Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

11. Giáo Pháp Bất Diệt

07/02/201115:31(Xem: 713)
11. Giáo Pháp Bất Diệt

ĐỨC PHẬT
VÀ HÀO QUANG CHÂN LÝ

Dịch giả: TT Thích Giải Thông-Phỏng dịch theo bản tiếng Anh The light of truth của Giảng sư
LOKANATHA Do The Singapore Maha Bodhi School xuất bản

GIÁO PHÁP BẤT DIỆT

Thật khó được tái sanh làm người. Nếu bạn chỉ nhận biết tái sinh làm người quả là một đại nhân duyên thì chắc chắn bạn sẽ tận dụng hết đời mình như một con người có được ngày hôm nay. Bởi vì nếu một người bị tái sinh làm con vật, chỉ biết nhai nuốt thì vị đó sẽ đi từ cảnh giới đọa lạc này sang cảnh giới đọa lạc khác còn tệ hại hơn, hoặc từ tình trạng bi đát này đến tình trạng bi đát hơn nữa, cho đến khi vị đó lạc dần đến tầng đá sâu thẳm của trạng thái hiện hữu gọi là địa ngục. Tại sao vậy? Bởi vì khi một người tái sanh làm con vật, vị đó không thể nào tu tập năm học giới được.

Tôi đoan chắc rằng một con sư tử không biết năm học giới là gì; cả loài dê, loài cá hay cá sấu cũng vậy. Chúng chỉ đơn giản biết rằng phải đấu tranh để sống còn; vì mọi sự đều đúng luật theo tính cách luật rừng của chúng. Thế nên bạn phải cố gắng hết sức mình. Giờ đây bạn đã được tái sinh làm người, đừng dể bị đọa xứ ở một cảnh giới thấp kém hơn. Hãy đảm bảo cho sự giải thoát của mình. Nếu bạn không thể nỗ lực chứng đạt Phật quả tối thượng thì ít nhất bạn cũng quyết tâm để trở thành một bậc Nhập Lưu–Tu Đà Hườn. Như vậy bạn mới có thể được cứu thoát khỏi những kiếp tái sanh thấp kém hơn trong những tình huống xấu hơn. Bởi vì nếu bạn trở thành một bậc Tu Đà Hườn (Nhập Lưu) bạn sẽ còn tái sinh nhiều nhất 7 lần nữa và luôn luôn được tái sinh kiếp người chứ không bị bất hạnh tái sinh làm loài vật.

Đạo Phật không phải là tôn giáo vô thần hay hữu thần. Nếu bạn nói đạo Phật là vô thần thì vô thần với ý nghĩa rằng Đức Phật không phải là người sáng thế. Nếu bạn định nghĩa thần như là người tạo ra trời đất thì Đạo Phật là đạo vô thần. Bởi vì trong Đạo Phậl chúng ta không có thần là kẻ sáng tạo. Nếu như bạn nóỉ thần là người tự làm cho mình toàn hảo thì đạo Phật là tôn giáo duy nhất có Thần. Bởi vì trong Đạo Phật chúng ta có Thái Tử Tất Đạt Đa; Người đã tu tập và chuyển hóa chính mình thành Phật. Và Ngài là vị thần thanh tịnh, vì Thần tối cao trong tất cả. Vì lẽ đó chúng ta gọi Đức Phật là Trời của các Trời, Thần của các vị Thần. Vậy thì kẻ sáng tạo là ai? đó là lòng tham ái tạo ra. Sự sáng tạo này đồng nghĩa với khổ đau. Bất cứ lúc nào, việc gì được tạo nên thì đau khổ được tạo nên (cái này sinh thì cái kia sinh). Đạo Phật không sáng tạo mà đoạn trừ sáng tạo và đau khổ. Chúng ta phải đoạn diệt trần gian để đạt Niết Bàn, phẩm hạnh đoạn dỉệt đau khổ và cống hiến hạnh phúc vĩnh cửu. Người ta đạt được Niết Bàn bằng cách nào? Niết Bàn là đoạn tuyệt tham, sân, si. Làm sao chấm dứt được tham ái, sân hận và ngu si? Bằng phương pháp bố thí, trì giới và thiền định, chúng ta đạt được tâm không tham, tâm không sân, tâm không si. Đó là Niết Bàn, hạnh phúc cao vời nhất.

Chúng ta đạt được Niết Bàn bằng cách quán sát tâm. Bởi vì lời dạy của chư Phật là làm trong sạch tâm. Một khi tâm được chuyển hóa ta mới đạt được Niết Bàn. Niết Bàn cũng đạt được nhờ sự nhận thức rằng con ngườì chỉ là năm hợp thể (ngũ uẩn). Khi nào chúng ta nhận thức được con người chỉ là năm hợp thể, và biết từ bỏ năm hợp thể đó ta sẽ đạt được phước lạc vô biên. Tại sao năm hợp thể này phải nên từ bỏ, bởi vì chúng vốn vô thường, khổ, vô ngã. Thân này không phải của ta, cảm thọ (cảm xúc) này không phải của ta, tri giác (cảm nhận) này không phải của ta, rung động (khuynh hướng) này không phải của ta và ý thức này không phải của ta.

Sáng nay vị thông dịch viên của tôi nói rằng anh ta bị con chó cắn nơi tay, nhưng vốn là một Phật tử, khi nhận ra rằng "sắc" này không phải của mình, anh ta hoàn toàn tự tại coi thường vết chó cắn. Nếu anh ấy nói: "sắc này không phải của tôi. Thân xác này không thuộc về tôi. Cái đầu này không thuộc về tôi, tay chân này cũng không phải của tôi". Tại sao sắc uẩn lại không phải của anh ta? Bởi vì thân thể là đất nước, gió, lửa, và khoảng không. Quý vị có thể nói: "Đây là nước của tôi hay đây là đất, hoặc đây là gió, đây là lửa, là khoảng không của tôi" không? Vì vậy người thông dịch vốn biết rõ rằng năm hợp thể này không phải của anh ta, liền từ bỏ 5 hợp thể. Năm hợp thể này cắn năm hợp thể kia. Tại sao lại phiền não về năm hợp thể vốn chúng là vô ngã. Không có chủ nhân và không có tự tính nên năm uẩn này không phiền não năm uẩn kia. Dĩ nhiên anh ta đã đến y sĩ, tôi cho rằng anh ấy đã thực hiện điều đó một cách buông xả, hoan hỷ.

Tuy nhiên nếu chúng ta nhận thức được rằng năm uẩn (năm hợp thể) không phải là của ta thì chúng ta sống một cách an lạc, vô nhiễm không còn sự đau khổ nào.

Một hôm Đức Phật ngỏ lời với Chư Tăng, Ngài dạy: "Này các vị Tỳ Kheo! Các ông có thấy những cành cây, các ông có thấy những nhánh cây và lá cây nơi Đại Tu Viện Savatthi không?" Chư Tăng trả lời: "Thưa có thấy, bạch Đức Thế Tôn". Đức Phật hỏi tiếp: “Giả sử có người phải đốt lửa và góp nhặt những nhánh cây để đốt, các ông có phiền não gì không?". Chư Tăng trả lời: "Thưa không, bạch Đức Thế Tôn! Chúng con không giao động gì nếu các cành, các nhánh cây bị đốt". Đức Phật dạy thêm: "Tương tự như vậy này các Tỳ Kheo? Thân này không phải của các ông. Vì thân này không phải của các ông nên đừng phiền não nếu có vấn đề gì xảy ra cho thân thể mình".

Nếu các uẩn đều vô thường, nếu các uẩn (các tập uẩn) vào ra thì có một sự cải biến liên tục nơi các hợp thể; các hợp thể này trôi chảy liên tục trong thân và ngoài thân từng phút giây do hơi thở, do bay hơi, do trả lời tiếng gọi của thiên nhiên, các hợp thể luôn luôn lá vào nơi thân xác. Vì vậy khi nhận thức được sự trôi chảy liên tục của các hợp thể, ngay cả lúc đó phải nên buông bỏ các hợp thể, và nhờ buông xả ta được giải thoát an lạc. Không những chỉ có xác thân này được từ bỏ mà cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức cũng vậy. Chúng đều vô ngã như những cành nhánh ở ngoài sân giống như chúng ta không chấp thủ bám víu vào việc đốt các cành cây thì chúng ta không bận tâm gì việc đốt cháy thân xác này. Vì rằng nếu chúng ta có bị thiêu sống trên giàn hỏa, chúng ta chỉ hồn nhiên, không xúc động, không bị ràng buộc vào sự việc. Chúng ta bị trừng phạt trên thế gian này là do chúng ta bám víu vào những vấn đề không thuộc về chúng ta. Chúng ta bị trừng phạt vì chúng ta còn bám vào sắc thân gọi là cái của chúng ta. Nếu tôi hỏi: "Bạn đã trả bao nhiêu tiền cho thân xác của mình, bạn sẽ trả lời sao?"

Bạn mua nó không tốn tiền và vì mua thân này không tốn tiền thì làm sao bạn gọi nó là của mình. Bạn đã không mất đồng nào mua nó vì không tốn tiền mua, nên nó không thuộc về bạn và bạn không nên bám víu vào nó. Bạn phải luôn luôn sẵn sàng đánh mất thân này, cái thân mà bạn không phải trả tiền. Hãy nhớ, nếu bạn đánh mất thân này thì lập tức bạn sẽ có một thân khác. Tại sao buồn lo về việc mất thân khi bạn có thể có nhiều thân khác. Đã có bao nhiêu thân xác mà bạn đánh mất trong nhiều kiếp qua? Vô số thân. Nếu số xương cốt của bạn trong nhiều kiếp qua được thu góp lại, chúng sẽ tạo thành một hòn núi to hơn những hòn núi ở Hy Mã Lạp Sơn. Nếu những giọt nước mắt mà bạn đã tuôn ra được gom chứa lại chúng sẽ tạo thành nhiều hơn bốn biển đại dương. Nếu những dòng máu của bạn tuôn ra được gom chứa lại, chúng sẽ tạo thành nhiều hơn bốn biển máu mà bạn đã mất trong nhiều kiếp qua. Vì lẽ đó bạn nên viễn ly hoàn toàn và đừng quan tâm về thân xác.

Không ai có thể sát hại Đức Phật. Vị Phật tối thượng thì không thể bị sát hại. Bạn có thể gom 100 súng máy bắn ra cùng một lượt vào Đức Phật, điều này không có hiệu quả gì cả. Tại sao? Bởi vì một vị Phật tối thượng chỉ tịch diệt do năng lực ý chí của Ngài. Chỉ khi nào Đức Phật quyết định nhập diệt, Ngài sẽ nhập diệt, còn trước đó thì không. Đó là lý do tại sao khi Ma vương, ác ma cám dỗ, tiến gần đến Phật, yêu cầu Ngài nhập diệt, Đức Phật sau khi chứng ngộ đã nói: "Ta sẽ không bao giờ nhập diệt cho đến khi nào khắp thế gian được quy y Phật đạo và các nam nữ đệ tử của Ta quán triệt Giáo Pháp một cách thông suốt từ đầu đến cuối thì lúc đó và chỉ lúc đó ta mới nhập diệt”.

Ma vương là một kẻ rất quỷ quyệt. Hắn vốn không thích Đức Phật, bởi vì hắn muốn là kẻ thống trị thế gian này. Ma Vương là ai? Hắn là Thiên ma, vị thần của sáu giác quan. Hắn muốn mọi người đều dưới quyền lực cai trị của mình. Đức Phật vẫn nỗ lực cứu vớt mọi người thoát khỏi nanh vuốt của hắn và vì vậy đã có một cuộc so tài bất hạnh. Ma Vương sẽ rất vui vẻ nếu Đức Phật tịch diệt.

