Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

13. Chánh Báo Thanh Tịnh Y Báo Trang Nghiêm

07/02/201115:31(Xem: 679)
13. Chánh Báo Thanh Tịnh Y Báo Trang Nghiêm

ĐỨC PHẬT
VÀ HÀO QUANG CHÂN LÝ

Dịch giả: TT Thích Giải Thông-Phỏng dịch theo bản tiếng Anh The light of truth của Giảng sư
LOKANATHA Do The Singapore Maha Bodhi School xuất bản

CHÁNH BÁO THANH TỊNH Y BÁO TRANG NGHIÊM

Bằng cách nào làm cho cuộc thuyết pháp được kết quả? Đối với công tác hoằng pháp có nhiều đặc tính như sau:

1) Nhân cách vững vàng cần phải có. Bởi vì một người thiếu tư cách, phẩm chất yếu hèn sẽ không thành công được.

2) Trình độ văn hóa cần phải có. Vị đó cần phải có trình độ học vấn cấp đại học. Nếu không vị đó không dễ gì thuyết phục được thính chúng người Tây Phương vốn có đầu óc khoa học, làm cho họ hiểu được vẻ trong sáng của Giáo lý Phật đạo vô song.

3) Lòng thương yêu từ hòa cần phải có. Bởi vì hận thù sẽ bị đẩy lùi, còn thương yêu thì thu hút lòng người. Vì thế nếu nhà truyền giáo mà thiếu lòng từ bi thì khó có thể lôi cuốn tín đồ.

4) Vị đó phải là một xướng ngôn mạnh mẽ. Bởi vì nếu thuyết giảng yếu giọng thì thính chúng dễ chán nản xa lánh.

5) Vị đó phải có oai nghi sống đời đạo hạnh, phải thực hành những gì mình thuyết giảng và vị đó nên thuyết giảng những gì mình đã thực hành để giành được sự tin tưởng của quần chúng.

6) Vị đó không có chỗ nào nghi ngờ nơi Pháp Phật để đẩy lùi những mối nghi ngờ của thính chúng bằng cách trả lời tất cả những câu hỏi. Một Giảng Sư chính thống phải là người biết "ăn câu hỏi". Vị đó phải sống bằng những câu hỏi. Nếu vị Giảng Sư còn có chỗ ngờ vực nào, tốt hơn không nên thuyết giảng. Bởi vì điều rắc rối nhất là không đủ khả năng trả lời các câu hỏi khi bị chất vấn.

7) Vị đó phải hiểu Giáo Pháp một cách thông suốt. Bởi vì nếu am hiểu Giáo Pháp vị đó mới có thể thuyết phục mọi người về vẻ đẹp giải thoát của Đạo Phật.

8) Vị đó phải biết ngôn ngữ của thính chúng và tâm lý của họ. Bởi vì nếu không hiểu được ngôn ngữ của người Tây phương thì làm sao vị đó có thể giảng giải cho họ nghe được và nếu vị đó không hiểu tâm lý của họ, làm sao vị đó có thể trình bày giáo pháp một cách toàn diện để thính chúng đánh giá được vị Giảng Sư đã nói gì. Nếu một Pháp Sư cứ giảng theo cách truyền thống, lập lại các bài giảng bằng cách học thuộc lòng thì người Mỹ sẽ không cảm nhận được. Vị Pháp Sư phải thuyết giảng bằng phương thức riêng của mình một cách khoa học, lời giảng phải đến thẳng từ tâm. Từ tâm truyền qua tâm. Nếu không, lời giảng của Pháp Sư nghe chẳng khác gì máy ghi âm phát ra hoặc con két đang thuyết Pháp. Đến đây tôi xin nhấn mạnh một lần nữa tính cách đoàn kết mà Phật Giáo cần phải duy trì. Nguyên nhân của nhiều sự phân hóa chia rẽ từ trước đến nay mà ta chung chung cứ đổ lỗi vì tham, sân, si nơi mỗi cá nhân. Bây giờ ta lắng nghe lời dạy của Đức Phật như khắc trên mỗi trường Phật học rằng: DUY TUỆ THỊ NGHIỆP–trí tuệ là sự nghiệp của người học Phật. Song phải trui rèn đạo hạnh, thanh lọc tâm thức, tập tu Bồ Tát hạnh, hạ thủ công phu, tụng kinh, tọa thiền mỗi ngày, luôn luôn chánh niệm và buông xả. Có được vậy chúng ta mới dễ hàng phục tham, sân, si vốn chia rẽ trong Giáo Hội Tăng Già và trong các tầng lớp quần chúng Phật tử.

Về phần cá nhân, ta tự vấn: điều gì gây ra sự chia rẽ? Do lòng tham, họ nói họ tu tập giới hạnh, hoàn toàn đúng. Họ đã thực hành Panca-sita là năm giới điều và họ phải mở rộng lòng đại từ đại bi. Bởi vì hãy nhớ rằng lòng đại từ bi mới giúp chúng ta tu tập năm giới điều một cách hoàn hảo. Nhưng năm giới điều phải được thực hành không những chỉ cho thân, hoặc lời nói mà còn cả tâm ý nữa. Chúng ta không những không chỉ không sát hại mà còn không được nghĩ tới sát hại. Chúng ta không được lấy của không cho mà còn không được nghĩ tới việc lấy của không. Chúng ta không được nghĩ tới việc tà dâm hay nói láo hay uống rượu.v.v... Thế nên nếu không có lòng từ bi quảng đại thì không dễ gì thực hành được năm giới điều một cách buông xả được. Tôi vẫn thích đoàn kết dù phảì tổn thất một cá nhân. Chừng nào có được sự đoàn kết để tu học thì chúng ta mới hoàn toàn mãn nguyện, sự nghiệp giác ngộ mới viên thành.

Đến đây, để cảnh giác các đệ tử Phật không tin nhân quả và coi thường giới luật, tôi xin thuyết giảng vế kinh Đề-Bà-Đạt-Đa (lời cảnh báo của Thiên-Sứ):

"Nếu người nào có chánh kiến, vị đó sẽ sanh về cõi trời Nếu ai đó có tà kiến, sẽ bị đọa xứ ở cảnh giới địa ngục. Có một thanh niên nọ chết với tà kiến, hắn đi đâu? Hắn vào địa ngục nhưng không phải địa ngục đời đời mà chỉ là địa ngục nhất thời. Trước khi Diêm Vương trừng phạt gã thanh niên đó, Ngài hỏi hắn một số câu hỏi:"Này gã nam tử kia! Có bao giờ ngươi trông thấy vị thiên sứ đầu tiên chưa?" Gã thanh niên trả lời: "Dạ con chưa bao giờ thấy vị Thiên sứ đầu tiên". "Sao ngươi chưa bao giờ trông thấy một đứa bé nằm ngửa đó à ?" Gã thanh niên trả lời : "Dạ con có thấy ạ" . "Ngươi thấy không! Đứa bé không ai giúp đỡ, cần có người khác lau sạch đứa bé khi mà nó dơ mình". Gã thanh niên nói: "Vâng con đã thấy". "Vậy thì vốn là một nam tử thông minh sao ngươi không quán tưởng như vậy: Ta rồi cũng phải chịu đau đớn sinh ra, ta phải thận trọng hành động, lời nói và ý tưởng của mình để không bị tái sanh như đứa bé này nữa". Gã thanh niên nói : "Không! con không bao giờ nghĩ như vậy". "Này gã nam tử, hãy nhớ rằng điều đó không phải lỗi của cha mẹ ngươi làm sai, đó cũng không phải là lỗi của bà con ngươi, mà lỗi lầm này chính là của ngươi và chính ngươi phải bị trừng phạt".

"Này gã nam tử, có bao giờ ngươi trông thấy vị Thiên-Sứ thứ hai chưa?" Gã thanh niên đáp: "Thưa chưa, con chưa bao giờ trông thấy vị Thiên-Sứ thứ hai". "Chứ ngươi đã không thấy một ông già và bà già đang chống nạng đi kia sao?" Gã thanh niên trả lời: "Con đã không hiểu vậy". "Ồ gã thanh niên! Đó không phải là lỗi của cha mẹ ngươi hay lỗi của bà con ngươi mà chính là lỗi của ngươi và chỉ một mình ngươi và bị trừng phạt".

"Này gã nam tử! Có bao giờ ngươi trông thấy vị Thiên Sứ thứ ba chưa?". Gã thanh niên đáp: "Dạ, con chưa bao giờ trông thấy". "Sao! Ngươi chưa bao giờ trông thấy một ông già, một bà già đang đau ốm, đang khổ não với chứng bệnh khủng khiếp đó sao?". Gã thanh niên đáp: "Dạ, con có thấy". "Sao ngươi không nghĩ rằng rồi ngươi cũng phải chịu bệnh tật như vậy?"–gã thanh niên đáp: "Con thực không nghĩ vậy". "Này gã thanh niên, đó không phải là lỗi của cha mẹ ngươi hay của bà con ngươi mà ngươi đã đến địa ngục. Chính do hành động của ngươi mà ngươi đến đây và một mình ngươi phải chịu khổ".

"Này gã nam tử! Có bao giờ ngươi trông thấy vị Thiên Sứ thứ tư chưa?". Gã thanh niên đáp: "Thưa, vị Thiên Sứ thứ tứ là ai con chưa từng thấy". "Ngươi không thấy một kẻ cướp phạm tội, sắp bị kết án, sắp bị treo cổ đó sao? Và tại sao ngươi không chịu suy nghĩ: ta hãy thực hiện chân thiện trong ý tưởng, lời nói và hành động". Gã thanh niên đáp: "Con đã không nghĩ vậy". "Này gã nam tử? Đây không phải là lỗi của cha mẹ ngươi, cũng phải là lỗi của bà con ngươi mà là lỗi của chính ngươi gây ra và chỉ một mình ngươi bị hình phạt".

"Này gã nam tử? Có bao giờ ngươi trông thấy vị Thiên Sứ thứ năm chưa?". Gã nam tử đáp: "Thưa, con chưa bao giờ trông thấy vị đó ạ !". "Này gã nam tử? Trong đời của ngươi, ngươi chưa bao giờ trông thấy một xác chết của một người nam hay nữ sao? Xác bị phồng lên, bầm đen và mưng mử". Gã nam tử đáp: "Dạ thưa Ngài con có thấy". "Vốn là một nam tử thông minh, ngươi đã không hề suy ngẫm về mình rằng rồi ngươi cũng vậy, mãi mãi chịu tử vong và ngươi phải cư xử đúng đắn trong hành động, lời nói và việc làm". Gã thanh niên đáp: "Con đã không nghĩ vậy". "Này gã nam tử! Đó không phải là lỗi của cha mẹ ngươi hay của bà con ngươi mà đó chính là lỗi của ngươi nên chỉ một mình ngươi bị hình phạt".

Bấy giờ Vua Diêm Vương vẫn im lặng nhưng Ngài giao gã thanh niên vào tay của những tên gác ngục và chúng đã làm gì? Chúng đẩy một thanh sắt nung đỏ vào ngực, vào hai tay, hai chân gã thanh niên. Đây gọi là "ngũ xuyên" nghe rất giống như cảnh đóng đinh trên thập giá.

Sau khi gã chịu hình phạt này, chúng dùng rìu đẽo thân gã, chỉ chừa đầu và chân, chúng cứa gã bằng dao cạo. Sau đó chúng neo gã vào xe ngựa rồi kéo xe chạy qua lại trên đống than hồng rực nóng; kế đó chúng bắt gã leo lên leo xuống một quả núi khổng lồ đang bốc cháy. Và cuối cùng nhận gã từ đầu đến chân vào cái vạc nấu đồng và nhiều lần trồi lên trồi xuống. Cuối cùng, sau khi xử lý cách trừng phạt kỳ lạ này, chúng quăng gã vào địa ngục khác. Đây là một lối diễn tả khá đẹp. Ngục có 4 hình vuông, 4 cửa cái, 4 khuông viên vĩ đại bằng thép, trần nhà và xà nhà bằng thép, lan tỏa ra sức nóng sáng chói của thép, đi 300 dặm lối này và 300 dặm lối kia, rất nguy nga đồ sộ. Những ngọn lửa từ tường Tây ào tới đập mạnh vào tường Đông. Những ngọn lửa từ tường Đông phát ra đập mạnh vào tường Bắc. Những ngọn lửa bên trên phát ra đập mạnh xuống sàn nhà, những ngọn lửa từ sàn nhà đập ngược lên trần của đại hỏa ngục này. Cuối cùng, sau nhiều thế kỷ dài kinh khủng, cửa Đông mở ra, nam tử đó đang cháy khắp mình, thực ra gã bị ăn khói trở nên thể khí, bởi vì hơi nóng quá mức, khiến hắn nhảy ngang qua sân để thoát về cửa Đông; ngay khi hắn chạm vào cửa thì cánh cửa đóng sầm, dội ngược lại khiến gã đau đớn tuyệt vọng. Đó chỉ là một trò chơi. Vì vậy gã phải chịu thống khổ, phiền não, bất toại nguyện. Hắn nghĩ rằng mình sắp thoát ra khỏi nhưng khi gã bước ra thì cánh cửa đóng sầm dội lại gã. Sau một thời gian dài nhiều triệu năm, cửa Tây lại mở ra, một lần nữa gã nhảy ngang qua một cách nhanh nhẹn và biến thành hơi khí. Ngay khi hắn bị đập vào cửa Tây thì cánh cứa đóng sầm vào gã, lại bị một bất hạnh đau đớn nữa.

Bạn thấy đó, cuộc dời đầy dẫy khổ đau bất hạnh. Có một người đã nói với tôi, anh ta nằm mơ thấy mình trúng số 100 ngàn rúp, vậy là hôm sau anh ta bắt đầu bố thí làm phước để hy vọng trúng số, nhưng rốt cuộc không đạt được như dự tưởng; giống như gã nam tử đáng thương này ở trong địa ngục muốn nhảy băng ra ngoài nhưng cửa vẫn khép, gã đành tuyệt vọng. Sự bất hạnh tái diễn mãi gọi là DUKKHA là khổ. Gã nhảy băng qua cửa Nam sau nhiều triệu năm như vậy và lần nào gã cũng bị cánh cửa đập tung vào mặt. Rồi sau nhiều triệu năm nữa, cửa Bắc mở ra, lần này gã nhảy băng qua và trở thành hơi khí như lần trước. Gã lại một lần nữa bị cánh cửa đập tung vào mặt. Vì thế gã luôn luôn tuyệt vọng cam chịu bất hạnh khổ đau.

Sau nhiều triệu năm nữa, cửa Đông lại mở ra. Bất hạnh thay! Gã nghĩ là mình sắp được giải thoát, nhưng cũng không phải dễ. Điều xảy ra lần này hắn rơi vào địa ngục ô uế, địa ngục phân thối. Hắn tắm trong phân hôi hám. Trong phân uế có những sinh vật nhỏ mộng như cây kim, chúng bắt đầu đục xuyên vào da hắn, sinh vật lại châm xuyên qua xương. Sau khi qua xương chúng thấm vào bên trong và bắt đầu hút tủy trong xương. Gã nam tử đáng thương đau đớn vô cùng nhưng gã vẫn không thoát khỏi cơn cực hình cho đến khi ác nghiệp của gã rơi vào địa ngục than lửa, đầy than lửa nóng rực và nơi đó gã bị đốt thui bên phải, bên trái. Từ đó gã rơi vào địa ngục khác nữa, cảnh rừng cây bông vải rất cao và rừng này có những lá nhọn như cây kim dài khoảng nửa mét. Mặt lá đang rực lửa. Họ bắt gã phải leo lên leo xuống và cuối cùng những chiếc lá nhọn như gươm bắt đầu cắt tay chân của gã. Khi cơn gió thổi qua, những chiếc lá rthọn đó cứa lìa tay chân của hắn. Nhưng thật kỳ lạ, ở cõi địa ngục, mặc dù tay chân bị cụt hết liền lành trở lại như bình thường. Bây giờ gã lại có dư tay chân để bị chặt nhiều lần nữa. Từ đây gã rơi vào dòng sông Soda vĩ đại ăn mòn cơ thể hắn–Soda ăn mòn là một điều ghê rợn, nó đốt cháy thịt da giống như acit. Sau cùng gã trở thành chất lỏng chỉ còn lại mớ tóc nổi lềnh bềnh. Sau một lúc lâu có vài ngư phủ với từ tâm, tay cầm móc lôi gã vào bờ. Nhưng các ngư phủ đó là những tên cai ngục chứ không phải loài người. Các quỷ sứ canh ngục này giở giọng từ tốn: "Thưa Ngài". Rõ ngộ? Ngay trong thế gian này, chúng ta thường gặp những kẻ thù, bề ngoài mặt thì họ rất tử tế độ lượng nhưng sau lưng chúng ta họ lại giở nhiều thủ đoạn. Chúng quỷ hỏi: "Thưa Ngài! Ngài cần gì?". Gã nói: "Tôi đói kinh khủng". "Được rồi, chúng tôi sẽ cung cấp món ngon vật lạ cho Ngài". Chúng liền buộc gã mở miệng ra và bạn có biết chúng bỏ gì vào không? quỷ sứ đã bỏ vào một quả bóng bằng đồng nóng đỏ làm cháy miệng gã, cháy cả cuống họng, dạ dày, ruột gan, lan đi tất cả nội tạng.

Thế nên nếu quý vị không muốn ăn quả cầu sắt đỏ như lửa, bị trấn áp bỏ vào miệng như một hình phạt trong hỏa ngục. Tôi khuyên tất cả quý vị nên phát nguyện ăn chay. Bởi vì nhờ phước báu của sự ăn chay–không nợ máu chúng sanh thì tất nhiên quý vị sẽ không ăn quả cầu nóng đó mà sẽ hưởng món ăn dễ chịu hơn. Nếu không, bây giờ chúng ta ăn thịt thì chắc chắn mai sau chúng ta sẽ ăn những quả đồng nóng rực như vậy.

Sau khi cống hiến cho gã một bữa cơm thịnh soạn như vậy khiến tất cả bộ ruột của gã phải đứt rơi ra ngoài. Chúng quỷ còn hỏi tiếp: "Thưa Ngài, Ngài còn cần thêm gì nữa không?". Gã nói: "Tôi khát nước kinh khủng"–vậy sao? Chúng nói: "Chúng tôi sẽ dâng Ngài món rượu Champagne tuyệt hảo". Chúng làm sao quý vị biết không? chúng quỷ cạy miệng gã ra và đổ vào một loại nước đồng nấu chảy, nó kinh khủng làm cháy toàn bộ miệng lưỡi, cuống họng, bao tử, ruột gan.v.v...

Những ai thích uống rượu, phá giới thứ năm, có lẽ khi vào địa ngục này họ mới thưởng thức món uống đặc biệt khoái khẩu hơn nhưng không say lắm. Nếu ai không thích uống nước đồng nấu chảy thì tốt hơn đừng uống ruợu hay các chất say mà chỉ nên dùng loại nước bồi dưỡng hay giải khát nào không có hại sức khỏe và trí tuệ cũng như nhân cách của con người. Cuối cùng sau khi phục vụ món giải khát cho gã một cách lịch sự, các quỷ ngục nắm đầu và chân, khiêng quăng gã một lần nữa vào địa ngục, tương tự như trước kia, 300 dặm lối này, 300 dặm lối kia với 4 cửa ngục và đốt cháy toàn bộ. Vì vậy gã lại bị hành hình như trước kia. Tại sao vậy? Bởi vì gã không có đủ thì giờ để trả cho hết túc nghiệp. Chúng quỷ muốn cho gã một hương vị khác tương tự như vậy.

Về phần Diêm Vương, sau khi đã chứng kiến những khổ cảnh ghê rợn như vậy ở địa ngục, liền phát nguyện: "Địa ngục quả là một nơi khủng khiếp, mong sao ta được tái sanh làm người. Mong sao ta được sinh ra gặp thời Phật xuất thế, mong sao ta được nghe Giáo Pháp của Ngài và liễu ngộ chân lý tất cả".

Nói đến dây Đức Phật dạy: "Này các Sa Môn! những gì Như Lai đang nói cho quý Thầy, Như Lai chưa nghe từ miệng của người khác dù là một đạo sĩ hay một Bà La Môn. Những gì Như Lai nói, Như Lai chỉ nói cho quý Thầy những gì mà chính Như Lai đã thấy và tự chính mình chứng ngộ". Đức Phật nhìn thấy địa ngục bằng chính mắt của Ngài. Bởi vì Ngài không mô tả những Ngài chưa nhìn thấy. Đức Phật chỉ mô tả những gì chính Ngài đã nhìn thấy chớ không có gì khác

Sau khi cảm nhận được những cảnh ghê rợn ở địa ngục, chúng ta phải chăm chú hơn, chánh niệm trong mỗi hành động, phải cực kỳ tinh tấn giống như một người bị chi phối bởi một thanh gươm đang đe dọa. Giả sử như một người đang ngồi và trên trần nhà đang có một thanh gươm đang treo lơ lửng bằng một sợi tóc nhỏ, và sợi tóc có thể đứt bất cứ lúc nào, khiến lưỡi gươm có thể đâm qua sọ của anh ta. Quý vị có nghĩ rằng, anh ta dám yên tâm ngồi ngủ không, hay nói chuyện nhảm nhí với người bạn mà trở thành người đa ngôn, hay lãng phí thời giờ đọc sách tiểu thuyết vô ích, hay truyện thần tiên vô bổ? Không, vị đó rất tích cực, luôn luôn khẩn trương giải cứu nghiệp lực của mình.

Giả một người bị quấn một chiếc khăn lửa trên đầu, bạn thử nghĩ anh ta có dám đi xem chiếu bóng trong tình thế lửa bốc cháy trên đầu như vậy không. Chắc chắc là không. Anh ta phải chạy khẩn cấp chỗ này chỗ kia tìm nơi gần nhất có nước để dập tắt ngọn lửa đang cháy trên đầu. Tương tự, chúng ta phải chạy nhiều nơi tìm cầu trí tuệ để thoát ly ngọn lửa tham ái, sân hận và ngu độn; những ngọn lửa đang xô đẩy chúng ta vào địa ngục thấp kém nhất. Có lẽ người ta nghĩ rằng có rất ít người bị đọa địa ngục. Nhưng không phải vậy Đức Phật đã khuyến cáo rằng đa số đều đọa địa ngục chỉ một thiểu số thoát khỏi. Để hình tượng hóa, một hôm Đức Phật lấy một ít đất rồi đặt trên đầu móng tay của ngài và ngỏ lời với Chư Tăng, Ngài dạy: "Này các Tỳ Kheo! Chút đất mà Như Lai có trên đầu ngón tay này so với số đất bao la có trên trái đất, số đất nào nhiều hơn?". Chư Tỳ Kheo đáp lại: "Bạch Đức Thế Tôn! Quả là nhiều số đất có trên trái đất này và quả là ít số đất có trên ngón tay của Như Lai".

Đức Phật dạy: "Tương tự như vậy, quả thật rất ít người được tái sinh vào cõi chư Thiên hay được tái sinh làm người và ngược lại có vô số loài người tái sinh làm ma quỷ, súc vật hay đọa địa ngục".

Thế nên khi nhận ra rằng địa ngục là gần chứ không xa, chúng ta phải chuyên cần, chớ dửng dưng mà say mê lạc thú. Thực sự, ta cảm nhận rằng được tái sinh làm người là một việc hi hữu; bởi vì con người có trí thông minh hiểu biết nhờ vậy mới có thể phân biệt đúng sai. Con người có thể có khả năng thành Trời, Thần. Hãy nhớ rằng Chư Phật luôn luôn xuất thế làm người. Đức Phật sinh ra như một con người, có mắt, tai, mũi, lưỡi như chúng ta. Thật là đại hồng ân cho chúng sinh được tái sinh làm người. Quý vị có biết tại sao làm người lại được lợi lạc hơn làm Chư Thiên không? Tôi tự nhủ bất cứ ai cũng có thể trả lời được câu hỏi này. Loài người có nhiều thuận duyên hơn Chư Thiên, bởi vì chư vị cõi trời sống hàng triệu năm trong khi con người, nếu may mắn chỉ sống một trăm năm. Chúng ta sống ở cõi trần có thể hiểu được ý nghĩa của vô thường, khổ và vô ngã; bởi vì chúng ta trông thấy rõ cánh hoa phai tàn hằng ngày. Chúng ta thấy rõ con người mau chóng trở nên già nua, cằn cỗi, bệnh hoạn, tử vong ra sao. Trái lại, trên cõi trời họ luôn luôn tươi trẻ và sự thay đổi rất chậm. Họ không nắm bắt được ý nghĩa của vô thường, khô, vô ngã như chúng ta. Bởi vì Chư Thiên sống hàng triệu năm. Họ cứ nghĩ rằng họ bất tử, bất diệt.

Hãy nhìn kỹ lại trần gian này, nếu may mắn người ta sống được 100 năm nhưng họ lại không bao giờ nghĩ rằng mình sắp chết, mà cứ nghĩ rằng mình bất tử. Họ cũng thấy người ta chết hàng ngày, nhưng họ lại nghĩ họ không bao giờ chết. "Người hàng xóm tôi chết còn tôi thì không". Đó là một sự thôi miên, sự gây mê chính mình, thử tưởng nếu chúng nhân chỉ sống có trăm năm mà họ nghĩ rằng họ sẽ không chết thì quý vị Chư Thiên sống hàng triệu năm, họ sẽ nghĩ họ bất tử. Có một vị trời Phạm Thiên tưởng rằng mình không chết, Đức Phật vận hành cõi trời, cải nóa vị trời Phạm Thiên, chứng tỏ cho vị đó thấy ai rồi cũng phải chết. Đó? Quý thính chúng thấy chưa, ngay cả chư Thiên còn phải có ngày hết tuổi thọ, huống gì là chúng ta ở trần gian bấp bênh ngắn ngủi này. Vậy tốt hơn ta nên tái sinh làm kiếp người nếu ta muốn nhanh chóng thành tựu quả vị Niết Bàn. Nhưng nếu không vội vã thì vị đó có thể thực hiện thử một chuyến tham quan lên cõi trời khi mình đã thặng dư công đức.

Cuộc đời là một trường học, chúng ta cần một trường học Phật. Hầu hết mọi tâm thức mọi người chỉ ở lớp mẫu giáo. Tại sao? Bởi vì họ không phải là người chứng quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm. Họ cũng không phải là những bậc A La Hán. Trong Phật Giáo có 4 giai đoạn tịnh hóa chứng quả. Tu Đà Hoàn là người tái sinh nhiều nhất bảy lần nữa và A Na Hàm là người sẽ không bao giờ tái sinh nữa. Bậc A La Hán đương nhiên chứng quả Niết Bàn ngay trong đời này và ngay khi tịch diệt. Nhưng mọi người chưa chứng quả Tu Đà Hoàn nên coi như đang học lớp mẫu giáo. Hãy nhìn ngắm các trẻ em, chúng đang chơi các đồ chơi, chúng xếp từng khối vào nhau. Chúng dựng một cái nhà, và ngộ thật, khi làm nhà xong, chúng reo vui rồi đưa chân đá, phá sạch và trò chơi lại kết thúc. Cũng tương tự như trẻ em trên thế giới trình độ cấp mẫu giáo, chúng ra công xây dựng 1 thành phố nguy nga, đồ sộ, hết sức tốn kém, tạo dựng thêm nhiều dãy nhà tráng lệ, ấy vậy mà khi chúng chán nản, không thích xây cất nữa, chúng bỏ một trái bom nguyên tử nhỏ đánh sập toàn bộ và rồi bỏ đi không một chút thương tiếc. Nhà cửa sạch phẳng chúng ta không còn tìm thấy ngay cả những viên gạch nhỏ.

Suy ra như vậy, loài người có khác gì trẻ em trên trần gian điên đảo này. Họ phấn khởi ra công xây dựng nhiều thành phố, nhà máy, trường học.v.v... rồi bỗng nổi cơn "vô minh, tham ái, chấp thủ", họ tuôn hàng loạt bom đạn tiêu diệt toàn bộ.

Đến đây, tôi lại nêu thêm một hình tượng nữa: thế gian giống như một thập tự giá. Tôi đã nói về sự đóng đinh trên thánh giá ngay từ đầu tại địa ngục. Trần gian này quả là thập tự giá. Chúng ta liên tục đóng đinh trên thập tự giá. Sáu giác quan gồm có mắt, tai, mũi, thân, ý là những chiếc đinh. Chúng ta bị đóng đinh lên thập tự giá bằng sáu cái đinh–tức là sáu giác quan. Cho tôi hỏi quí vị một câu: "Đinh nào mạnh hơn? Đinh làm bằng sắc thép hay làm bằng sáu giác quan?". Sáu giác quan phải mạnh hơn. Tại sao? Bởi vì đinh làm bằng sắc thép chỉ kéo dài một giai đoạn nào mà thôi. Chúng ta có thể rút tay ra khỏi những cây đinh. Chúng ta có thể dùng chân đá và rút chân ra khỏi những cây đinh. Bạn có thể nào đá mất sáu giác quan không? Tại sao? Bởi vì các giác quan hình thành bằng chất liệu vô minh, tham ái. Bạn có sáu giác quan ấy bao lâu rồi? Từ quá khứ xa xưa. Trong khi những đinh thép chỉ có thể tồn tại một đời hay chỉ vài giờ lúc bạn ở trên thập tự giá. Mặt khác, sáu giác quan mà bạn đã có từ quá khứ vô thỉ kiếp này sang kiếp khác. Đó là lý do tại sao đinh làm bằng sáu giác quan mạnh hơn đinh làm bằng sắc thép.

Loài người chúng ta cứ liên tục bị đóng đinh trên thập tự giá trần gian do sáu giác quan; nhưng vẻ đẹp của sự đóng đinh trên thập tự giá là cái đẹp mà người ta thích. Do thích được đóng đinh hơn. Họ yêu thích sáu giác quan, thậm chí họ còn trả tiền để hưởng khoái lạc của sáu giác quan. Họ muốn được đóng đinh chắc chắn hơn trên thập tự giá trần gian như xưa kia. Do đó rõ ràng thế giới là một nhà thương điên khổng lồ.

Đau đớn và khoái lạc thường đi đôi với nhau, chúng không hề tách rời nhau. Vì vậy hễ ai còn ôm ấp khoái lạc thì phảì ôm ấp đau khổ. Cái giá của khoái lạc là đau khổ–họ muốn hạnh phúc vô tư và yên bình của Niết Bàn tối thượng.

Xưa có một nhà tu khổ hạnh sống yên bình trong một ngôi am. Một hôm có hai chị em nọ đến gặp Đạo sĩ. Họ là hai chị em kỳ lạ. Một người thì cực kỳ đẹp đẽ, đáng yêu! Còn người kia thì cực kỳ đáng sợ vì bị cùi khắp cơ thể. Họ luôn luôn đi bên nhau, không hề xa cách một phút giây nào. Họ đến gõ cửa am thất. Vị Đạo sĩ hỏi: "Ai đó?", hai chị em đáp: "Mô Phật! Dạ chúng con là hai chị em". Đạo sĩ bước ra mở cửa, hai chị em đồng thưa: "Xin Tôn Sư cho phép chúng con vào bên trong". Vị Đạo sĩ trả lời: "Ta muốn cô đẹp kia bước vào". Nhưng cô đẹp liền thưa: "Xin cảm phiền Ngài cho phép hai chị em chúng con cùng vào, cô xấu xí kia và cả con nữa. Ngài phải cho phép cả hai hoặc là không hết". "Thật vậy sao!". Vị đạo sĩ vừa nói vừa xách một cây gậy thật to rượt hai chị em cùng chạy mất.

Vị Đạo sĩ muốn chẳng có người nào thì tốt hơn. Ông quả là một nhà tu có trí tuệ, ông có kinh nghiệm ứng xử. Nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều nhà tu thiếu bản lĩnh–trụ tướng sanh tâm, làm đổ vỡ cơ nghiệp. Trên thế gian này chúng ta dám nói có trên 90% cần cả hai–cái đáng yêu cũng như cái đáng sợ, bởi vì họ muốn khoái lạc và đau khổ. Nhưng bậc trí giả chỉ muốn khoái lạc chứ không muốn đau khổ và nếu cả hai gắn bó không rời thì vị Đạo sĩ buộc phải đẩy lùi khoái lạc và cũng không ưa đau khổ. Vị đó tống xuất cả hai. Vị đó nhập đạo tu hành, hưởng quả an vui phúc lạc tối thượng. Rút bài học trên, chúng ta phải là một hiền giả có trí tuệ, khôn ngoan chứ không khờ dại đam mê cả khoái lạc lẫn đau khổ. Điểm then chốt là không phải tách rời cái này khỏi cái kia–cái đẹp và cái xấu, vì khoái lạc là gốc rễ của đau khổ. Mới nhập đạo, ta nên nương hạnh giới nên ta chọn Điều Thiện, khi chứng đắc Niết Bàn, thiện ác không hai, ta quên luôn cả phương tiện.

Các sự vật trên cõi đời này nếu được nhìn đúng thực tướng thì chúng đều là uế nhiễm mục nát. Hãy lấy một chiếc đầu trống trơn làm ví dụ. Nhìn gương mặt có nét rất dễ thương, nhưng nếu chúng ta cạo lớp sơn và bột đó ra ta thấy lớp da, lột lớp da chúng ta mới thấy một chiếc sọ đang nhe răng trông rất khiếp. Mọi người đều mang một chiếc sọ đang nhe răng khủng khiếp trên vai mình. Bạn cứ tưởng tượng có ai dám nghĩ rằng mình đang mang một chiếc sọ đầu lâu nhe răng kinh hồn không? hãy tính xem có bao nhiêu người đang bị các hình dáng bề ngoài mê hoặc và dối gạt. Các thi sĩ vốn đa cảm trong cơn cao hứng thường mô tả sắc đẹp dậy trời của bao gương mặt. Nhưng làm sao chúng ta biết rõ mình đang có một chiếc đầu lâu đang nhe răng kinh khiếp như vậy? Bằng chứng ở đâu? Bạn có thể trông thấy bất cứ phần nào của chiếc đầu lâu đang nhe răng khủng khiếp, bạn có thể trông thấy bất cứ chiếc xương nào của chiếc sọ hiện giờ chưa? Vâng, đó là răng. Rõ là thiên nhiên đã ưu đãi chúng ta, nó che toàn bộ đầu sọ để dối gạt chúng ta nhưng nó quên che bộ răng. Vì vậy bất cứ lúc nào chúng ta cũng nhìn thấy bộ răng và lập tức ta hình dung được toàn bộ sọ người từ răng, bởi vì răng là thành phần của sọ người.

Tôi xin kể một sự kiện có thực. Ngày nọ có một vị Tăng ở Tích Lan. Ngài đang tu tập thiền quán gọi là "Thiền Cốt"–quán xương–vị Tăng luôn luôn niệm tưởng đề mục xương, xương và không gì khác ngoài xương. Sau đó điều gì xảy ra? trong khi Ngài đang đi kinh hành ven khu rừng, chợt một thiếu phụ xinh đẹp xuất hiện. Cô ta vừa mới cãi lộn với chồng và đang trên đường về nhà cha mẹ. Cô đi một mình với trang phục lộng lẫy xinh đẹp giống như một nữ thần ở cõi trời. Khi trông thấy vị Tăng cô ta liền khởi lên tà niệm trong đầu. Phần vị Tăng vẫn chăm chú nhìn xuống theo đúng giới luật. Vị Tăng lúc nào cũng quán tưởng đến xương, xương và không gì ngoài xương. Bởi vì đó là đề mục thiền quán. Cô gái đẹp cứ nghĩ mình có thể cám dỗ được vị Tăng. Cô bắt đầu phá cười lên để lộ hàm răng trắng đẹp. Vị Tăng đang nhìn xuống, bỗng nghe có tiếng cười, liền ngẩng đầu lên, đối mặt, vị Tăng nhìn thẳng vào răng của cô ta, vị Tăng hoát nhiên hô lên "xương" và thế là Ngài chứng quả A La Hán có nghĩa là bậc Toàn Giác. Cô thiếu phụ đó đã rất tốt đối với vị Tăng, cô giúp Ngài đạt được giải thoát cao tột. Cô ta quả là ân nhân của Ngài, bởi vì nhờ cố ý cám dỗ, cô ta đã cho Ngài quả vị A La Hán. Dĩ nhiên là không may vì điều đó không phải luôn luôn vận hành như vậy. Chỉ có một phần triệu người chứng quả A La Hán nhờ nhìn vào bộ răng của người khác phái. Hầu hết đều giống như thân phận của loài cá, chúng sẽ bị bắt bởi lưỡi câu của các ngư phủ.

Câu chuyện không dừng ở đây. Người thiếu phụ vừa đi khỏi, cô ta không nhận ra rằng chính mình đã giúp vị Tăng đạt kết quả. Rồi thì người chồng đến, bởi vì anh ta vừa thấy mất vợ liền chạy theo sau. Anh ta gặp ngay vị Tăng và hỏi, "Thưa Tôn Giả ? Ngài có trông thấy một thiếu phụ chạy ngang qua lối này không ạ?" vị Tăng đáp lại: "ông nào, bà nào chạy ngang qua lối này, tôi nào có biết. Tôi chỉ thấy một nhà xương chạy ngang qua lối này".

Đó quý vị thấy không? vị Tăng này đã thấy sự thật. Ngài không thấy giống phái của người nào chạy qua. Ngài chỉ chánh niệm nhìn chăm chú vào răng chứ không thấy phần nào khác của thân và vì vậy vị Tăng đã nói sự thật. Chúng ta phải học cách thấy như vậy và tập trung vào đề mục thiền quán của chúng ta, nên khi bị cám dỗ, chúng ta vẫn có thể chứng đạt mục đích cao thượng nhất. Chúng ta phải liên tục quán xét các sự vật đúng như thực tướng của chúng. Bởi vì khi vạn hữu được nhìn đúng như thực tướng thì chúng chỉ là thứ uế nhiễm tanh hôi.

Có hai loại nô lệ: nô lệ tinh thần và nô lệ vật chất, nhưng nô lệ đối với giác quan là nô lệ tệ hại nhất trong tất cả, chỉ có bậc A La Hán hay Chư Phật mới thực sự giải thoát. Có hai loại phong cùi. Phong cùi về tinh thần và phong cùi về thể xác. Loại nào tệ hại hơn? Nếu có người bị giày vò đau đớn vì bệnh phong cùi, chắc chắn vị đó phải chạy đến Bác sĩ để xin điều trị. Nhưng trớ trêu thay người đau ốm về chứng phong cùi "tâm linh" tức là vô minh tham ái thì không ai chạy đến Bác sĩ tâm linh ngoại trừ những ngày sám hối, rằm, mùng một mới đến nhờ chữa trị. Giờ đây tôi cũng đang diều trị chứng phong cùi tâm linh bằng sự bố thí Giáo Pháp đến quý vị.

Và mới đây, tôi nhận được môt lá thư của một bệnh nhân cùi. Bất hạnh thay, anh ta lại bị khổ đau cả hai chứng bệnh cùi thể xác và cùi tâm linh. Chúng ta đang đau khổ về một chứng phong cùi duy nhất. Còn những người bị phong cùi đơn độc này, chịu đựng gấp hai và đang bị cô lập thật bi thảm trong nhà thương cùi. Đây là một bức thư trại cùi ở Johore Bahru, một em trai bị cùi nói: Kính thưa thượng Tọa, con là một bệnh nhân cùi, vốn có học tiếng Anh, con được vào trại này cách đây 14 năm, lúc con 16 tuổi. Con là một Phật tử, con rất mong muốn được hiểu biết Phật Pháp nhưng con rất đau buồn mà nói rằng con không thể tìm đâu ra một người am hiểu Phật Pháp hoặc tìm được một quyển sách nhỏ nào để đọc trong trại vì con không được phép ra khỏi nơì đây. Mẹ con là một Phật tử thuần thành, bà hiểu Đạo Phật nhờ thường xuyên đi lễ chùa ở Singapore. Con không ở lại nhà với cha mẹ nên không có dịp nào để học hỏi với mẹ. Ở đây cũng có một số đồng bạn của con, chúng cũng tự gọi mình là Phật tử. Con ngạc nhiên vì chúng hiểu đạo không hơn gì con. Chúng không hiểu những gì mà Phật Giáo muốn nói với chúng. Chúng là Phật tử tại tâm. Chúng rất siêng học và cầu nguyện, nhưng chẳng có người nào dạy chúng. Đầu tiên con cố gắng tìm kiếm địa chỉ của một người quen. Chúng con cần sách Phật, kể cả những sách báo thường. Chúng con không có sách gì đọc trong những lúc rảnh rỗi. Đối với dân số trong trại này có 204 người mang bệnh cùi, chúng con cứ gọi nhau là Phật tử mà chẳng có quyển sách Phật nào trong tay. Qua lời thỉnh cầu mộc mạc này con xin kêu gọi Thượng Tọa từ bi thương tưởng gởi cho chúng con một số sách về Đức Phật viết bằng tiếng Hoa hay tiếng Anh để thời giờ quý báu của chúng con khỏi trôi đi một cách oan uổng, và để chúng con có thể dùng thì giờ một cách lợi lạc nhờ đọc sách. Hy vọng với lời thỉnh cầu kém cõi của con sẽ được đáp ứng từ lòng bi mẫn và sự thương cảm quan tâm của Thượng Tọa.

Kính thư.

Con xin đảnh lễ ơn đức Thượng Tọa.

Sau khi nghe xong lá thư, quý vị và chúng tôi phải làm gì đây? Chúng ta không có sách bằng tiếng Hoa. Tôi nghĩ là tôi sẽ yêu cầu Hội Phật Học ở đây soạn viết những tập sách nhỏ về Phật Pháp để chuyển vào trại cho họ càng sớm càng tốt.

Đến đây tôi xin giảng thêm một khía cạnh về pháp điều phục tâm. Suốt trong chiến tranh, nhiều nơi phải kinh hoàng vì bom đạn. Dĩ nhiên người có đạo hay không–lúc khiếp vía cũng đều cầu nguyện gọi tên Phật, Chúa liên hồi.

Nhưng đừng quên rằng có nhiều phương thuật để diệt trừ sợ hãi. Nếu người ta chỉ nhớ rằng chân lý chỉ bảo vệ người làm theo chân lý, trong chiến tranh, dù sanh tử diễn ra trước mắt nhưng những ai nghĩ đến lời Phật dạy, giữ đúng Giới điều, vị ấy không bao giờ đau khổ, vì anh ta tin vào quy luật nhân quả, tin vào sự nhiệm mầu của khả năng đọc tụng các thần chú, trong tình huống xấu cũng trở thành tốt đối với anh ta. Nếu vị đó nghĩ đến chư Thiên, vị đó cũng không bị đau khổ. Trong số 11 điều lợi ích làm an lạc thân tâm, với tâm từ quảng đại, vị đó không còn phải lo sợ về thuốc độc hay gươm giáo, hay bom đạn tàn phá, vị đó bình thản trước mọi nguy nan. Một cách khác nữa để diệt trừ sự đau đớn của cơ thể, bằng cách suy tưởng về cái không thực của cơn đau. Phương pháp y học, người ta dùng vài giọt ête hay thuốc gây mê có thể dập tắt cơn đau qua một cuộc giải phẫu chính thức trong phòng thí nghiệm, khi bác sĩ phẫu thuật của đứt tay hay chân, bệnh nhân không có cảm giác gì hết. Cái nào mạnh hơn? Thuốc gây mê hay tâm thức? Hãy nhớ rằng đau đớn chỉ là một niệm tưởng. Con người gồm sáu yếu tố: Đất, nước, gió, lửa, khoảng trống và thức. Thử hỏi cái nào trong sáu yếu tố này cảm thấy đau. Nước cũng vậy, gió, lửa, khoảng trống cũng vậy, chỉ một mình ý thức cảm thấy đau mà thôi. Đất không cảm thấy đau, nước cũng vậy, gió, lửa, khoảng không cũng vậy. Một mình ý thức cảm thấy đau thôi. Vậy thì thức là gì? Là năng lực tâm linh. Năng lực tâm linh là gì? Là sự chuyển động vô rgã (khách quan). Giấc mơ là một sự kiện tâm linh, vì vậy cuộc đời như giấc mộng. Hãy nhớ rằng sự đau đớn chỉ là một niệm tưởng và niệm tưởng là gì? Niệm tường là một chút năng lượng tâm linh. Vậy tại sao ta lại phiền não về một chút năng lượng tâm linh vô ngã đó? cho nên nếu ta nhận thức được rằng đau đđn chỉ là một niệm tưởng thì bất cứ khi nào bạn nhờ y sĩ nhổ răng, đừng yêu cầu ông ta tiêm thuốc gây mê hay bất cứ loại thuốc nào khác. Chỉ nên tiêm thuốc trí tuệ và thiền quán. Nhận thức rằng đau răng chỉ là một niệm tưởng. Nó chỉ là một sự kiện tâm linh. Vậy sự kiện tâm linh là gì? Đó là một năng lượng tâm linh nhỏ chút và năng lượng tâm linh là gì? Là sự chuyển động vô ngã (có tính khách quan). Nếu bạn nhận ra rằng đau đớn chỉ là một niệm tường, bạn nên ném bỏ ý tưởng đó bởi vì nó chỉ là một niệm tưởng tạm bợ thoáng qua. Nếu bạn không ném bỏ đi nó cũng tự động bay mất, bởi vì niệm tưởng không bao giờ ở lại. Nó bay với tốc độ hàng triệu dặm mỗi phần nhỏ của giây. Không may bạn lại luôn luôn bám vào những niệm tưởng đau đớn mới và bạn đau đớn vì vô minh (thiếu trí tuệ). Hãy thiền quán về tứ đại thì bạn sẽ không bao giờ còn bị cảm thọ về khổ nữa. Nếu bạn thực hiện những phép thiền quán này bạn sẽ giác ngộ rằng vạn pháp đều vô ngã, bạn liền quăng bỏ và được phần giải thoát.

Chúng ta đừng bao giờ thỏa mãn với khoái lạc cho đến khi chúng ta đạt đến khoái lạc cao nhất đó là Niết Bàn. Người nào chỉ thỏa mãn với khoái lạc giác quan như loài vật, vị đó chỉ được thỏa mãn phần ít mà thôi. Họ không giác ngộ đạo Phật–chuyển hóa tâm thức từ khoái lạc này đến khoái lạc khác cho đến đạt đến niềm khoái lạc tột đỉnh. Chúng ta không nên thỏa mãn khoái lạc ở mức độ thấp hèn của xác thịt, mà hãy tìm khoái lạc nơi sự đắc chứng xả niệm thanh tịnh, đưa đến Niết Bàn tối thượng.

Hãy học hạnh kín đáo, luôn luôn nhiếp tâm vào đề mục thiền định. Nhờ liên tục tu tập thiền định như vậy, ánh sáng chân lý sẽ bắt đầu rạng rỡ hào quang–một vĩ nhân độc hành giữa đám đông. Chúng ta hãy nỗ lực sống một mình giữa quần chúng. Và đây là cách thuyết giảng mà không sợ khởi lên sự bực tức.

Trước khi khởi niệm sự thuyết Pháp, chúng ta suy niệm như thế này: thính chúng là ai? Thính chúng là ngũ uẩn. Và ngũ uẩn là gì? là 5 hợp thể gồm có: sắc, thọ, tưởng, hành, thức (thân xác, cảm giác, cảm nhận, rung động và ý thức). Những uẩn này đều vô thường, khổ, vô ngã. Còn thính chúng là ai? Thính chúng là sự trống rỗng. Không có thính chúng nào và thính chúng biến mất, tôi cũng trống rỗng, tôi biến mất. Vậy ai ở trong chùa? Không có ai hết. Lúc không có ai trong chùa thì không có ai thuyết giảng cho ai hết. Rụt rè lo sợ là gì? không có ai rụt rè lo sợ cả. Đây là những cách thuyết giảng mà không có ai bị dao động và đây là cách làm hoan hỷ mọi người. Do quá trình công đức vô lượng mà quý vị đã đạt được hôm nay, cầu mong mọi ước vọng cao đẹp của quý vị được thành tựu viên mãn. Cầu mong tất cả thính chúng sớm đắc quả Niết Bàn tối thượng.

Dịch giả: T.Tọa Thích Giải Thông

Phỏng dịch theo bản tiếng Anh

The light of TRUTH Của Giảng sư LOKANATHA

Do the Singapore Maha Bodhi school xuất bản.




 

LÀM SAO ĐỂ CÓ HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI

Tôi có viết bài báo tựa đề: "DẬP TẮT CHIẾN TRANH VĨNH VIỄN", điều này đồng nghĩa với "hòa bình thế giới". Trong bài báo tôi đề xướng một giải pháp duy nhất để ngăn ngừa chiến tranh: Đó là phương cách dập tắt nguyên nhân gây ra chiến tranh. Tôi đã kham nhẫn tìm cách giải trừ vũ khí bên ngoài thế giới bằng cách giải trừ vũ khí ngay bên trong thân phận con người. Tôi đã thấy rõ sự kiện muốn dập tắt chiến tranh thì phải tận diệt ngay bên trong gốc rễ của nó. Về phương diện y học, tôi đã từng chẩn đoán nhiều ca và đưa ra toa thuốc chữa trị. Lòng tham là cội nguồn của chiến tranh, chiến tranh khắp nơi trên thế giới. Làm thế nào để đoạn diệt lòng tham tức là hoàn thành sự giải trừ quân sự trên khắp thế giới. Có nhiều phương án kinh tế quy mô mong ổn định chiến tranh khắp nơi đã được đưa ra ánh sáng. Nhưng các giải pháp trên đều vô ích vì họ không đoạn diệt được nguyên nhân của chiến tranh, chẳng khác nào chỉ sử dụng thuốc ngoài da chứ không tẩy sạch được máu mũ, tiêu trừ tận gốc được tìm thấy bên trong cơ thể–tâm ý con người chứ không phải bên ngoài. Hậu quả là gì? Điều ác vẫn tồn tại, chừng nào mà gốc rễ của nó vẫn còn ẩn tàng chưa đoạn diệt. Dù một vài ứng dụng về giải pháp kinh tế có vẻ thành công, tạm thời ngăn chặn được những tranh chấp quốc tế; song tinh thần gây chiến của con người vẫn khẳng định chính nó phát sinh thứ nội chiến như một số các nước trên thế giới hiện nay.

Nếu các cuộc nội chiến có được ngăn chặn đi nữa thì các chứng bệnh tranh giành vẫn sôi sục âm ĩ trong nanh vuốt của gia đình. Nơi đó cha mẹ tranh với con cái; con cái chống đối cha mẹ; vợ chồng cãi lộn, anh em, chị em xung đột lẫn nhau. Và dù cho những phiền não bên ngoài chấm dứt nhưng tâm ý đấu tranh nơi con người vẫn làm cho người ta nổi loạn chính mình. Cho đến khi chính mình phải đắm lệ trong những tình huống khổ đau tuyệt vọng. Tại sao? Chỉ vì lòng tham của vị đó vẫn còn âm ĩ bên trong.

Vì vậy chúng ta phải diệt trừ tận gốc rễ chiến tranh mới đem lạì hòa bình thực sự.Chúng ta phải quét sạch những nguyên nhân cơ bản đưa đến chiến tranh, giống như ngôn ngữ trong Tân ước: DỤC VỌNG là TRẬN CHIẾN trong anh em chúng ta.

Trong bài báo đã nói, tôi tìm cách trình bày cho họ thấy rằng làm sao giải trừ được khí giới trong mỗi và mọi người mới dẫn đến sự giải trừ quân bị thực sự làm cho thế giới được hòa bình tịnh lạc.

Tôi muốn nhấn mạnh "việc giải trừ quân sự toàn cầu". Nghĩa là kết thúc toàn bộ việc quân binh, tức là tước bỏ vũ khí tham ái của mỗi người. Chúng ta hãy từ giã vũ khí chiến tranh bằng con người đã thực sự giã từ vũ khí. Đó là những con người toàn thiện. Chúng ta ước mong mỗi người đều trở thành bậc Thánh nhân, như vậy mới thực hiện được hòa bình thế giới lâu dài, và rồi lịch sử sẽ là một lịch sử đổi mới chứ không phải lịch sử bạo tàn của thời kỳ xa xưa, mà chúng ta đã phải chịu đựng thống khổ liên tiếp từ cuộc chiến này đến cuộc chiến khác.

Thấy không có hại gì khi tôi đề cập đến câu nói của Mussolini: "chiến tranh vẫn trường kỳ và hòa bình chỉ là khoảng trống để thư giãn trong cuộc chiến liên tục". Thế tại sao người ta ngưng chiến? Bởi vì họ không thể giao tranh thêm nữa. Họ quá mệt mỏi và vì suy liệt mọi khả năng phương tiện, họ chỉ cần một khoảng trống thời gian để thở, dùng khoảng cách thư giãn này để chuẩn bị cho trận chiến sắp tới. Chừng nào họ cảm thấy có đủ sức lực thì họ lại bắt đầu khai chiến.

Lại nữa, khoái lạc giác quan cũng là nguyên nhân của cuộc chiến tranh, của lòng ích kỷ, tham lam, tranh chấp giữa các vương quốc, các lãnh thổ, gia đình. Khoái lạc giác quan đưa đến chiến tranh, thảm sát, tra tấn và điên loạn. Chắc quý vị muốn nghe câu chuyện mà Đức Phật đã nói cách đây 2500 năm về chiến tranh, nguyên nhân và phương pháp chấm dứt?

Đức Phật dạy: Năm uẩn tức là 5 hợp thể khoái lạc giác quan: sắc được cảm nhận bằng mắt; âm thanh được cảm nhận bằng tai; hương khí bằng mũi; mùi vị bằng lưỡi và xúc chạm bằng thân. Tất cá đều có thể cảm thấy khoái lạc và kích thích đam mê. Vì khoái lạc, từ khoái lạc, do khoái lạc, chính khoái lạc và chỉ khoái lạc là nguyên nhân cốt tủy. Thế nên vua mới chinh phạt vua, hàng quý tộc mới tranh chấp với hàng quý tộc, Bà La Môn diệt Bà La Môn, dân trong nước tranh giành vởi nhau. Cha mẹ xung đột với con cái, con cái xung đột với cha mẹ. Anh chị em hơn thua với nhau, bạn bè sừng xỏ với nhau. Họ tận lực hạ nhau bằng những cú đấm, cú đánh, bằng gậy, bằng dao, đi dần đến chỗ tử vong hay thương tích trầm trọng. Đó là những hiểm họa đi theo sau những khoái lạc giác quan ở đây và bây giờ với tất cả những sự cố tạo thành một tổng thể đầy bất trắc: vì khoái lạc, từ khoái lạc, do khoái lạc, chính khoái lạc và chỉ khoái lạc là nguyên nhân.

Kinh Trung Bộ–một trong Tạng Kinh Phật có nói: Mọi sự đều tương ưng, vì khoái lạc mà gươm khiên sẵn sàng ra trận; cung tên và xạ thủ hối hả dàn quân, trong khi tên đao phóng xuyên qua không trung thì gươm giáo vung lên chém đầu kẻ thù đến nỗi xác chồng chất và thương tích chết người. Đây là những hiểm họa đi theo những khoái lạc giác quan, ở đây và bây giờ với tất cả những yếu tố gây nên toàn bộ bất lợi. Tất cả vì khoái lạc, từ khoái lạc, do khoái lạc và chính khoái lạc là nguyên nhân.

Có điều là trên chiến trường, niệm tưởng sau cùng của một chiến sĩ tử vong không thể nào có được. Bởi vì kẻ thù đang cố ý giết anh ta, khi anh ta sắp chết liền khởi một niệm tưởng sân hận, niệm tưởng sau cùng này tác hại cho bản thân anh ta và cho người khác. Anh ta không thể tái sinh trong cảnh giới tốt được. Niệm tưởng sau cùng có ảnh hưởng đến sự tái sinh sắp tới.

Điều gì khiến ta thoát khỏi khoái lạc giác quan. Phải hạn chế và khép chặt vĩnh viễn các thèm khát và khoái khẩu, đây là pháp thoát ly mọi khoái cảm giác quan, nguyên nhân dẫn đến sự giải trừ quân sự khắp nơi và chiến tranh thế giới. Vì vậy con người sống trên toàn cầu phải từ bỏ khoái lạc giác quan, đó cũng là cách làm cho người ta từ bỏ chiến tranh, ổn định hòa bình thế giới.

Phật Giáo là gì? Phật Giáo là tôn giáo của lòng từ bi vô lượng đạt được nhờ sự từ bỏ, không có gì cao cả hơn điều này, từ bỏ cái không thực, chúng ta đạt được thực tại tối thắng của Niết Bàn vô thượng.

Lòng ham muốn đưa đến thù hận. Ham muốn chiếm đoạt đưa đến thù hận; thù hận đưa đến chiến tranh. Bởi vậy nếu dập tắt được thù hận là dập tắt được chiến tranh. Chúng ta phải đoạn diệt lòng tham ưa thích của cải và quyền lực.

Hãy xóa bỏ chiến tranh vĩnh viễn. Hận thù không bao giờ ngăn chặn được hận thù. Quy luật nghìn xưa đều thuần thiện. Khi hận thù không còn đối đáp với hận thù, nó sẽ tự tiêu tan. Chiến tranh chỉ chấm dứt khi nào loài người trên thế gian này từ bỏ binh nghiệp, và chỉ khi nào họ được giáo dục về lòng căm ghét, sự giết hại, mọi sự giết hại ngay cả loài côn trùng bé nhỏ. Thế nên ta cần huấn luyện các thanh thiếu niên phải biết ghét bỏ sự sát hại. Đây là một khuyết điểm của nhiều tôn giáo, không giáo dục lòng từ bi thương cảm đối với vạn hữu sinh linh. Họ nói: hãy yêu thương con người! và ngưng tại đó, không vượt khỏi loài người tức là sinh mạng những loài vật. Lòng từ bi bác ái của họ mới có một phía. Lòng từ bi và bác ái đó chưa phổ cập và nồng nhiệt chân tình.

Người ta buộc phải giết sinh vật vì nó được tạo ra phục vụ cho bữa ăn của con người! Vị đó là người sáng tạo sẵn sàng giúp đỡ, tạo nên những sinh vật để cống hiến cho những sinh vật khác. Vì vậy chúng ta quả là những người được yêu chuộng!

Nếu con người trên thế giới này muốn hoàn thành việc giải trừ vũ khí toàn cầu, trước tiên họ phải tháo bỏ vũ khí ngay trong tâm mình. Nếu tâm thức con người cứ mãi hùng hổ thô bạo với tháỉ độ quân sự thì làm sao tâm thức đó có thể hoàn tất được cuộc giải trừ vũ khí toàn thế giới.

Chính lòng tham mới khiến con người phát biểu: "lãnh thổ này là lãnh thổ của riêng tôi". Chính lòng tham đã khiến người ta coi rẻ mọi đất nước khác, ngoại trừ quê hương xứ sở mình.

Vì vậy chúng ta hãy kêu gọi con người dập tắt lòng tham, họ sẽ yêu quê hương họ một cách công bằng. Khi họ yêu thương mọi quốc gia một cách bình đẳng thì họ còn chiến đấu với ai nữa? Đây là giải pháp đảm bảo cho công cuộc giải trừ quân sự khắp nơi và hòa bình thế giới một cách có hiệu lực.

Từ đâu đưa đến chiến tranh và xung đột giữa quý vị với nhau? Rõ ràng do lòng tham là nguyên nhân gây ra chiến tranh, vì vậy chúng ta hãy giải trừ vũ khí chính mình bằng cách diệt lòng tham "là chiến tranh trong anh em chúng ta" và chúng ta sẽ hưởng được hòa bình cho mỗi cá nhân. Chúng ta hưởng được hòa bình cho mỗi cá nhân sẽ đưa đến hòa bình cho toàn gia đình, đưa đến hòa bình cho toàn quốc gia, đưa đến hòa bình cho toàn thế giới.

Do đó chúng ta hãy tự mình tước bỏ vũ khí, tự đoạn diệt tham ái và hận thù. Chúng ta hãy tiếp dẫn lòng yêu thương và hòa bình vào tâm thức của lớp trẻ. Chúng ta hãy giáo dục thanh thiếu niên biết giữ đạo hạnh. Nếu mọi người được an lạc nội tâm thì toàn thế giới cũng được an lạc và sự giã từ vũ khí khắp nơi sẽ là một thực tế có thể diễn ra trong nháy mắt.

Các quốc gia sở dĩ phải vũ trang là vì nhiều cá nhân đã vũ trang (với lòng tham ái, sân hận). Khi nào những cá nhân trở nên dân sự (không còn trang bị vũ khí hận thù) thì mọi quốc gia trên thế giới sẽ giã từ quân sự. Thông thường người ta hay khiển trách những nhà tổng chỉ huy quân sự; họ cho rằng những nhà tổng chỉ huy là nguyên nhân của chiến tranh nhưng có ai hiểu được những nhà tổng chỉ huy đó là những đầy tớ của chúng ta.

Do ôm ấp hận thù khiến toàn thể quần chúng áp lực những nhà tổng chỉ huy đáng thương đó phải ra tay hành động, họ chỉ là những công cụ của chúng ta. Bởi vì khi toàn dân muốn có chiến tranh thì áp lực tinh thần của toàn dân buộc nhà tổng chỉ huy phải tuyên chiến. Bởi vì quý vị cũng hiểu rõ rằng những làn sóng tư tưởng gây ảnh hưởng đến người khác. Họ không thể bất động mà phải thỏa mãn nguyện vọng của đa số quần chúng cần biểu dương quân sự để bảo vệ Tổ quốc.

Có khi chiến tranh xảy ra không phải do quần chúng mà xuất phát từ những vấn đề khác, có thể là do những nhà công kỹ nghệ, những nhà tài phiệt kinh tế có thể áp lực các nhà lãnh đạo quốc gia ra tay hành động nếu nó tạo thắng lợi về mặt tư bản bất cứ cách nào. Dẫu sao đi nữa thì quần chúng vẫn là những người chịu trách nhiệm đối với vấn đề giải trừ vũ khí khắp nơi. Chúng ta không nên chê trách chính phủ hay những nhà tổng chỉ huy. Chúng ta hãy lên án những người vẫn còn ấm ức với nội tâm đầy tham ác hận thù. Bất cứ lúc nào ta còn nội chiến với chính mình thì lúc đó chúng ta đang góp phần cho chiến tranh. Chỉ khi nào mỗi người được an lạc bên trong, vị đó mới dám thành thật nói rằng mình không chịu trách nhiệm về chiến tranh, mỗi niệm tưởng sân si, thù hận đang tăng dần nhiên liệu khơi động chiến tranh sau cùng, thật tàn khốc.

Giờ xét đến từ "lòng yêu nước". Từ này chịu trách nhiệm sát hại hơn bất cứ từ nào. Báo chí làm kích động và nóng máu quần chúng, vì vậy ta nên chận đứng báo chí kiểu đó hoặc giao cho những nhà biên tập ưa chuộng hòa bình. Họ là những người không thích chiến tranh, và rồi nếu những nhà biên tập là những người yêu thích hòa bình thì nhất định họ sẽ không viết những tin giật gân. Ai sẽ mua những loại báo đó. Báo phát hành ra ngoài vì tiền và tiền gây cho báo chí hoang mang. Nó kích động quần chúng vì họ muốn có chiến tranh. Tiền bạc quả là một con rắn độc, cũng chính vì đồng tiền mà chiến tranh bùng nổ khắp nơi. Bằng phương tiện hô hào lòng yêu nước, nói láo, gian dối, làm nhục, các chiến sĩ bị kích động, bị thuyết phục giết nhau giống như giết những con chó. Và khi được chết trên chiến trường họ được vinh danh với các từ "anh hùng". Thật là dối trá đối với họ làm sao? Đức Phật đã nói những vị anh hùng này chịu đau khổ ở địa ngục trần gian và địa ngục kiếp sau. Bởi vì niệm tưởng sau cùng của họ không thể là ý niệm của lòng từ bi vô hạn. Một chiến sĩ không thể nào cầm dao đâm vào một chiến sĩ khác khi đã có lòng từ bi vô lượng. Nếu mọi chiến sĩ biết điều này liệu ai còn dám nghĩ rằng mình là một đồ tể giết người hay không? Chắc quý vị biết rằng thời gian trước đây, khi trở về quê hương–nước Ý, tôi đã từ chối không đi lính. Khái quát lý lịch thì quý vị cũng biết rồi, tôi từ bỏ cha mẹ, anh chị ở Mỹ, sang Miến Điện tu học 6 tháng. Tôi bỗng bị bệnh kiết lỵ nên trở về Ý để thay đổi không khí. Lúc đó tôi còn trẻ, mới có 27 tuổi, là một Tăng sĩ hết sức năng nỗ nhiệt tình. Chính quyền ở Ý "chộp cổ tôi" buộc tôi phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Tôi đã khoác y vàng, là đệ tử của đức Như Lai, tôi đã xuất gia nghĩa là thoát ly thế tục vậy mà bây giờ họ muốn kéo tôi trở lại đường trần vốn ly khai chúng tôi. Họ cố cưỡng bức "anh phải nhập ngũ". Tôi trả lời rằng tôi không thể nào đi lính được vì tôi là đệ tử của Đức Phật, tôi không được phép giết một con kiến hay con muỗi hút máu thì làm sao tôi có thể giết một con người vốn là anh em của tôi. Dù là theo luật pháp, mỗi người công dân chỉ phục vụ quân ngũ 8 tháng, tôi vẫn lý giái để cho họ thông cảm trường hợp của tôi, tôi sanh ở Ý nhưng tôi lại yêu tất cả mọi quốc gia với tâm bình đẳng, mọi người là anh em của tôi. Vả lại, Phật Giáo của tôi là tôn giáo của lòng từ bi đối với tất cả sinh vật lớn hay nhỏ đều không phân biệt.

Làm sao người ta có thể hoàn tất được cuộc giải trừ quân sự toàn cầu. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi nào mọi người đều từ chối không để mình trở thành người lính. Việc này chỉ thực hiện tốt đẹp khi nào họ được giáo dục sự chán ghét giết hại, giết tất cả ngay đến các loài côn trùng nhỏ bé. Thế nên chúng ta phải dạy cho các thanh niên biết chán ghét sự giết hại. Hãy làm cho các nhà đồ tể–cơ sở giết súc vật–trở thành trận chiến phai tàn. Cũng như các tội tử hình cần được phá bỏ. Tội giam tù mãi mãi là hình ảnh tốt đẹp hơn so với tội tử hình ghê rợn, phi nhân.

Khi các bé trai lớn dần, chúng được cho mặc những bộ đồ lính, đồ chơi súng cầm tay, đồ chơi súng đại bác.v.v...dĩ nhiên những sản phẩm tâm lý trở nên một sáng tạo quân sự này khiến tham vọng bành trướng và chúng mơ ước trở thành chiến sĩ khi đến tuổi trưởng thành. Đây là lối giáo dục nguy hiểm.

Vậy chúng ta hãy huấn luyện con em chúng ta biết yêu thương loài vật cùng hô hấp trên trái đất này. Hãy yêu thương người lân cận như yêu thương chính mình. Vì ghét người lân cận là ghét chính mình. Họ không nêu lý do tại sao bạn phải yêu thương người lân cận. Bởi người lân cận là chính mình. Nếu bạn ghét người lân cận là tự động ghét mình. Đó là lý do tại sao bạn phải yêu thương người lân cận như chính mình. Bởi lẽ không có bản ngã trong Đạo Phật. Tất cả lòng yêu thương là một. Nếu bạn yêu thương mình là yêu thương muôn loài. Đây là con đường đưa tới hạnh phúc.

Pháp ăn chay sẽ đoạn diệt được sự hung hăng. Người ta quả quyết chứng minh được rằng sự ăn chay có thể thuần hóa những con sư tử dữ tợn thành những con vật hiền từ. Đạo sư Kvishanandfi đã từng thuần hóa những con sư tử và cọp trở thành những con vật ăn chay hoàn chỉnh. Chúng ta từ chối, không để ý đến thịt nữa, pháp ăn chay đã biến đổi chúng thành những con vật vô hại. Vậy tại sao chúng ta không thuần hóa chúng sanh thành những công dân hòa bình vốn từ chối thanh toán sát hại nhau? Chỉ khi nào con ngườì trần gian này trở nên trầm mặc và tĩnh lặng họ mới hy vọng hoàn tất được sự giải trừ binh nghiệp, đem lại hòa bình cho thế giới.

Thịt sở dĩ cung cấp cho binh lính ăn là vì thịt kích thích và làm cho binh lính hung hăng thêm. Nếu binh lính ăn cỏ thì họ sẽ trở thành những con nai hiền từ. Họ sẽ yêu thương nhau và ôm nhau mừng rỡ. Lúc đó mới thực sự là thời điểm hòa bình.

Lương tâm quần chúng phải được khơi dậy trước khi thực hiện điều gì. Khi lương tâm quần chúng vùng lên chống cảnh nô lệ thì cảnh nô lệ sẽ bị tiêu diệt. Khi lương tâm quần chúng vùng dậy chống chiến tranh thì chiến tranh phải dập tắt. Pháp ăn chay tạo cho con người hiền hòa, tĩnh lặng. Và vì vậy là một đại cơ xưởng đang khởi động lương tâm quần chúng chống chiến tranh. Nhà tiên tri Isaiah đã nói: "Kẻ nào giết một con bò thì dường như kẻ đó đã giết một con người". Chúng tôi cũng nói vậy: "Ai giết được một con bò, ngườí đó sẽ giết được một mạng người". Theo tài liệu báo cáo thì có nhiều trường hợp những đồ tể cũng ghét luôn cả con người. Có những trường hợp trẻ nhỏ giết cả các em của mình sau khi thấy cha chúng giết heo.

Hãy lưu ý thêm các thống kê tội ác cho thấy trong số những người ăn thịt ở Tây phương phạm tội ác gấp 8 lần so với số người ăn chay ở Ấn Độ.

Một hôm người ta hỏi Bác sĩ Arundale là liệu Bác sĩ có cách gì dứt được các bệnh điên của thời đại hiện nay không. Bác sĩ trả lời rằng phương pháp duy nhất không phải bằng kế hoạch kinh tế mà là phải triệt để giảm bớt những căng thẳng tinh thần về chiến tranh trong mọi phương diện đời sống. Được hỏi tại sao phải tiếp tục ăn chay, bác sĩ trả lời: theo ý nghĩ của tôi thì chắc chắn việc nuôi mạng sống bằng việc ăn thịt hàng ngày là động cơ thúc đẩy nổi máu chiến tranh. Tinh thần "súng đạn" nơi con người là hậu quả của lòng hiếu sát của con người trên thân phận những con vật đáng thương không nói được tiếng người để phản đối, tuyên chiến với loài vật là tuyên chiến với loài người, bởi vì về phương diện sinh học thì người và vật đều như nhau. Nếu loài vật có thể nói được thì chúng sẽ nói gì? Chúng sẽ gầm lên: "loài người là kẻ thù xấu xa tàn ngược nhất của chúng tôi. Và con người cũng là kẻ thù của chính họ. Họ dùng trí thông minh của họ để bắt giam và giết hại chúng tôi". Hậu quả là: lòng ham muốn giết hại đã xúi giục họ sử dụng trí thông minh tương tự tìm mọi cách và phương tiện để tàn sát loài người trên bình diện quy mô hơn. Quý vị hãy nhìn trận đại chiến vừa qua với những hơi độc, tàu ngầm, phản lực cơ và bom nguyên tử gây tử vong khủng khiếp. Cho nên cần thuần hóa bản tính hung hăng của con người bằng pháp ăn chay. Muốn trở thành người trai giới thuần tịnh vị đó phải tránh sát hại sinh mạng loài vật, điều này sẽ làm cho vị đó tránh sát hại loài người.

Rượu cũng là một tai họa, nó đốt cháy thân tâm, làm ngu muội dòng tư duy của con người. Dưới ảnh hưởng của rượu người ta có thể chém giết, trộm cắp, tà dâm, nói láo và mất hết nhân cách. Vì vậy ta nên khuyên mọi người trên khắp thế giới nên tránh uống các chết say và nên uống nước lọc trong sạch, tinh khiết toàn hảo nhất. Được vậy họ sẽ trở nên con người thích hòa nhã, vui vẻ. Nếu việc uống rượu được hạn chế khắp nơi sẽ đưa con người vốn đầy lòng tham ái hận thù đến chỗ giã từ súng gươm chiến sự và khi mọi người có được hòa bình trong tâm thì lúc đó mới có hòa bình thế giới được. Và việc giải trừ vũ khí chiến tranh sẽ là một thực tại huy hoàng.

Đức Phật đã dạy: "Này các đệ tử, nếu có bọn cướp dữ nào bắt con, chúng dùng dao để khắc vào tay chân con; ngay lúc đó con còn khởi tâm sân giận tức là vẫn chưa nghe theo lời dạy của ta. Ngay lúc đau đớn này, phận sự của con là phải kham nhẫn, giữ tâm bất động, không cho một lời thô ác nào thoát ra trên môi, mà con phải luôn luôn an vui trong hạnh nguyện từ bi, thiện ý bằng trái tim buông xả, không hận thù, ôm ấp nnhững niệm tưởng thương yêu sáng ngời đối với bọn cướp dữ đã hành hạ thân con. Và từ đó mãi mãi ban trải khắp nơi những niệm tưởng yêu thương, những ý tưởng vĩ đại, bao dung, vô lượng; nơi đây không còn hiện khởi một ý tưởng hận thù ác hại nào". Sau 600 năm Đức Chúa đã nói: "Hãy yêu thương kẻ thù của con, nếu kẻ thù tát vào má bên phải của con, hãy đưa thêm má bên trái cho họ tát". Đức Phật trước đó có phần tích cực hơn một chút, không những đưa má cho kẻ thù tát mà còn ôm chầm lấy bọn cướp bằng tấm lòng yêu thương Niết Bàn (vô ngã).

Đức Thế Tôn đã dạy bài pháp tối hậu được mọi người nhắc mãi–giáo pháp về lòng yêu thương–không phân biệt về giống loài hay con người và toàn sinh vật hữu tình. Con người phải yêu thương đồng bào mình như chính mình; đổi lành lấy dữ; đổi yêu thương lấy hận thù; vị đó phải trải lòng từ bi cho loài cá dưới biển và loài mãnh thú trong rừng, cũng như loài chim trên không trung, cho thảo mộc cây cối, cho dòng sông, rừng núi... Vị đó chớ nên sát hại đồng bào của mình dù là để tự vệ. Tóm lại, toàn bộ chiến tranh đều là thói phàm tục thiếu đạo đức.

Cái duy nhất mà ta phải giết là lòng tham ái và sự hận thù. Chúng không phải ở bên trong mà cũng không phải ở bên ngoài. Con người là người bạn tốt nhất của chính mình, mà cũng là kẻ thù tai hại nhất.

Đức Phật dạy: "Hãy đoạn diệt hận thù bằng tình thương, giữ gìn 5 học giới là trọng yếu sống hạnh phúc".

Chiến tranh là hình thức sát hại, tà dâm, nói láo và uống rượu qui mô nhất; chiến tranh cũng là sự phá hoại qui mô nhất đối với 5 học giới nói trên. Vì lẽ đó chúng ta hãy dạy các con em tinh tấn giữ gìn 5 học giới. Nếu mỗi một em được giáo dục có tâm hạnh chán ghét tuyệt đối việc sát sanh, trộm cắp.v.v... thì nơi nào còn có thể xảy ra chiến tranh trong tương lai nữa? Chúng ta hãy cải biến xã hội bằng cách nhỏ từng giọt phẩm hạnh tình thương và hòa bình vào tâm thức còn mềm dẻo của thanh thiếu niên. Một khi thanh thiếu niên trưởng thành chúng sẽ tuyên bố một cách phản kháng: "Chúng tôi không chiến đấu nữa!". Và đây là tiếng kêu vang dội sẽ bay khắp thế giới. Đây là cách mà nhân dân trên toàn cầu có thể thành tựu việc giảm trừ chiến tranh đưa đến hòa bình thế giới.

Lại nữa, dù chúng ta có dư cảnh sát an ninh, chúng ta vẫn thấy mãi nhiều vụ sát hại, cướp bóc và tà dâm..., dù chúng ta có nhiều đồng minh quốc gia, chúng ta vẫn còn chiến tranh. Chỉ có một cách hoàn toàn chấm dứt tội ác và chiến tranh nghĩa là chúng ta phải có đồn cảnh sát bên trong tâm hồn mỗi người; hãy để mỗi người có cảnh sát riêng cho mỗi người. Khi mọi nguời chuyên cần tự mình kiểm soát an ninh cho chính mình thì nơi đây cần gì cảnh sát bên ngoài, liên minh các quốc gia hoặc là giải trừ vũ khí? Thế nên chúng ta phải dạy các thanh thiếu niên phải cố gắng thọ trì 5 học giới trên, chúng ta phải huấn luyện tuổi trẻ. Đây là cách mà nhân dân trên thế giới có thể giải trừ vũ khí trên toàn cầu.

Chỉ có tu tập 5 học giới mới có thể dập tắt chiến tranh. Bởi vì 5 học giới giúp chúng ta biết yêu thương loài vật và tránh uống rượu–điều mà trong các điều răn không thấy dạy. Trong các điều răn, họ cho phép giết các loài vật và không có điều thứ 11: ngăn cấm uống rượu. Trong Phật Giáo có một huấn thị khuyên không nên uống rượu. Tâm là năng lực có thể đào phá con đường Niết Bàn. Nếu tâm không được trong sáng 100% thì làm sao con người có thể giải thoát cho mình vượt qua tham ái và những kẻ thù nội tâm vốn gây trở ngại cho con đường tiến đến Niết Bàn. Thế nên chúng ta phải giữ gìn bộ não cho sắc bén để có thể triệt phá những kẻ thù bên trong tâm thức mình, nó gây trở ngại cho ta trên bước đường giải thoát. Chúng ta hãy cống hiến cho lớp trẻ những huấn thị đạo hạnh đúng đắn, huấn luyện cho các thanh niên biết chán ghét đam mê khoái lạc giác quan. Nếu món ăn vật chất cần đòi hỏi mỗi ngày cho thân xác thì món ăn tinh thần cũng cần đáp ứng cho tinh thần và óc não. Ngày hôm nay toàn thế giới đang đau khổ vì thiếu món ăn tinh thần. Sự khao khát này là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh. Thế nên thế giới cần phải có những chất liệu tốt để dinh dưỡng tinh thần. Chừng nào mà sự khao khát tinh thần trên toàn cầu không còn nữa thì vấn đề giải trừ quân sự và hòa bình thế giới mới có thể đạt được.

Vấn đề then chốt trong việc giải binh toàn cầu và hòa bình thế giới là gì? Liệu có một tấm gương độc nhất nào trong lịch sử, nơi đó nhà vua cai trị đã ổn định hòa bình mà không cần dàn dựng chiến lược quân sự? Có! Hoàng đế ASOKA là tấm gương độc nhất này trong lịch sử. Hoàng đế ASOKA lúc chưa quy y Phật thường chém giết người như giết gà. Nhớ lại trận chiến của nhà vua với dân thành Kalinga, nhà vua tàn sát khắp nơi mà không nương tay, giết 100.000 người và bắt làm nô lệ 150.000 người chỉ vì ông muốn cướp đoạt thêm thành Kalinga.

Chính lòng tham ái và dục vọng cuồng nhiệt muốn chiếm đoạt thêm một thành trì nữa đã khiến nhà vua Asoka tàn sát hàng trăm ngàn người. Vậy mà sau đó quý vị có thể tưởng tượng nỗi, vua xin quy y Phật, hạ bỏ gươm giáo và trở thành con người hiền hòa như con cừu vô hại. Đức Vua tuyên bố với các quốc vương lân cận: "Nay tôi là Phật tử, tôi nguyện từ bỏ chiến tranh chém giết". Và sau đó nhà vua cho ngưng chiến toàn bộ.

Lòng đầy hối tiếc về những điều mình đã gây nên thưở chưa quay về nương tựa nơi giáo Pháp cao siêu của Đức Phật, Đức Vua cho xây nhiều bệnh viện cho nhân dân kể cả bệnh viện cho loài vật, cho đào giếng nước bên đường, tạo công viên và trồng cây bóng mát nhiều nơi. Đức Vua cải biến cách ăn uống hàng ngày và trở thành một Phật tử ăn chay trường. Đồng thời còn cổ vũ trong hoàng tộc, nhân sự phục vụ ... tất cả phát tâm ăn chay.

Vị tông đồ hòa bình này đã làm kinh ngạc thế giới với những trụ đá khắc chữ đồ sộ kiên cố toát ra nội dung tinh thần từ bi vô lượng do Đức Phật giảng dạy. Hoàng Đế ASOKA rộng lòng ban trải đức từ bi Phật tính vô ngại. Nhà Vua còn dũng mãnh gởi các Sứ giả hoằng Pháp sang khắp các nước trên thế giới; kể cả người con trai và người con gái của mình cũng được gởi sang Tích Lan để hoằng Đạo. Hoàng Đế Asoka quả thật đã đóng vai trò trọng yếu trong công đức hòa giải chiến tranh và khôi phục hòa bình thế giới.

Sir Edwin Arnold–tác giả tập sách "Ánh sáng Á Châu" đã ghi những lời: "Phật Giáo là tôn giáo có từ bản thân tính thường trụ, niềm hy vọng của toàn cầu. Sự bất diệt của đức từ bi vô lượng và nhân tố bất hoại của lòng tin vào quả lành sau cùng, cũng như sự khẳng định tự hào nhất trong quá trình từng xây dựng hòa bình cho nhân loại. Điều hãnh diện nữa là trong suốt 2500 năm, Phật Giáo chưa bao giờ làm rơi một giọt máu nào, cũng không bao giờ có những cuộc thập tự chinh nẩy lửa hay cuộc hành quyết đầy sắc máu, không hề đưa một tín đồ Phật tử nào lên giàn hỏa bởi vì Phật Giáo thường dạy lòng đại từ đại bi đối với chúng sanh không phân biệt".

Trường hợp của tôi cũng vậy. Quý vị có ngạc nhiên không khi biết rằng chúng tôi cũng suýt bị chôn sống khi đang thuyết giảng bài Pháp về triết học Phật Giáo.

Vấn đề tự thắng mình là chiến thắng vĩ đại trong tất cả mọi sự chiến thắng, vì Đức Thế Tôn đã dạy:

Dù tại bãi chiến trường

Ngàn lần thắng ngàn người

Nhưng tự thắng chính mình

Là người thắng vĩ đại.

Thế nên mỗi người chúng ta hãy tự chiến thắng mình, có được như vậy thì thế giới mới được bình yên phúc lạc.

Tất cả mọi người hãy rộng lòng ban trải hạnh từ bi hỷ xả. Hãy đối xử với người lân cận như chính mình, bởi vì nếu người lân cận là chính mình thì mọi sự sống đều là một và toàn thế giới sẽ được an lạc, không còn hận thù.

Đức Phật đã dạy một quy luật muôn đời: "Lấy oán báo thù, oán thù, chồng chất. Lấy đức báo oán, oán tự tiêu tan". Nhiều ngườì tin rằng họ có thể tiêu diệt hận thù bằng sự thù hận khác thô bạo hơn–nhưng không bao giờ được. Chỉ có cách ngược lại là dùng tình thương mới đoạn diệt được hận thù, thì nhất định hòa bình hiện hữu trường tồn.

Phạt án tử hình cũng là một trong những nguyên nhân của chiến tranh. Hỡi các nhà làm luật! Tại sao quý vị không giam sống họ trong nhà tù? Quý vị phải biết rằng tội nhân có thể kiếm sống trong trại giam bằng sự lao động có ích lợi cho họ. Chắc quý vị cũng biết tử hình là hình thức bạo ngược triệt phá lòng rthân từ. Và nhớ rằng khi tình thương yêu ra đi thì hòa bình cũng đi theo luôn. Giết nhiều người trong các nhà tù là đưa đến tàn sát con người ngoài mặt trận. Hành động đó là biện pháp kinh tế tầm thường khi nghĩ đến phương sách tiết kiệm tiền bạc bằng cách giết bớt những kẻ sát nhân. Cuộc chém giết như vậy dẫn đến cuộc thảm sát tập thể ngoài chiến trường với hậu quả tổn thất vô cùng to lớn.

Tử hình là áp dụng thực tế theo luật Moses nghĩa là mắt đổi mắt, răng đổi răng, mạng đổi mạng...Nhưng luật ăn miếng trả miếng này hoàn toàn khác với luật "Bất phản kháng" của Chúa Jésus có nghĩa là không chống lại điều ác: nếu ai tát má bên phải; bạn đưa thêm má bên trái cho tát. Sự thù hận luôn luôn đưa đến chiến tranh, tha thứ đưa đến Hòa Bình tịnh lạc.

Ước gì tôi có khả năng chuyển hóa tâm thức các nhà lãnh tụ, các tướng quân trên thế giới. Tôi sẽ khuyên họ: tại sao quý vị lại thích giao tranh, xâm chiếm lãnh thổ lẫn nhau? đất đai cơ đồ này có giá trị gì. Máu xương của loài người mới đáng giá! Tôi tin rằng quý vị cũng không biết mình gây chiến tranh để làm gì. Lòng tham ái si mê đã che mờ mắt quý vị khiến cho quý vị ham gây chiến. Tại sao quý vị lại muốn tuôn ra hàng biển máu chỉ đổi lấy thứ đất bùn vô giá trị. Thật là bi thương khủng khiếp! Hàng biển nước mắt hòa chung với máu của bao sinh linh đàn ông, đàn bà, con nít, nát tan từng mảnh trong sự thống khổ điêu tàn của chiến tranh quy mô.

Trong khi các nước đang hung hăng tiêu diệt lẫn nhau không chút thương xót, chúng ta nên mạnh dạn cất tiếng nói; rung lên hồi chuông báo động để cứu vớt nhân loại đang khổ đau trong sự hủy diệt và đang rơi vào trong các đọa xứ. Quý vị không nhận ra rằng chính mình đang hạ sát huynh đệ của mình chứ không phải kẻ thù. Mọi quốc gia đều là thiện hữu tâm giao. Tham ái, sân hận, ngu si mới là kẻ thù của quý vị. Kẻ thù nguy hiểm này đang nằm bên trong ta.

Đức Bồ Tát đã dạy: "Thà chết mà chiến thắng cám dỗ còn hơn là sống mà phải thảm bại"; cho nên tự chiến thắng mình mới là chiến thắng vĩ đại.

Các quốc vương thích giao tranh nhưng không phải chiến trường trong tâm. Nếu các vị lãnh tụ tự chinh phục mình thay vì chinh phục kẻ thù bên ngoài thì họ sẽ tận hưởng hòa bình an lạc. Thời Cổ đại xa xưa có tục lệ vua giao chiến với vua. Tôi nhớ không lầm, lịch sử của Silanka (Ceylon) vua Dutugemunu giao tranh với vua Elasa nói: "Để ta giao chiến với đối thủ". Vậy là quân lính giạt ra hai bên làm khán giả, nhìn hai tướng quân của mình so gươm sinh tử. Quân lính sẽ thấy rõ ai là người thắng, ai là kẻ bại cuộc. Vua Dutu giết chết vua Elasa, tức thì quân lính của phía bại trận chạy về; cuộc chiến chấm dứt. Tập tục này thật hay, cứu được nhiều mạng người. Đó là loại chiến thuật chìến lược hết sức tiết kiệm. Chỉ có một trong hai người chết, còn bao nhiêu đều sống sót. Quả là đại hạnh phúc.

Có một sự kiện mà các nhà chiến sự không mấy ai thông hiểu, đó là một niệm tưởng cuối cùng của một quân sĩ vừa tắt thở. Đức Phật đã dạy: Những vị được gọi là anh hùng đó lúc chết ngoài chiến trường, linh thức sẽ đi thẳng vào địa ngục "địa ngục bạt thiệt" vì tranh chấp lý sự. Điều gì xảy ra? Bởi vì niệm tưởng sau cùng là niệm tưởng sân hận. Hàng ngàn quân sĩ đang chết mỗi ngày sẽ tái sinh vào địa ngục. Chiến tranh không phải là khốn khổ sao? Vui thích phần mình có một thoáng chốc và sau đó phải rơi vào các đọa xứ địa ngục. Vì vậy chúng ta không nên vui thích sát hại sinh mạng kẻ khác mà nên kham nhẫn trải lòng từ và quên lãng mọi sự.

Một nước nào đó bị bại trận sẽ nuôi hận trong tâm. Chúng ta chiến thắng tức là đã tạo thêm nhiều kẻ thù. Vì vậy nên hòa hoãn và tha thứ. Người thắng, kẻ thua phải ôm chầm nhau trong tình thân ái như hai võ sĩ giao đấu trên võ đài. Sau trận đấu họ bắt tay nhau nở nụ cười trong tinh thần võ sĩ đạo cao thượng. Cũng theo gương đó, khi các quốc vương chấm dứt cuộc chiến thế giới, các quốc gia hãy bắt tay nhau. Chúng ta chỉ cần có vậy, chúng ta nên giúp đỡ lẫn nhau.

Vì khát vọng của mỗi quốc gia là Hòa Bình. Quê hương họ có còn thống khổ do sự khủng khiếp của chiến tranh đẫm máu nữa không? Lòng tham dục đã khiến họ tham chiến! Lòng nham hiểm của con người thì vô tận. Sự hủy diệt loài sinh vật chính là nguyên nhân tiêu diệt loài người. Chiến tranh đang bừng cháy, ngọn lửa bên trong, ngọn lửa bên ngoài, lửa cháy khắp nơi. Lòng tham là ngọn lửa hung tàn nhất. Đam mê dục vọng là nguyên nhân gây ra chiến tranh, chiến tranh bên trong tâm hồn là nguyên nhân thúc đẩy chiến tranh bên ngoài.

Người chiến thắng vĩ đại nhất mà thế giới từng ca ngợi đó là Đức Phật–người chiến thắng vô song. Những hào kiệt như Alexander Ceasar, Napoleon không thể đem so sánh với Đức Phật, vì Ngài là bậc Giác Ngộ chinh phục được toàn thế giới, điều mà những người khác không thể thực hiện được.

Chúng ta hãy làm cho các lãnh tụ quốc gia hiểu rằng cố gắng chinh phục thế giới bằng hận thù đều vô ích. Chúng ta hãy noi gương Đức Phật hàng phục thế giới bằng tình thương. Người chiến thắng vinh quang nhất bằng hận thù chỉ đưa đến bại vong sau cùng. Đức Phật đã hàng phục thế giới cách đây 2500 năm bằng loại vũ khí tình thương và chân lý như thực. Ngài mãi mãi là bậc Thầy của nhân loại, là ánh sáng của 10 ngàn thế giới, làm cho mọi chúng sinh trở thành những máy phát điện tình thương, những bộ pin tình thương, những đài phát thanh tình thương, khiến cho con người tỏa sáng mãnh liệt những niệm tưởng từ bi vô lượng trên khắp vũ trụ nhân gian. Dù đi, đứng, nằm, ngồi, hãy làm cho chúng sinh tràn ngập lòng từ bi khắp nơi. Chỉ có tình thương mới hàng phục được hận thù. Bởi vì tịnh hóa thế giới mới đưa đến hòa bình thế giới.

Chúng ta hy vọng rằng thế giới này sẽ chuyển hóa thành quốc độ Phật, tràn ngập lòng từ bi phổ khắp đến vô lượng chúng sinh, bởi vì chỉ khi nào tình thương trở thành thân thiết, nơi đó sẽ không còn có biên cương, địa giới, không còn kỳ thị; thế giới sẽ thực sự hưởng được hòa bình an lạc khắp nơi. Hãy nhớ rằng ngay như cõi Trời cũng có chiến tranh. Chúng ta được Kinh Phật dạy rằng chư Thiên và Thần Atula đã từng giao chiến với nhau. Nếu các vị Thần Thánh mà không thể hòa mình với nhau, làm sao con người có được. Điều đó khá bi quan và mâu thuẫn. Dù sao thì mỗi người chúng ta vẫn có thể tự chinh phục mình. Tất cả sau cùng sẽ tự thắng mình, bởi vì mọi người đều bình đẳng và khi đã dũng cảm hàng phục được mình thì toàn bộ thế giới sẽ thực sự hưởng được hòa bình an lạc.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn