Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tuyển tập các bài Tác Bạch

20/06/201102:26(Xem: 32779)
Tuyển tập các bài Tác Bạch
Phat_Thich_Ca_14

Tuyển tập các bài Tác Bạch

Cầu An Lễ Thành Hôn (2)

Hai con thân mến,

Hôm nay là ngày thành hôn của hai con, ngày kỷ niệm trọng đại trong đời. Vì vậy nên về mặt tâm linh mới có phần nghi lễ trang nghiêm này. Thầy đã thay mặt ngôi Tăng Bảo ngưỡng bạch lên mười phương chư Phật, cầu thùy từ chứng minh gia hộ cho hai con được an vui hạnh phúc và vạn sự kiết tường như ý. Sau đây, Thầy có vài lời khuyên nhủ: Kể từ hôm nay các con không còn ỷ lại vào Cha Mẹ mà các con thực sự nhận lãnh trách nhiệm của tuổi trưởng thành đối với bản thân, gia đình và xã hội.

a. Đối với bản thân

Nếu các con chưa quy y ngôi Tam Bảo, thì nên cần cầu quy y. Nếu đã quy y rồi, thì các con phải giữ tròn Tam quy Ngũ giới và phải luôn luôn nghe lời, giữ đúng là một Phật tử tại gia, học tu đúng Chánh Pháp hầu làm lợi ích cho mình và cho mọi người mọi loài chung quanh mình.

Hai con luôn luôn khắc sâu vào tâm trí hình ảnh của chư Phật, bởi vì Phật là đấng phước trí vẹn toàn.

Hai con phải luôn luôn nhớ rõ những lời Phật dạy, vì lời dạy của chư Phật là nguồn chơn lý thậm thâm vi diệu.

Hai con phải luôn luôn tuân cứ với sự khuyên dạy của chư Tăng vì chư Tăng là bậc thay mặt Phật tu hành tinh nghiêm thanh tịnh thường trú tại thế gian truyền trì Chánh Pháp, làm nhiêu ích cho chúng sanh.

Khi hai con đã hiểu sự lợi ích to lớn và ý nghĩa cao quý về Phật Pháp Tăng là ba ngôi báu nhất, thường còn ở thế gian này, các con đã hướng về quy ngưỡng rồi thì dầu gặp phải hoàn cảnh nào, trường hợp nào các con cũng không xa rời. Các con không quy ngưỡng theo trời thần ma quỷ, không tin theo ngoại đạo tà giáo, không tùy tùng bè bạn xấu ác. Được như vậy, các con chẳng những đời này đầy đủ phước đức mà vĩnh kiếp không còn sa đọa nơi ba đường dữ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

( Về phần Năm giới

Phật dành riêng răn dạy cho hàng tại gia, hai con phải nhớ và làm theo:

Hai con không nên sát sanh, làm cho kẻ khác vì mình mà chết. Trái lại, luôn luôn tôn trọng sự sống của người và muôn vật.

Không nên gian tham trộm cắp bất cứ vật quý báu hoặc nhỏ nhặt.

Không được phạm thuần phong mỹ tục, phá hoại hạnh phúc gia đình và tiết hạnh của người khác.

Phải giữ sự thành tín, không nói lời dối trá để thủ lợi về mình, gieo họa cho kẻ khác.

Không nên vì sự buồn vui vô lý mà phạm vào việc say sưa rượu chè.

Tuân giữ đúng Tam quy Ngũ giới là điều kiện tiên quyết của người con Phật tại gia, không thể thiếu được.

Kinh dạy: Bốn điều TIN không thể mất. Bốn điều này phải giữ thanh tịnh không gì lay chuyển nổi. Bốn điều TIN là tin Phật, tin Pháp, tin Tăng và tin Chánh giới.

b. Đối với gia đình

Trong kinh Thiện Sanh, đức Phật dạy con người sống phải có mối tương quan giữa vợ và chồng.

Chồng đối với vợ có 5 điều:

  1. Lễ độ với vợ
  2. Không xem thường vợ
  3. Chung thủy với vợ
  4. Trao quyền nội chính cho vợ
  5. May sắm đầy đủ cho vợ.

Vợ đối với chồng cũng phải đủ 5 điều:

  1. Thay chồng quản lý nhà cửa ngăn nắp
  2. Săn sóc giúp đỡ chồng
  3. Trinh thuận với chồng
  4. Giữ gìn tài sản chung
  5. Siêng năng làm việc và thuận thảo với Cha Mẹ, thân bằng quyến thuộc hai bên.

Phần này hai con phải tìm học nơi kinh Thiện Sanh, kinh Ưu Bà Tắc, và phải giữ đúng lời Phật chỉ dạy. Thực hành đúng phần này là gây dựng hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và làm nền tảng gầy dựng phước đức an vui cho con cháu.

c. Đối với xã hội

Quan hệ vợ chồng, gia đình, thân quyến khắng khít, sẽ giúp liên quan xã hội mật thiết. Vì gia đình là phần tử của xã hội. Nếu mọi người đều tốt thì xã hội tốt và nếu xã hội tốt thì cảnh thiên đường Niết Bàn ở ngay chốn trần gian này. Chân lý nhân sinh vũ trụ là không có sự vật gì đơn độc mà tồn tại. Luôn có nhân duyên liên quan tương đối với nhau. Hai con phải có sự hiểu biết như thế để nhớ làm tròn phận sự đối với xã hội, chu toàn nghĩa vụ công dân với đất nước và chung cùng trách nhiệm đời sống cũng như tình cảm với bà con làng xóm láng giềng.

Ân Tam Bảo, ân Thầy Bạn, ân Cha Mẹ, ân Đất Nước và ân Chúng Sanh, là bốn ân người Phật tử phải làm tròn.

Này hai con, tục lệ vào ngày lễ Thành Hôn có phần trao Nhẫn để làm điều kết ước cùng nhau và cũng chính vật kết ước này nhắc nhở cho nhau ghi nhớ mãi mãi.

Chiếc Nhẫn làm bằng vàng, hình khoen vòng tròn đeo vào ngón tay. Vàng là một trong những vật quý của người đời, tượng trưng cho sự trong sạch không nhiễm ô, không thay đổi chất màu với thời gian. Vòng tròn tượng trưng cho sự tròn đầy trong quy luật gia đình. Tên của nó gọi là NHẪN, nhắc nhở người đeo phải nhẫn nhịn nhau. Kinh Pháp Hoa Phật dạy là có Nhẫn Nhục được thì mới nhu hòa. Kẻ nào Nhẫn Nhục Nhu Hòa là kẻ ấy đang mặc áo Như Lai, hưởng đủ đầy công đức.

Trong đời sống hằng ngày, hai con không sao tránh khỏi ngang trái. Khi gặp hoàn cảnh nghịch ý, hai con đưa ngón tay nhìn vào chiếc Nhẫn để rồi Nhẫn Nhịn hoặc Nhẫn Nhục. Được như thế, hai con mới xây dựng và bảo vệ hạnh phúc cho nhau và cho mọi thành viên của đại gia đình mình.

Phật dạy: “NHẪN LÀ GỐC CỦA MUÔN HẠNH LÀNH. TRONG CÁC HẠNH, NHẪN Ở ĐỊA VỊ CAO NHẤT”. Thay mặt người thân hai con, Thầy trao đôi Nhẫn làm vật kết ước này để tượng trưng dẫn dắt hai con LUÔN SỐNG VỚI HẠNH NHẪN.

Được hạnh NHẪN, hai con luôn nhớ sống theo hạnh NHẪN NHỤC và khắc ghi ân sanh thành nuôi dạy của Cha Mẹ đôi bên, bởi Người đã lam lũ hy sinh và trao trọn tình thương vô bờ bến cho hai con. Có đức TIN vững chắc và hạnh NHẪN NHỤC kiên trì, bước đường tương lai của hai con chắc sẽ hoàn toàn an vui hạnh phúc.

Nam mô Thường Hoan Hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát.


Lễ Hiệp Kỵ GĐPT (2)

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Tác Đại Chứng Minh.

Kính bạch Đại Đức Tăng,

Thưa Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPTVN và các Anh Chị Huynh Trưởng cùng toàn thể Đoàn viên GĐPT hiện diện hôm nay.

Thưa Anh Chị Huynh Trưởng,

Đáng lẽ phần Đạo từ này do Hòa Thượng Viện Chủ Quảng Hương Già Lam ban phát, vì Hòa Thượng là vị Cố Vấn Giáo Hạnh Ban Hướng Dẫn Trung Ương lâu nay. Nhưng vì, với Đạo tình với tổ chức của GĐPT, cũng như trách nhiệm của một vị Tăng già đối với đàn hậu tấn, tôi xin đãi lao Đại Đức Tăng có vài lời cùng Anh Chị Huynh Trưởng.

Thưa Anh Chị Huynh Trưởng,

Hôm nay, ngày 07 tháng 03 năm Mậu Tý, ngày kỷ niệm Húy nhật cụ TÂM MINH LÊ ĐÌNH THÁM, và Hiệp tiến chư Hương linh Đoàn viên Quá cố GĐPTVN do Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPTVN tổ chức tại chùa Quảng Hương Già Lam này.

Cụ TÂM MINH LÊ ĐÌNH THÁM không những là vị Tiền bối sáng lập tổ chức GĐPTVN, mà cũng là người sáng lập Hội An Nam Phật Học, người đào tạo Tăng tài cho Phạt Giáo Việt Nam. Những vị bậc Thầy lãnh đạo của Phật Giáo hiện nay phần lớn đều do sự đào tạo của Cụ mà trưởng thành.

UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN – Chúng ta là con cháu của các vị tiền bối, chúng ta có bổn phận tri ân báo ân, chúng ta không thể là những con người vong ân bội nghĩa, để mang tiếng là những kẻ “Ăn cháo đá bát”, “Qua cầu rút ván” để rồi bị người đời nguyền rủa.

Đại Đức Tăng hết sức thông cảm hiện tình của GĐPTVN, không những khó khăn từ bên ngoài mà cả những thử thách từ bên trong.

Đại Đức Tăng có một sự nhận định rõ ràng là: Ở đời con cháu là thế hệ kế thừa của Gia đình, Thanh thiếu niên là rường cột tương lai của Đất nước, thì Gia Đình Phật Tử là người tiếp nối dòng dõi của Đạo pháp.

Thiếu con cháu thì Gia đình sẽ tuyệt tự, thiếu tuổi trẻ Đất nước sẽ không có người anh tài, thiếu Đoàn viên GĐPT Giáo Hội Phật Giáo sẽ không có người Hộ Pháp trong tương lai.

Vì thế ai chối từ, ai làm trở ngại tương lai của con cháu là người có tội với lịch sử, dù Đời hay là Đạo. Riêng tôi, với tư cách là một Tu sĩ Phật Giáo, tôi khẳng định GĐPTVN chưa hề làm gì có tội với Đạo Pháp và Dân Tộc.

GĐPT là một tổ chức đào tạo về phương diện Đạo Đức cho Thanh thiếu niên, nó rất cần thiết cho Xã hội, cho Đất nước.

Thiếu Đạo Đức, con người phụ trách về bài trừ ma túy, sẽ là người tổ chức buôn bán ma túy.

Thiếu Đạo Đức, ông thanh tra lại là người ăn hối lộ.

Thiếu Đạo Đức, con đánh cha, học trò đánh Thầy Cô giáo. Vì thế, bẳng đi một thời gian, ở các trường học lại phải xuất hiện những tấm bảng: “Tiên học Lễ, Hậu học Văn”.

Đạo Đức cần thiết cho con người, cho Xã hội như thế, cho nên tổ chức GĐPT cần phải tồn tại với cuộc đời.

Cuộc đời sở dĩ đau khổ là vì thiếu tình thương, thiếu trí tuệ và thiếu dũng cảm. Thiếu tình thương nên con người hận thù nhau, giết hại nhau. Thiếu trí tuệ nên con người không thấy được “Sự thật” vạn loài đều cùng một bản thể. Thiếu dũng cảm nên con người không thắng được lòng ham muốn thấp hèn, vô bờ bến, nhu nhược, ích kỷ của mình. Do đó, châm ngôn của GĐPT là Bi Trí Dũng.

Theo lời đức Phật dạy – Thời đại hôm nay là thời đại “Đấu tranh kiên cố” – Nước này đánh Nước nọ, Chủ nghĩa này đấu tranh Chủ nghĩa kia, Tôn giáo này muốn lấn chiếm Tôn giáo khác. Không những thế, trong một nước lại sanh chia rẽ bè này phái nọ, sắc tộc này sắc tộc kia. Trong cùng một tôn giáo, cùng thờ một vị Giáo chủ, nhưng chia ra nhiều Giáo phái. Vì tranh giành ảnh hưởng, tranh giành quyền lợi, nên bôi bác lẫn nhau, hãm hại lẫn nhau.

Có người nói: Thời đại này là thời đại con người đang tranh giành nhau về “Niềm tin”. Vì muốn tranh giành chiếm đoạt niềm tin của con người, nên người ta dùng mọi thủ đoạn, mọi sách lược để làm hại lẫn nhau.

Những biến cố đã xảy ra ở những nước Phật Giáo như Tích Lan (Srilanka), Miến Điện (Myanma), Thái Lan, Tây Tạng v.v… là những minh chứng.

Tôi trình bày các điều trên để các Anh Chị Huynh Trưởng thấy sự khó khăn, những thách thức, không phải là điều chỉ một mình GĐPTVN gánh chịu mà đang là thách thức của toàn thể Phật tử ở các nước Phật Giáo.

Và đây cũng là lý do mà người Phật tử, người Huynh Trưởng phải đem hết khả năng về đức tính “Dũng” của mình để đương đầu với khó khăn, với thử thách. Nhất là để bảo vệ “Lý Tưởng Áo Lam” mà mình đã tôn thờ.

Đạo Phật là Đạo đem lại an vui và hạnh phúc cho con người. Nhưng đòi hỏi con người phải chân thành, phải học phải tu thật sự.

Hiện tại có hai hạng người thờ Phật:

  • Một hạng người thờ Phật với tâm niệm chí thành chí kính, chiêm ngưỡng hình ảnh từ bi của đức Phật, để dứt bỏ tâm niệm xấu xa của mình và thực hành theo lời Phật dạy.
  • Một hạng người thờ Phật bằng cách dùng ảnh tượng mỹ thuật trang trí phòng khách, với mục đích để nhà mình thêm sang trọng.

Hai cách thờ này rất sai khác nhau. Khổ thay! Người thờ Phật để trang trí phòng khách lại không thích người thờ Phật đúng Chánh Tín.

Lại nữa, cuộc đời là vô thường. Nếu luận về công tội, đúng sai, phải trái, không phải là dễ. Vì cái phải hôm nay có thể là cái trái ngày mai, tội hiện tại có thể là công ở tương lai. Chứng minh điều này: Ngày xưa, Tần Thỉ Hoàng bị xem là bạo chúa, bắt nhân dân Trung Hoa phải khổ sở, chết chóc để xây dựng Vạn Lý Trường Thành, nhưng ngày nay các đoàn du khách trên thế giới được giới thiệu Vạn Lý Trường Thành là công trình vĩ đại của Trung Quốc, Tần Thỉ Hoàng lại trở thành người hùng.

Năm 1975, người Việt Nam nào bỏ nước ra đi bị xem là phản quốc, nhưng ngày nay những người ấy trở về đã được xem là những người làm giàu cho Đất nước.

Tôi trình bày điều này để nói lên mọi việc ở thế gian đều có tánh cách giai đoạn – Với hy vọng: Một ngày nào đó, GĐPTVN lại được xem là một tổ chức đào tạo về phương diện Đạo Đức cho Thanh thiếu niên Việt Nam. Để GĐPTVN có cơ hội đóng góp vào công cuộc xây dựng Đất nước Việt Nam, phụng sự Dân tộc như bao đoàn thể Thanh thiếu niên khác.

Ông Dương Trung Quốc, Tổng Thư Ký Hội Khoa học Lịch sử đã nói lên một câu nói ấn tượng đầy tâm huyết: “Chúng ta không thể trách giới trẻ quay lưng với lịch sử, khi mà người lớn phá di tích lịch sử, lấn đất chùa, ăn cắp tượng Phật”.

Hôm nay, trước Phật đài trang nghiêm thanh tịnh, trước Anh Linh các vị Tiền Bối có công với Đạo Pháp Dân Tộc, Đại Đức Tăng xin nhất tâm nguyện cầu chư Anh Linh hộ trì cho GĐPTVN tăng nhiều nghị lực để vượt qua mọi sóng gió thử thách của cuộc đời. Nguyện cầu chư Tôn Đức Ân Sư Cố Vấn Giáo Hạnh, Cố Vấn Giáo Lý, Chư Anh Linh, Chơn Linh, Hương Linh, Sáng Lập Viên, Bảo Trợ, Cựu Huynh Trưởng, Gia Trưởng, Huynh Trưởng và Đoàn sinh quá cố, trượng thừa Tam Bảo lực siêu sanh Lạc Quốc.

Nam Mô Tiến Vãng Sanh Bồ Tát Ma Ha Tát.

Lễ Thọ Giới Thập Thiện và Bồ Tát Tại Gia của các Anh Chị Huynh Trưởng GĐPT

Nam Mô Thập Phương Thường Trú tam Bảo Tác Đại Chứng Minh.

Kính bạch Đại Đức Tăng,

Thưa Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPTVN,

Cùng Anh Chị Huynh Trưởng,

Sáng nay, ngày 18 tháng 11 năm Mậu Tý, tại Đàn tràng Quảng Hương Già Lam này, các Anh Chị đã phát tâm lãnh thọ giới Thập Thiện và Bồ Tát tại gia; giờ này tôi xin đãi lao Đại Đức Tăng có vài lời cùng quý vị.

Thưa quý vị,

Trước hết, Đại Đức Tăng có lời hết sức tán thán Đạo tâm của toàn thể Phật tử, cũng như Anh Chị Huynh Trưởng đối với Đạo Pháp, dù đã trải qua nhiều sự thăng trầm của lịch sử Đất Nước và Phật Giáo, quý vị vẫn giữ một lòng sắt son với lý tưởng cao đẹp của mình.

Riêng với tổ chức GĐPT, Đại Đức Tăng luôn luôn xác định là con cháu kế thừa đích tôn của Phật Giáo. Đến một địa phương nào mà thấy vắng bóng sinh hoạt của GĐPT, biết rằng Phật Giáo ở địa phương đó rồi đây sẽ lụn tàn – vì tre tàn mà không có măng mọc.

Đối với GĐPT, các vị Cố vấn Gia Đình nhận thấy: các Anh Chị Huynh Trưởng lâu nay đã hy sinh nhiều trong sự sinh hoạt và duy trì tổ chức, như thế chưa đủ mà còn phải chú trọng đến vấn đề tu học bản thân – vì muốn cải hóa xã hội, trước hết phải cải hóa mình.

Nay Anh Chị đã thọ trì giới Thập Thiện và Bồ Tát tại gia. Bồ Tát giới là tinh thần Đại Thừa giới, đặt “Lợi Tha” lên trên tất cả. Ví dụ: Trước đây Anh Chị Huynh Trưởng thọ trì 5 giới, chỉ cấm uống rượu; nhưng nay thọ trì giới Bồ Tát tại gia thì giới quan trọng là không được bán rượu, nấu rượu. Vì sao? Vì uống rượu thì chỉ bản thân mình say sưa, mà bán và nấu rượu thì sẽ làm cho nhiều người say sưa, đọa lạc.

Đại Đức Tăng nghĩ rằng: Lâu nay Anh Chị Huynh Trưởng đã thực hành Bồ Tát hạnh trong câu:

“Làm nghề Huynh Trưởng không gạo nuôi thân, bỏ nghề Huynh Trưởng không năng lượng nuôi tinh thần”.

Theo Đại Đức Tăng câu này không phải là một câu chỉ thuần túy nói về phương diện kinh tế, an bần thủ Đạo của Anh Chị Huynh Trưởng, mà nó đã nói lên sự hy sinh của Anh Chị đối với Đạo Pháp. Anh Chị đã chối từ sự cám dỗ của tiền tài danh lợi, đã chịu đựng sự áp bức của cường quyền thế lực để duy trì Lý Tưởng Áo Lam cao đẹp của mình.

Nói Huynh Trưởng là một nghề, vì nó giống như nghề Thầy giáo, Cô giáo có trách nhiệm giáo dục và hướng dẫn Thanh thiếu niên về phương diện Đạo Đức Tâm Linh. Thử nghĩ thời đại nạo lại không cần Đạo Đức, thiếu Đạo Đức cuộc đời sẽ loạn.

Trước đây lúc còn sống, ngài Đại lão Hòa Thượng Thích Mật Hiển, viện chủ chùa Trúc Lâm – Huế, thường dạy hàng Tu sĩ Phật giáo một câu đầy tâm huyết và ấn tượng:

“Làm Thầy tu thì đừng sợ chết,

Sợ chết thì đừng làm Thầy tu”.

Áp dụng câu này vào tổ chức GĐPT chúng ta có thể nói như thế này:

“Làm Huynh Trưởng thì đừng sợ gian lao thử thách,

Sợ gian lao thử thách thì đừng làm Huynh Trưởng”.

Thưa Anh Chị Huynh Trưởng,

Cuộc đời sở dĩ đau khổ vì thiếu Tình Thương, Trí Tuệ Dũng Cảm. Vì thiếu Tình Thương nên con người xâu xé, giết hại lẫn nhau. Vì thiếu Trí Tuệ nên con người không nhận được nhân loại cùng chung một bản thể – đều ưa sống sợ chết – máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn. Vì thiếu Dũng Cảm nên con người không thắng nổi những dục vọng, ích kỷ thấp hèn của mình và còn chấp trước “Ta” và cái “của Ta”.

Vì thế Bi Trí Dũng giúp cho con người có một Tình Thương rộng lớn, một Trí Tuệ nhận thức đúng chân lý, một tinh thần Dũng Cảm thắng được các dục vọng thấp hèn – và cũng vì thế châm ngôn của GĐPT là Bi Trí Dũng.

Đức Phật dạy: “Tam Giới không an do như nhà lửa”. Thế giới này vô thường, sẽ có ngày tiêu diệt – do lòng tham lam, hận thù và si mê của con người gây nên. Con người sẽ dùng khí giới nguyên tử, hạt nhân để tiêu diệt lẫn nhau. Con người tự hủy diệt mình bằng cách hủy phá môi trường thiên nhiên mà mình đang sống. Vì thế trách nhiệm của Bồ Tát là phải thực hành và truyền bá Phật Pháp để thế giới, nhân loại được sống còn.

Ngày nay, các Anh Chị đã trang bị cho mình cái áo giáp: “Bồ Tát Tại Gia”. Trong lúc phục vụ Chúng sanh, Anh Chị không còn sợ các thử thách, khó khăn của cuộc đời. Vì Bồ Tát quan niệm:

“Phiền não tức Bờ Đề

Sanh tử tức Niết Bàn

Tự do là ung dung trong ràng buộc

Hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau”.

Cuối cùng, Đại Đức Tăng cầu chúc các Anh Chị Huynh Trưởng sẽ là những vị Bồ Tát bất thối tâm.

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.


LễTưởng Niệm Đức Đại Lão Hòa Thượng Đệ Tứ Tăng Thống

Hôm nay, ngày … tháng … năm … là ngày lễ Tưởng niệm … Đức Đại Lão Hòa Thượng Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN, húy thượng HUYỀN hạ QUANG Giác Linh.

Giờ này, toàn thể hàng xuất gia, tại gia và toàn thể GĐPTVN qui tựu về ngôi chùa này để tưởng niệm cố Giác Linh Ngài.

Đời sống của Ngài là cả một gương sáng để chúng ta noi theo. Suốt cả một cuộc đời Ngài là cả những gì gian lao thử thách, để phục vụ Đạo Pháp và Dân Tộc.

Trong các nhà lãnh đạo Tôn Túc của Phật Giáo, mỗi Ngài có một hạnh nguyện nổi bật sai khác nhau: Ngài Hòa Thượng Trí Thủ thì nổi bật về Đức Độ, chuyên môn hàn gắn những gì đổ vỡ của Giáo Hội, Ngài HT Tâm Châu thì nổi bật về tài thuyết giảng và ngoại giao, Ngài HT Thiện Hoa thì chuyên về dịch viết kinh sách, Ngài HT Thiện Minh thì chuyên về kế hoạch đối ngoại, Ngài HT Mật Hiển thì nổi bật về ý chí kiên cố, chuyên về Mật Tông, Ngài HT Mật Nguyện thì chuyên lãnh đạo Tăng Già, Ngài HT Thiện Siêu thì chuyên về ban phát Đạo Từ, riêng Ngài HT Huyền Quang nổi bật nhất về ngành hành chánh, cụ thể nhất là khi Ngài phụ trách chức vụ Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo, trong các Đại Hội Phật Giáo, Ngài tường trình tình hình Phật sự từ Bến Hải đến Cà Mau một cách trôi chảy lưu loát, đầy đủ chi tiết từng địa phương mà trong tay không cần một tài liệu nào.

Điều đặc biệt là Đại Lão Hòa Thượng Đệ Tứ Tăng Thống là người rất quan tâm đến tổ chức GĐPT. Ngài quan niệm tổ chức GĐPT là con cháu kế thừa của Giáo Hội để phục vụ Đạo Pháp trong tương lai.

Trong bức thư gởi ông Vũ Quang, Trưởng Ban Tôn Giáo của Chánh Phủ tại Hà Nội ngày 01/11/1993, Ngài viết:

“… Nay Nhà Nước lúc nào cũng đặc biệt quan tâm tìm mọi cách để triệt tiêu GHPGVNTN và GĐPT, nhưng phải loay hoay vì tổ chức này làm gì nên tội, nếu không muốn nói là có công. 18 năm qua, vì lý tưởng Đạo Đức, Anh Chị Em Huynh Trưởng cao niên các ngành các cấp từ Trung Ương đến tận cùng cơ sở chịu đựng biết bao đau thương tủi nhục từ phía Nhà Nước các cấp, xem họ như là tội nhân của chế độ. Thế nhưng họ vẫn vui vẻ chịu đựng, bởi vì họ đã được un đúc tinh thần Phật Giáo, đức Từ bi, Nhẫn nhục, Hỷ xả, Vị tha. Họ cũng đã đi đúng giáo lý nhà Phật và truyền thống Dân tộc, tinh thần đó đã tôi luyện qua bao chế độ vô cùng khắc nghiệt trên quê hương đầy hận thù chinh chiến này…”.

Đức Đệ Tứ Tăng Thống đã tỏ bày thái độ của mình khi những vị lãnh đạo Phật Giáo đang tâm hạ bút khai tử tổ chức GĐPT, Ngài đã xem hành động này chẳng khác nào người Ông, người Cha cầm dao giết con cháu của mình, Ngài đã thổ lộ:

“Thà chúng ta chịu chết để cho con cháu chúng ta được sống, hơn chúng ta sống để con cháu chúng ta chết. Lịch sử muôn đời sẽ lên án quý vị”.

Và làm sao chúng ta quên được những lời dạy bảo tâm huyết cuối cùng khi phái đoàn Ban Hướng Dẫn GĐPTVN đến viếng thăm Ngài ngày 25 tháng 03 năm 2008 tại Tu Viện Nguyên Thiều Bình Định:

“Tôi cảm ơn và tán thán vì trước sau như một quý vị cũng viếng thăm vấn an tôi. Nếu cần một lời khuyên thì đó là: Trước sau mình vẫn là mình, không thay tên đổi họ, oan trái nên nhẫn chứ không nên biện bạch. Quý vị làm đúng, dù không ai công nhận, quý vị cũng tồn tại. Quý vị làm sai, dù có hào quang nào che chở, quý vị cũng bị đào thải”.

Đó là lời dạy cuối cùng của Ngài đối với GĐPT.

Giờ này, tôi xin thay lời Đại Đức Tăng nhắc lại một vài châm ngôn để Anh Chị Huynh Trưởng nuôi dưỡng ý chí phụng sự Đạo Pháp của mình:

- “Dù bao nhiêu gian khổ, dù gặp nhiều nguy khó, lý tưởng chúng con vẫn tôn thờ”.

- “Tôi yêu màu Lam là màu thêm sức sống.

Tôi yêu màu Lam là màu kết bao tình thương”.

- “Xem khó khăn là lò rèn ý chí,

Chính chướng duyên là thử thách vững đức Tin”.

Đại Đức Tăng cầu chúc Anh Chị Huynh Trưởng sống có thủy chung với Lý Tưởng Áo Lam của mình. Không gì đau buồn hơn khi nghe câu điếu văn:

- “Lúc sanh tiền Anh ở cạnh chúng em,

Nhưng lại thấy nghìn trùng xa cách.

Phút vô thường nay sum họp bên nhau…”.

Vì sao sống phải xa nhau, chết mới gần gũi sum họp? Vì danh, vì lợi, vì thiếu Bi Trí Dũng chăng?

Chắc chắn giờ đây các Anh Chị Huynh Trưởng đã biết làm thế nào để khi sống cũng như khi chết đều ở bên nhau.

Nam Mô Đệ Tứ Tăng Thống GHVNTN Đại Lão Hòa Thượng húy thượng HUYỀN hạ QUANG Giác Linh thùy từ chứng giám.


Chung Thất Trai Tuần Tôn Sư

Hôm nay, ngày … tháng … năm … là ngày Chung Thất Trai Tuần Đại Lão Hòa Thượng, Khai Kiến (Viện Chủ) Chùa … … … húy … thượng … hạ … Hòa Thượng Giác Linh.

Trong thời gian 49 ngày qua, mặc dù biết thế gian là vô thường, đã có sanh thì có diệt, có tụ hội thì có phân ly, nhưng Môn Đồ Pháp Quyến trong thời gian xa cách vĩnh viễn Tôn Sư, với tâm niệm phàm phu không làm sao khỏi ngậm ngùi thương nhớ.

Làm sao khỏi đau buồn thương tiếc, khi Môn Đồ mất đi một vị Minh Sư, Giáo Hội mất đi một vị lãnh đạo tài ba đức độ, Phật tử vắng bóng một bậc Tôn Sư Đạo Hạnh.

Mỗi lần làm lễ Tiến Giác Linh Tôn Sư, vị Sám Chủ lại xướng lớn:

“Vô Thường thị Thường, Thế Tôn thượng Song Lâm diệt độ, tịch diệt phi diệt, Đạt Ma tằng chích lý Tây quy. Sanh tự hà lai? Tử tùng hà khứ?”.

Chúng ta nên tìm hiểu câu này có ý nghĩa gì?

Câu này tạm dịch như sau:

“Sanh mà “Không Sanh” cho nên đức Thế Tôn còn thị tịch chốn Song Lâm.

Tịch Diệt mà “Không Diệt”, ngài ĐẠT MA từng quảy một chiếc dép về Tây.

Sanh từ đâu đến? Chết đi về đâu?”.

- Đã thành Phật, Pháp Thân của Phật vốn là bất Sanh bất Diệt, lại nữa đức Phật do công đức tu hành, do thần lực Ngài có thể duy trì sắc thân trong một kiếp, nhưng sau một đời hóa độ chúng sanh đã hoàn mãn, Ngài thị hiện nhập Niết Bàn tại rừng Ta La Song Thọ, để chứng minh rằng đã có sắc thân hình tướng thì có hủy diệt.

- Ngài ĐẠT MA Tổ Sư thì quảy một chiếc dép trở về Tây Thiên (Ấn Độ) để chứng minh rằng Diệt mà “Không Diệt”.

Ngài ĐẠT MA là vị Tổ Sư thứ 28 của Ấn Độ, lại là vị Sơ Tổ của Trung Hoa. Sau khi Ngài viên tịch, người ta chôn cất Ngài, nhưng sau đó những thương gia khi qua Ấn Độ thường gặp Ngài quảy một chiếc dép đi trên đường. Để tìm sự thật, lúc họ về Trung Hoa đào mộ phần Ngài lên thì chỉ thấy trong quan tài một chiếc dép, chứng minh Ngài đã tự tại giải thoát trong vấn đề sanh tử, do đó có câu: ĐẠT MA tằng nhất lý Tây quy.

- Đức Phật thì từ chỗ “Thường” thị hiện “Vô Thường”, từ chỗ “Sanh” thị hiện “Diệt”. Ngài ĐẠT MA thì từ chỗ “Vô Thường” thị hiện “Thường”, từ chỗ “Diệt” thị hiện “Sanh”. Đồng thời chứng minh câu “VÔ THƯỜNG THỊ THƯỜNG” của Phật Giáo, dù chúng sanh bị luân hồi sanh tử qua muôn vạn kiếp với thiên hình vạn trạng, Chân Như Giác Tánh trong mỗi chúng sanh vẫn tồn tại không mất. Tánh linh ấy, căn cứ trên phương diện Đạo Đức tu hành mà có tên sai khác: Vong linh, Hương linh, Chơn linh, Giác linh.

Câu “SANH TỰ HÀ LAI, TỬ TÙNG HÀ KHỨ?”

Con người sanh từ đâu đến?

Chết sẽ về đâu?

Đây là câu thoại đầu căn bản của người tham thiền, cũng là câu người tu hành quán chiếu để tìm cội nguồn sanh tử.

Để cảnh tỉnh về “VÔ THƯỜNG” trong kinh sách có những câu sách tấn như sau:

- Trong Văn Cảnh Sách huấn thị:

“Thân người chẳng khác cây mọc sát bờ, dây leo bên giếng, nào có gì là trường cữu. Chỉ một hơi thở tức về với hư không, sao lại an nhiên để thời gian trôi qua, không chịu tu hành”.

- Trong kinh Xuất Diệu thì cảnh tỉnh:

“Ngày nay đã qua, mạng cũng giảm theo

Như cá thiếu nước, nào có vui gì?

Ta phải siêng năng, tinh tấn tu tập.

Như cứu lửa trên đầu.

Nên nghĩ đến cơn vô thường, mà cẩn thận đừng có buông lung”.

- Trong bài giảng Vô Thường thì có câu:

“Người Xuất gia là người nhận biết định luật Vô Thường của cuộc sống, là người phân biết được cái gì Đời, cái gì Đạo, là người không chạy theo lợi danh trần tục, thà chịu Đời ghét, hơn là bị Đời khinh”.

- Nói đến định luật Vô Thường, chúng ta cần quan tâm đến điểm này:

“Ta đau khổ không phải vì vạn vật biến đổi vô thường mà đau khổ chính vì Tâm chúng ta chủ quan tham đắm cái mình ham thích không ở với mình”.

Ví dụ: Nếu bạn là người thích hoa lan, thì khi hoa lan tàn rụi bạn rất buồn tiếc, trong lúc đó các thứ hoa khác dầu có nở hay tàn bạn thấy không dính líu đến bạn. Một ngôi nhà cháy, bạn rất đau khổ khi ngôi nhà đó là ngôi nhà của bạn, nhưng nếu bạn đã bán nó cho một người khác trước đó vài ngày thì trong lòng bạn còn vui mừng nữa là khác.

Ngày xưa, cũng có một câu chuyện liên quan đến vấn đề Vô Thường, nhan đề là “Nụ cười Án Tử” trong Tự Điển Danh Ngôn Đông Tây của Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường. Câu chuyện như thế này:

Cảnh Công nước Tề đi chơi núi Ngưu Sơn, trèo lên mặt thành, đứng ngắm rồi tràn nước mắt vừa khóc vừa nói: “Đẹp quá chừng là nước ta! Thật là sầm uất thịnh vượng! Thế mà nỡ nào một tuổi một già, bỏ nước này mà chết đi. Giả sử xưa nay, người ta cứ sống mãi, quả nhân quyến luyến không nỡ bỏ nước Tề mà đi nơi khác”.

Bọn quân thần xiểm nịnh là Lữ Sử Không, Lương Khưu Cư thấy vua khóc cũng rống lên khóc và tâu rằng: “Lũ hạ thần này đội ơn vua có cơm rau mà ăn, có ngựa hèn xe xấu mà cưỡi cũng còn chẳng muốn chết, huống chi là nhà vua”.

Một mình Án Tử đứng bên cạnh phá lên cười vang.

Cảnh Công gạt nước mắt, ngoảnh lại hỏi Án Tử: “Quả nhân hôm nay đi chơi thấy cảnh mà buồn. Không và Cư đều theo quả nhân mà khóc, một mình nhà ngươi cười là cớ làm sao?”.

Án Tử thưa: “Tâu Bệ hạ! Nếu người giỏi mà giữ được mãi nước này thì Thái Công, Hoàn Công đã giữ mãi. Nếu người mạnh mà giữ được nước này thì Linh Công, Trang Công đã giữ mãi. Mấy vua ấy mà giữ mãi, thì bệ hạ nay đang mặc áo tơi, đội nón lá, đứng ở đồng cày ruộng, có đâu mà lo đến cái chết. Chỉ vì hết đời này đến đời kia, thay đổi mãi mới đến lượt bệ hạ, mà bệ hạ lại than khóc thật là bất nhân. Nay tôi thấy vua bất nhân, lại thấy bầy tôi xiểm nịnh cho nên tôi cười”.

Kính thưa quý vị,

Chân Như Giác Tánh của chúng ta là Chơn Thường Bất Biến, bài thơ “Sắc Sắc Không Không” của tác giả Hương Tuyền đã nói được điều ấy một cách bóng bẩy:

“Thuyền đi cô lái chẳng ngừng,

Mái chèo cô đập lên vầng trăng trong.

Trăng tan ra khắp dòng sông,

Như đàn rắn bạc vẫy vùng đua bơi.

Ngừng chèo cô lái đò ơi!

Nước trong: trăng lại sáng soi giữa dòng.

Có chi là “Sắc” “Không”,

“Tan” rồi lại “Hợp”, “Hoại” xong lại “Thành”.

Có chi là “Tử” “Sanh”,

“Tử Sanh” cũng bởi “Nghiệp” mình tạo ra.

Có chi là “Bệnh” “Già”,

“Có” thời vẫn “Có”, “Không” mà vẫn “Không”.

“Tâm” kia vốn là “Không”,

Không “Sanh” không “Tử”, cũng không “Bệnh Già”.

Không “Thiện Ác”, không “Chánh Tà”,

Không “Hình” không “Tướng” không “Ta” không “Người”

Không biến chuyển không đổi dời,

“Thân” kia dầu mất, “Tâm” thời còn nguyên.

“Sắc Không” thử ngẫm mà xem,

Khác chi mặt nước trăng in giữa dòng.

Đó là “Sắc Sắc Không Không”!

Hôm nay, ngày Chung Thất Trai Tuần của Đại Lão Hòa Thượng Giác Linh, Đại Đức Tăng, Môn Đồ Pháp Quyến và toàn thể Thiện Nam Tín Nữ Phật Tử nhất tâm cầu nguyện Giác Linh Hòa Thượng được như nguyện của người Xuất Gia:

“Tam y nhất bát

Vạn lý thiên gia

Hoằng dương du hóa ư Tà Bà

Duyên mãn ký quy y Tịnh Độ”.

Nam Mô Siêu Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.


Trai Đàn Chẩn Tế Cô Hồn

Hôm nay, ngày … tháng … năm …, nhân ngày … … … gia đình quý vị quy tụ về chùa … … … để tổ chức Trai Đàn … … … cầu siêu cho Cửu Huyền Thất Tổ, lịch đợi Tôn Thân, đồng thời tổ chức Trai Đàn Chẩn Tế Cô Hồn.

Đây là một việc làm phát xuất từ Hiếu Tâm Hiếu Hạnh và đầy lòng từ bi, Đại Đức Tăng xin tán thán công đức của toàn thể quý vị.

Tri ân và Báo ân là truyền thống tốt đẹp của người Á Đông. Dân tộc Việt Nam quan niệm: Hiếu là căn bản của đạo làm người.

Giờ đây tôi xin giải thích về ý nghĩa Trai Đàn Chẩn Tế Cô Hồn.

Cô hồn là những linh hồn cô đơn lạnh lùng, những linh hồn chết oan chết ức, chết đói chết khát, không có người thờ phụng cung kính.

Nói cách khác là những cái chết không ai hay, không ai biết, chẳng ai chôn cất, chẳng ai phụng thờ, đói khát bơ vơ, đầu đường xó chợ, tháng ngày chỉ biết nương nhờ am chùa cô quạnh…

Động lòng thương tưởng những chúng sinh đau khổ ấy, nhà đại thi hào Nguyễn Du đã có những lời văn tế:

“Thương thay thập loại chúng sinh,

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

Hương lửa đã không nơi nương tựa,

Phận mồ côi lần lửa mấy niên,

Còn chi ai khá ai hèn,

Còn chi mà nói ai hiền ai ngu”.

Theo giáo lý Phật Giáo chúng sinh sau khi chết, tùy theo Nghiệp lực phải luân hồi trong 6 cõi, trong đó có cảnh giới ngạ quỷ, tức là loài quỷ đói.

Loài quỷ đói có nhiều loài hình thức kỳ dị như: bụng to cổ nhỏ, thân thể gầy ốm, cử động nói năng thì cổ phựt lửa, chịu sự đói khát trải qua ngàn vạn năm không nghe đến tên cơm nước…

Loài này luôn luôn bị cảnh đói khát áp bức, muốn ăn thì đồ ăn biến thành than lửa, muốn uống thì nước biến thành máu, không thể dùng được. Mỗi khi nghe tiếng chén bát khua thì trong họng phựt lửa, do đó mà ở chùa cấm kỵ khua động chén bát lúc chiều tối.

Lại nữa, chữ đói khát ở đây không chỉ có nghĩa là chỉ khao khát thiếu thốn về vật thực ăn uống. Mà có kẻ thấy thiếu thốn về tình ái, có kẻ thấy thiếu thốn về uy quyền địa vị, có kẻ thấy thiếu thốn về giàu sang của cải. Tùy theo Nghiệp lực, hoàn cảnh của từng người.

Nguyên nhân nào khiến họ phải bị quả báo đọa vào loài này?

Nguyên nhân nặng nhất là do lòng tham lam bỏn sẻn:

“Không bố thí tiền của, không bố thí Pháp, không bố thí vô úy, thường ôm lòng tham lam bỏn sẻn, do nhân duyên ấy sẽ sanh vào loài ngạ quỷ”.

Cũng như do lòng sân hận quá nặng thì đọa vào địa ngục, ngu si nặng nề thì đọa vào loài súc sinh.

- Theo kinh “Biện Ý Trưởng Giả Tử” người nào hiện đời tạo 5 nghiệp ác sau đây, lúc lâm chung phải đọa vào cảnh giới ngạ quỷ:

  1. Bỏn sẻn không thích bố thí.
  2. Trộm cướp tài sản của kẻ khác, tham nhũng, ăn hối lộ, xén bớt tiền bạc phẩm vật cứu trợ, bóc lột người nghèo cô thế, ăn uống phung phí vô độ.
  3. Ngu dốt hẹp hòi không có lòng rộng rãi, xót thương.
  4. Chứa cất nhiều tiền của mà không dám ăn mặc.
  5. Có tiền của, song không cấp dưỡng cho Cha Mẹ, anh em, vợ con, tôi tớ.

Có một điều cần chú ý là Cửu Hoạnh Cô Hồn thuộc Ngạ quỷ sai khác vớ Cửu Hoạnh trong kinh Dược Sư.

“Cửu Hoạnh trong kinh Dược Sư” là: Uống nhầm thuốc, bị chết chém, đam mê tửu nhục mà chết, bị chết cháy, chết nước, bị thú dữ ăn thịt, té từ trên cao xuống, chết vì thuốc độc bùa chú, chết vì đói khát.

Trái lại, “Cửu Hoạnh Cô Hồn” thuộc về Ngạ quỷ thì nặng về phần ăn uống mà chết:

  1. Không nên ăn mà vẫn cứ ăn.
  2. Ăn quá no, quá lượng, không tiết chế.
  3. Nghi có độc mà vẫn cứ ăn.
  4. Ăn chưa kịp tiêu hóa mà đã ăn tiếp.
  5. Cưỡng ép ngăn đại tiểu tiện.
  6. Không tu hành mà thọ sự cúng dường của tín thí đàn na.
  7. Gần gũi với bè đảng xấu ác.
  8. Vào làng xóm không phải lúc.
  9. Biết chỗ cô nạn mà không tránh, nơi có ách dịch, có chó điên v.v…

Và đây là những tín hiệu lúc sắp lâm chung sẽ đọa vào loài ngạ quỷ:

- Thân mình nóng như lửa.

- Lưỡi luôn luôn liếm môi.

- Thường lo nghĩ đói khát, hay nói đến việc ăn uống.

- Miệng há ra không ngậm lại.

- Tham tiếc tiền của dây dưa khó chết.

- Mắt thường trương lên mà không nhắm.

- Đôi mắt khô khan như chim gỗ.

- Không đại tiện nhưng đi tiểu tiện nhiều.

- Đầu gối bên phải lạnh trước.

- Tay bên phải nắm lại, biểu hiện lòng bỏn sẻn.

- Lúc tắt thở hai mắt vẫn mở.

( Duyên khởi từ đâu mà có Trai Đàn Chẩn Tế Cô Hồn?

Trong kinh Du Già Diệm Khẩu Thí Thực chép: Một thời đức Thế Tôn ở trong trụ xứ “Tăng Già Lam Ni Câu Luật Na”, thành Ca Tỳ La thuyết pháp cho chúng đệ tử. Riêng tôn giả A Nan Đà đang tịnh tọa ở một chỗ vắng lặng khác.

Canh ba hôm ấy có một Ngạ quỷ thân cao lớn, hình hài khô đét, miệng đỏ rực, lửa cháy ra vào theo hơi thở, đầu tóc bờm xờm, trong tóc lửa khói xì ra, trông thật ghê khiếp. Mỗi lần con quỷ đi lại thì xương cốt kêu kẻo kẹt như chiếc xe khô dầu.

Ngài A Nan hỏi quỷ:

- Ngươi tạo nhân gì mà phải đọa làm thân kỳ dị như thế?

Quỷ đáp:

- Vì xưa tôi tạo nhân tham lam bỏn sẻn nên nay phải thọ thân quỷ này. Và thưa Ngài – theo tôi biết sau 3 ngày nữa Ngài sẽ chết, và sẽ đọa làm quỷ miệng lửa như tôi!

Tôn giả A Nan lấy làm kinh hãi hỏi quỷ:

- Có cách gì tránh được quả báo này chăng?

- Ngài muốn khỏi chết, chỉ có một cách là Ngài phải cúng thí mỗi phần 77 hộc đồ ăn uống cho vô số các loài quỷ, và nhờ đức Phật dạy cho pháp nghi “Chẩn Tế Thí Thực Cô Hồn”, Ngài mới mong thoát nạn.

Tôn giả A Nan buồn bã trở về trình bày bạch Phật, do đó đức Phật mới chỉ bày “Kinh Chú và Pháp Nghi Chẩn Tế Cô Hồn”. Đàn tràng này gọi là “VÔ GIÁ HỘI”. Vô giá hội có nghĩa là đàn tràng bao dung mà không ngăn ngại một ai. Hiền Thánh, Đạo Tục, sang hèn, giàu nghèo, trên dưới không ngăn ngại, bình đẳng thực hành gồm cả Tài thí và Pháp thí. Ngày nay vị Pháp Sư ngồi giữa là đại diện cho đức Phật Thích Ca, bên tả đại diện cho Bồ Tát Quán Thế Âm, và bên hữu đại diện cho Ngài A Nan. Khoa nghi Chẩn Tế gọi là “Du Già Mông Sơn Thí Thực”.

Theo khoa nghi “Chẩn Tế Cô Hồn” của Phật Giáo gồm có 13 loại: 1.Vua chúa, 2.Anh hùng tướng soái, 3.Quan văn, 4.Văn nhân, 5.Tu sĩ, 6. Đạo sĩ, 7.Thương nhân, 8.Chiến sĩ, 9. Sản phụ, 10. Di địch (côn đồ mọi rợ, ngây điếc câm ngọng, ngỗ nghịch với Cha Mẹ), 11.Cung phi, 12. Cái bang, 13.Thập loại Cô Hồn.

Đồng thời chúng ta cũng nên biết, chính con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) là hóa thân của đức Bồ Tát Quán Thế Âm để cảm hóa ngài A Nan và cai quản các loài quỷ khi thọ thực. Thông thường người ta tôn xưng hóa thân đức Quán Thế Âm là Tiêu Diện Đại Sĩ (ông Tiêu). Ở các chùa thờ ngài Tiêu Diện một bên và ngài Hộ Pháp một bên.

Bài tán ca ngợi ngài Tiêu Diện như sau:

“Diện nhiên đại sĩ, Bồ Tát hóa thân

Ốc tiêu sơn hạ hiện chơn hình

Kích phá thiết vi thành

Đới lãnh Cô Hồn, bảo mãn tận siêu thăng”.

Theo kinh điển, ngày xưa bà Thanh Đề, mẫu thân của Tôn giả Mục Kiền Liên sau khi chết, bị đọa làm thân quỷ đói. Sau khi tu hành chứng đặng lục thông, Tôn giả đã dùng đạo nhãn nhìn thấy thân mẫu của mình đang đọa ở địa ngục, làm thân quỷ đói. Tôn giả quá thương Mẹ, đã dùng thần lực xuống tận địa ngục để dâng cơm cho Mẹ. Mẹ Ngài quá vui mừng khi nhận bát cơm, nhưng do trong lòng còn tham lam bỏn sẻn sợ các loài quỷ đói đến giành giựt, một tay che bát cơm, một tay bốc cơm ăn, nên cơm kia đã hóa thành than lửa không thể ăn được.

Vì sao Tôn giả Mục Kiền Liên thần thông như thế mà không cứu được mẹ? Vì Mẹ Ngài chưa hồi tâm hướng Thiện, trong lòng còn tham lam bỏn sẻn.

Nếu lúc ấy Mẹ Ngài phát tâm từ bi phân phối chia sẻ cơm cho các quỷ đói, thì chắc chắn Bà sẽ siêu thoát tức thời. Điều này cho chúng ta thấy: Cái Tâm là rất quan trọng, nhất là Tâm Vị Tha mà trong kinh sách thường gọi là Bồ Đề Tâm.

Hôm nay, trước Phật đài trang nghiêm thanh tịnh, Đại Đức Tăng xin nhất tâm cầu nguyện: Chư Tôn Linh Tiền Bối, Cửu Huyền Thất Tổ, Nội Ngoại lịch đại tôn thân, tam thập lục bộ hà sa Nam Nữ Cô Hồn, Chiến sĩ trận vong, Nạn nhân chiến tranh, Nạn nhân giao thông, Nạn nhân thiên tai, Nạn nhân lao động, những kẻ không nơi nương tựa, không ai thờ tự cung kính, đều nhờ Phật lực, Pháp lực, Tăng lực, nhờ công đức thù thắng của Đàn tràng vô giá Pháp Hội hôm nay mà đều được siêu thoát, oan thân bình đẳng, đều thành Phật Đạo. Hiện tiền Trai chủ tiêu tai tiêu nạn, tăng phước tăng thọ, Hiếu Đạo viên thành.

Và đây là lời cầu nguyện của nhà đại thi hào Nguyễn Du đối với Thập loại Cô Hồn:

“Đàn Chẩn Tế vâng lời Phật giáo

Của có chi bát cháo, nén nhang

Gọi là manh áo thoi vàng

Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên

Ai đến đây dưới trên ngồi lại

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu

Phép thiêng biến ít thành nhiều

Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi tế độ,

Chớ ngại rằng có có chăng chăng

Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng

Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài”.

NAM MÔ VÔ TẬN TAM BẢO TÔN.

NAM MÔ SIÊU LẠC ĐỘ BỒ TÁT MA HA TÁT.

Xin chân thành tri ân nhị vị Hòa Thượng
Thích HẠNH ĐẠO, Thích TÍN NGHĨA
đã hỗ trợ tài chánh
để in tập BÀI GIẢNG & ĐẠO TỪ này.
Thích Minh Chiếu


Địa chỉ liên lạc:

Thầy MINH CHIẾU

Chùa PHẬT ÂN, Khu 14, Xã Long Đức,

Huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai

ĐT: 0612.643334



Trang Nhà Quảng Đức chân thành cảm ơn Thầy Trung Đạo và Thầy Hiếu Niệm
đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này (Thích Nguyên Tạng, 17-10-2013)






Ý kiến bạn đọc
24/08/201603:21
Khách
Mô Phật! Xin thầy viết giúp con bài tác bạch trong buổi quỹ lạo tặng quà người nghèo!
Còn thành kính tri ân công đức của thầy. Chúc thầy thân tâm thường an lạc!
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/09/201015:41(Xem: 8702)
5 bài kệ hô canh ngồi Thiền được áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay.
29/05/201307:00(Xem: 6043)
Chúng ta đang sống trong những ngày rộn ràng của đại lễ Phật Đản, một lễ hội văn hoá tâm linh mang tầm thế giới. Nhân dịp này, tôi xin lược ghi một số nhận xét về sự liên quan giữa âm nhạc Phật giáo và âm nhạc dân tộc, xem như góp một bông hoa nhỏ kính mừng ngày lễ hội tôn giáo trọng đại mà cả nước đang nô nức đón mừng.
20/11/201008:57(Xem: 5542)
Nghi lễ Phật giáo cũng có hai phần lễ và nhạc, tuỳ theo truyền thống văn hoá nghệ thuật của mỗi miền, mỗi vùng mà phần lễ nhạc Phật giáo sẽ ảnh hưởng và biểu hiện theo truyền thống của vùng...
05/04/201319:38(Xem: 6983)
Một năm, không theo trong Phật giáo, thông thường dân gian có ba ngày rằm chính. Đó là: Rằm tháng giêng, Rằm tháng bảy và Rằm tháng mười.
31/08/201012:50(Xem: 3012)
Trước cửa Phật lập đàn phổ thí, Cho trọn đều quân lợi âm dương, Quang minh tỏ khắp mười phương, Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào. Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp, Bóng mây từ che rợp mọi nơi, Lọt đâu dưới đất trên trời, Từ bi tế độ muôn đời viên thông. Trên đức Phật rất công rất chính, Dạy cho đời luyện tính tu tâm, Thương người đọa kiếp tối tăm, Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.
22/10/201017:13(Xem: 30482)
Hương vân nhi bố Thánh đức chiêu chương Bồ đề tâm quảng mạc năng lường Xúc xứ phóng hào quang
02/10/201121:08(Xem: 5142)
A Di Đà Phật Vô thượng oai vương Nguy nguy kim tướng phóng hào quang Khổ hải tác châu hàn Cửu phẩm liên bang Đồng nguyện vãn tây phương Nam mô pháp giới tạng thân a di đà phật.
28/02/201112:48(Xem: 6604)
Các Bài Tán Xấp theo Nghi Lễ Phật Giáo Miền Trung
04/01/201101:42(Xem: 3725)
Các thể điệu hành trì của nghi lễ Phật giáo Việt nam rất phong phú, ở đây chúng ta chỉ lượt qua các thể điệu chính như: xướng, hô, kệ, thán, độc, tán, tụng, trì, niệm.
14/03/201921:36(Xem: 9087)
Chùa Thiên Ấn do TT Thích Như Định thành lập năm 1992 (Nhâm Thân) tại thành phố Wollongong, tiểu bang New South Wales, cho đến ngày 14 tháng 4 năm 1993, nhân duyên đầy đủ, chùa chính thức dời về Canley Vale thuộc thành phố Fairfield. Chùa Thiên Ấn hiện tọa lạc tại số 69-71 Delamere St, Canley Vale (bao gồm lô đất số 56-58 Cadwell St, Canley Vale), Sydney, New South Wales với diện tích tổng quát là 3,600m2. Chùa Thiên Ấn tại Úc được đặt theo tên của Tổ Đình Thiên Ấn, Quảng Ngãi là quê hương của Thầy Trụ Trì Thích Như Định. Tổ Đình tọa lạc trên núi Thiên Ấn, phía dưới là sông Trà Khúc.