Năm Đức Phật 80 tuổi, Ma vương lại đến một lần nữa và nhắc Đức Phật về lời hứa của Ngài dưới cội Bồ đề trước kia. Đức Phật trả lời: "Lành thay Ma Vương? Vui lên đi, ta sẽ tịch diệt trong sáu tháng nữa kể từ đây”. Ma Vương trả lời: “Thưa Ngài! Ngài đã nói với tôi rằng khi nào các đệ tử của Ngài liễu ngộ toàn bộ Phật Pháp Ngài sẽ nhập diệt. Giờ đây tất cả đệ tử đã thấm nhập Giáo Pháp, xin Ngài giữ lời hứa mà Ngài đã nói với tôi dưới cội Bồ Đề. Xin Ngài hãy nhập diệt". Đức Phật trả lởi: "Hãy vui lên Ma Vương! Ta sẽ nhập diệt sau ba tháng nữa". Và khi Đức Phật tuyên cáo điều này, trái đất rung động nhiệm mầu. Đúng ba tháng sau Đức Phật nhập diệt. Ngài đã giữ lời hứa. Đức Phật biết bằng thần lực như ý túc, ngài nhập diệt không phải do thức ăn hay vật gì. Đó là năng lực ý chí của Ngài. Ngài phải nhập diệt vì Ngài đã quyết định nhập diệt chứ không ai có thể làm cho Ngài phải nhập diệt, ngoại trừ chính Ngài. Ngài nhập diệt bằng cách nào? Ngài nhập Thiền–xuất nhập Thiền và đi sâu vào Tứ thiền và rồi Ngài tự mình tịch diệt.

Có một câu hỏi: "Nếu Đức Phật là một con người, tại sao Ngài lại hành động như một vị thần?". Ngài là vị thần vì Ngài đã hành động như một vị thần.

Thế còn Niết Bàn là gì? Niết Bàn là dập tắt ngọn lửa tham, là trạng thái tuyệt đối tươi mát, nơi đó tuyệt đối không có lửa. Vì vậy khi ta đạt được Niết Bàn, không có gì bị hủy diệt cả, ngoại trừ những ngọn lửa, nghĩa là lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa buồn rầu, kêu ca, khổ đau và tuyệt vọng. Bởi vì sự sống không khác gì hơn là sự bừng cháy. Người nào thích sống, thích cháy liên tục, điều đó có nghĩa là vị đó thích sống trong địa ngục vĩnh cửu. Niết Bàn là giải thoát ra khỏi ngọn lửa và thoát ly mọi địa ngục mãi mãi. Vì vậy Niết Bàn là hạnh phúc tối thượng.

Niết Bàn không phải hư vô, hủy diệt. Niết Bàn là thực tại, Niết Bàn là thực tại tối thượng của chân lý bất biến. Niết Bàn là ánh sáng. Thế gian là bóng tối. Nếu có ai yêu cầu bạn mô tả về đường (chất ngọt) thì bạn sẽ trả lời sao? Đường màu trắng và nếm thì ngọt. Nhưng nếu bạn đặt một chút đường trên đầu lưỡi của bạn, bạn sẽ hiểu tất cả về đường; điều này thực tế hơn bất cứ định nghĩa nào về đường. Cách tương tự chúng ta có thể mô tả về Niết Bàn, nhưng nó phải được nếm trước khi bạn có thể hiểu một cách đúng đắn nó là gì. Giống như nếm đường, chúng ta phải chứng nghiệm Niết Bàn. Ngôn ngữ hạn chế không thể nào giải thích được Niết Bàn vốn vô tận và đòi hỏi một ngôn ngữ quảng bác hơn. Niết Bàn là hủy diệt ngũ uẩn (5 hợp thể) vốn là không. Đồng thời vắng lặng cái không . Chân lý thì trường tồn chứ không không phải hư vô, không có gì.

Đến đây tôi xin nói qua về thân giáo và sự chuyển biến tâm thức của mình. Nghệ thuật thuyết giảng là giảng thuyết những gì bạn thực hành. Và hãy thực hành những gì bạn giảng thuyết. Khi một Giảng sư thuyết Pháp như vậy, thính chúng sẽ hưởng ứng và tin tưởng nơi sự thành thật của vị đó Hồi còn ở Mỹ, lúc mớỉ có 8 tuổi tôi thường đi đánh nhau với những đứa trẻ khác và tôi đã thắng. Sau đó tôi khởi ý tưởng muốn trở thành một võ sĩ quyền anh, một người hùng thắng giải, nhưng nay thì tôi đã chuyển ý, mong trở thành một người chiến thắng tinh thần để hàng phục vô minh ngu độn. Lúc còn nhỏ tôi thích vẽ tranh và tranh của tôi cũng được mọi người tán ngưỡng. Thế là tôi muốn mình trở thành nghệ sĩ; nhưng nay thì tôi muốn mình trở thành một nghệ sĩ tâm linh. Bởi vì nghệ thuật làm chủ bản thân mình mới là nghệ thuật vĩ đại và cao quý nhất. Khi tôi còn là thanh niên tôi cũng thường hay chơi vĩ cầm và ước mong mình sẽ là một nhạc sĩ; nhưng nay thì tôi thích mình trở thành một nhạc sĩ tâm linh để hát lên bài trường ca chân lý, đúng như tôi đang thực hiện bây giờ. Bởi vì bài ca chân lý là ca khúc du dương êm dịu nhất của tất cả–bởi vì khi bạn nghe loại nhạc thông thường nơi radio, làn sóng âm thanh phát ra những âm sóng làm khoái cảm màng nhĩ, cho bạn một cảm giác âm thanh đó rồi sóng âm thanh đó lại tắt. Một hạt sóng chạm đến màng tai rồi ngưng tắt. Hạt sóng kế cũng đến và đi. Quả là điên đầu, những tiếng đập liên tục của màng nhĩ do sóng âm thanh phát ra. Bạn có thể tưởng tượng âm nhạc du dương nhất chỉ là những tiếng dập do các sóng thanh phát ra đập vào màng nhĩ chứ không gì khác cả. Vậy tại sao chúng ta lại bận tâm về một chút chuyển động của không khí. Nếu ai đó phân tích âm thanh theo tri kiến vật lý, chắc chắn vị đó sẽ nhàm chán loại âm thanh này. Bởi vì các pháp; nếu nhìn đúng thực tướng của chúng thì đáng ghê tởm và cần loại bỏ. Thế nhưng chỉ có bài ca chân lý mới quả là khúc hát thiên thu bất diệt.

Thật là diễm phúc cho tôi khi từ bỏ được ngành hóa học tầm thường này. Nay tôi mới nhận ra rằng ngành hóa chất này đã bị người ta khai thác, sử dụng hóa chất để chế tạo bom nguyên tử. Tôi vui mừng đã giải nghệ trước khi các loại bom nguyên tử được chế tạo bằng kiến thức hóa học nguy hại.

Thời đó có lần tôi muốn trở thành Bác sĩ nhưng khi làm việc trong phòng thí nghiệm tôi mới chợt nghĩ rằng mình phải giết không ít những con ếch, mèo, chó trong lớp sinh lý khoa học này, vào thời điểm tôi đang nghiên cứu Phật Pháp. Tôi tự nhủ mình có thể là một Phật tử tốt hay là một Bác sĩ; mình không thể nào trở thành cả hai được. Nếu hành động sát hại sinh vật là khởi đầu cho một nghề thì hậu quả của nghề này là gì? Có lẽ đó là sự sát hại chúng sinh hữu tình. Một sự khởi đầu đã tạo nhân xấu, bảo đảm cho quả xấu lúc kết thúc. Vì vậy tôi tự nghĩ nếu khởi đầu cho nghề y là sát hại sinh mạng những con vật nơi phòng thí nghiệm thì mai sau sẽ dẫn đến việc giết hại con người, nghĩa là nếu chúng ta huân tập nghiệp sát, giết hại con vật nhỏ bé hơn, sẽ trưởng thành nghiệp sát giết hại lần lượt những sinh vật cao to nhất trong tất cả chủng loại động vật.

Bây giờ tôi muốn trở thành một bác sĩ Tâm linh nên phải từ bỏ nghề Y sĩ trần tục này. Y sĩ tâm linh cấp thuốc trường sinh cho con người. Khi bom nguyên tử thả xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki, các bác sĩ hối hả chạy đến đó để cấp cứu nạn nhân, nhưng họ đã quá trễ. Bom đã ném xuống rồi, các bác sĩ tầm thường đó làm được gì?

Bác sĩ tâm linh vẫn tin rằng ngừa bệnh vẫn hơn là chữa bệnh. Chúng ta chữa bệnh tham, sân, si. Nếu bệnh tham, sân, si được điều trị thì sẽ không có bom nguyên tử. Và nếu không có bom nguyên tử thì cần gì phải tàn ác xử lý con người. Đó là chứng bệnh tâm thần gây nên sự cố tàn phá và hủy diệt. Nếu chỉ dùng kiến thức y khoa thì sẽ không bao giờ đáp ứng nỗi sự hủy diệt do đầu óc khoa học gây ra. Vậy thì con đường duy nhất mà ta có thể tránh khỏi sụp đổ thế giới bằng cách kết chặt bên nhau giữa khoa học và năm Giới điều Phật Giáo. Nếu năm Giới điều và khoa học đi song song nhau thì thế giới sẽ được cứu nguy khỏi bị tàn phá. Nếu để khoa học độc diễn một mình không có năm Giới điều phụ họa thì chắc chắn thế giới sẽ đi đến chỗ điêu tàn phá sản. Thuốc giải độc duy nhất đối với khoa học hủy diệt là năm Giới điều Phật Giáo. Bởi vì Giới điều không có gì khác hơn là tình thương yêu vô lượng đối với loài người và loài vật.

Nay tôi muốn trở thành chiến sĩ tâm linh giao chiến với mặt trận nội tâm chống lại tham, sân, si chứ không phải là mộl võ sĩ thường tình trên võ đài. Tôi muốn thành một nghệ sĩ tâm linh bằng sự thực hành nghệ thuật chinh phục mình. Tôi muốn là một nhạc sĩ tâm linh trình diễn khúc nhạc chân lý bất diệt như đang thực hành hiện nay. Tôi muốn mình là nhà hóa học tâm linh, phân tích chính con người mình vốn là loài tinh thể phức tạp nhất, bởi vì hiểu được chính mình là hiểu được toàn thế giới. Tôi muốn trở thành bác sĩ tâm linh chữa trị bệnh tâm thần cho nhân loại. Bệnh tham, sân, si đang thiêu đốt toàn thế giới. Đây là những nghiệp vụ cao quý nhất mà tôi đang kỳ vọng. Tôi cũng biết rằng nghề Sa Môn KHẤT SĨ không cho phép ta nói láo, bởi vì tôi rất ghét sử dụng ngôn ngữ không thành thật, nay thì tôi rất hài lòng với nghề Sa Môn sau cùng của tôi. Tôi không cần thí nghiệm gì nữa bất cứ nghề nào khác. Đây đúng là chính nghiệp của tôi. Tôi nhận ra rằng tôi sinh ra là để thuyết giảng Phật Pháp cho các nước Tây phương vốn không hiểu biết gì về Phật Giáo.

Hãy làm cái nghề mà bạn đã huân tập kiếp trước, tôi tin rằng mỗi người đều có một năng khiếu trong một số nghề nghiệp của mình. Ngay như một người hèn kém nhất cũng có đặc khiếu về một số nghề nghiệp của mình nếu vị đó biết được các nghề mà chính mình đã huân tập (nghề đó). Sự phiền muộn mà người ta gặp phải là vì họ luôn luôn chọn lầm nghề, các nghề mà họ chưa từng huân tập–và do đó họ hay bị sai lầm và không có thiện xảo. Chúng ta vẫn thấy những Bác sĩ làm thợ mộc và những thợ mộc lại làm Bác sĩ. Đó là thảm kịch của tính cách con người. Nhưng nếu ai nghiệp dĩ là thợ mộc, hãy thực hành nghề thợ mộc, và những ai nghiệp dĩ là Bác sĩ, hãy theo nghề nghiệp y dược, họ sẽ trở nên rất thiện xảo nơi đường lối chuyên nghiệp của mình. Chúng ta nên cố gắng thực hành nghề nghiệp tương tự mà chúng ta thường thực hành trong quá khứ–thiện nghiệp kiếp xưa. Hãy thực nghiệm cho đến khi bạn thấy được sự thực hành hoàn hảo nhất. Tôi phải thực nghiệm bằng phương pháp tùy thuận cho đến khi tôi khám phá ra các nghề mà tôi đã sản sinh ra trước kia. Bất hạnh thay cho con người họ bám chặt vào cái nghề đầu tiên mà họ chộp được chứ chẳng hề thực nghiệm tìm ra nghề nghiệp nào thuận lợi nhất cho mình. Thế nên họ luôn luôn tồn tại những nghề tầm thường vụng về không bao giờ cất đầu lên nổi. Mọi người đều có thể thiện xảo trong nghiệp vụ nếu vị đó chọn đúng cái thiện nghệ của mình mà đã huân tập trước kia. Hãy nương theo các khuynh hướng trước kia bạn sẽ hoàn thành những điều kỳ diệu dù chỉ cần một ít nỗ lực hoặc không cần. Bạn hãy hình dung một ít hơi nước do pittông đẩy đi cùng chiều, lôi được một đầu máy xe lửa và cả toa xe. Tại sao vậy? Bởi vì hơi nước được đẩy chuyển cùng một chiều, cùng một lúc. Bạn thấy đó, có phải thống nhất là sức mạnh. Tất cả không khí tập trung vào một điểm, nó tạo nên sức mạnh kinh khủng. Định một chút mà chuyển hóa toàn thế giới là vậy.

Hôm nay đã hơn hai ngàn năm trăm năm, có bao nhiêu phật tử trên quả cầu này, và có bao nhiêu người đang thực tập như vậy. Dù là Đức Thế Tôn đã viên tịch song ngài vẫn hóa độ chúng ta những thế kỷ sau này ở Mỹ bằng Pháp bảo của Ngài. Đức Phật vẫn đang chuyển hoá khai thị chúng sanh cho dù Ngài đã tịch diệt từ lâu rồi.

Một sự kiện khá quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát triển của Phật giáo, đó là sự đoàn kết nội bộ Phật Giáo. Bởi đoàn kết là sức mạnh, sức mạnh là tự do giải thoát. Chia rẽ là yếu kém, yếu kém đưa đến nô lệ. Nếu Phật Giáo muốn đứng vững, chúng ta phải đoàn kết. Chúng ta có thể chứng tỏ cho thế giới thấy được một mặt trận đoàn kết thì những bài thuyết pháp của tôi mới có thẩm quyền ở Tây phương. Nếu mọi người Phật tử có thể chứng tỏ một sức mạnh đoàn kết và nếu họ đều hậu thuẫn cho tôi thì khi đến thuyết giảng ở nước Mỹ tôi mới có đủ oai lực để nói chuyện. Vì sao vây? Bởi vì toàn thể Phật tử đứng sau tôi. Ngược lại nếu các Phật tử khởi sự giao chiến với chính mình, thì lúc đó mặt trận đoàn kết ở đâu? Và người Mỹ sẽ nói: "trong khi Ngài đang thuyết giảng về lòng Từ bi thương người thì các Phật tử của Ngài đang tranh chấp ẩu đả lẫn nhau, nghĩa là thế nào? Chính các đệ tử của Ngài không thực hành những điều Ngài giảng dạy, vậy thì tại sao Ngài lại dạy cho chúng tôi?" Thế nên chúng ta hãy là những đệ tử Phật thuần thành sáng suốt chứ không phải danh nghĩa trên lý thuyết. Phật tử ở Singapore đây rất có vẻ rất khao khát khoa học. Nếu họ mong muốn đoàn kết như khát vọng khoa học, tôi dám nói Singapore sẽ thành công hơn nữa trong lĩnh vực khoa học.

Phật tử cần được khuyến khích đọc Tam Tạng Kinh. Bởi vì chúng ta không sợ kiến thức, chúng ta cảm nhận rằng một người càng có nhiều kiến thức thì càng thuận lợi cho mình. Vì vậy chúng ta nên khuyến khích Phật tử không những chỉ đọc Tam Tạng kinh điển của mình thôi mà còn đọc ngay cả Kinh sách của Tôn giáo khác nữa. Tại sao? Bởi vì một người chỉ biết một tôn giáo thôi, thì coi như không biết gì. Chúng ta chỉ có thể đánh giá tôn giáo của mình bằng cách so sánh tôn giáo của mình với những tôn giáo bạn. Cũng như chúng ta chỉ có thể đánh giá chiều cao của một người khổng lồ bằng cách đặt một chú lùn kế bên. Lúc đó bạn mới nhận ra sự khác biệt rõ ràng. Bạn có thể đánh giá tôn giáo của mình là Phật Giáo với vẻ đồ sộ hùng tráng bằng cách đặt cạnh bên tôn giáo khác nhỏ nhoi tầm thường. Lúc đó chúng ta mới nhận thức được vẻ đẹp chân thực của Phật Giáo khi so sánh với các tôn giáo khác.

Về phần tôi, khi tôi gởi ba gói sách Phật Giáo về cho anh tôi–một linh mục Thiên Chúa La Mã để cảm hóa anh tôi theo Phật Đạo. Anh tôi liền gởi cho tôi một lá thư với lời lẽ như sau: Em Salvator yêu mến (tên thánh của tôi trước kia), anh đã nhận được ba gói sách Phật Giáo của em, nhưng vì thời tiết bên ngoài quá lạnh và vì không có củi trong nhà, anh đã kịp thời ném ba gói sách Phật của em vào lò sưởi rồi, và nhờ vậy căn phòng lại ấm ra". Đó quả là hơi nóng quá đắt tiền!. Tôi liền trả lời: "Anh Raphael kính quý! Nếu em biết anh cần dùng củi cho lò sưởi thay vì chân lý thì em đã gởi tặng cả thân xác của em cho lò sưởi của anh chứ không bao giờ gởi ba cuốn sách Phật mà anh đã cuồng tín gởi vào lửa". Bởi vì người nào đó ném những cuốn Kinh Phật vào lửa, vị đó phạm tội ác nghiêm trọng, vì tôi không tặng những cuốn Kinh Phật cho lửa, tôi đã gởi cho anh tôi. Nếu anh ấy không cần những cuốn sách đó, có thể hoàn gởi lại qua đường bưu điện. Do vì đưa quyển sách Phật của tôi vào lửa, quyển sách đã bị đặt sai chỗ. Vả lại, tôi có địa chỉ, nếu không muốn thì gởi trả lại cho tôi. Anh tôi ném vào lửa, coi như quyển sách bị ăn cắp.

Lúc còn đang học ở Đại học Columbia một trong những chủ đề của tôi là sinh vật học. Tôi đã hỏi vị Giáo Sư sinh vật xem ông ta tin có linh hồn không. Ông Giáo Sư trả lời: “Lập đi lập lại nhiều lần mổ xẻ sinh vật; lập đi lập lại nhiều lần, tôi đã tìm kiếm linh hồn trong những con vật, nhưng cho đến nay tôi vẫn chưa bao giờ có thể đặt được linh hồn trên bàn mổ thí nghiệm để quán sát và thực nghiệm. Tôi không bao giờ tin có linh hồn".

Khi Laplace–nhà toán học vĩ đại người Pháp viết một tuyệt tác đề tài: "Cơ chế thiên thể" cấu trúc cõi Trời, ông gởi quyển sách cho Napoleon. Vị tướng Napoleon cũng là một nhà toán học vĩ đại, ông có thể đánh giá nhiều công thức toán học. Khi Napoleon đọc xong quyển sách “cơ chế thiên thể", ông trả quyển sách lại cho tác giả Laplace và nói: "Ông Laplace! Quyển sách này của ông rất tuyệt nhưng trong sách còn có một khuyết điểm là toàn bộ quyển sách ông đã không hề đề cập đến chữ nào về Thượng Đế". Vì vậy Laplace đáp lại: "tập sách của tôi hoàn toàn đầy đủ, toàn hảo, không cần chữ Thượng Đế, bởi vì toán học của tôi toàn hảo trong chính nó không cần đến chữ Thượng đế”. Từ đó trở đi khoa học đồng ý rằng không có Thượng đế và không có linh hồn.

Phật Giáo là khoa học cao siêu nhất đồng ý với khoa học vật lý khi nói rằng không có Thượng đế. Không có Thượng đế sáng tạo và không có linh hồn bất diệt thường hằng. Trong thế giới mọi sự vật đều ở trạng thái động, không có gì tịnh cả. Mọi sự vật đều là sức mạnh năng lượng. Không có vật chất. Vật chất chỉ là năng lượng cô đọng. Chúng ta không là gì cả mà chỉ là một điện lực. Bạn có thể nào nói chùm điện lực của bạn là cá nhân (riêng tư) không? bạn không thể nào nói như vậy được. Có ai đã từng nghe điện lực cá nhân bao giờ? Điều đó không bao giờ có được. Tất cả điện lực đều là vô ngã, vậy thì ai đang thuyết Pháp đây? Một chùm điện lực thuyết Pháp cho một chùm điện lực nghe. Vì vậy không nên có một xúc động nào. Vị đó không nên bực tức khi nói chuyện. Vị đó hoàn toàn hỷ xả dù đang ở một mình nơi sa mạc. Khi tôi thuyết Pháp, tôi hư vô hóa với thính chúng rằng tâm mình đây là thính chúng. Thính chúng là gì? Là năm uẩn. Vậy năm uẩn này là gì? Chúng gồm năm hợp thể: sắc thân, cảm giác, cảm nhận, rung động, và ý thức. Năm uẩn đều vô thường, khổ và vô ngã. Hãy để thính chúng không có mặt và tôi không có mặt. Tại sao phiền não? Ai tức giận? Ta có thể nói chuyện bằng sự an tịnh, trầm mặc. Vị đó không thể suy tính kỹ càng những gì mình định nói. Vị đó có thể làm hài lòng thính chúng mà không nổi cơn tức giận. Nếu quả như tôi nổi cơn bực tức thì lúc đó thính chúng cũng sẽ tức giận theo do luật rung động đồng tính trong vật lý. Và như vậy mục tiêu sẽ không bao giờ thành tựu. Lẽ ra tôi phải bỏ cuộc thuyết Pháp nếu như tôi nổi cơn tức giận dù biết chân lý sẽ luôn luôn cứu nguy chúng ta trong mỗi và bất cứ tình huống nào.

Một vấn đề cũng cần nêu lên về kiến thức của hàng Tu sĩ Phật Giáo chúng ta. Các linh mục đạo Thiên Chúa dường như được người ta tôn trọng hơn bởi vì họ đều tốt nghiệp đại học trước khi trở thành linh mục. Vì vậy tôi dám đoan chắc rằng ngay trong Phật Giáo, nếu tất cả Tăng ni nên tốt nghiệp đại học rồi mới đi tu, theo tôi nghĩ sẽ thuận lợi rất nhiều trong công tác hoằng Pháp. Bởi vì nếu không có trình độ văn hóa đại học thì một nhà Sư không thể nào thuyết giảng ở nước ngoài được, nếu không có kiến thức khoa học, kiến thức về sinh ngữ, không có cơ sở về khoa học, ta không thể nào trình bày tôn gỉáo một cách đúng đắn đối với nhân dân Mỹ có trí thức. Một thanh niên cần phải vào đại học trước khi xuất gia thì bấy giờ giáo hội Tăng Già mới được mọi người ngưỡng mộ. Lấy trường hợp của Thái Tử Tất Đạt Đa, trước tiên Ngài đã hoàn tất học vấn kiệt xuất rồi mới đi tu. Chúng ta phải gieo nhân trước rồi mới được quả sau. Trước tiên, nhân là kiến thức cho ta năng lực và sau đó có năng lực ta mới cống hiến tốt đẹp cho cuộc đời.

Những gì mà tôi thuyết giảng từ trước đến giờ chỉ là phần giới thiệu của bài Pháp hôm nay. Tôi muốn trình bày đại Kinh khuyến hóa La Hầu La.

Một thời Đức Phật ở thành Xá Vệ, Đức Phật đắp y xung quanh Ngài, tay cầm bình bát ra đi hóa duyên, con trai của Ngài là La Hầu La cũng ôm bình bát đi theo Ngài. Đức Phật biết La Hầu La đi phía sau, Ngài không quay đầu lại, Đức Phật dạy: "Này La Hầu La tất cả vật thể sắc thân từ quá khứ, hiện tại, tương lai, bên trong hay bên ngoài, cao hay thấp đều mang tính chất vô thường. Cái này không phải là ta, cái này không phải của ta. Đây không phải là bản ngã của ta". La Hầu La hỏi: "Bạch Đức Thế Tôn! Chỉ có sắc thân thôi sao?" Đức Phật trả lời: "Không phải chỉ có xác thân là vậy mà cảm giác, tri giác, tư duy và ý thức cũng vậy cả. Chúng đều là vô thường. Chúng không phải là ta, không phải là bản ngã của ta". Vì thế La Hầu La tiến đến gốc cây, bởi vì Ngài cảm nhận rằng không cần phải đi bát ngày hôm đó vì đã tiếp thu được bài Pháp cao quý từ Kim Khẩu của Đức Thế Tôn, La Hầu La đã nhủ thầm: "ta đã thọ hưởng món ăn tinh thần từ Kim Khẩu của Đức Phật, ta sẽ tiêu hóa hết Pháp thực đó và rồi sẽ đến ngồi dưới cội Bồ Đề, cố gắng quán triệt những lời dạy của Đức Phật". Trong khi La Hầu La đang tỉnh tọa dưới gốc Bồ Đề, Tôn giả Xá Lợi Phất liền ngỏ lời: "Này La Hầu La hãy tập trung vào hơi thở, phát huy chánh niệm khi thở vô thở ra, vì Pháp này nếu được phát triển và huân tập sẽ đem đến sung mãn và vô số lợi lạc". La Hầu La tiếp tục thiền định đến nữa đêm rồi La Hầu La đến vấn thỉnh Đức Phật: "Làm thế nào để tập trung vào hơi thở ra thở vô. Cách thiền quán vào hơi thở là gì?". Đức Phật ban cho những lời chỉ dạy như sau: "Này La Hầu La! Mọi cá thể đều là sắc, có yếu tố đất, loại yếu tố đất thuộc cá thể hay yếu tố đất bên ngoài. Đất của cá thể là gì? Yếu tố đất cá thể gồm có 20 loại: tóc trên đầu, tóc trên thân, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột non, ruột già, bao tử, phân, não. Tất cả bộ phận này cũng tạo nên yếu tố đất thuộc về sắc thân. Đất có hai loại: yếu tố đất bên trong và yếu tố đất bên ngoài. Hãy nhớ rằng đất là đất, dù bên trong hay bên ngoài đều không khác nhau. Bởi vì nếu bạn muốn biết toàn bộ yếu tố đất trên toàn thế giới, bạn phải tổng cộng yếu tố đất cá thể với yếu tố đất bên ngoài để rồi bạn mới có được tổng số toàn bộ yếu tố đất trên toàn thế giới. Hiểu rõ điều này bạn phải tự nhủ: "Thân này không thuộc về ta, ta không phải thân này. Thân này không phải là bản ngã của ta". Quán tưởng yếu tố đất bằng cách này bạn sẽ nhàm chán và ghê tởm yếu tố đất khi bạn nhận ra rằng nó chỉ là đất. Xưa kia tôi đã bị trói buộc vào đất, tôi không để mình bị trói buộc nữa trong quả đất đã gây cho tôi quá nhiều phiền não từ nhiều kiếp xa xưa.

Bây giờ chúng ta nói đến yếu tố nước. Này La Hầu La, yếu tố nước có hai loại: nước thuộc cá thể và nước bên ngoài nhưng không hề khác nhau giữa 2 yếu tố nước đó. Yếu tố nước cá thể là gì? Có mười hai loại: mật, đàm, máu, mủ, mồ hôi, mỡ đặc, nước mắt, nước nhờn, nước miếng, nước mũi, nhớt, nước tiểu. Nếu bạn muốn biết tổng số nước trong toàn vũ trụ, bạn phải cộng thêm yếu tố nước cá thể vào yếu tố nước bên ngoài thì lúc đó bạn mới có con số tổng kết tất cả. Tri kiến được điều này đúng như nó là, bạn phải nhận thức là yếu tố nước cá thể bên trong không phải là ta, nó không thuộc về ta, không phải là bản ngã của ta.

Khi giác ngộ về sự kiện này bạn mới ghê tởm yếu tố nước mà bạn không còn ràng buộc luyến ái nó nữa. Bởi vì bạn đã nhận thức được yếu tố nước là yếu tố nước, làm sao nó có thể là của ta được. Nó không khác yếu tố nước bên ngoài. Khi bạn thấy một cốc nước, bạn không được nói nước của tôi. Thật ra nó đến từ những đám mây và ta không nên chấp thủ nó và gọi nó là mình. Kế đến là yếu tố không khí. Đức Phật dạy: "Có hai loại yếu tố khí: yếu tố nội khí và ngoại khí". Yếu tố nội khí là gì? Là không khí nhập vào. Yếu tố ngoại khí là gì? Là không khí đi ra. Ai có óc thông minh sẽ biết rằng khí là khí dù nó ở bên trong hay bên ngoài. Chúng ta thở bao nhiêu lần, hai lá phổi giống như ống bể, chúng phồng ra và xẹp lại, vì vậy không khí thì luôn luôn ra vào, chúng ta không thể nói: đây là không khí của tôi. Làm sao nó lại là của chúng ta được? Nhận biết rất rõ rằng tổng số toàn bộ không khí là không khí bên ngoài cộng với không khí bên trong, chúng ta trở nên khiếp sợ với không khí cá thể và nói: "khí này không thuộc về tôi, khí này không phải là tôi, khí này không phải bản ngã của tôi–và trên phương diện tinh thần, chúng ta từ bỏ nó".

Rồi đến yếu tố lửa. Yếu tố có hai loại: lửa cá thể và lửa bên ngoài. Yếu tố lửa bên trong như là lửa vốn phát sinh khi thức ăn được tiêu hóa (giờ đây sự tiêu hóa đang tiến hành và dĩ nhiên nhiệt nóng ở mức độ cao và có sức nóng của tâm linh, cũng vậy sức nóng của tư tưởng). Tất cả lửa cá thể cần được thêm lửa ở bên ngoài vào thành một tổng số toàn bộ lửa trên thế giớì. Lửa là lửa dù bên trong hay bên ngoài. Nó hoàn toàn vô ngã. Đây không phải là ta, cái này không thuộc của ta, cái này không phải là bản ngã của ta. Biết rõ điều này ta trở nên nhàm chán lửa cá thể và bố thí tất cả, ta từ bỏ nó về phương diện tinh thần.

Tương tự, yếu tố khoảng trống có hai loại: nội không và ngoại không. Nội không là khoảng trống rỗng của bao tử, khoảng trống của ruột già, ruột non, thực quản và khoảng trống của lỗ mũi, lỗ tai... biết chắc rằng khoảng không là khoảng không dù nó ở trong hay ở ngoài và nếu muốn biết được tổng số toàn bộ khoảng không trên thế giới, chúng ta phải thêm nội không vào ngoại không. Ta phải khiếp hồn với khoảng không gian đó; vị đó phải nhận ra rằng: “khoảng trống không phải là ta, không thuộc của ta, khoảng trống này không phải là bản ngã của ta trên phương diện tinh thần", quán như vậy vị đó từ bỏ nó.

Đức Phật dạy thêm: Này La Hầu La, hãy trưởng thành như đất này, bởi vì nếu con tu tập được thì không có ấn tượng giác quan nào dù thoải mái hay khó chịu có thể trói buộc được tâm thức con. Giả sử như con ném phân, hay nước tiểu, hay máu ra đất, đất có nổi giận không. Đất không bao giờ tức giận. Tương tự như vậy, Đức Phật dạy tiếp La Hầu La: Con là đất, vậy hãy phát triển tâm mình giống như đất, hãy dửng dưng bất động như đất, nếu có người nào lăng nhục, khiển trách hoặc khen tặng con; dù được hay mất con đừng vì đó mà kiêu hãnh hay tuyệt vọng. Nhưng con phải duy trì tinh thần vô tư công bằng con sẽ không bao giờ bị đau khổ. Nhờ tu tập pháp khinh an, buông xả con mới duy trì an hưởng hạnh phúc mãi mãi.

Hãy trưởng thành như nước này La Hầu La, vì con là nước. Nước có tức giận không nếu con ném hoa sen, hoa hồng hay hoa lài vào nước? Nước có phấn khởi không? giả như con tưới dầu thơm vào nước, nước có vui sướng không? Giả như con ói mửa vào nước, nước có tức giận không? Tương tự như vậy, con là nước thì phải trui rèn tâm hạnh ly dục, vô tư, tu tập hạnh an lạc, xả bỏ. Dù khen chê, con đừng tuyệt vọng hay kiêu căng, nhưng con hãy giữ tâm bình thường, có vậy con sẽ không bao giờ đau khổ dù có nhiều bất trắc xảy ra. Đây là trạng thái của bậc Alahán, hoàn toàn tự tại trong mọi tình huống.

Này La Hầu La con hãy trưởng thành như không khí. Giả như con tưới dầu thơm vào không khí, không khí vẫn không vui sướng. Giả như con ném phân, máu hay nước tiểu vào không khí, không khí vẫn không tức giận. Hãy từ bỏ không khí. Nếu con trưởng thành như không khí, dù được mất, dù khen chê con sẽ không bao giờ kiêu căng hay tuyệt vọng.

Này La Hầu La con hãy trưởng thành như lửa, bởi vì con là lửa. Giả như con ném phân, máu, nước tiểu vào lửa, lửa vẫn không nổi giận. Giả như con ném hoa sen, hoa hồng, hoa lài vào lửa, lửa vẫn không sung sướng. Tương tự, nếu con khinh an tự tại như lửa thì con sẽ không bao giờ thất vọng hay khổ đau.

Này La Hầu La con hãy trưởng thành như không gian, bởi vì con là không gian. Không gian ở đâu? Con không thể nắm bắt không gian bằng tay mình. Cũng vậy, con đừng để bị dính mắc vào những lời xấu ác hay lời sĩ nhục. Chúng ta đừng chấp thủ vào những lời khen chê của nhân loại. Trong thế gian này không có ai luôn luôn được khen hay luôn luôn bị chê. Nếu một người nói ít, vị đó bị chê. Nếu vị đó nói nhiều, vị đó bị chê. Nếu vị đó nói vừa phải, cũng bị chê. Vì vậy trên trần gian này không có ai có thể làm hài lòng mọi người. Ngay Đức Như Lai cũng không bao giờ làm mãn nguyện hết thế gian được huống là con. Chúng ta phải hoàn toàn tự tại trước mọi phê phán của thế gian như là không gian vốn chẳng bao giờ dao động trước bất cứ sự khiêu khích hay ca ngợi nào. Nếu chúng ta nỗ lực tu tập tâm khinh an tối thượng, chúng ta sẽ mãi mãi được phúc lạc và đây là tâm thái thù thắng nhất.

Đức Phật dạy: này La Hầu La, con hãy trưởng thành trong tâm từ, nếu con giữ phạm hạnh này, mọi ác hiểm sẽ biến mất. Con hãy trưởng thành trong tâm Bi, nếu con được phạm hạnh này, mọi cơn bực tức sẽ tan biến. Hãy trưởng thành trong tâm Hỷ đối với hạnh phúc của người khác. Này La Hầu La nếu con giữ được phạm hạnh này, mọi thù hận sẽ tiêu tan. Hãy trưởng thành trong tâm Xả. Này La Hầu La nếu con thực hiện được vậy, mọi mâu thuẫn sẽ trôi qua. Hãy phát triển niệm tưởng về sự uế tạp của thân xác. Này La Hầu La nếu con thực hiện được như vậy, tham dục sẽ biến mất. Đây là quán đề mục tham thiền nhận ra rằng thân là ghê tởm. Nếu chúng ta từ bỏ thân xác, ta sẽ thoát khỏi dục vọng. Đó là lý do mà ta được yêu cầu thiền định tại nghĩa địa–nơi mà ngày xưa các thây chết được bày ra ngoài trời. Hãy trưởng thành trong tri giác về tính chất ngắn ngủi của vạn pháp. Này La Hầu La nếu con thực hiện được điều này thì lòng tự hào về bản ngã sẽ tan biến. Nếu con luôn luôn thiền quán về bản tính vô thường của các pháp, ý niệm về TA sẽ tắt lịm. Con sẽ không bao giờ nghĩ đến tôi, của tôi, bản ngã của tôi. Nếu con nhận thức được rằng vạn pháp đều trôi chảy, biến đổi từng khoảnh khắc, vậy thì cái Ta ở đâu? Không thể nào có cái ta thường hằng trong niệm tưởng đang trôi chảy. Niệm tưởng thì luôn luôn thoáng qua vô thường. Vậy bản ngã ở đâu? Nếu bản ngã có đó thì bản ngã cũng bay qua mất.

Hãy trưởng thành trong chánh niệm vốn xuất phát từ hơi thở bình thường. Này La Hầu La nếu phẩm hạnh được phát triển và huân tập, đưa đến thành quả phong phú và những điển hình của sự lợi lạc thù thắng.

Nhờ tu tập pháp sổ tức quán, con sẽ hiểu và có khả năng tính đúng thời điểm mà con định an nhập Niết Bàn. Có một câu chuyện của một vị La Hán, vốn tu tập thiền quán sổ tức, đồng thời biết rõ chính xác thời điểm mà vị A La Hán sắp tịch diệt. Vị A La Hán nói với các Tỳ Kheo: xin hoan hỷ theo dõi tôi, vì tôi sẽ nhập diệt trong lúc đang đứng. Quý Sư đã từng trông thấy người ta chứng nhập Niết Bàn trong khi đang ngồi, đang nằm; tôi sẽ chứng tỏ cho quý Sư thấy bằng cách nào tôi chứng đạt Niết Bàn trong khi đang đứng. Vị A La Hán nhìn ánh trăng, Ngài biết mình sẽ nhập diệt trong một thời gian ngắn nữa. Ngài khởi sự bách bộ lên xuống. Ngài nói: "Tôi sẽ thiền hành từ đây cho đến cuối kia. Tôi sẽ lên xuống một lần nữa, chừng nào chân tôi bước đến đường biên cuối, tôi sẽ nhập Niết Bàn". Chư Tỳ Kheo canh chừng khi vị A La Hán kinh hành lên xuống, lại đi lên, ngay khi Ngài chạm chân đến đường biên cuối, Ngài hoát nhiên chứng đạt Niết Bàn.

Với chánh niệm trong hơi thở được huân tập và phát triển như vậy, người ta sẽ biết chính xác giờ phút lâm chung của mình. Bởi vì nhờ biết được niệm tưởng sau cùng. Dĩ nhiên niệm tưởng sau cùng là niệm tưởng tốt chứ không thể là niệm tưởng xấu.

Trong khi tỉnh giác hơi thở sau cùng, vị ấy giữ tâm mình nhiếp trụ Niết Bàn. Nếu đạt được thiện quả này, vị đó sẽ không bao giờ tái sinh nữa. Đó là niệm tưởng sau cùng của mình. Khi vị ấy sắp lâm chung, đương nhiên vị đó trụ tâm vào thiện niệm sau cùng và khi viên tịch với thiện mệm sau cùng, vị ấy sẽ tái sinh ở cảnh giới tốt đẹp nếu vị ấy không đạt chứng Niết Bàn.

Phật Giáo là tôn giáo duy nhất đề cập đến Niết Bàn và con đường đưa Niết Bàn. Các tôn giáo khác không biết Niết Bàn là gì và càng không biết hơn con đường dẫn đến Niết Bàn. Cõi trời thì không thường hằng. Một hữu tình có thể đọa xuống từ cõi trời, nhưng chưa hề có ai đọa lạc từ cõi Niết Bàn. Điều đó không thể có được, Niết Bàn là tâm thái chớ không một nơi nào. Chỉ có Phật Giáo mới có Niết Bàn và con đường tu tập đi đến Niết Bàn.

Đức Thế Tôn là người đã khám phá ra Niết Bàn và con đường tu tập đi đến Niết Bàn. Thật là may mắn cho chúng ta, được kính lễ thờ phụng người phán ra chân lý, chúng ta bái ngưỡng Chánh Đạo. Thế nên điều duy nhất còn lại cho chúng ta phải thực hỉện đó là bước đi dũng mãnh trên đạo lộ và đạt chứng Niết Bàn–Chân lý mà Ngài đã chứng thực và khai thị cho chúng ta.

Do quả phước vô lượng mà quý vị đạt được hôm nay, cầu mong vị thông dịch viên của tôi, người đã tận tụy làm việc chuyển ngữ bài pháp–cầu mong thiện hữu không có một cảm nghiệm nào khác khi bị chó cắn lần nữa. Cầu mong thiện hữu tránh khỏi những con chó dữ vật chất cũng như tinh thần.

Những con chó tâm thức là tham, sân, si. Cầu mong quý vị giải thoát mọi phiền não đau khổ vể hai phương diện vật chất và tinh thần. Cầu mong tất cả thính chúng sớm đạt đươc Niết Bàn an vui tối thượng.




 

LÀM SAO ĐỂ CÓ HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI

Tôi có viết bài báo tựa đề: "DẬP TẮT CHIẾN TRANH VĨNH VIỄN", điều này đồng nghĩa với "hòa bình thế giới". Trong bài báo tôi đề xướng một giải pháp duy nhất để ngăn ngừa chiến tranh: Đó là phương cách dập tắt nguyên nhân gây ra chiến tranh. Tôi đã kham nhẫn tìm cách giải trừ vũ khí bên ngoài thế giới bằng cách giải trừ vũ khí ngay bên trong thân phận con người. Tôi đã thấy rõ sự kiện muốn dập tắt chiến tranh thì phải tận diệt ngay bên trong gốc rễ của nó. Về phương diện y học, tôi đã từng chẩn đoán nhiều ca và đưa ra toa thuốc chữa trị. Lòng tham là cội nguồn của chiến tranh, chiến tranh khắp nơi trên thế giới. Làm thế nào để đoạn diệt lòng tham tức là hoàn thành sự giải trừ quân sự trên khắp thế giới. Có nhiều phương án kinh tế quy mô mong ổn định chiến tranh khắp nơi đã được đưa ra ánh sáng. Nhưng các giải pháp trên đều vô ích vì họ không đoạn diệt được nguyên nhân của chiến tranh, chẳng khác nào chỉ sử dụng thuốc ngoài da chứ không tẩy sạch được máu mũ, tiêu trừ tận gốc được tìm thấy bên trong cơ thể–tâm ý con người chứ không phải bên ngoài. Hậu quả là gì? Điều ác vẫn tồn tại, chừng nào mà gốc rễ của nó vẫn còn ẩn tàng chưa đoạn diệt. Dù một vài ứng dụng về giải pháp kinh tế có vẻ thành công, tạm thời ngăn chặn được những tranh chấp quốc tế; song tinh thần gây chiến của con người vẫn khẳng định chính nó phát sinh thứ nội chiến như một số các nước trên thế giới hiện nay.

Nếu các cuộc nội chiến có được ngăn chặn đi nữa thì các chứng bệnh tranh giành vẫn sôi sục âm ĩ trong nanh vuốt của gia đình. Nơi đó cha mẹ tranh với con cái; con cái chống đối cha mẹ; vợ chồng cãi lộn, anh em, chị em xung đột lẫn nhau. Và dù cho những phiền não bên ngoài chấm dứt nhưng tâm ý đấu tranh nơi con người vẫn làm cho người ta nổi loạn chính mình. Cho đến khi chính mình phải đắm lệ trong những tình huống khổ đau tuyệt vọng. Tại sao? Chỉ vì lòng tham của vị đó vẫn còn âm ĩ bên trong.

Vì vậy chúng ta phải diệt trừ tận gốc rễ chiến tranh mới đem lạì hòa bình thực sự.Chúng ta phải quét sạch những nguyên nhân cơ bản đưa đến chiến tranh, giống như ngôn ngữ trong Tân ước: DỤC VỌNG là TRẬN CHIẾN trong anh em chúng ta.

Trong bài báo đã nói, tôi tìm cách trình bày cho họ thấy rằng làm sao giải trừ được khí giới trong mỗi và mọi người mới dẫn đến sự giải trừ quân bị thực sự làm cho thế giới được hòa bình tịnh lạc.

Tôi muốn nhấn mạnh "việc giải trừ quân sự toàn cầu". Nghĩa là kết thúc toàn bộ việc quân binh, tức là tước bỏ vũ khí tham ái của mỗi người. Chúng ta hãy từ giã vũ khí chiến tranh bằng con người đã thực sự giã từ vũ khí. Đó là những con người toàn thiện. Chúng ta ước mong mỗi người đều trở thành bậc Thánh nhân, như vậy mới thực hiện được hòa bình thế giới lâu dài, và rồi lịch sử sẽ là một lịch sử đổi mới chứ không phải lịch sử bạo tàn của thời kỳ xa xưa, mà chúng ta đã phải chịu đựng thống khổ liên tiếp từ cuộc chiến này đến cuộc chiến khác.

Thấy không có hại gì khi tôi đề cập đến câu nói của Mussolini: "chiến tranh vẫn trường kỳ và hòa bình chỉ là khoảng trống để thư giãn trong cuộc chiến liên tục". Thế tại sao người ta ngưng chiến? Bởi vì họ không thể giao tranh thêm nữa. Họ quá mệt mỏi và vì suy liệt mọi khả năng phương tiện, họ chỉ cần một khoảng trống thời gian để thở, dùng khoảng cách thư giãn này để chuẩn bị cho trận chiến sắp tới. Chừng nào họ cảm thấy có đủ sức lực thì họ lại bắt đầu khai chiến.

Lại nữa, khoái lạc giác quan cũng là nguyên nhân của cuộc chiến tranh, của lòng ích kỷ, tham lam, tranh chấp giữa các vương quốc, các lãnh thổ, gia đình. Khoái lạc giác quan đưa đến chiến tranh, thảm sát, tra tấn và điên loạn. Chắc quý vị muốn nghe câu chuyện mà Đức Phật đã nói cách đây 2500 năm về chiến tranh, nguyên nhân và phương pháp chấm dứt?

Đức Phật dạy: Năm uẩn tức là 5 hợp thể khoái lạc giác quan: sắc được cảm nhận bằng mắt; âm thanh được cảm nhận bằng tai; hương khí bằng mũi; mùi vị bằng lưỡi và xúc chạm bằng thân. Tất cá đều có thể cảm thấy khoái lạc và kích thích đam mê. Vì khoái lạc, từ khoái lạc, do khoái lạc, chính khoái lạc và chỉ khoái lạc là nguyên nhân cốt tủy. Thế nên vua mới chinh phạt vua, hàng quý tộc mới tranh chấp với hàng quý tộc, Bà La Môn diệt Bà La Môn, dân trong nước tranh giành vởi nhau. Cha mẹ xung đột với con cái, con cái xung đột với cha mẹ. Anh chị em hơn thua với nhau, bạn bè sừng xỏ với nhau. Họ tận lực hạ nhau bằng những cú đấm, cú đánh, bằng gậy, bằng dao, đi dần đến chỗ tử vong hay thương tích trầm trọng. Đó là những hiểm họa đi theo sau những khoái lạc giác quan ở đây và bây giờ với tất cả những sự cố tạo thành một tổng thể đầy bất trắc: vì khoái lạc, từ khoái lạc, do khoái lạc, chính khoái lạc và chỉ khoái lạc là nguyên nhân.

Kinh Trung Bộ–một trong Tạng Kinh Phật có nói: Mọi sự đều tương ưng, vì khoái lạc mà gươm khiên sẵn sàng ra trận; cung tên và xạ thủ hối hả dàn quân, trong khi tên đao phóng xuyên qua không trung thì gươm giáo vung lên chém đầu kẻ thù đến nỗi xác chồng chất và thương tích chết người. Đây là những hiểm họa đi theo những khoái lạc giác quan, ở đây và bây giờ với tất cả những yếu tố gây nên toàn bộ bất lợi. Tất cả vì khoái lạc, từ khoái lạc, do khoái lạc và chính khoái lạc là nguyên nhân.

Có điều là trên chiến trường, niệm tưởng sau cùng của một chiến sĩ tử vong không thể nào có được. Bởi vì kẻ thù đang cố ý giết anh ta, khi anh ta sắp chết liền khởi một niệm tưởng sân hận, niệm tưởng sau cùng này tác hại cho bản thân anh ta và cho người khác. Anh ta không thể tái sinh trong cảnh giới tốt được. Niệm tưởng sau cùng có ảnh hưởng đến sự tái sinh sắp tới.

Điều gì khiến ta thoát khỏi khoái lạc giác quan. Phải hạn chế và khép chặt vĩnh viễn các thèm khát và khoái khẩu, đây là pháp thoát ly mọi khoái cảm giác quan, nguyên nhân dẫn đến sự giải trừ quân sự khắp nơi và chiến tranh thế giới. Vì vậy con người sống trên toàn cầu phải từ bỏ khoái lạc giác quan, đó cũng là cách làm cho người ta từ bỏ chiến tranh, ổn định hòa bình thế giới.

Phật Giáo là gì? Phật Giáo là tôn giáo của lòng từ bi vô lượng đạt được nhờ sự từ bỏ, không có gì cao cả hơn điều này, từ bỏ cái không thực, chúng ta đạt được thực tại tối thắng của Niết Bàn vô thượng.

Lòng ham muốn đưa đến thù hận. Ham muốn chiếm đoạt đưa đến thù hận; thù hận đưa đến chiến tranh. Bởi vậy nếu dập tắt được thù hận là dập tắt được chiến tranh. Chúng ta phải đoạn diệt lòng tham ưa thích của cải và quyền lực.

Hãy xóa bỏ chiến tranh vĩnh viễn. Hận thù không bao giờ ngăn chặn được hận thù. Quy luật nghìn xưa đều thuần thiện. Khi hận thù không còn đối đáp với hận thù, nó sẽ tự tiêu tan. Chiến tranh chỉ chấm dứt khi nào loài người trên thế gian này từ bỏ binh nghiệp, và chỉ khi nào họ được giáo dục về lòng căm ghét, sự giết hại, mọi sự giết hại ngay cả loài côn trùng bé nhỏ. Thế nên ta cần huấn luyện các thanh thiếu niên phải biết ghét bỏ sự sát hại. Đây là một khuyết điểm của nhiều tôn giáo, không giáo dục lòng từ bi thương cảm đối với vạn hữu sinh linh. Họ nói: hãy yêu thương con người! và ngưng tại đó, không vượt khỏi loài người tức là sinh mạng những loài vật. Lòng từ bi bác ái của họ mới có một phía. Lòng từ bi và bác ái đó chưa phổ cập và nồng nhiệt chân tình.

Người ta buộc phải giết sinh vật vì nó được tạo ra phục vụ cho bữa ăn của con người! Vị đó là người sáng tạo sẵn sàng giúp đỡ, tạo nên những sinh vật để cống hiến cho những sinh vật khác. Vì vậy chúng ta quả là những người được yêu chuộng!

Nếu con người trên thế giới này muốn hoàn thành việc giải trừ vũ khí toàn cầu, trước tiên họ phải tháo bỏ vũ khí ngay trong tâm mình. Nếu tâm thức con người cứ mãi hùng hổ thô bạo với tháỉ độ quân sự thì làm sao tâm thức đó có thể hoàn tất được cuộc giải trừ vũ khí toàn thế giới.

Chính lòng tham mới khiến con người phát biểu: "lãnh thổ này là lãnh thổ của riêng tôi". Chính lòng tham đã khiến người ta coi rẻ mọi đất nước khác, ngoại trừ quê hương xứ sở mình.

Vì vậy chúng ta hãy kêu gọi con người dập tắt lòng tham, họ sẽ yêu quê hương họ một cách công bằng. Khi họ yêu thương mọi quốc gia một cách bình đẳng thì họ còn chiến đấu với ai nữa? Đây là giải pháp đảm bảo cho công cuộc giải trừ quân sự khắp nơi và hòa bình thế giới một cách có hiệu lực.

Từ đâu đưa đến chiến tranh và xung đột giữa quý vị với nhau? Rõ ràng do lòng tham là nguyên nhân gây ra chiến tranh, vì vậy chúng ta hãy giải trừ vũ khí chính mình bằng cách diệt lòng tham "là chiến tranh trong anh em chúng ta" và chúng ta sẽ hưởng được hòa bình cho mỗi cá nhân. Chúng ta hưởng được hòa bình cho mỗi cá nhân sẽ đưa đến hòa bình cho toàn gia đình, đưa đến hòa bình cho toàn quốc gia, đưa đến hòa bình cho toàn thế giới.

Do đó chúng ta hãy tự mình tước bỏ vũ khí, tự đoạn diệt tham ái và hận thù. Chúng ta hãy tiếp dẫn lòng yêu thương và hòa bình vào tâm thức của lớp trẻ. Chúng ta hãy giáo dục thanh thiếu niên biết giữ đạo hạnh. Nếu mọi người được an lạc nội tâm thì toàn thế giới cũng được an lạc và sự giã từ vũ khí khắp nơi sẽ là một thực tế có thể diễn ra trong nháy mắt.

Các quốc gia sở dĩ phải vũ trang là vì nhiều cá nhân đã vũ trang (với lòng tham ái, sân hận). Khi nào những cá nhân trở nên dân sự (không còn trang bị vũ khí hận thù) thì mọi quốc gia trên thế giới sẽ giã từ quân sự. Thông thường người ta hay khiển trách những nhà tổng chỉ huy quân sự; họ cho rằng những nhà tổng chỉ huy là nguyên nhân của chiến tranh nhưng có ai hiểu được những nhà tổng chỉ huy đó là những đầy tớ của chúng ta.

Do ôm ấp hận thù khiến toàn thể quần chúng áp lực những nhà tổng chỉ huy đáng thương đó phải ra tay hành động, họ chỉ là những công cụ của chúng ta. Bởi vì khi toàn dân muốn có chiến tranh thì áp lực tinh thần của toàn dân buộc nhà tổng chỉ huy phải tuyên chiến. Bởi vì quý vị cũng hiểu rõ rằng những làn sóng tư tưởng gây ảnh hưởng đến người khác. Họ không thể bất động mà phải thỏa mãn nguyện vọng của đa số quần chúng cần biểu dương quân sự để bảo vệ Tổ quốc.

Có khi chiến tranh xảy ra không phải do quần chúng mà xuất phát từ những vấn đề khác, có thể là do những nhà công kỹ nghệ, những nhà tài phiệt kinh tế có thể áp lực các nhà lãnh đạo quốc gia ra tay hành động nếu nó tạo thắng lợi về mặt tư bản bất cứ cách nào. Dẫu sao đi nữa thì quần chúng vẫn là những người chịu trách nhiệm đối với vấn đề giải trừ vũ khí khắp nơi. Chúng ta không nên chê trách chính phủ hay những nhà tổng chỉ huy. Chúng ta hãy lên án những người vẫn còn ấm ức với nội tâm đầy tham ác hận thù. Bất cứ lúc nào ta còn nội chiến với chính mình thì lúc đó chúng ta đang góp phần cho chiến tranh. Chỉ khi nào mỗi người được an lạc bên trong, vị đó mới dám thành thật nói rằng mình không chịu trách nhiệm về chiến tranh, mỗi niệm tưởng sân si, thù hận đang tăng dần nhiên liệu khơi động chiến tranh sau cùng, thật tàn khốc.

Giờ xét đến từ "lòng yêu nước". Từ này chịu trách nhiệm sát hại hơn bất cứ từ nào. Báo chí làm kích động và nóng máu quần chúng, vì vậy ta nên chận đứng báo chí kiểu đó hoặc giao cho những nhà biên tập ưa chuộng hòa bình. Họ là những người không thích chiến tranh, và rồi nếu những nhà biên tập là những người yêu thích hòa bình thì nhất định họ sẽ không viết những tin giật gân. Ai sẽ mua những loại báo đó. Báo phát hành ra ngoài vì tiền và tiền gây cho báo chí hoang mang. Nó kích động quần chúng vì họ muốn có chiến tranh. Tiền bạc quả là một con rắn độc, cũng chính vì đồng tiền mà chiến tranh bùng nổ khắp nơi. Bằng phương tiện hô hào lòng yêu nước, nói láo, gian dối, làm nhục, các chiến sĩ bị kích động, bị thuyết phục giết nhau giống như giết những con chó. Và khi được chết trên chiến trường họ được vinh danh với các từ "anh hùng". Thật là dối trá đối với họ làm sao? Đức Phật đã nói những vị anh hùng này chịu đau khổ ở địa ngục trần gian và địa ngục kiếp sau. Bởi vì niệm tưởng sau cùng của họ không thể là ý niệm của lòng từ bi vô hạn. Một chiến sĩ không thể nào cầm dao đâm vào một chiến sĩ khác khi đã có lòng từ bi vô lượng. Nếu mọi chiến sĩ biết điều này liệu ai còn dám nghĩ rằng mình là một đồ tể giết người hay không? Chắc quý vị biết rằng thời gian trước đây, khi trở về quê hương–nước Ý, tôi đã từ chối không đi lính. Khái quát lý lịch thì quý vị cũng biết rồi, tôi từ bỏ cha mẹ, anh chị ở Mỹ, sang Miến Điện tu học 6 tháng. Tôi bỗng bị bệnh kiết lỵ nên trở về Ý để thay đổi không khí. Lúc đó tôi còn trẻ, mới có 27 tuổi, là một Tăng sĩ hết sức năng nỗ nhiệt tình. Chính quyền ở Ý "chộp cổ tôi" buộc tôi phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Tôi đã khoác y vàng, là đệ tử của đức Như Lai, tôi đã xuất gia nghĩa là thoát ly thế tục vậy mà bây giờ họ muốn kéo tôi trở lại đường trần vốn ly khai chúng tôi. Họ cố cưỡng bức "anh phải nhập ngũ". Tôi trả lời rằng tôi không thể nào đi lính được vì tôi là đệ tử của Đức Phật, tôi không được phép giết một con kiến hay con muỗi hút máu thì làm sao tôi có thể giết một con người vốn là anh em của tôi. Dù là theo luật pháp, mỗi người công dân chỉ phục vụ quân ngũ 8 tháng, tôi vẫn lý giái để cho họ thông cảm trường hợp của tôi, tôi sanh ở Ý nhưng tôi lại yêu tất cả mọi quốc gia với tâm bình đẳng, mọi người là anh em của tôi. Vả lại, Phật Giáo của tôi là tôn giáo của lòng từ bi đối với tất cả sinh vật lớn hay nhỏ đều không phân biệt.

Làm sao người ta có thể hoàn tất được cuộc giải trừ quân sự toàn cầu. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi nào mọi người đều từ chối không để mình trở thành người lính. Việc này chỉ thực hiện tốt đẹp khi nào họ được giáo dục sự chán ghét giết hại, giết tất cả ngay đến các loài côn trùng nhỏ bé. Thế nên chúng ta phải dạy cho các thanh niên biết chán ghét sự giết hại. Hãy làm cho các nhà đồ tể–cơ sở giết súc vật–trở thành trận chiến phai tàn. Cũng như các tội tử hình cần được phá bỏ. Tội giam tù mãi mãi là hình ảnh tốt đẹp hơn so với tội tử hình ghê rợn, phi nhân.

Khi các bé trai lớn dần, chúng được cho mặc những bộ đồ lính, đồ chơi súng cầm tay, đồ chơi súng đại bác.v.v...dĩ nhiên những sản phẩm tâm lý trở nên một sáng tạo quân sự này khiến tham vọng bành trướng và chúng mơ ước trở thành chiến sĩ khi đến tuổi trưởng thành. Đây là lối giáo dục nguy hiểm.

Vậy chúng ta hãy huấn luyện con em chúng ta biết yêu thương loài vật cùng hô hấp trên trái đất này. Hãy yêu thương người lân cận như yêu thương chính mình. Vì ghét người lân cận là ghét chính mình. Họ không nêu lý do tại sao bạn phải yêu thương người lân cận. Bởi người lân cận là chính mình. Nếu bạn ghét người lân cận là tự động ghét mình. Đó là lý do tại sao bạn phải yêu thương người lân cận như chính mình. Bởi lẽ không có bản ngã trong Đạo Phật. Tất cả lòng yêu thương là một. Nếu bạn yêu thương mình là yêu thương muôn loài. Đây là con đường đưa tới hạnh phúc.

Pháp ăn chay sẽ đoạn diệt được sự hung hăng. Người ta quả quyết chứng minh được rằng sự ăn chay có thể thuần hóa những con sư tử dữ tợn thành những con vật hiền từ. Đạo sư Kvishanandfi đã từng thuần hóa những con sư tử và cọp trở thành những con vật ăn chay hoàn chỉnh. Chúng ta từ chối, không để ý đến thịt nữa, pháp ăn chay đã biến đổi chúng thành những con vật vô hại. Vậy tại sao chúng ta không thuần hóa chúng sanh thành những công dân hòa bình vốn từ chối thanh toán sát hại nhau? Chỉ khi nào con ngườì trần gian này trở nên trầm mặc và tĩnh lặng họ mới hy vọng hoàn tất được sự giải trừ binh nghiệp, đem lại hòa bình cho thế giới.

Thịt sở dĩ cung cấp cho binh lính ăn là vì thịt kích thích và làm cho binh lính hung hăng thêm. Nếu binh lính ăn cỏ thì họ sẽ trở thành những con nai hiền từ. Họ sẽ yêu thương nhau và ôm nhau mừng rỡ. Lúc đó mới thực sự là thời điểm hòa bình.

Lương tâm quần chúng phải được khơi dậy trước khi thực hiện điều gì. Khi lương tâm quần chúng vùng lên chống cảnh nô lệ thì cảnh nô lệ sẽ bị tiêu diệt. Khi lương tâm quần chúng vùng dậy chống chiến tranh thì chiến tranh phải dập tắt. Pháp ăn chay tạo cho con người hiền hòa, tĩnh lặng. Và vì vậy là một đại cơ xưởng đang khởi động lương tâm quần chúng chống chiến tranh. Nhà tiên tri Isaiah đã nói: "Kẻ nào giết một con bò thì dường như kẻ đó đã giết một con người". Chúng tôi cũng nói vậy: "Ai giết được một con bò, ngườí đó sẽ giết được một mạng người". Theo tài liệu báo cáo thì có nhiều trường hợp những đồ tể cũng ghét luôn cả con người. Có những trường hợp trẻ nhỏ giết cả các em của mình sau khi thấy cha chúng giết heo.

Hãy lưu ý thêm các thống kê tội ác cho thấy trong số những người ăn thịt ở Tây phương phạm tội ác gấp 8 lần so với số người ăn chay ở Ấn Độ.

Một hôm người ta hỏi Bác sĩ Arundale là liệu Bác sĩ có cách gì dứt được các bệnh điên của thời đại hiện nay không. Bác sĩ trả lời rằng phương pháp duy nhất không phải bằng kế hoạch kinh tế mà là phải triệt để giảm bớt những căng thẳng tinh thần về chiến tranh trong mọi phương diện đời sống. Được hỏi tại sao phải tiếp tục ăn chay, bác sĩ trả lời: theo ý nghĩ của tôi thì chắc chắn việc nuôi mạng sống bằng việc ăn thịt hàng ngày là động cơ thúc đẩy nổi máu chiến tranh. Tinh thần "súng đạn" nơi con người là hậu quả của lòng hiếu sát của con người trên thân phận những con vật đáng thương không nói được tiếng người để phản đối, tuyên chiến với loài vật là tuyên chiến với loài người, bởi vì về phương diện sinh học thì người và vật đều như nhau. Nếu loài vật có thể nói được thì chúng sẽ nói gì? Chúng sẽ gầm lên: "loài người là kẻ thù xấu xa tàn ngược nhất của chúng tôi. Và con người cũng là kẻ thù của chính họ. Họ dùng trí thông minh của họ để bắt giam và giết hại chúng tôi". Hậu quả là: lòng ham muốn giết hại đã xúi giục họ sử dụng trí thông minh tương tự tìm mọi cách và phương tiện để tàn sát loài người trên bình diện quy mô hơn. Quý vị hãy nhìn trận đại chiến vừa qua với những hơi độc, tàu ngầm, phản lực cơ và bom nguyên tử gây tử vong khủng khiếp. Cho nên cần thuần hóa bản tính hung hăng của con người bằng pháp ăn chay. Muốn trở thành người trai giới thuần tịnh vị đó phải tránh sát hại sinh mạng loài vật, điều này sẽ làm cho vị đó tránh sát hại loài người.

Rượu cũng là một tai họa, nó đốt cháy thân tâm, làm ngu muội dòng tư duy của con người. Dưới ảnh hưởng của rượu người ta có thể chém giết, trộm cắp, tà dâm, nói láo và mất hết nhân cách. Vì vậy ta nên khuyên mọi người trên khắp thế giới nên tránh uống các chết say và nên uống nước lọc trong sạch, tinh khiết toàn hảo nhất. Được vậy họ sẽ trở nên con người thích hòa nhã, vui vẻ. Nếu việc uống rượu được hạn chế khắp nơi sẽ đưa con người vốn đầy lòng tham ái hận thù đến chỗ giã từ súng gươm chiến sự và khi mọi người có được hòa bình trong tâm thì lúc đó mới có hòa bình thế giới được. Và việc giải trừ vũ khí chiến tranh sẽ là một thực tại huy hoàng.

Đức Phật đã dạy: "Này các đệ tử, nếu có bọn cướp dữ nào bắt con, chúng dùng dao để khắc vào tay chân con; ngay lúc đó con còn khởi tâm sân giận tức là vẫn chưa nghe theo lời dạy của ta. Ngay lúc đau đớn này, phận sự của con là phải kham nhẫn, giữ tâm bất động, không cho một lời thô ác nào thoát ra trên môi, mà con phải luôn luôn an vui trong hạnh nguyện từ bi, thiện ý bằng trái tim buông xả, không hận thù, ôm ấp nnhững niệm tưởng thương yêu sáng ngời đối với bọn cướp dữ đã hành hạ thân con. Và từ đó mãi mãi ban trải khắp nơi những niệm tưởng yêu thương, những ý tưởng vĩ đại, bao dung, vô lượng; nơi đây không còn hiện khởi một ý tưởng hận thù ác hại nào". Sau 600 năm Đức Chúa đã nói: "Hãy yêu thương kẻ thù của con, nếu kẻ thù tát vào má bên phải của con, hãy đưa thêm má bên trái cho họ tát". Đức Phật trước đó có phần tích cực hơn một chút, không những đưa má cho kẻ thù tát mà còn ôm chầm lấy bọn cướp bằng tấm lòng yêu thương Niết Bàn (vô ngã).

Đức Thế Tôn đã dạy bài pháp tối hậu được mọi người nhắc mãi–giáo pháp về lòng yêu thương–không phân biệt về giống loài hay con người và toàn sinh vật hữu tình. Con người phải yêu thương đồng bào mình như chính mình; đổi lành lấy dữ; đổi yêu thương lấy hận thù; vị đó phải trải lòng từ bi cho loài cá dưới biển và loài mãnh thú trong rừng, cũng như loài chim trên không trung, cho thảo mộc cây cối, cho dòng sông, rừng núi... Vị đó chớ nên sát hại đồng bào của mình dù là để tự vệ. Tóm lại, toàn bộ chiến tranh đều là thói phàm tục thiếu đạo đức.

Cái duy nhất mà ta phải giết là lòng tham ái và sự hận thù. Chúng không phải ở bên trong mà cũng không phải ở bên ngoài. Con người là người bạn tốt nhất của chính mình, mà cũng là kẻ thù tai hại nhất.

Đức Phật dạy: "Hãy đoạn diệt hận thù bằng tình thương, giữ gìn 5 học giới là trọng yếu sống hạnh phúc".

Chiến tranh là hình thức sát hại, tà dâm, nói láo và uống rượu qui mô nhất; chiến tranh cũng là sự phá hoại qui mô nhất đối với 5 học giới nói trên. Vì lẽ đó chúng ta hãy dạy các con em tinh tấn giữ gìn 5 học giới. Nếu mỗi một em được giáo dục có tâm hạnh chán ghét tuyệt đối việc sát sanh, trộm cắp.v.v... thì nơi nào còn có thể xảy ra chiến tranh trong tương lai nữa? Chúng ta hãy cải biến xã hội bằng cách nhỏ từng giọt phẩm hạnh tình thương và hòa bình vào tâm thức còn mềm dẻo của thanh thiếu niên. Một khi thanh thiếu niên trưởng thành chúng sẽ tuyên bố một cách phản kháng: "Chúng tôi không chiến đấu nữa!". Và đây là tiếng kêu vang dội sẽ bay khắp thế giới. Đây là cách mà nhân dân trên toàn cầu có thể thành tựu việc giảm trừ chiến tranh đưa đến hòa bình thế giới.

Lại nữa, dù chúng ta có dư cảnh sát an ninh, chúng ta vẫn thấy mãi nhiều vụ sát hại, cướp bóc và tà dâm..., dù chúng ta có nhiều đồng minh quốc gia, chúng ta vẫn còn chiến tranh. Chỉ có một cách hoàn toàn chấm dứt tội ác và chiến tranh nghĩa là chúng ta phải có đồn cảnh sát bên trong tâm hồn mỗi người; hãy để mỗi người có cảnh sát riêng cho mỗi người. Khi mọi nguời chuyên cần tự mình kiểm soát an ninh cho chính mình thì nơi đây cần gì cảnh sát bên ngoài, liên minh các quốc gia hoặc là giải trừ vũ khí? Thế nên chúng ta phải dạy các thanh thiếu niên phải cố gắng thọ trì 5 học giới trên, chúng ta phải huấn luyện tuổi trẻ. Đây là cách mà nhân dân trên thế giới có thể giải trừ vũ khí trên toàn cầu.

Chỉ có tu tập 5 học giới mới có thể dập tắt chiến tranh. Bởi vì 5 học giới giúp chúng ta biết yêu thương loài vật và tránh uống rượu–điều mà trong các điều răn không thấy dạy. Trong các điều răn, họ cho phép giết các loài vật và không có điều thứ 11: ngăn cấm uống rượu. Trong Phật Giáo có một huấn thị khuyên không nên uống rượu. Tâm là năng lực có thể đào phá con đường Niết Bàn. Nếu tâm không được trong sáng 100% thì làm sao con người có thể giải thoát cho mình vượt qua tham ái và những kẻ thù nội tâm vốn gây trở ngại cho con đường tiến đến Niết Bàn. Thế nên chúng ta phải giữ gìn bộ não cho sắc bén để có thể triệt phá những kẻ thù bên trong tâm thức mình, nó gây trở ngại cho ta trên bước đường giải thoát. Chúng ta hãy cống hiến cho lớp trẻ những huấn thị đạo hạnh đúng đắn, huấn luyện cho các thanh niên biết chán ghét đam mê khoái lạc giác quan. Nếu món ăn vật chất cần đòi hỏi mỗi ngày cho thân xác thì món ăn tinh thần cũng cần đáp ứng cho tinh thần và óc não. Ngày hôm nay toàn thế giới đang đau khổ vì thiếu món ăn tinh thần. Sự khao khát này là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh. Thế nên thế giới cần phải có những chất liệu tốt để dinh dưỡng tinh thần. Chừng nào mà sự khao khát tinh thần trên toàn cầu không còn nữa thì vấn đề giải trừ quân sự và hòa bình thế giới mới có thể đạt được.

Vấn đề then chốt trong việc giải binh toàn cầu và hòa bình thế giới là gì? Liệu có một tấm gương độc nhất nào trong lịch sử, nơi đó nhà vua cai trị đã ổn định hòa bình mà không cần dàn dựng chiến lược quân sự? Có! Hoàng đế ASOKA là tấm gương độc nhất này trong lịch sử. Hoàng đế ASOKA lúc chưa quy y Phật thường chém giết người như giết gà. Nhớ lại trận chiến của nhà vua với dân thành Kalinga, nhà vua tàn sát khắp nơi mà không nương tay, giết 100.000 người và bắt làm nô lệ 150.000 người chỉ vì ông muốn cướp đoạt thêm thành Kalinga.

Chính lòng tham ái và dục vọng cuồng nhiệt muốn chiếm đoạt thêm một thành trì nữa đã khiến nhà vua Asoka tàn sát hàng trăm ngàn người. Vậy mà sau đó quý vị có thể tưởng tượng nỗi, vua xin quy y Phật, hạ bỏ gươm giáo và trở thành con người hiền hòa như con cừu vô hại. Đức Vua tuyên bố với các quốc vương lân cận: "Nay tôi là Phật tử, tôi nguyện từ bỏ chiến tranh chém giết". Và sau đó nhà vua cho ngưng chiến toàn bộ.

Lòng đầy hối tiếc về những điều mình đã gây nên thưở chưa quay về nương tựa nơi giáo Pháp cao siêu của Đức Phật, Đức Vua cho xây nhiều bệnh viện cho nhân dân kể cả bệnh viện cho loài vật, cho đào giếng nước bên đường, tạo công viên và trồng cây bóng mát nhiều nơi. Đức Vua cải biến cách ăn uống hàng ngày và trở thành một Phật tử ăn chay trường. Đồng thời còn cổ vũ trong hoàng tộc, nhân sự phục vụ ... tất cả phát tâm ăn chay.

Vị tông đồ hòa bình này đã làm kinh ngạc thế giới với những trụ đá khắc chữ đồ sộ kiên cố toát ra nội dung tinh thần từ bi vô lượng do Đức Phật giảng dạy. Hoàng Đế ASOKA rộng lòng ban trải đức từ bi Phật tính vô ngại. Nhà Vua còn dũng mãnh gởi các Sứ giả hoằng Pháp sang khắp các nước trên thế giới; kể cả người con trai và người con gái của mình cũng được gởi sang Tích Lan để hoằng Đạo. Hoàng Đế Asoka quả thật đã đóng vai trò trọng yếu trong công đức hòa giải chiến tranh và khôi phục hòa bình thế giới.

Sir Edwin Arnold–tác giả tập sách "Ánh sáng Á Châu" đã ghi những lời: "Phật Giáo là tôn giáo có từ bản thân tính thường trụ, niềm hy vọng của toàn cầu. Sự bất diệt của đức từ bi vô lượng và nhân tố bất hoại của lòng tin vào quả lành sau cùng, cũng như sự khẳng định tự hào nhất trong quá trình từng xây dựng hòa bình cho nhân loại. Điều hãnh diện nữa là trong suốt 2500 năm, Phật Giáo chưa bao giờ làm rơi một giọt máu nào, cũng không bao giờ có những cuộc thập tự chinh nẩy lửa hay cuộc hành quyết đầy sắc máu, không hề đưa một tín đồ Phật tử nào lên giàn hỏa bởi vì Phật Giáo thường dạy lòng đại từ đại bi đối với chúng sanh không phân biệt".

Trường hợp của tôi cũng vậy. Quý vị có ngạc nhiên không khi biết rằng chúng tôi cũng suýt bị chôn sống khi đang thuyết giảng bài Pháp về triết học Phật Giáo.

Vấn đề tự thắng mình là chiến thắng vĩ đại trong tất cả mọi sự chiến thắng, vì Đức Thế Tôn đã dạy:

Dù tại bãi chiến trường

Ngàn lần thắng ngàn người

Nhưng tự thắng chính mình

Là người thắng vĩ đại.

Thế nên mỗi người chúng ta hãy tự chiến thắng mình, có được như vậy thì thế giới mới được bình yên phúc lạc.

Tất cả mọi người hãy rộng lòng ban trải hạnh từ bi hỷ xả. Hãy đối xử với người lân cận như chính mình, bởi vì nếu người lân cận là chính mình thì mọi sự sống đều là một và toàn thế giới sẽ được an lạc, không còn hận thù.

Đức Phật đã dạy một quy luật muôn đời: "Lấy oán báo thù, oán thù, chồng chất. Lấy đức báo oán, oán tự tiêu tan". Nhiều ngườì tin rằng họ có thể tiêu diệt hận thù bằng sự thù hận khác thô bạo hơn–nhưng không bao giờ được. Chỉ có cách ngược lại là dùng tình thương mới đoạn diệt được hận thù, thì nhất định hòa bình hiện hữu trường tồn.

Phạt án tử hình cũng là một trong những nguyên nhân của chiến tranh. Hỡi các nhà làm luật! Tại sao quý vị không giam sống họ trong nhà tù? Quý vị phải biết rằng tội nhân có thể kiếm sống trong trại giam bằng sự lao động có ích lợi cho họ. Chắc quý vị cũng biết tử hình là hình thức bạo ngược triệt phá lòng rthân từ. Và nhớ rằng khi tình thương yêu ra đi thì hòa bình cũng đi theo luôn. Giết nhiều người trong các nhà tù là đưa đến tàn sát con người ngoài mặt trận. Hành động đó là biện pháp kinh tế tầm thường khi nghĩ đến phương sách tiết kiệm tiền bạc bằng cách giết bớt những kẻ sát nhân. Cuộc chém giết như vậy dẫn đến cuộc thảm sát tập thể ngoài chiến trường với hậu quả tổn thất vô cùng to lớn.

Tử hình là áp dụng thực tế theo luật Moses nghĩa là mắt đổi mắt, răng đổi răng, mạng đổi mạng...Nhưng luật ăn miếng trả miếng này hoàn toàn khác với luật "Bất phản kháng" của Chúa Jésus có nghĩa là không chống lại điều ác: nếu ai tát má bên phải; bạn đưa thêm má bên trái cho tát. Sự thù hận luôn luôn đưa đến chiến tranh, tha thứ đưa đến Hòa Bình tịnh lạc.

Ước gì tôi có khả năng chuyển hóa tâm thức các nhà lãnh tụ, các tướng quân trên thế giới. Tôi sẽ khuyên họ: tại sao quý vị lại thích giao tranh, xâm chiếm lãnh thổ lẫn nhau? đất đai cơ đồ này có giá trị gì. Máu xương của loài người mới đáng giá! Tôi tin rằng quý vị cũng không biết mình gây chiến tranh để làm gì. Lòng tham ái si mê đã che mờ mắt quý vị khiến cho quý vị ham gây chiến. Tại sao quý vị lại muốn tuôn ra hàng biển máu chỉ đổi lấy thứ đất bùn vô giá trị. Thật là bi thương khủng khiếp! Hàng biển nước mắt hòa chung với máu của bao sinh linh đàn ông, đàn bà, con nít, nát tan từng mảnh trong sự thống khổ điêu tàn của chiến tranh quy mô.

Trong khi các nước đang hung hăng tiêu diệt lẫn nhau không chút thương xót, chúng ta nên mạnh dạn cất tiếng nói; rung lên hồi chuông báo động để cứu vớt nhân loại đang khổ đau trong sự hủy diệt và đang rơi vào trong các đọa xứ. Quý vị không nhận ra rằng chính mình đang hạ sát huynh đệ của mình chứ không phải kẻ thù. Mọi quốc gia đều là thiện hữu tâm giao. Tham ái, sân hận, ngu si mới là kẻ thù của quý vị. Kẻ thù nguy hiểm này đang nằm bên trong ta.

Đức Bồ Tát đã dạy: "Thà chết mà chiến thắng cám dỗ còn hơn là sống mà phải thảm bại"; cho nên tự chiến thắng mình mới là chiến thắng vĩ đại.

Các quốc vương thích giao tranh nhưng không phải chiến trường trong tâm. Nếu các vị lãnh tụ tự chinh phục mình thay vì chinh phục kẻ thù bên ngoài thì họ sẽ tận hưởng hòa bình an lạc. Thời Cổ đại xa xưa có tục lệ vua giao chiến với vua. Tôi nhớ không lầm, lịch sử của Silanka (Ceylon) vua Dutugemunu giao tranh với vua Elasa nói: "Để ta giao chiến với đối thủ". Vậy là quân lính giạt ra hai bên làm khán giả, nhìn hai tướng quân của mình so gươm sinh tử. Quân lính sẽ thấy rõ ai là người thắng, ai là kẻ bại cuộc. Vua Dutu giết chết vua Elasa, tức thì quân lính của phía bại trận chạy về; cuộc chiến chấm dứt. Tập tục này thật hay, cứu được nhiều mạng người. Đó là loại chiến thuật chìến lược hết sức tiết kiệm. Chỉ có một trong hai người chết, còn bao nhiêu đều sống sót. Quả là đại hạnh phúc.

Có một sự kiện mà các nhà chiến sự không mấy ai thông hiểu, đó là một niệm tưởng cuối cùng của một quân sĩ vừa tắt thở. Đức Phật đã dạy: Những vị được gọi là anh hùng đó lúc chết ngoài chiến trường, linh thức sẽ đi thẳng vào địa ngục "địa ngục bạt thiệt" vì tranh chấp lý sự. Điều gì xảy ra? Bởi vì niệm tưởng sau cùng là niệm tưởng sân hận. Hàng ngàn quân sĩ đang chết mỗi ngày sẽ tái sinh vào địa ngục. Chiến tranh không phải là khốn khổ sao? Vui thích phần mình có một thoáng chốc và sau đó phải rơi vào các đọa xứ địa ngục. Vì vậy chúng ta không nên vui thích sát hại sinh mạng kẻ khác mà nên kham nhẫn trải lòng từ và quên lãng mọi sự.

Một nước nào đó bị bại trận sẽ nuôi hận trong tâm. Chúng ta chiến thắng tức là đã tạo thêm nhiều kẻ thù. Vì vậy nên hòa hoãn và tha thứ. Người thắng, kẻ thua phải ôm chầm nhau trong tình thân ái như hai võ sĩ giao đấu trên võ đài. Sau trận đấu họ bắt tay nhau nở nụ cười trong tinh thần võ sĩ đạo cao thượng. Cũng theo gương đó, khi các quốc vương chấm dứt cuộc chiến thế giới, các quốc gia hãy bắt tay nhau. Chúng ta chỉ cần có vậy, chúng ta nên giúp đỡ lẫn nhau.

Vì khát vọng của mỗi quốc gia là Hòa Bình. Quê hương họ có còn thống khổ do sự khủng khiếp của chiến tranh đẫm máu nữa không? Lòng tham dục đã khiến họ tham chiến! Lòng nham hiểm của con người thì vô tận. Sự hủy diệt loài sinh vật chính là nguyên nhân tiêu diệt loài người. Chiến tranh đang bừng cháy, ngọn lửa bên trong, ngọn lửa bên ngoài, lửa cháy khắp nơi. Lòng tham là ngọn lửa hung tàn nhất. Đam mê dục vọng là nguyên nhân gây ra chiến tranh, chiến tranh bên trong tâm hồn là nguyên nhân thúc đẩy chiến tranh bên ngoài.

Người chiến thắng vĩ đại nhất mà thế giới từng ca ngợi đó là Đức Phật–người chiến thắng vô song. Những hào kiệt như Alexander Ceasar, Napoleon không thể đem so sánh với Đức Phật, vì Ngài là bậc Giác Ngộ chinh phục được toàn thế giới, điều mà những người khác không thể thực hiện được.

Chúng ta hãy làm cho các lãnh tụ quốc gia hiểu rằng cố gắng chinh phục thế giới bằng hận thù đều vô ích. Chúng ta hãy noi gương Đức Phật hàng phục thế giới bằng tình thương. Người chiến thắng vinh quang nhất bằng hận thù chỉ đưa đến bại vong sau cùng. Đức Phật đã hàng phục thế giới cách đây 2500 năm bằng loại vũ khí tình thương và chân lý như thực. Ngài mãi mãi là bậc Thầy của nhân loại, là ánh sáng của 10 ngàn thế giới, làm cho mọi chúng sinh trở thành những máy phát điện tình thương, những bộ pin tình thương, những đài phát thanh tình thương, khiến cho con người tỏa sáng mãnh liệt những niệm tưởng từ bi vô lượng trên khắp vũ trụ nhân gian. Dù đi, đứng, nằm, ngồi, hãy làm cho chúng sinh tràn ngập lòng từ bi khắp nơi. Chỉ có tình thương mới hàng phục được hận thù. Bởi vì tịnh hóa thế giới mới đưa đến hòa bình thế giới.

Chúng ta hy vọng rằng thế giới này sẽ chuyển hóa thành quốc độ Phật, tràn ngập lòng từ bi phổ khắp đến vô lượng chúng sinh, bởi vì chỉ khi nào tình thương trở thành thân thiết, nơi đó sẽ không còn có biên cương, địa giới, không còn kỳ thị; thế giới sẽ thực sự hưởng được hòa bình an lạc khắp nơi. Hãy nhớ rằng ngay như cõi Trời cũng có chiến tranh. Chúng ta được Kinh Phật dạy rằng chư Thiên và Thần Atula đã từng giao chiến với nhau. Nếu các vị Thần Thánh mà không thể hòa mình với nhau, làm sao con người có được. Điều đó khá bi quan và mâu thuẫn. Dù sao thì mỗi người chúng ta vẫn có thể tự chinh phục mình. Tất cả sau cùng sẽ tự thắng mình, bởi vì mọi người đều bình đẳng và khi đã dũng cảm hàng phục được mình thì toàn bộ thế giới sẽ thực sự hưởng được hòa bình an lạc.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn