Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Giải mã những bí ẩn của thiền định

22/09/201010:25(Xem: 5249)
Giải mã những bí ẩn của thiền định

Chưabao giờ các công trình nghiên cứu về những bí mật của Thiền định lạiđược các phương tiện thông tin đại chúng, các hãng truyền thông lớn, đềcập đến nhiều như thời gian vừa qua. Các hãng tin như AP, Reuter cácbáo như News Week, Time... đều có nhiều bài viết chi tiết mô tả nhữngkhám phá của các nhà khoa học Anh, Mỹ qua phương pháp chụp cộng hưởngtừ hoạt động của bộ não các Thiền sư, đã phát hiện ra nhiều điều màtrước đây, khi nói đến hầu hết mọi người đều nghĩ rằng đó chỉ là nhữngcảm giác có được do phương pháp tự kỷ ảm thị hoặc tưởng tượng mà thành.

Bản tin của Reuters dẫn tuyên bố của giáo sư Owen Flangan thuộc viện đại họcDuke ở North Carolina đã tuyên bố rằng: "Bâygiờ, chúng tôi có thể lập thuyết với nhiều tin tưởng rằng những bóngdáng các nhà sư có dáng dấp thanh thoát, an tịnh mà ta hay thấy ở nhữngnơi như Dharamsala, Ấn độ, là họ thực sự hạnh phúc".

Năm 1967, giáo sư Herbert Benson ở đại học Y Harvardđã tiến hành nghiên cứu trên 36 người thiền định và thấy rằng khi ngồithiền họ dùng lượng oxy ít hơn bình thường 17%, giảm 3 nhịp tim/phút vàtăng sóng theta ở não -hệt như trạng thái trước ngủ - trong khi toàn não vẫn tỉnh táo.7 năm sau, tiến sĩ tâm thần học Gregg Jacobs, Đại học Harvard, qua ghisóng não đã phát hiện ra rằng những người thiền có thể sản ra rất nhiềusóng theta và có thể phong tỏa phần não trước vốn nhận và xử lý cảmgiác, ngoài ra họ cũng giảm thiểu hoạt động ở phần thùy đỉnh não, nơiphụ trách các cảm giác về không gian - thời gian. Bằng cách "tắt"thùy đỉnh não, người ta có thể mất cảm giác về giới hạn và thấy vũ trụ "trởthành một".

Tiến sĩ tâm thần học Gregg Jacobs
Tiến sĩ tâm thần học Gregg Jacobs (Ảnh: cbtforinsomnia)

Cuộc nghiên cứu khác gần đây của Paul Ekman thuộc Trung tâm Y học, Viện đại học California, San Francisco, gợi ý rằng thiền định và quán chiếu cóthể chế phục được nhân hạnh đào(amygdale), một vùng não lưu trữ những ký ức sợ hãi. Ekman khám phá rarằng những thiền sư cao cấp khó bị chấn kích, bất an, hoảng hốt hay nổigiận như những người thường khác. Tuyến thượng thận, mơi tiết raAdrrenalin, điền khiển nhịp tim trong các trường hợp sợ hãi, hoảng hốtgần như được các Thiền sư khống chế hoàn toàn. Ông tuyên bố trong mộtbáo cáo trong tạp chí Nhà Khoa học mới (New Scientist) rằng: "Lập thuyết hữu lý nhất là có cái gì đó nơi hành thiền của Phật giáo đã dẫn đến một nguồn an lạc mà tất cả chúng ta đều mưu cầu".

Các nhà khoa học đều tin chắc rằngThiền định hoàn toàn có khả năng "rửa"lại não, giải tỏa các khu vực căng thẳng vì máu ở trong tình trạng ách tắc.Các trào lưu Thiền định ở Mỹ đều tin rằng Thiền định có thể chữa đượcđược các bệnh tim mạch, stress, ung thư, thậm chí cả AISD và đã cótrường hợp thay thế cho Viagra! Những điều này thật ra không phải quácường điệu, mọi hoạt động của cơ thể, mọi bệnh tật xét ra cho cùng đềuxuất phát từ bộ não. Một bộ não khỏe mạnh chắc chắn sẽ có một cơ thểkhỏe mạnh.

Thử lý giải những điều này trên cơ sở những điều đãbiết và dựa trên các kinh sách về Thiền định trong Phật giáo chúng tathấy; bộ não con người có 100 tỷ tế bào thần kinh. Mỗi tế bào thần kinhqua những đường dẫn truyền lại có quan hệ với 50 ngàn tế bào thần kinhkhác. Điều này dễ hiểu sự hoạt động phức tạp trong việc xử lý các khốilượng thông tin khổng lồ của bộ não. Thế nhưng điều này cũng cho chúngta hiểu câu nói mà nhà Phật hay nói: "Một niệm mà sinh thì trùng trùng duyên khởi".Một tế bào thần kinh hoạt động, tức khắc sự lan truyền diễn ra nhưtrong phản ứng hạt nhân! Các ý nghĩ nối tiếp ý nghĩ, sự tư duy hìnhthành. Các bạn hãy thử ngồi năm phút lúc rảnh rỗi và đếm xem trongchừng đó thời gian mình đã nghĩ về bao nhiêu điều! Thường là không íthơn 10 chuyện nghĩ khác nhau!

thiendinh107
(Ảnh: visiontv)
Thật kỳ lạ, ngoài những lúc tập trung làm việc, thì ra chúng tasử dụng bộ não rất nhiều vào những chuyện vớ vẫn không đầu không cuốimột cách chẳng để làm gì .

Tuy vậy đó là điều bình thường của người khỏemạnh. Ở người bị bệnh tâm thần thì ý nghĩ của họ có thể chỉ có mộtnhưng họ không thể dừng nó lại được, nó cứ phát triển một cách bùng nổvà đến mức độ nào đó thì người bệnh sống với các ý nghĩ ấy, các ý nghĩđều trở thành thật, và chúng ta gọi họ bị bịnh điên. Những người trongtrạng thái stress, cũng không dứt ra được các tình cảm mà họ rơi vào.Điều này kéo dài sẽ đưa đến những hiệu ứng tiêu cực trên toàn cơ thể.Có người thì bị tim mạch, người thì đau dạ dày, người thì mất ngủ, suynhược thần kinh, cơ thể...

Như vậy là người khỏe mạnh bình thường đều đã biếtrằng các ý nghĩ là không có thật và không nên theo. Chúng ta đều biếtdừng lại sau khi "chạy"theo nó một đoạn. Điều này tuy bìnhthường nhưng các thiền sư thì bảo đó là vọng tưởng. Cách gọi này khôngphải là không có lý ở góc độ vô bổ, vô nghĩa. Các phương pháp thiền định đều tìm cách chặn các niệm không cho nó khởi lên ngay từ gốc.Có phương pháp thì hướng sự tập trung suy nghĩ vào chuyện khác như đếmhơi thở, theo dõi cơ thể trên từng centimét vuông một, hoặc theo dõimột cách khách quan suy nghĩ của mình không lơi lỏng, nghĩ cái gì làbiết mình đang nghĩ cái đó; có phương pháp thì tập trung suy nghĩ vàomột công án, tức một câu hỏi gần như không có lời đáp, ví dụ khuôn mặtta khi cha mẹ chưa sinh ra là gì; có phương pháp thì tập trung vàochuyện ngồi và biết mình đang ngồi, có phương pháp như của Thầy NhấtHạnh ở Pháp thì luôn nhẩm "Hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười"; có phương pháp như của thầy Thanh Từ ở chùa Trúc Lâm Đà Lạt thì "Biết vọng không theo",gọi tắt là Tri vọng; có phương pháp thì niệm chú hoặc nhún nhảy nhẹnhàng theo một vũ điệu nào đó... Tất thảy đều một mục đích làm sự hoạtđộng của bộ não con người lắng xuống, yên tĩnh lại, dần dần đạt đến sựrỗng không.

Điều này hoàn toàn không dễ nếu không nói là vô cùngkhó. Theo bản năng, bộ não chúng ta không chịu tĩnh lặng, ngay cả khiđang ngủ. Trong kinh Phật chúng ta đọc thấy câu "Chư Phật ngủ không mơ bao giờ!".Điều này cho thấy bậc giác ngộ đã hoàn toàn đạt đến một trạng thái hoạtđộng khác của bộ não và điều này thì rõ ràng khoa học chưa biết đến.

Nhà Thiền có câu chuyện như sau: Hương Nghiêm thônghiểu thiên kinh vạn quyển nhưng vẫn là người chưa ngộ đạo. Một hôm QuySơn đến và nói: "Anh thật là thông minh tài trí nhưng hãy nói cho tôibiết, anh từ đâu mà có?".Hương Nghiêm về lục tung hết tất cả sách vở để tìm câu trả lời. Đi đếncùng câu hỏi ấy là vũ trụ này từ đâu mà có. Không tự trả lời được ôngtìm đến Quy Sơn và cầu khẩn: "Xin hé mở cho tôi cái bí mật của lời nói này". Quy Sơn bảo: "Nếu ta giải thích cho ngươi rõ ràng sau này ngươi sẽ oán ta"."Sư phụ, lòng tốt của thầy thật bao la. Nếungày ấy thầy giải thích thì hôm nay làm sao con có được kinh nghiệm kỳ diệu này". Thế là Hương Nghiêm vứt bỏ tất cả để về quê cuốc đất. Một ngày kia saumười năm, lúc đang dãy cỏ, ông cuốc đụng một miểng sành và nhặt lấyquăng vào một bụi trúc. Miểng sành chạm phải một cây trúc khô và ngânlên một tiếng ngân đặc biệt. Hương Nghiêm bừng ngộ. Ông hiểu được ôngtừ đâu mà có, vũ trụ này từ đâu mà có. Ông quỳ xuống, lạy về phía QuySơn và bảo:

Cũng như công án âm thanh của một bàn tay, công án"Ta từ đâu mà có"nếu xét về mặt kiến giải thì có thể xếp vào loại nhận thức một quy luậtcủa tự nhiên. Triết học hiện đại gọi đó là quy luật vận động, vật chấtlà luôn vận động, vận động là một thuộc tính của vật chất. Triết họchiện đại, triết học phương Tây thì tiếp cận các quy luật, các thuộctính của vật chất, của vũ trụ của sự sống... thông qua các khái niệm.Triết học phương Đông nói chung và Phật giáo nói riêng, không làm nhưvậy, các khái niệm luôn là vật cản, là tri chướng, không cho con ngườicó thể mang cả trí tuệ cũng như thể xác của họ thâm nhập vào các quyluật có tính toàn vũ trụ. Khi giác ngộ thì mỗi tế bào cũng thấm đẫm cáiquy luật được chứng đắc ấy. Tôn giáo nào cũng vậy, cái mục tiêu cuốicùng luôn là động lực khiến các tín đồ theo và phấn đấu. Ở Phật giáo đó là giác ngộ, là Niết Bàn.

Thêm một kiến giải nữa về giác ngộ là thêm một hạtmuối thả vào biển. Tuy vậy, vẫn không phải là không có cách. Chúng tahãy thử giả định rằng chúng ta đã giác ngộ, chúng ta đã tuệ thông vớinhiều phép thần thông tuyệt diệu, tai có thể nghe ngàn dặm, mắt có thểnhìn qua núi non biển cả, thân hình có thể đi mây về gió, tỏa sáng hàoquang, tinh thần thông suốt không bị bất cứ một trở ngại nào, tạo hóalàm gì cũng có thể hiểu được, ông Thượng Đế, nếu có, thì ngồi uống tràvới ổng mà không một chút e ngại .v.v... thì lúc ấy, cơ thể ta sẽ nhưthế nào? Bởi vì các phép thần thông ấy khó biết, khó giải bày, bởi vìcái đời sống tinh thần ấy hầu như không thể hiểu được, không thể kiểmchứng, không thể xác nhận nên chúng ta sẽ tìm hiểu ở một góc độ khác làxem lúc ấy cơ thể ta sẽ như thế nào.

Cáigì không biết chứ chắc chắn một điềurằng nó sẽ không giống với cái cơ thể ta trước đó. Cái gì không biếtchứ chắc chắn một điều là ta sẽ chẳng có bệnh tật gì cả?Thậtvô duyên khi một bậc giác ngộ mà bị huyết áp, lớn tim, ho lao hoặc ungthư. Có thể có một số bệnh ngoại khoa cấp tính như gãy xương, ruộtthừa, hoặc bệnh kiết lỵ do ngộ độc nấm độc mà Đức Thế Tôn đã mắcphải... còn ngoài ra cơ thể ta là một sự khỏe mạnh đến trong suốt. Bệnhgì không biết chứ bệnh do tâm thần sinh ra như huyết áp, tim mạch,stress, mất ngủ, đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, suy nhược, đau khớp, đáiđường... sẽ không bao giờ mắc phải. Người đã mắc phải, thì nếu giác ngộxong bệnh này cũng sẽ biến mất.

thiendinh300

(Ảnh: sivananda)
Chắc chắn là như vậy rồi. Chúng ta hãy hình dung, những bệnhtrên xuất hiện do căng thẳng, lo nghĩ mà có. Người giác ngộ thế nàokhông biết chứ chắc chắn đó là người không còn biết sợ, biết lo nữa.Cuộc sống của họ là một sự ân sủng của tạo hóa ban cho trong từng giây,từng phút, thì hỏi làm sao huyết áp tăng cho được? Bệnh huyết áp làbệnh tây y bảo không chữa được. Chúng ta chưa có bằng chứng nhưng vớinhững gì biết được chúng ta có thể chắc chắn rằng người giác ngộ khôngbao giờ tăng huyết áp. Các bác sĩ tim mạch hẳn cũng đồng ý điều này. Vàkể từ đó ta sẽ có những giấc ngủ luôn thật ngon, đặc biệt là không baogiờ mộng mị. Ngài A-nan khi kể về những giấc mơ của mình cho Phật nghePhật cũng bảo rằng chư Phật ngủ chẳng mơ bao giờ. Không có bất cứ mộtgiấc mơ nào dầu tốt hoặc xấu, dầu lành hoặc ác xuất hiện trong giấc ngủngười giác ngộ.

Đây là cái phần nhô lên nhỏ nhoi của tảng băngtrôi; cái phần lớn nhất, quan trọng nhất, tinh hoa nhất của nó vẫn chìmdưới nước chưa được biết đến. Chỉ với một chút có thể nhận thấy nàychúng ta đã có thể tin rằng nó rất thật.

Với giả định này chúng ta có thể tạm tin rằng ngườitrong một chốc giác ngộ sẽ tự nhận thấy những chuyển biến kỳ lạ chưatừng biết đến xảy ra trong cơ thể mình. Nó rõ ràng như ngài Huệ Khảnói, "Nó thường biết rõ ràng, ngôn từ nói không tới!".Nó thấy được sờ sờ như ngài Huệ Năng nói "Ai dè...",nó cũng tràn đầy xúc cảm như ngài Bạt Tụy đã đi không vững, húc đầu vàocột nhà mấy lần, về đến nhà khóc suốt ba đêm ba ngày vì nó. Thiền sư VôMôn Huệ Khai sau sáu năm miên mật, một ngày nọ khi nghe tiếng trống báogiờ cơm trưa sư hoát nhiên đại ngộ và ứng khẩu bài kệ sau: Trời quangmây tạnh sấm dậy vang lừng. Mọi vật trên đất, mắt bỗng thấy hết. Muônhồng nghìn tía cúi đầu làm lễ. Núi Tu-di cũng nhảy múa vui mừng. Sưđược Thiền Sư Nguyệt Lâm ấn chứng. Khi mà mô tả cái khác biệt của mìnhtrong giây phút trước và giây phút sau bằng những hình ảnh như thế, sấmdậy vang lừng, núi Tu di cũng nhảy múa, thì ta biết đó là những cảmgiác rất cụ thể rõ ràng như thấy trước mắt, sờ bằng tay, hoàn toànkhông có một chút nào của tâm thức. Nó không giống như Archimede hoặcNewton reo lên sung sướng nhưng rất dễ đột tử vì vỡ tim hoặc tai biếnmạch máu não, người giác ngộ thì khác hoàn toàn.

Và ở cái trạng thái này thì sự vô minh hay giác ngộ,niết bàn hay địa ngục, thánh hay phàm, ma hay Phật, sân si hay buôngxả, ngã hay vô ngã, thế giới vật chất là thường hay vô thường... nào cógì quan trọng! Mỗi phút giây là mỗi ân sủng mà tạo hóa đã ban cho. Cácphép thần thông cũng đâu có gì là quan trọng bởi bản thân họ là mộtthần thông tuyệt diệu nhất. Trong trạng thái tĩnh lặng, yên vui ấy taita sẽ nghe tất cả âm thanh kỳ diệu của tạo hóa, từ tiếng chim hót đếnđiệu nhạc disco inh tai nhức óc, từ tiếng của chồi cây đang vươn lênđến âm thanh của các vì tinh tú xa xôi. Năm 761 vua Túc Tông nhà Đườngthỉnh Huệ Trung đến kinh đô phong làm Quốc sư. Suốt trong lần yến kiếnvua đã hỏi ông nhiều câu, tuy nhiên ông không hề nhìn vua lấy một lần.Vua giận mới bảo: "Trẫm là Thiên Tử nước Đại Đường, sao thầy không một lần hạ cố nhìn đến trẫm?".Huệ Trung trả lời:"Bệ hạ có nhìn thấy hư không trên kia chăng?". "Có"."Hư không có nháy mắt với bệ hạ không?".Cái tâm thế hoàn toàn không thuộc về ý thức nhưng biết rõ là mình đồngvới vũ trụ, hòa với cỏ cây rất thật ấy, khoa học hiện đại, tâm lý họchiện đại hoàn toàn chưa biết đến.

Có thật vậy không, không biết, chỉ có một điều chắcchắn là ta sẽ nghe rõ nhất những tiếng nói từ trong của cơ thể ta.Chính đây là bí ẩn của các bậc giác ngộ. Gần như tất cả đều biết giâyphút mình ra đi và tất cả đều bình thản đón nhận. Nói như vậy là đã hơixa cách, ở trạng thái này thì cái chết và cái sống không hề có phânbiệt. Hay một điều là nó không cần đến một chút nào của ý thức để xáctín điều đó. Chúng ta, người đời vẫn hay nói về sự thanh thản khi chết,chuẩn bị cho cái chết, xem cái chết tựa lông hồng, thế nhưng xem cáichết như đang sống mà không cần đến một chút ý thức nào thì chỉ có ởngười giác ngộ .

Tóm lại, đó vẫn là chuyện... như là chúng ta xem phim khủng long! Tất cả dựatrên một ít "xương cốt"hóa thạch để lại chứ khủng long sống thế nào, kêu rống thế nào thìchẳng ai biết. Các nhà khoa học đang tìm cách tái sinh nó. Giác ngộcũng vậy, các Phật tử đều đang chờ Như Lai xuất hiện mặc dầu tinh thầnPhật giáo không xem điều đó làm trọng.

Hình như đã đến lúc con người bắt đầu hiểu được giátrị của mặt bên kia trong hoạt động của bộ não, mặt tĩnh lặng, khônghoạt động nhưng lại vô cùng tỉnh thức. Con người đã nghĩ ra hằng trămphương pháp thể dục cho cơ thể, thế nhưng một phương pháp thể dục chotinh thần thì hầu như chưa ai nghĩ đến. May sao con người đã có phươngpháp thiền định từ hơn 2500 năm trước, tuy bị lãng quên hoặc ngộ nhậnnhiều điều nhưng cuối cùng chắc chắn nó sẽ có những đóng góp tích cựccho cuộc sống và văn minh nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba này.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/08/2022(Xem: 790)
Hít vào thở ra, đếm: "một" Hít vào thở ra, đếm: "hai" Cứ thế, đến "mười" rồi nghỉ Vài giây sau, lại bắt đầu
05/07/2022(Xem: 1049)
“Niêm hoa vi tiếu” (Chữ Hán: 拈花微笑, Nghĩa Việt: cầm hoa mỉm cười), gọi đầy đủ là “Niêm hoa thuấn mục phá nhan vi tiếu” (Chữ Hán: 拈華瞬目破顏微笑; Nghĩa Việt: Đưa hoa ra, trong chớp mắt thì chuyển mặt mỉm cười), chuyện kể Đức Phật thông qua hành động im lặng cầm hoa sen truyền Tâm Ấn Trí Tuệ Bát-nhã cho Ngài Ma-ha Ca-diếp. Giai thoại này được cho là bắt nguồn từ giới Thiền Tông Trung Quốc nhằm dẫn chứng cho hệ truyền thừa Thiền Tông bắt nguồn từ Đức Phật.
12/03/2022(Xem: 3261)
Thái tử con vua bỏ cõi trần Xuất gia học đạo quyết tìm chân Thừa đương ấn pháp du Hoa lục Đảm nhiệm tông phong báo Phật ân Thiếu Thất trừng tâm truy diện mục Tung Sơn diện vách bặt ngôn âm Chín năm huyền sử bày chân tướng Lục diệu pháp môn mở diệu tâm.
10/02/2022(Xem: 3246)
Hiện nay phong trào tu thiền nở rộ nhất là Thiền Chánh Niệm, Thiền Vipassana khiến cho một số người coi thường pháp môn tu tập có tính truyền thống. Thậm chí một số cho rằng lối tu truyền thống bao gồm tụng kinh, niệm Phật trở nên lỗi thời, chỉ có tu theo Thiền Chánh Niệm mới giải thoát mà thôi. Quan niệm đó hoàn toàn sai, trái với lời Phật dạy. Trong Kinh Kim Cang Đức Phật dạy rằng, “Pháp của ta không có thấp có cao”. Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật lại dạy rằng “vạn pháp bất tịnh, bất cấu, bất tăng, bất giảm” và diễn rộng là là “bất thấp, bất cao, bất đúng, bất sai”. Tất cả tùy căn cơ của mỗi chúng sinh mà thôi.
02/12/2021(Xem: 8039)
Nam Mô A Di Đà Phật. Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức, Kính thưa quý đồng hương Phật tử thân mến, Kể từ ngày 12/04/2020, nước Úc của chúng ta cũng như các nước khác trên toàn thế giới đã bắt đầu bị đại dịch Covid hoành hành và lây lan một cách nhanh chóng. Hai năm qua toàn thế giới đã phải chịu ảnh hưởng về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, thương trường. Ngay cả đời sống tinh thần của mọi người dân cũng bị ảnh hưởng không ít, nhất là đối với những gia đình đã phải nhìn thấy người thân ra đi trong sự cô đơn lạnh lẽo, không người đưa tiễn. Biết bao hoàn cảnh đau thương... Tính đến hôm nay nước Úc của chúng ta đã được ổn định phần nào, trên 80% người dân đã được tiêm ngừa theo quy định của chính phủ, cũng như việc không còn phải lockdown, người dân được đi lại tự do giữa các tiểu bang cũng như được hội họp, sinh hoạt hội đoàn và tôn giáo. Trong đại dịch, 2 năm qua nước Úc số người bị nhiễm Covid lên đến 113,411 người và số người không may mắn đã ra đi vĩnh viễn là 1,346 người.
23/11/2021(Xem: 2880)
Đề tài diễn giảng chuyên môn đầu tiên "Phật giáo và Tâm lý trị liệu" (佛教與心理療癒) của Kế hoạch nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đại học Phật Quang Sơn tổ chức tại sảnh Vân Thủy, ngày 17 tháng 11 vừa qua, tiếp đến chủ đề "Tu hành và Chuyển hóa - Đối thoại giữa Tu thiền và Tư vấn Tâm lý" (修行與轉化 禪修與心理諮商的對話), do Thạc sĩ Dương Bội (楊蓓), Chủ nhiệm Khoa Giáo dục đời sống thuộc Học viện Dharma Drum Institute of Liberal Arts (法鼓文理學院); Giáo sư Quách Triều Thuận (郭朝順), người Tổng chủ trì Kế hoạch nghiên cứu, Viện trưởng Học viện Phật giáo Phật Quang Sơn chủ trì. Gần 70 vị Giáo sư nổi tiếng, thuộc Khoa Phật học, Khoa Tâm lý học, Học viện Nghiên cứu Tôn giáo đã tham dự buổi tọa đàm đầy ý nghĩa.
19/11/2021(Xem: 3580)
Trung Bộ Kinh Nikãya có bốn bài kinh số 131, 132, 133 và 134 có cùng nội dung chỉ khác nơi và người giảng. Cả bốn bài kinh này có tên là “Bhaddeka ratta Sutta” đã được cố đại lão Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pãli sang tiếng Việt, gọi chung là “Nhất Dạ Hiền Giả”. Trước đây chúng tôi đã có bài viết “Tìm Hiểu Kinh Nhất Dạ Hiền Giả”, số 131 (*). Nay, với tinh thần cầu học, chúng tôi muốn chia xẻ thêm với các bạn thiền sinh, cũng đề tài này qua văn phong dịch thuật của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh với tựa đề là “Kinh Người Biết Sống Một Mình”.
18/11/2021(Xem: 2029)
Dù nhìn dưới góc độ nào hay y cứ theo ý nghĩa của bất kỳ truyền thống nào thì Triết gia Karl Marx (1818-1883) không phải là một Phật tử. Từ những nguồn có thể xác định được, trong những chuyến vân du đó đây vòng quanh châu Âu, cá nhân Triết gia Karl Marx chưa bao giờ tiếp cận với bất kỳ hình thức Phật giáo "dân tộc" nào.
09/11/2021(Xem: 2195)
Tứ Niệm Xứ là phương pháp thực hành thiền quán tập trung 4 đối tượng Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Thực hành Tứ Niệm Xứ, giúp người tu có được cái nhìn sâu sắc về vô thường, từ đó loại bỏ được những phiền não trong cuộc sống hàng ngày.
09/11/2021(Xem: 1983)
Điều đầu tiên chúng ta nhận thức vật chất, phải thông qua cơ thể của chính mình. Thậm chí có thể nói rằng, con người biết đến sự tồn tại của ý thức, thông qua cảm giác của thân thể. Ảnh hưởng của thân thể lên ý thức là điều hiển nhiên, giống như sự khó chịu và đau đớn do bệnh tật gây ra, khiến chúng ta nhận thức được sự tồn tại khách quan của tứ khổ sinh, lão, bệnh, tử.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,538,215