắc nhở cho nhau biết rằng, tu hành phải hết sức cẩn thận. Tại vì “Nhất tâm bất loạn” là cái đỉnh lý tưởng chứng đắc của người niệm Phật. Chư Tổ đều nói chúng ta cố gắng niệm Phật cho “Nhất tâm bất loạn”. Đó là cái mẫu chung, nhắc nhở cho mình tinh tấn tu hành, chứ không phải các Ngài bắt buộc mình phải nhất tâm bất loạn mới được vãng sanh. Nếu A-Di-Đà Phật đã phát ra một lời thề, những người niệm Phật phải “Nhất tâm bất loạn” thì ta sẽ tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc, thì ta mới quyết lòng, chết sống gì đi nữa, muốn đi về Tây Phương ta cũng phải niệm Phật cho “Nhất tâm bất loạn”. Còn ở đây Ngài không nguyện như vậy. Ngài nguyện rằng, dẫu cho những người có nghiệp chướng sâu nặng mà chỉ cần thành tâm sám hối, thành tâm cung kính niệm danh hiệu của Ngài với Tín-Hạnh-Nguyện đầy đủ, tha thiết nguyện vãng sanh, thì dẫu cho trước khi xả bỏ báo thân niệm được mười tiếng, Ngài sẽ tiếp độ về Tây Phương Cực Lạc.

Như vậy, lời nguyện của Ngài không có bắt buộc chúng ta phải niệm cho đến “Nhất tâm bất loạn”. Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta ngăn cản những người có khả năng niệm Phật “Nhất tâm bất loạn”. Chỉ xin nhắc nhở cho chúng ta nên nhớ một điểm, “Nhất tâm bất loạn” là một cảnh giới chứng đắc. Sự chứng đắc này không phải tầm thường, mà tương đương với “Minh tâm kiến tánh, Kiến tánh thành Phật”, là những vị đã vượt qua “Chấp Trước”, vượt qua “Phân Biệt”, có thể phá từng phẩm vô minh, chứng từng phần pháp thân, gọi là “PhầnChứng TứcPhật, cảnh giới của những vị đại Bồ-Tát ở cõi Hoa-Nghiêm chứ không phải tầm thường. Có nhiều người sơ ý, tự xưng này xưng nọ… và danh từ này trở thành món mồi quá ngon cho những người hiếu kỳ, đưa họ đến chỗ vô cùng nguy hiểm!

Có một vị nữa, Diệu Âm xin kể những chuyện có thực, nếu mà các vị đó nghe được những lời này thì cũng xin tha thứ cho Diệu Âm. Diệu Âm lấy những chuyện có thực này để nhắc nhở cho chúng ta biết con đường an toàn, để giúp nhau vãng sanh Tây Phương, giúp cho chúng sanh có duyên tránh được những ách nạn, để họ thoát được những cảnh khổ của sự vô thường này, (chứ không phải bươi móc chuyện cá nhân).

Vị đó tu rất tốt và tự xưng rằng đã đột phá cảnh giới Hoa-Nghiêm rồi. Vị đó có một năng lực đặc biệt làm cho nhiều vị khác phải phủ phục tôn làm sư phụ. Đó là sự thật! Vị đó có một cái... hình như giống như là Thiên-nhĩ thông vậy. Có một lần vị đó ở cách đây trên một trăm cây số mà nghe được tiếng của Diệu Âm này mỗi sáng tụng kinh. Quý vị tưởng tượng đi, trên một trăm cây số, gần một trăm năm chục cây số mà nghe được. Có một lần vị đó trở về Brisbane, tới thăm Diệu Âm và nói rằng:

- Tôi mỗi sáng đều nghe tiếng anh tụng kinh, nhưng tuần qua tôi không nghe tiếng anh tụng kinh nữa. Tôi vào trong định để quán thì thấy hào quang của anh phóng tới và trong hào quang đó tôi biết anh bị bịnh. Cho nên hôm nay tôi về tôi thăm anh.

Rõ ràng, đúng là tuần qua chính Diệu Âm này bị bịnh. Nếu lúc đó mà Diệu Âm cũng có chút hiếu kỳ, cũng tham chứng đắc, thì có lẽ đã quỳ xuống bái làm sư phụ. Nhưng khi nghe “Ngài” đó nói như vậy thì giựt mình! Vì chính mình hiểu mình rõ hơn ai hết. Rõ ràng mình là một phàm phu tục tử, bịnh lên bịnh xuống, nhức đầu muốn chết luôn, làm gì mà mình có quang minh? Rõ rệt không? Làm gì mà mình có quang minh?... Diệu Âm mới nói:

- “Bây giờ tới đây, mình ở gần Hòa Thượng Tịnh-Không, là một vị cao tăng đức độ. Tại sao mình không đem điều chứng đắc gì của mình đó trình với Ngài, bạch với Ngài, xin Ngài một lời khuyên và nhờ Ngài giảng trạch cho...”.

Thì vị đó hình như không bằng lòng mấy! Nói rằng, Hòa Thượng Tịnh-Không đang giảng kinh Hoa-Nghiêm, nhưng mà Ngài có một cái kẹt nào đó nên chưa khai kinh được! Chắc có lẽ đây là cái duyên cho tôi đến để khai kinh cho Ngài chăng?!!!...

Quý vị tưởng tượng đi? Thì sau đó có một dịp vị đó tới gặp Hòa Thượng… mới gặp có năm phút, Hòa Thượng đã mời ra khỏi đạo tràng. Ngài nhất định không thay đổi ý kiến.

Xin thưa với chư vị, mình nói đây không nên nêu tên nêu tuổi, nhưng mà thực ra thì có rất nhiều người đã lầm lẫn! Lầm lẫn giữa “Lý” và “Sự”. Lầm lẫn giữa “Lý đạo nhiệm mầu của Phật” và “Căn cơ thực chất của mình”.Chỉ vì tâm của mình chưa có định lực, nên thường hay háo kỳ. Chính vì cái háo kỳ đó mới nảy sinh ra những vọng tưởng. Cái vọng tưởng đó nếu không có người khai giải thì nó càng ngày càng trưởng dưỡng, càng phát triển, đến một lúc nó phát triển ngoài cái tầm kiểm soát của chính mình, đưa đến chỗ là cái vọng tưởng đó chi phối tâm trí mình luôn. Không phải là chuyện dễ đâu!...

Có những người khi tu hành niệm Phật như thế này, năm này qua năm khác, sao thấy mình không được chứng đắc gì cả? Cái tâm của mình sao vẫn còn lộn xộn! Mà sao vị kia nêu lên một cách hành trì khác chỉ cần một tuần, hai tuần thì tâm hồn tự nhiên an tịnh, được đắc này, đắc nọ... Tìm hiểu thì họ nói cũng giống như lời Phật nói, họ nói cũng giống như lời Tổ nói!?... Thấy thích thú quá!

Thực ra, cũng là lời Tổ nói. Nhưng lời Tổ thì đang nói trên cảnh giới của Chơn Tâm Tự Tánh, mà khi áp dụng thì ta lại áp dụng cho những người, xin thưa thực, chính ta làm chưa được, mà cứ đem ra áp dụng cho những người nghe đó, thì làm sao những người đó áp dụng cho được? Áp dụng không được mà lại xúi người ta làm, vô tình xúi tới chỗ vọng tưởng!

Chính vì vậy, nương theo những sự cố vừa mới xảy ra ở trong nước cũng như ở trên thế giới, tình thực Diệu Âm đã gặp nhiều chuyện trên thế giới lắm, nhiều lắm không phải ít đâu, cũng hai mươi mấy vụ như vậy, hoàn toàn từ chỗ này mà phát sinh ra. Nhận thấy đây là con đường nguy hiểm quá! Mong cho chư vị đồng tu ở đây, chúng ta cứ một lòng Thành Tâm - KínhCẩn - Khiêm Nhườngđể niệm Phật, đừng nên móng tâm mong cầu một cách sơ suất. Nên nhớ, khi đã bị vướng vào đó rồi thì không cứu được! Nhất định không cứu được! Những kinh nghiệm này xin thố lộ ra để cho chúng ta cùng nhau đi con đường an toàn, chầm chậm, vững chắc. Luôn luôn nương theo đại thệ của đức A-Di-Đà, nương theo chư Long-Thiên Hộ-Pháp, chư đại Bồ-Tát gia trì bảo vệ thì chúng ta mới an tâm được để vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Nhất định nên nhớ rằng, ta vãng sanh là do lòng Chí Thành,Chí Kính mà được các Ngài tiếp độ, chứ không phải là sự chứng đắc. Mong chư vị nhớ kỹ điều này để đường đi không bị trở ngại.

A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 10

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Trong việc tu hành có hai vấn đề mà chúng ta thường nhắc trong những ngày gần đây, thứ nhất là “Lý Đạo”, thứ hai là “Sự Đạo”.

Lý Đạo” là chúng ta không đi ra ngoài quỹ đạo của Phật, những lời khuyên dạy trong kinh điển. “Sự Đạo” là phải biết ứng hợp cho đúng. Nếu chúng ta không chú ý tới “Sự Đạo”, thường khi “Lý Đạo”thì đúng mà ứng dụng để tu hành thì sai. Tại vì tất cả kinh điển, những lời Phật dạy đều có cái đối tượng ứng trị khác nhau chứ không phải giống nhau.

Trong vấn đề ứng trị đó, về lý đạo chúng ta không nên chú tâm tìm hiểu những đạo lý quá cao siêu, vì những đạo lý quá cao siêu thường thường chỉ hợp những căn cơ rất cao. Chúng ta chỉ nên áp dụng làm sao cho cụ thể những việc hàng ngày chung quanh chúng ta, thì tự nhiên việc tu hành không có gì trở ngại và chúng ta cũng dễ được thành tựu.

Đem việc Khế Lý - Khế Cơứng dụng vào vấn đề hộ niệm cũng rất là hay. Ví dụ như có người vì không tin vào sự hộ niệm, nên suốt cuộc đời của họ khó có thể thấy được một người vãng sanh, vì vậy họ cứ nghĩ rằng không có vãng sanh. Ngược lại, có những người khi hộ niệm thành công một số trường hợp, ví dụ như ở Việt Nam có những ban hộ niệm người ta báo cáo hơn 100 người vãng sanh. Có ban hộ niệm thì 77 - 78 người vãng sanh, và thành phần bị rớt vãng sanh chiếm cỡ chừng một phần ba, nhiều khi một phần tư, cũng có ban hộ niệm cỡ chừng một nửa, một nửa thành công, một nửa thất bại. Khi họ hộ niệm được một số người vãng sanh như vậy, tự nhiên họ thấy rằng hình như chính họ có một cái năng lực nào đó để làm cho người ta vãng sanh. Đây chính là cái mốc điểm thối chuyển chứ không hay ho gì hết! Thường thường gặp những trường hợp như vậy, thì Diệu Âm hay khuyên rằng:

- Khi một người mà được ta hộ niệm vãng sanh, thì xin chư vị hãy nhớ cho, người vãng sanh đó là do thiện căn phước đức của chính người đó. Ta phải nói là do thiện căn phước đức của chính người đó kết hợp lại, rồi ta tạo cái duyên cho họ. Hoặc mình nói rằng, thiện căn phước đức của người đó đã chín muồi, khi gặp cái duyên này, tức là duyên hộ niệm, người ta mới hội tụ được cái thiện căn phước đức đó mà vãngsanh về Tây Phương.

Mình nói như vậy thì hay hơn là nói rằng, “À! Người này nhờ tôi hộ niệm mà được vãng sanh”.

Thường thường những lời nhắc khéo này để cảnh cáo những người hộ niệm hãy bớt đi cái tâm ngạo mạn. Khi liên lạc về Việt Nam, thường thường tôi liên lạc những ban hộ niệm lớn trước, thì phát hiện ra điều này, lâu rồi chứ không phải là mới đây. Thì trong cơ hội này tôi xin nói ra, mong rằng những lời nói này sẽ đến tai những người đó. Tôi thấy rằng cái tâm ý cống cao ngã mạn của người hộ niệm đã khởi lên. Từ từ nó khởi lên! Có người hộ niệm cho rằng họ có khả năng cứu độ chúng sanh! Khi gặp những trường hợp như vậy, tôi áp dụng theo lời khuyên của Hòa Thượng Tịnh-Không, là chỉ khuyên ba lần, không bao giờ khuyên tới bốn lần. Trực tiếp nói rất mạnh thì hai lần, lần thứ ba thì bắt đầu nói xa nói gần, đến lần thứ tư thì chỉ nói chung chung, chứ không nói thẳng nữa. Người nào nghe thì nghe, không nghe thì thôi, chứ bây giờ không biết làm sao hơn!...

Trường hợp này gọi là Thối Chuyển”!Cũng như chúng ta tu hành ở đây, khi thấy rằng ta niệm Phật như vậy là tốt! Công phu của ta như vậy là hay! Tự nhiên ta thấy có cái gì chứng đắc! Khi đã thấy một cái gì chứng đắc, tức là khởi đầu từ đó cái tâm thối chuyển! Chắc chắn như vậy. Thối chuyển ở chỗ nào? Vì tâm ý của những người thấy rằng mình chứng đắc đã bị nạn cống cao ngã mạn nổi lên rồi. Trong sáu cái phiền não căn bản của một người phàm phu, Tham, Sân, Si, Mạn...Thì “Mạn” nó nằm cái hàng thứ tư. Khi đã ngã mạn lên rồi thì thường thường nối theo “Ác Kiến”. Ác kiến là gì? Thường thường cho ta chứng đắc, bắt đầu khinh khi người khác. Cái “Mạn” này cũng có thể nằm trong những người đi hộ niệm. Đầu tiên tâm người hộ niệm chân thành, có lòng từ bi đi hộ niệm cho người ta. Những lần đầu tiên vì quá chân thành, quá tin tưởng, quá nhiệt tâm nên cảm ứng rất mạnh, họ cứu độ rất nhanh. Có những ban hộ niệm khi gặp được phương pháp hộ niệm, một tuần sau họ báo cáo có người vãng sanh, hai tuần sau, ba tuần sau có người vãng sanh. Có một người được vãng sanh đã làm cho niềm tin của những người chung quanh lên rất cao và sau đó người ta hộ niệm hầu hết được thành công, có thể nói mười vụ thành công được chín vụ. Khi số lượng vãng sanh lên cao như vậy, tự nhiên họ thấy rằng họ có cái năng lực nào đó!... Từ đó bắt đầu mới sinh sự ra! Khi sinh sự ra như vậy, thì chỉ cần có một vụ, hai vụ trở ngại, thì tâm bắt đầu thối xuống... Đây là lời nhắc nhở chung. Chắc chắn ở đây thì chúng ta chưa lâm vào tình trạng này, nhưng xin chư vị cũng nên lưu ý, tại vì Niệm Phật Đường chúng ta là đạo tràng hộ niệm. Chúng ta phải nhớ rằng, hộ niệm cho một người được vãng sanh là do cái phước phần của người đó.

- Người đó có quyết lòng hay không?

- Người đó có Tín hay không?

- Có Nguyện hay không?

- Hạnh đủ hay không?"...

Đó đều là phước phần của họ và chúng ta chỉ là cái duyên mà thôi. Như vậy khi hộ niệm cho một người mà họ không được vãng sanh là phải trả về cho chính họ:

- Người đó có thực hiện được hay không?

- Người đó còn có tham chấp hay không?

- Người đó còn có thị phi hay không?

- Người đó còn có tin tưởng hay không?

- Hay là, ở trước đạo tràng thì tin tưởng, về nhà thì mất tin tưởng!

- Ở trong Niệm Phật Đường thì niệm Phật, ra khỏi Niệm Phật Đường thì thị phi ganh tỵ!

- Ở trong Niệm Phật Đường thì nguyện vãng sanh, về nhà thì “Nguyện phim chưởng”!...

Ví dụ như hôm trước, rõ ràng là một người mà chính mình tới hộ niệm mấy lần, khuyên răn hết lời, lo đầy đủ hết. Ấy thế khi tình cờ đi thăm thì thấy cả nhà đang ngồi coi phim chưởng. Thật tình, khi gặp như vậy, tất cả tinh thần của mình bị xuống... xuống như diều đứt dây! Tôi đã nói thẳng thắn, nếu để tôi bắt gặp một lần nữa, nhất định không hộ niệm tiếp. Tại vì chính người ta không tha thiết chuyện vãng sanh, thì làm sao chúng ta có thể cứu người ta vãng sanh được?...

Trở lại vấn đề người hộ niệm, sau khi có một số thành công mỹ mãn thì thường khởi lên những tâm ý ngạo mạn. Việc này tôi cũng có nhắc nhở trong Internet, cũng có thường điện thoại, nhưng không cách nào nhắc nhở hết được. Vì nhiều lắm cũng chỉ liên lạc được một vài chỗ thôi, chứ hàng mấy trăm ban hộ niệm làm sao nhắc nhở cho hết. Thì lời này cũng chỉ là nói chung. Nếu chúng ta nghĩ rằng mình có khả năng như vậy, thì có thể chúng ta sẽ bỏ niệm Phật luôn! Vì đã có khả năng cứu người vãng sanh, thì mình cũng dư sức vãng sanh rồi!?... Đây là một cái bẫy rất tệ hại, nó sẽ làm cho mình mất phần vãng sanh!

Hơn nữa, đôi lúc cũng có những người sau khi hộ niệm cho người ta được một số vãng sanh rồi, thì tự nhiên thấy có những cảm ứng này cảm ứng nọ!... Rồi tự dưng đi ra khoe này khoe nọ!?... Gặp như vậy, tôi nói, nhất định đừng bao giờ nghĩ rằng, mình hộ niệm cho người ta là Nhân, thì cái Nhân này sẽ làm thành cái Quả. Tôi nói, Nhân-Quả này đúng, nhưng mà Duyên của chị đã mất rồi. Cái duyên cống cao ngã mạn không phải là duyên về Tây Phương Cực Lạc. Cái duyên tự cho mình ngon hơn thiên hạ không phải là cái duyên về Tây Phương Cực Lạc. Nên nhớ cho kỹ điểm này.

Cũng có lúc sau một thời gian hộ niệm được vãng sanh rồi, thì lời điều giải oan gia trái chủ của người hộ niệm cũng khác đi. Tôi phát hiện như vậy!... Khác chỗ nào? Khi điều giải oan gia trái chủ họ nói có vẻ tự thị lắm! Họ nói những lời giống như một người thầy dạy đứa học trò, dạy những người oan gia trái chủ. Nhiều người đã nói những lời rất trịch thượng. Khi gặp vậy, thường thường tôi cũng cảnh cáo liền…

Chúng ta cứu người bịnh, nhưng cũng phải có tâm cứu luôn những vị oan gia trái chủ của người bịnh nữa.Đó mới thực sự là Phật Pháp, mới thực sự là đại từ đại bi, bình đẳng.

Những vị oan gia trái chủ đó thực sự là nạn nhân của người bịnh đó, chứ không phải người bịnh là nạn nhân của oan gia trái chủ. Trên nguyên tắc, người bịnh đó đã sát hại họ trước, nay họ chỉ đến đòi lại sự công bằng mà thôi. Cho nên trước những hiện tượng này, chúng ta không được quyền làm một điều gì để trấn áp các vị oan gia trái chủ, mà mình phải cúi đầu xuống, chắp tay lại, lạy lục, khẩn nguyện các Ngài và cái tâm của mình là tâm cứu những vị oan gia trái chủ đó. Mình thành tâm khuyên giải họ, chứ không phải vì cứu người bịnh mà chúng ta làm hại đến các vị oan gia trái chủ. Đây là việc hoàn toàn sai lầm! Có thể trong lúc đó mình có tới năm, bảy chục người. Quá mạnh! Cái lực của mình mạnh quá làm cho các vị oan gia trái chủ phải dạt ra khiến ta cứu được người bịnh. Nhưng dạt ra đó không phải là do sự tự nguyện của họ đâu à! Như vậy vô tình mình rước lấy những sự xích mích, thù hằn cho chính cá nhân mình sau này mà mình không hay!?...

Cho nên, tôi khuyên các vị hộ niệm đó nhất định không bao giờ được đánh giá những vị oan gia trái chủ là hung hiểm, xảo quyệt, ác hiểm... Mình không được quyền nói như vậy. Mà phải kêu các vị đó bằng Ngài, và mình thành tâm để cứu họ. Vì muốn cứu họ, nên mình khuyên họ đừng có chấp vào thị phi nữa, đừng có chấp vào giận hờn nữa, đừng có trả thù qua lại nữa... Chúng ta hãy cùng nhau niệm Phật để liễu thoát sinh tử. Chúng ta thành tâm khuyên như vậy, thì với lòng thành tâm của mình, tất cả mọi người đều thành tâm, thì tự nhiên được cảm ứng.

Luôn luôn bắt buộc người bịnh phải sám hối, phải nhận lấy những cái lỗi này. Phải thành tâm sám hối và chỉ có người bịnh thành tâm sám hối thì mới gỡ được ách nạn. Nếu người bịnh không thành tâm sám hối mà mình dùng cái lực của mình để ép buộc các vị oan gia trái chủ phải dạt ra, họ dạt như vậy chẳng qua cũng tạo thêm sự căm hờn! Họ trả thù người bịnh không được, coi chừng họ đi trả thù những người bắt họ phải dạt ra. Chính vì vậy, xin thưa với tất cả chư vị, phải nhớ là luôn luôn chúng ta có cái tâm gọi là “Từ Bi Bình Đẳng” cứu những vị oan gia trái chủ, cứu cả người bịnh, thì mới có thể an toàn cho người bịnh, an toàn cho mình. Đây gọi là cứu độ bình đẳng tất cả chúng sanh vậy.

Mong cho những lời này đến được tai những người hộ niệm, xin cần chú ý thật kỹ. Đừng nên sơ suất nữa.

A-Di-Đà Phật

KHẾ LÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 11

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Hôm nay là ngày “Niệm Phật Tinh Tấn”. Chúng ta tạm gọi là tinh tấn, chứ thật ra là chúng ta không tinh tấn! Vào đêm hồi hôm có một vị thầy ở Việt Nam điện thoại qua đây, Ngài ở tỉnh Gia-Lai, Ngài nói rằng Ngài đang hướng dẫn một cái đạo tràng kiết thất niệm Phật, kiết thất quanh năm, hết Phật thất này đến Phật thất khác, cứ liên tục như vậy. Ngài hỏi, bên cư sĩ có làm được như vậy không? Thì Diệu Âm mới thưa là, nếu Thầy làm được như vậy thì thật sự là bất khả tư nghì! Còn đạo tràng A-Di-Đà của Diệu Âm hai tuần mới có được một ngày tinh tấn, nhưng mà ngày tinh tấn đó là giả đò tinh tấn, chứ cũng không phải thực tinh tấn!...

Nghe Ngài nói như vậy, mới biết rằng mình tu hành thực sự còn quá yếu, và cái ách nạn sinh tử luân hồi của mình chưa chắc gì đã nắm vững phần giải thoát. Trong khi đó thì đời này đã là mạt pháp rồi, mà chúng ta gặp câu A-Di-Đà Phật thì đây chính là cơ hội cuối cùng để chúng ta thành đạo. Đã là cái cơ hội cuối cùng nếu mà nó thoát qua, nó vượt qua mà chúng ta không thành tựu, thì nhất định đời sau chúng ta bị đại nạn! Đúng như vậy, nhất định đại nạn!...

Nếu mình hiểu một chút xíu thì thấy rõ vấn đề này. Trong kinh, Phật dạy thời mạt pháp này muốn được thành tựu thì người tu hành phải biết lánh xa, gọi là “Viễn Ly” những nơi gọi là “Hội náo chi chúng”. Ồn ào! Những chỗ ồn ào đông người! Nên trong mấy ngày Tết ngay tại đạo tràng của chúng ta im lìm, lặng lẽ, thế mà chúng tôi còn dặn với nhau rằng, nếu có một người nào tới thăm đạo tràng, thì hãy mời họ vào trong Niệm Phật Đường niệm Phật, đừng mời những người đang niệm Phật trong Niệm Phật Đường ra tiếp họ. Tức là, chương trình của chúng ta không có tiết mục tiếp một người khách nào trong suốt ba ngày Tết, để cho chúng ta yên lặng thanh tịnh niệm Phật. Có như vậy chúng ta mới thoát được cái ách nạn mà trong vô lượng kiếp qua ta thoát không được.

Nếu quý vị đã về Tây Phương rồi, một người nào vãng sanh về Tây Phương thì có cái năng lực gọi là “Túc-Mạng Thông”, biết được vô lượng kiếp về trước, biết được vô lượng kiếp về sau, cái thế giới nó hình thành như thế nào, quý vị sẽ thấy được điều này. Là thật ra, trong vô lượng kiếp về trước chúng ta đã bị đọa lạc, bị đau khổ, trải qua những cảnh khổ vô cùng khổ mà chúng ta không hay!

Trong những lần chúng tôi đi ra thăm cái ao sen, chúng tôi thấy một con sâu, con sâu bám vào cái lá sen để ăn, mình không đưa nó ra ngoài thì nó phá hết đọt hoa sen, mà mình đưa nó ra ngoài thì không biết chỗ nào cho nó trú. Tôi mới bắt những con sâu đó đưa qua lá môn, vì lá môn và lá sen tương tự với nhau. Tôi mới mời các ngài qua ăn lá môn đó. Quý vị không tưởng tượng được đâu, chưa chắc nó đã ăn được đâu à! Nó chưa kịp ăn, thì con chim đã tới ăn nó rồi, và cuộc sống của nó lại qua một cái đời khác!...

Có lần đức Thế-Tôn gặp một đàn kiến, chỉ đàn kiến và nói với ngài A-Nan, “Con biết đàn kiến này trải qua bảy đời Phật rồi mà chúng vẫn còn làm con kiến”. Quý vị tưởng tượng đi, chúng ta ở đây là thân người, một cái cơ may vô cùng, trong cái thời mạt pháp này mà gặp được câu A-Di-Đà Phật, xin thưa thực, đúng là cơ hội cuối cùng cho ta thoát nạn. Đã là cái cơ hội cuối cùng thì không có cơ hội thứ hai. Nếu mà chúng ta sơ ý không chịu bám víu lấy cơ hội này để quyết lòng vãng sanh về Tây Phương, thì thôi không còn có cơ hội nào khác nữa hết.

Ngày hôm qua có một vị tới đây ngỏ ý muốn chúng tôi tới hộ niệm. Tôi mới nói, hãy về liên lạc với gia đình đi, và tôi bày cho cái cách tu, là khuyên bà Cụ mỗi ngày hãy niệm năm ngàn danh hiệu A-Di-Đà Phật. Nghe nói vậy thì Cụ đó giựt mình nói, “Ôi! Tôi mệt quá! Tôi niệm không nổi!”. Tôi mới nói, nếu Cụ niệm không nổi thì con cũng không có cách nào có thể hộ niệm cho Cụ vãng sanh được.

Thực ra, cái tiêu chuẩn năm ngàn câu đó chẳng qua là sự thử thách đầu tiên đó thôi. Tiếp theo đó phải tăng lên mười ngàn, tăng lên hai chục ngàn, tăng lên ba chục ngàn… thì may ra chúng ta mới có khả năng vượt qua cái ách nạn sinh tử luân hồi trong một đời này. Còn không thì xin thưa thực, hôm trước chúng ta đã nói rồi, “Hộ Niệm LàMột Pháp Tu”, nó:

- Bắt buộc mình phải cố gắng,

- Bắt buộc mình phải kiên trì,

- Bắt buộc mình phải vượt qua tất cả những ách nạn.

Chúng ta ở đây kiết thất niệm Phật, kiết nhất tịnh khẩu niệm Phật thực ra là để chi? Để tất cả những tập khí gì, chúng ta cố gắng bỏ, ráng bỏ, ráng bỏ… Nếu không ráng bỏ thì những tập khí này nhất định sẽ lôi mình lại trong lục đạo luân hồi.

Chúng ta phải nhớ rằng, đới nghiệp vãng sanh là đới những nghiệp cũ, không thể nào đới những nghiệp mới. Đối với những ngày tháng trước chúng ta làm điều gì sai, A-Di-Đà Phật không có màng cái chuyện đó đâu à! Ngài sợ là sợ cái tập khí chúng ta không chịu bỏ. Chư Thượng-Thiện-Nhơn trên cõi Tây Phương, các Ngài mong muốn chúng ta về trên đó hội tụ với các Ngài. Các Ngài nói:

Chư vị mà làm các điều sai lầm trong quá khứ, tôi không sợ, tôi chỉ sợ cái tập khí của chư vị không bỏ được”.

Trong kinh A-Di-Đà, Phật nói người về bên Tây Phương là để hội tụ với chư Thượng-Thiện-Nhân. Chư vị nên biết, “Thiện Nam Tử - Thiện Nữ Nhân” có cái tiêu chuẩn của nó, chứ không phải là chúng ta cứ đi tới Niệm Phật Đường niệm vài câu A-Di-Đà Phật, niệm vài giờ A-Di-Đà Phật là Thiện-Nam-Tử, là Thiện-Nữ-Nhân. Không phải đâu! Hoàn toàn không phải!

Trong những giờ tới chúng tôi sẽ cố gắng khai thác chỗ này, quý vị sẽ thấy. Trong ý định của chúng tôi là trong năm Tân-Mão này, chúng ta hô hào lần lần, tức là trước khi mở ra một chương trình gì chúng ta đều hô hào, hô hào tinh tấn hơn nữa. Tức là hiện tại bây giờ chúng ta hai tuần có nửa ngày tịnh khẩu niệm Phật. Quá ít! Chúng ta phải tiến lần lên hai tuần chúng ta có hai ngày liên tục tịnh khẩu niệm Phật, đúng 48 tiếng đồng hồ không nói một lời nào hết. Đây là tập sự.

Chúng ta tu hành cần phải có hợp lý, hợp cơ. Căn cơ chúng ta yếu quá mà áp dụng một cách mạnh mẽ thì sợ rằng chúng ta chịu không nổi! Thì bây giờ chúng ta phải tập sự trước, tập lần lần. Hôm nay chúng ta có nửa ngày tịnh khẩu, hãy vui vẻ thoải mái với thời gian này để chúng ta tập cho trong thời gian sau, chúng ta tăng lên, thay vì nửa ngày chúng ta sẽ tăng lên một ngày, rồi chúng ta tăng lên hai ngày, hai ngày, đúng 48 tiếng đồng hồ nhất định không mở miệng ra nói chuyện. Để chi vậy? Xin thưa, chư Tổ dạy rằng: “Bớt đi một câu chuyện, niệm thêm câu Phật hiệu, đánh chết tập khí đi, để chân tâm hiển lộ”. Lời Tổ dạy như vậy đó. Ngài dạy cho những người phàm phu tục tử chúng ta chứ không dạy cho ai hết. Chính cái thị phi, chính cái nói chuyện nó phá tiêu hết tất cả các công đức của người niệm Phật. Cho nên Ngài dạy rõ ràng... “Bớt đi một câu chuyện. Nói chuyện thế gian làm chi? Nói câu chuyện thị phi làm chi? Hãy “Niệm thêm câu Phật hiệu”.

Quý vị hãy phát tâm ra, quyết thề đánh chết cái tập khí đi. Cái tập khí gì? Tập khí không chịu niệm Phật mà niệm chuyện lục đạo luân hồi. Phải đánh chết cái tập khí này thì chân tâm chúng ta mới hiển lộ, không hiển lộ tại đây thì chư Thượng-Thiện-Nhơn sẽ tiếp đón chúng ta về Tây Phương với các Ngài, rồi các Ngài sẽ giúp cho ta hiển lộ chơn tâm tự tánh. Chúng ta chỉ cần buông đi, bỏ đi. Nhất định:

- Ngày hôm qua ta ghét một người nào, hôm nay quyết định không ghét nữa.

- Ngày hôm qua ta nói một người nào xấu, nhất định hôm nay không nói xấu nữa.

- Ngày hôm qua ta giận dữ, nhất định hôm nay đừng giận dữ nữa.

Tại vì chúng ta phải làm người hiền. Chỉ làm người hiền là được.

- Người hiền thì không có tham.

- Người hiền thì không có giận, tại vì giận nó kèm chữ dữ, chứ không phải nói là lành.

Thiện lành! Cứ vậy mà tu. Sẵn sàng Niệm Phật Đường tại đây sẽ hộ niệm cho chư vị vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Chư Thượng-Thiện-Nhân trên cõi Tây Phương sẵn sàng đón chư vị về đó, dù rằng trong quá khứ mình làm lỗi như thế nào thì các Ngài không sợ chuyện đó. Các Ngài chỉ sợ rằng cái tập khí này không chịu bỏ.

Đã không chịu bỏ, thì A-Di-Đà Phật ngày đêm buông tay xuống để tiếp độ chúng sanh nhưng mà cái hoa sen của chúng ta trên cõi Tây Phương đã tiêu rồi. Chư Thượng-Thiện-Nhân đã biết được cái tập khí này nó còn hiển hiện ra, hễ tập khí còn hiển hiện ra thì không cách nào có cảm ứng được, không cách nào vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc được.

Chính vì vậy, xin thưa... chư vị ơi! Quyết lòng mà hạ quyết tâm tu hành, một lòng một dạ ăn ở hiền lành là được. Buông xả vạn duyên ra, thành tâm niệm Phật, chỉ vậy thôi, bao nhiêu cái nghiệp trùng trùng trong quá khứ chúng ta được đem nó về Tây Phương để hội ngộ cùng chư Thượng-Thiện-Nhân, và chúng ta thành Phật.

A-Di-Đà Phật.

KHẾ KÝ - KHẾ CƠ

Tọa Đàm 12

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Ngày hôm qua, khi chúng ta nói về cái hướng tu hành trong tương lai cố gắng tịnh tâm hơn. Bây giờ thì hai tuần chúng ta được nửa ngày tinh tấn, chỉ có nửa ngày. Nhưng ước vọng trong tương lai chúng ta tiến lên nữa. Phải tiến chớ không thể lùi được. Cố gắng tinh tấn được hai ngày liên tục, ít ra phải có 48 tiếng đồng hồ và tính từng giờ thì chúng ta mới tập sự, tập sự cho được và thực hành cho được, để khi lâm chung chúng ta mới niệm được mười câu A-Di-Đà Phật đó quý vị. Không dễ đâu!

Hôm trước bác Trí nói một câu làm tôi ngộ. Tôi ưa ngộ lắm!

- Bác nói: “Trời ơi! Tôi đau như vậy, mới cảm thôi, nằm trên giường muốn niệm Phật mà tôi niệm không được! Cố gắng niệm mà niệm ít tiếng thì cái cơn đau đến làm cho quên mất tiêu!”.

Những lời nói hết sức đơn giản này nhưng thật sự nó có cái đạo lý vi diệu trong đó. Mới đau cảm sơ sơ chúng ta đã niệm Phật không được, đừng nghĩ rằng là trong những giây phút mà “Tứ Đại Phân Lyta dễ cất lời niệm Phật được. Đừng có sơ ý chuyện này. Chính vì vậy mà chúng ta phải cố gắng thực tập, cố gắng giống như là trui luyện. Thật ra những giờ phút chúng ta ngồi đây niệm Phật, là để thực tập cho lúc lâm chung chúng ta niệm được câu A-Di-Đà Phật đó. Nếu mà chúng ta cứ tu tà tà, tà tà như thế này, bên ngoài thì người ta nói rằng ở Niệm Phật Đường A-Di-Đà tu 365 ngày, không bỏ một ngày nào. Nghe thấy ngon lắm! Nhưng thực ra 365 ngày, một ngày chỉ có hai tiếng rưỡi đồng hồ, trong hai tiếng rưỡi đồng hồ mình niệm Phật hình như chỉ có 5 phút nhiếp tâm là nhiều lắm rồi, còn lại tất cả đều loạn tâm hết! Tức là ta thực tập cũng không được cái pháp “Mười Niệm Tất Sanh”.

Bây giờ mình thử coi, giả sử trong lúc niệm Phật, có một người kia nói lên một tiếng thì tâm mình động liền. Tắt cái quạt một chút, không khí hơi nóng nóng lên một chút thì mình giận rồi. Khi mình giận đó biết chừng đâu bao nhiêu công đức mà mình đang tu hành bị nó đốt hết trơn rồi! Chư vị ơi! Nguy hiểm vô cùng! Chính vì vậy mà rất nhiều người tu, sau cùng không được vãng sanh.

Ngày hôm qua mình có đưa ra tiêu chuẩn một dạng người Hiền, tức là làm sao chúng ta tập:

- Bỏ cho được những cái khó chịu,

- Bỏ cho được những cái cay cú,

- Bỏ cho được những cái giận hờn.

Để chi? Để chúng ta thật sự là một người Hiền.

Một người hiền thì thường thường không chấp những thứ đó. À! Lạnh một chút cũng được, nóng một chút cũng được, thôi thì mình tha thứ hết tất cả. Được như vậy thì đến lúc mình lâm chung những tập khí đó nó không bao vây mình nữa, lúc đó mình mới niệm Phật được. Và lúc đó người hộ niệm mới hộ niệm với mình mới được. Chớ đừng có nghĩ rằng hộ niệm là vãng sanh đâu. Không đâu à!... Người ta tới hộ niệm, niệm lớn tiếng một chút mình tức mình. Mình tức mình trong lúc sắp sửa ra đi, bao nhiêu công đức của mình tiêu hết rồi, còn đâu nữa cái hoa sen mà đức A-Di-Đà Phật cầm trên tay đưa xuống để cứu mình lên Tây Phương!

Mình ghét một người kia, ngày nào mình cũng nêu những điều sai trái của họ, lúc đó họ thấy mình sắp sửa chết, tự nhiên họ phát tâm thương hại, họ thành tâm tới hộ niệm cho mình. Mình mở mắt ra vừa thấy người đó thì phiền não. “Đấy, bà tới hại tôi rồi! Bà tới làm cho tôi bị đọa địa ngục!”. Mình nổi một cơn sân giận lên, là tự mình đi vào con đường địa ngục đó chứ!...

Cho nên hôm qua mình có nói, chư Thượng-Thiện-Nhân trên cõi Tây Phương các Ngài luôn luôn chờ mình về trên đó, các Ngài nói rằng:

Chư vị chúng sanh ơi! Bao nhiêu nghiệp chướng trùng trùng phía trước, xin đừng có lo đến. Hãy đừng làm như vậy nữa! Rồi thành tâm niệm Phật đi. Niệm mười câu quyết lòng nguyện vãng sanh thì quý vị được vãng sanh. Tôi sợ nhất là chư vị không chịu phá cái tập khí này”.

Hòa thượng Tịnh-Không đã nói lên, nói xuống không biết bao nhiêu lần, Phật chỉ cho chúng ta đới Nghiệp, không cho chúng ta đới Tập-Khí.Cái này khó nhất! Mà đây là cái dễ vướng. Nói chung là 99% người bị vướng. Không vãng sanh là vì tập khí này.

Tại sao một người làm ác! Một người mổ heo, một người làm bò, một người trong quá khứ tạo những tội... những tội đọa địa ngục A-tỳ đi nữa! Nhưng đến giờ phút lâm chung gặp thiện tri thức tới khai thị, họ buông xả hết, kiệt thành sám hối... niệm Phật họ vãng sanh? Là tại vì, thật ra cái tâm của họ thoải mái trong đó. Họ có cái phước trong quá khứ, cái phước đó dồn tới đời này, nhưng vì họ chưa có cái duyên gặp được Phật đạo nên họ nhất thời hồ đồ làm ác. Họ dùng cái phước đó mà làm ác, nhưng cái ác trong đời này chưa thành quả báo để họ hưởng, còn những thiện căn phước đức trong đời kiếp trước lại hiển hiện về. Tại sao vậy? Tại vì trong nhiều đời kiếp trước họ là người “Hiền”. Còn mình bây giờ tu hành ở đây, nhưng chưa chắc gì mình đã có cái tâm “Hiền” bằng họ. Tại sao? Vì một lần tu là một lần nghĩ rằng mình hơn thiên hạ. Một khi nghĩ hơn thiên hạ tức là tập khí đã nổi lên rồi!...

Hòa Thượng Tịnh-Không nói, một trăm thứ phiền não của chúng sanh, trong đó có sáu đại phiền não nhất định phải bỏ cho được: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.Sáu thứ căn bản phiền não này nó tạo ra hàng trăm cái phiền não khác. Chính vì vậy, Diệu Âm thường cứ nhắc đi nhắc lại những điều hết sức căn bản. Ví dụ như ta thường nổi giận, nổi giận ở thế gian người ta coi bình thường lắm.“Ôi! Cái ông đóưa nổi giận, chứ ổng tốt lắm!”.Không phải đâu ạ! “Giậnnó kèm theo chữ Dữ”.Người giận không thể nào là người hiền được! Tại vì dữ nên không thể tương ưng với cảnh giới của hàng đại Thượng-Thiện trên cõi Tây Phương Cực Lạc.

Biết được như vậy, khi mà nổi cơn sân giận lên, chúng ta hãy sám hối liền. Bằng cách nào? Chắp tay lại niệm... “A-Di-Đà Phật, A-Di-Đà Phật”...Bất phạ niệm khởi, đản phạ Giác trì!”,là đừng sợ cái niệm giận khởi lên, mà hãy sợ là lúc đó mình có tiếp tục giận nữa hay không? Hãy ngừng lại liền đi để niệm Phật. Hãy quyết lòng khởi tâm niệm Phật liền đi. Nghĩa là, ta chỉ sợ rằng cái “Giác” mình chậm quá mà thôi! Nếu mình tập được điều này, thì khi nổi cơn giận lên, thì mau mau bỏ ngay hiện trường, ra uống một ly nước, tạt nước lên mặt, rửa mặt, xoa cái đầu một chút, rồi niệm câu A Di Đà Phật, tưới mát cơn giận liền lập tức đi, thì chúng ta sẽ phá được cái tập khí này. Phá được cái tập khí này để ta có cơ hội về Tây Phương Cực Lạc. Không phá cái tập khí này nhất định ta bị nạn!...

Chính vì vậy, ngày hôm qua khi tôi thấy bốn năm người, ba bốn người gì đó, phát tâm lập công cứ, tôi mừng vô cùng. Xin thưa, khi mình lập công cứ thì:

- Mình không dám coi Ti-Vi nữa đâu à! Coi Ti-Vi mình mất cái phước.

- Mình không dám coi phim chưởng đâu à! Coi phim chưởng mình không lập được công cứ.

- Không có dám nói người này xấu, người kia xấu đâu à! Vì nếu cái duyên này khởi lên thì nó cứ truyền truyền với nhau... Mình không niệm Phật được đâu à!

Vì mình lo làm công cứ, thành ra mình không dám nói chuyện, mình bỏ đi cái duyên của thế gian, mình bỏ đi cái tập khí. Công cứ này giống như nấc thang cho mình leo, tự mình phải lo lấy chứ không ai lo được. Đừng bao giờ nghĩ rằng có ban hộ niệm là ta vững vàng. Không phải! Quan trọng là ta có chấp nhận hộ niệm hay không? Vì sao? Vì hộ niệm là một phép tu rõ rệt:

- Người ta dạy mình phải bỏ tập khí: Đây là một phép tu.

- Người ta dạy mình phải nhiếp tâm lại niệm câu A-Di-Đà Phật: Đây là một phép tu.

- Người ta dạy mình phải nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc: Đây là một phép tu.

Mình mới đau bịnh một chút thì sợ lên sợ xuống, nhất định ý nguyện này là nguyện láo, là nguyện sai lầm! Chính vì thế, xin thưa với chư vị, tu cần phảiKhế cơ - Khế lý”.

- “Khế lý”là như trong kinh Pháp-Hoa nói, tám vạn bốn ngàn pháp môn trùng trùng điệp điệp, rộng rãi vô cùng, không cách nào mà nói cho thấu đáo.

- Nhưng còn “Khế cơ”là gì? Vì chính căn cơ của mình đang hạ liệt:

Mình thường giận dữ, hãy bỏ mau. Mình hay thị phi, mau mau bỏ. Mình buồn rầu cái gì, mau mau bỏ đi. Hãy bỏ liền lập tức đi. Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến phải bỏ liền lập tức đi. Không bỏ được thì mình phải bỏ ngay trong lúc mình vừa khởi lên đó, gọi là Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Niệm ngay câu A-Di-Đà Phật đi!

Xin thưa với chư vị, chỉ cần như vậy chúng ta đã bắt đầu cảm ứng được với đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật, và chắc chắn trên cõi Tây Phương Cực Lạc, cái hoa sen của chúng ta dù không lớn mấy, nhưng mà nó cũng đã có rồi, nó không nở nhưng ít ra là nó cũng đã có. Có như vậy thì cái hoa sen trên tay của đức A-Di-Đà Phật, chính là công đức của mình, nhờ công đức đó mà mình mới ngự vào để đi về Tây Phương. Nếu không có công đức đó, A-Di-Đà Phật cũng không cách nào tới tiếp độ mình về Tây Phương được.

Mong chư vị hiểu được chuyện này thì nhất định chúng ta có cái căn bản đi về Tây Phương để thành đạo Vô-Thượng.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn