Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần 04

17/05/201318:06(Xem: 1649)
Phần 04

 

Khai Thị
[ Tập 2 ]
Đại Sư Tuyên Hóa
Việt dịch: Ban Phiên Dịch Đại Học Pháp Giới,
Vạn Phật Thánh Thành

--- o0o ---

Phần 04

31. Tu Đạo Không Được Cẩu Thả(^)

Người tu đạo cần có cơ sở, nền móng cho vững chắc. Muốn liễu sanh tử thì phải có công phu. Công phu tức là gì? Tức là cách vật, chánh tâm, thành ý, tu thân.

Muốn chánh tâm trước hết phảI hiểu cách vật. Thế nào là cách vật? Cách vật là trừ tự kỷ dục vọng; bỏ đi lòng tư dục, bỏ đi tạp niệm, bỏ đi lòng ham muốn vật chất. Vật dục thì bao quát tiền tài, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ. Những thứ đó mình phải cần diệt trừ tuyệt, sau đó mới chánh tâm.

Chánh tâm tức là không ích kỷ; có tâm ích kỷ thì tâm mình không chánh được. Thành ý tức là mình luôn như vậy; mình tin Phật thì tin hoài, tin vĩnh viễn; đem tâm chân thật ra tin tưởng, đem tâm hết sức kiên định ra mà tin tưởng, không chút hồ nghi, sợ sẽ chịu thiệt thòi, thua lỗ: “Chà, không biết có Phật hay có Bồ Tát chăng? Làm sao mình chẳng gặp các ngài?” Nghĩ như vậy cũng giống như cái nghĩ của con chồn khi đi trên mặt băng. Trên mặt băng, nó nhón gót đi hết sức cẩn thận, khi tiếng băng vỡ một chút xíu thì nó lập tức thối lui. Cho nên tục ngữ nói “như lý bạc băng” (như đi trên băng mỏng) là vậy. Người tin Phật đừng nên có tâm hồ nghi, rụt rè như rớt vào vực sâu hay là đi trên băng mỏng. Mình phải có lòng tin kiên cố.

Tu thân nghĩa là chuyện gì hại đến thân thì mình không làm. Lúc nào cũng phải cẩn thận giữ gìn. Bởi: thân thể, phát, phu, thọ chi mẫu, bất cảm hủy thương hiếu thủy dã. (Thân thể, tóc da là từ cha mẹ mà ra, do vậy không dám hủy hoại thương tổn. Đó chính là khởi đầu của đạo hiếu vậy.)

Tu hành thì phải có công phu “nội Thánh, ngoại Vương” (trong lòng như bậc thánh, bên ngoài biểu hiện như bậc vua). Nội Thánh tức là cách vật, chính tâm, thành ý. Tu thân là công tác của ngoại Vương, tức là phải lập công: Cần lao công khổ tác, bất phạ hoạt kế đa. (Cần cù, lao khổ làm đủ chuyện, không sợ ít hay nhiều.) Chuyện gì mình cũng phải làm cả; không thể nói rằng: “Tôi phải ngồi thiền hằng ngày mới là tu hành, tôi không muốn làm chuyện khác” ; bởi kẻ biết tu thì trong lúc động cũng tu hành được.

Tu hành nghĩa là tâm lúc nào cũng bình tịnh, không phiền não, không vô minh, không cống cao ngã mạn, không ganh tị chướng ngại. Những lỗi lầm trên không trừ thì dù mình ngồi thiền tám vạn đại kiếp, tánh nóng giận ganh tị chướng ngại cũng còn trơ trơ và mình không thể tu thành công được. Cho nên tu hành cần phải chân chính trừ bỏ tật khí lỗi lầm, kiểm điểm bản thân; đó mới là thái độ của người dụng công.

“Quân tử bất khí” nghĩa là người quân tử không phải như đồ vật, giống như ly trà thì chỉ có thể dùng để uống trà mà thôi, bát ăn cơm thì chỉ đựng đồ ăn mà thôi, không thể dùng vào việc khác được. Người quân tử thì văn võ phải song toàn, chuyện cao chuyện thấp đều làm được, như vậy thì mới có thể trị quốc bình thiên hạ đặng: Năng nã đao thượng trận, sát thối địch nhân. (Có thể vung đao xông pha nơi trận mạc, đuổi giặc diệt thù.)

Thế nên người tu đạo hằng ngày phải phấn chấn nỗ lực; tinh tấn tức là tu hành! Căn bịnh lớn nhất khi tu là tâm nổi lên phiền não. Nếu không có phiền não thì mình sẽ tự tại, giải thoát, thì mình chính là kẻ đại tu hành. Quan trọng nhất là bất cứ ở trong tình trạng nào, mình cũng phải hết sức định tĩnh, không sinh phiền não; đó là chỗ đắc lực của sự tu hành. Không sinh phiền não thì chân chánh trí huệ mới xuất hiện được.

Người quân tử có thể biến lớn, có thể thu nhỏ; khi nhỏ thì như hạt bụi, khi lớn thì như núi Tu Di, như cả Pháp giới. Bậc đại trượng phu thì cái chí có thể co giãn; kẻ nào cư xử với mình oan ức thì cũng không sinh phiền não, có thể co giãn một cách tự nhiên, lúc vuông lúc tròn, lúc thẳng đều được cả. Bởi vậy cho nên người quân tử không phải là đồ vật. Quân tử bất trọng tắc bất uy, học tắt bất cố. (Người quân tử không có trịnh trọng thì chẳng có uy đức, sở học cũng không kiên cố)

Nếu không kiểm soát bản thân mình thì không có oai nghi; sở học đều là giả. Cho nên người quân tử thì không cẩu thả, cười đùa cỡn bợt, không khinh cử vọng động. Người tu đạo cần phải vượt trên người quân tử. Người học Phật thì ngày nào cũng như vậy, không thể có một chút lười biếng, an phận!

32. Xã Hội Hỗn Loạn (^)

(Vạn Phật Thành ngày 1 tháng 7 năm 1982)

“Ninh vi trị thời khuyển, bấc tác loạn thế nhân.”

Dịch là:

“ Thà làm chó thời bình, không làm người thời loạn.” Câu này nói rằng làm một con chó trong thời bình so với làm người trong thời loạn lạc thì làm chó còn tốt hơn. Thời thái bình thì không có chiến tranh loạn lạc, cũng không có kẻ trộm cắp, cường đạo; cho nên chó không cần phải chú ý lo giữ cửa, nó hết sức thanh nhàn ngồi coi nhà. Song, đến thời loạn thì nhà nào cũng gài then sắt, khoá cửa, rồi phải nuôi nhiều chó; người nhà giàu thì lại thuê người gác cổng. Tuy phòng ngủ nghiêm mật song người ở trong nhà vẫn vô cùng sợ sệt như phải đi trên mặt băng mỏng, hay như rớt vào hố thẳm vậy.

Thế giới đầy khủng bố như vậy thì làm người không có ý nghĩa gì mấy, cho nên cổ nhân nói rằng: Ninh vi trị thời khuyển, bất tác loạn thế nhân!” Lại nữa, con người ở đời đa số điên đảo thị phi, cho điều đúng là sai, cho điều sai là đúng. Hiếu thuận là con đường chính đáng mà con người phải theo, song ít ai chịu làm; ngược lại, bất hiếu cãi cha mắng mẹ thì lại cho là có bản lĩnh cao cường. Các vị coi, thế giới hỗn loạn đến độ như thế nào? Giản dị mà nói: nhân vị chẳng còn nữa! Hãy xem ông tổng thống (Ronald Reagan) vài năm trước đây ông bị người ta hành thích, bắn trúng mấy phát, người bên cạnh ông cũng bị trúng thương; song hung thủ thì tòa án phán rằng vô tội!

Ám sát tổng thống mà vô tội thì chẳng phải là cổ võ cho người khác phạm tội hay sao? Chẳng phải là cổ võ cho người ta khinh thường pháp luật hay sao? Tôi thật chẳng hiểu nổi. Song tóm lại, đó là một chuyện hết sức khác thường. Nếu hung thủ không bị trừng phạt thì y có bịnh thần kinh, thì cũng không nên phóng thích để được tiêu dao, tự do như hiện tại. Nay thì y mặc nhiên được phóng thích và vô tội, như thế không phải là kỳ quái sao?

Lại nữa, trong thời gian gần đây ở Cựu Kim Sơn có hơn ba trăm ngàn người đồng tính luyến ái biểu tình thị uy. Những người đó già, trẻ, lớn, bé đều là thứ yêu ma quỷ quái xuất hiện phá rối khiến người ta điên đảo, hồ đồ, lấy đúng làm sai, lấy sai làm đúng. Các vị thấy họ giống như ngườI nhưng thực ra họ là thứ yêu ma quỷ quái tới thế giới này để nhiễu loạn trật tự bình thường của xã hội. Đã vậy, những kẻ không có tri thức còn cho hành động của họ là hợp pháp nữa. Các vị coi, có thật đáng thương xót chăng? Thật là loạn đến cực điểm!

Thời đại này thật đáng thương cảm vậy. Đối với những kẻ tri thức thì cố nhiên chẳng hiểu được chuyện này. Nhưng nếu các vị có lòng vì chính nghĩa thì nhất định các vị sẽ đau khổ đến sẽ khóc lên và tuyệt thực ba ngày vậy!

33. Hiệu Lịnh Nhân Ngày Quốc Khánh Nước Mỹ (^)

(Vạn Phật Thành ngày 4 tháng 7 năm 1982)

Hôm nay là ngày quốc khánh của nước Mỹ, kỷ niệm ngày kiến quốc. Đất nước có ngày kỷ niệm thì con người cũng có ngày kỷ niệm.

Thế nào là ngày kỷ niệm của mỗi người? Tức là khi chấn chính là người Phật tử. Mình nhớ lại xem đối với Phật giáo mình đã làm được gì rồi? Mình đã có cống hiến nhiều ít: Rằng Phật giáo hộ trì mình hay mình hộ trì Phật giáo? Nếu như Phật Giáo hộ trì mình, thì mình phải làm gì để báo đáp ân Phật? Nếu như mình hộ trì Phật giáo thì mình phải hỏi coi mình đã ra sức ra lực tới đâu rồi? Trong tâm có còn những thứ cặn bã hay chăng? Rằng đầu óc tư tưởng mình có còn vẩn đục hay không? Rằng mình đã làm gì để bảo vệ Phật giáo? Xét rõ những vấn đề đó rồi thì hãy coi thử mình có thật là tín đồ chân chính của Phật giáo hay không? Rằng mình có chân chính ủng hộ Phật giáo hay chăng?

Vạn Phật Thành là đạo tràng căn bản để kiến lập Phật giáo ở Tây Phương, là chỗ bắt nguồn của Phật giáo thế giới và cũng là chỗ trở về của Phật giáo thế giới. Không những thế, Vạn Phật Thành là nơi trở về của các tôn giáo khác nữa. Bất luận tôn giáo nào tới Vạn Phật Thành nghiên cứu Phật học thì cũng đều được hoan nghinh!

Vạn Phật Thành là của tất cả mọi người, là của tất cả chư vị Bồ Tát, của tất cả chư vị Hiền Thánh Tăng, A la Hán, Bích chi Phật. Vạn Phật Thành là của mọi thiện nam tín nữ. Nếu là một phần tử của Phật giáo thì nhất định phải ủng hộ và không để cho ai phá hoại Vạn Phật Thành được.

Trong quá khứ, ngài Hộ Pháp Vi Đà với ngài Già Lam chỉ đứng bên ngoài quan sát Vạn Phật Thành, coi thử tôi là một kẻ chẳng có tài cán gì làm thế nào mà kiến lập đạo tràng. Các ngài không biết rằng đạo tràng có thể kiến lập được hay chăng.

Nay thì tôi phải nói với ngài Hộ Pháp Vi Đà và ngài Bồ Tát Già Lam rằng các ngài không thể khoanh tay đứng nhìn được nữa; các ngài phải tận lực hộ pháp, tận lực làm tròn trách nhiệm ủng hộ Vạn Phật Thành.

Có Vạn Phật Thành thì có Phật giáo; nếu Vạn Phật Thành bị tiêu diệt thì Phật giáo cũng chẳng còn. Phật giáo Á châu đã sinh ra ung thư rồi, khó thể trị lành được. Còn ở Mỹ, Phật giáo đang bắt đầu sinh trưởng nên mọi thứ cần phải dùng Chánh pháp.

Các ngài Hộ Pháp Vi Đà và Già Lam! Ở nơi đạo tràng của Chánh pháp mà các ngài không tận tâm kiệt lực ủng hộ thì các ngài không xứng đáng là hộ pháp Vi Đà, cũng không đủ tư cách làm ngài Già Lam, bởi vì những điều các ngài đã làm và những nguyện các ngài đã phát khi xưa hoàn toàn mâu thuẫn nhau.

Do đó, bây giờ tôi nói rõ cho hai ngài biết rằng Vạn Phật Thành đã được kiến lập; các ngài phải mau mau đảm nhận trách nhiệm hộ trì Chánh Pháp. Phàm là thiên ma, ngoại đạo, yêu tinh quỷ quái, các ngài không được để cho chúng tới nhiễu loạn Vạn Phật Thành. Ma quỷ lại cũng được, song chúng không thể làm sóng làm gió, không được phá loạn quy củ của Vạn Phật Thành. Trong mười pháp giới thì Phật ở đây trụ trì đạo tràng; còn chín pháp giới khác bao quát tất cả loại thiên ma ngoại đạo đều phải ủng hộ Vạn Phật Thành.

Từ đây về sau, không ai được phép ở Vạn Phật Thành mà chẳng giữ quy củ. Mọi người ở đây phải hết sức giữ gìn giới luật. Bọn thiên ma ngoại đạo mà tới đây tối thiểu cũng không được sát sinh, không được trộm cắp, không được tà dâm, không được nói láo cũng không được uống rượu hút thuốc. Bất luận là người xuất gia, là kẻ tại gia, là người, là quỷ, là tiên, hay là súc sinh, đều phải nghiêm chỉnh tuân theo quy củ của Vạn Phật Thành, không được giãi đãi.

34. Ma Vương Cũng Phải Giữ Quy Củ (^)

(Vạn Phật Thành tối ngày 4 tháng 7 năm 1982)

Vạn Phật Thành là thành phố quang minh của thế giới. Vì quang minh nên ma vương vô cùng sợ hãi. Lúc bắt đầu kiến lập Vạn Phật Thành, ma vương và quyến thuộc trong Tam thiên Đại thiên thế giới đều sợ hãi, run rẩy. Bọn chúng muốn dùng mọi phương pháp mâu thuẫn để phá hoại Vạn Phật Thành. Phải chăng những người ở trong Vạn Phật Thành đối nghịch với chúng? Không phải đâu. Chúng ta luôn luôn đề cao cảnh giác mà tu hành.

Tu hành thì cần phải dùng định lực “như như bất động” để chế phục và dùng trí huệ“liễu liễu thương minh” để giáo hóa ma quân trong Tam thiên Đại thiên thế giới. Đương nhiên ma quân không nhất định nghe lời giáo hóa, song mình dùng phương tiện thiện xảo để cảm hóa, làm cho chúng vui vẻ mà quy y Tam bảo, phát tâm đại Bồ Đề. Đó là trách nhiệm của mỗi người trong Vạn Phật Thành.

Trong quá khứ, ngài Vi Đà và Bồ Tát Già Lam thường đứng ngoài mà nhìn Vạn Phật Thành, coi thử chùa có vươn lên nổi chăng. Song Vạn Phật Thành giờ này đã được kiến lập, quy củ đặt định rõ ràng; cho nên Hộ Pháp Vi Đà và Bồ Tát Già Lam, các ngài không thể thờ ơ được nữa, không thể bỏ lơ trách nhiệm của mình để bọn ma vương thừa cơ phá phách. Bồ Tát Hộ Pháp Vi Đà xưa kia đã từng phát nguyện hộ trì đạo tràng của Phật giáo; Bồ Tát Già Lam cũng có phát nguyện sâu rộng hộ trì tất cả các đạo tràng. Thế nên hiện tạI các ngài đừng có thờ ơ, mà cần phải tinh tấn tuần thủ Vạn Phật Thành, đừng để cho ma vương có cơ hội.

Hôm nay là Ngày quốc khánh của nước Mỹ và cũng là ngày kỷ niệm thành lập Vạn Phật Thành; mọi người ai ai cũng phải giữ giới luật, ủng hộ Vạn Phật Thành. Những kẻ hộ Pháp như là các vị trờI cũng không được “tọa thủ bang quan” mà cần đặc biệt phát tâm đại Bồ Đề ủng hộ Đạo tràng Hoa Nghiêm, giáo hóa tất cả ma quân ở trong Tam thiên Đại thiên thế giới. Trong quá khứ, ma vương thường lui tới Vạn Phật Thành để nhiễu loạn và thường hay phá hoại quy củ của Vạn Phật Thành. Song bắt đầu từ ngày hôm nay chúng ta phải đem quy củ đó mà kiến lập, làm Chánh pháp càng ngày càng sáng soi rực rỡ.

35. Thiên Hạ Bổn Vô Sự

Dung Nhân Tự Nhiễu Chi (^)

(Trên đời vốn chẳng có chuyện gì, chỉ do người ngu tự đặt chuyện)

Mình nghĩ rằng mình làm được chuyện tốt, kỳ thật chuyện đó không nhất định là tốt. Bởi vì sao? Bởi vì chủng tử của mình không trong sạch. Khi mình đem lòng háo thắng ra làm việc thì chủng tử không trong sạch, đem lòng háo thắng ra làm việc thì cái hạt giống cũng bất tịnh.

Như vậy thì phải làm sao? Phải “hành sở vô sự” nghĩa là làm cái chuyện không có gì cả. Làm chuyện gì thì phảI coi chuyện đó như là bổn phận của mình, đừng hướng ngoại mà truy cẩn, đừng vì có sự cầu cạnh mà làm. Hàng ngày điều gì mình làm phảI coi như là “hành sở vô sự” ; cho nên nói rằng:

“Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai?”

(Xưa nay chẳng có vật, ở đâu dính bụi bặm?)

Hoặc nói:

“Kiến sự tỉnh sự xuất thế gian,

Kiến sự mê sự đọa trầm luân.

Nghĩa là:

“Thấy việc, tỉnh ngộ: vượt trần gian,

Thấy việc, si mê: đọa luân hồi.”

Con người ở trên đời thì đầy vọng tưởng điên đảo, không dễ mà trừ khử được. Nếu như trừ đặng thì “viễn ly điên đảo mộng tưởng” rồi, chứng rồi chứng đắc “cứu cánh Niết Bàn”rồi!

“Không” cũng chẳng phải là không, “sắc” cũng chẳng phải là sắc, thì đó là “bổn địa phong quang” là nhà mình ở quê xưa. Nhưng vì chúng ta người nào cũng quay lưng lại với giác ngộ mà hợp vớI trần lao bụi bặm, không biết được mảnh đất cố hữu của mình cho nên điên đảo, chạy bên đông, dông bên tây, cầu danh, tìm lợi. Chừng khi mình đã được danh lợi rồi thì ôi thôi! Tiếc thay mình đã gần xuống lỗ rồi.

Cho nên, nếu chẳng phải là “thiên hạ bổn vô sự, dung nhân tự nhiễu chi” thì còn có chuyện gì, chỉ do người ngu tự đặt chuyện mà thôi.

36. Vì Nền Giáo Dục Mà Làm Chuyện Giáo Dục (^)

(Vạn Phật Thành ngày 27 tháng 8 năm 1982)

Tại Vạn Phật Thành, những điều mà chúng ta làm ở đây cùng với người ngoài đời hoàn toàn khác biệt. Ví dụ như hiện tại có trường tiểu học, trung học, đại học nhưng đều miễn phí. Vì sao như vậy? Bởi vì hiện nay có rất nhiều trường học biến thành nơi buôn bán học thức. Học sinh tới học thì chúng ta phải dạy cho chúng làm sao đừng bị tư tưởng tham lợi làm mờ tâm trí, đừng chú trọng đến tiền. Người xưa đi học là muốn sáng tỏ đạo lý; hiện tại người đi học chỉ vì ham danh lợi, làm thế nào để được nổi danh, để có lợi nhiều. Đó là vì sao? Là bởi phương pháp giáo dục ở trường sai lầm, rồi hậu quả là thế giới càng ngày càng suy sụp, đọa lạc.

Thế giới hiện tại có hai loại yêu quái xuất hiện nuốt chửng con người. Tuy bị nuốt chửng nhưng ta không hề hay biết. Có kẻ nghĩ rằng: “Ồ, hai con yêu quái đó tôi đã biết rồi tức là đầu đạn nguyên tử hay tia laser, tia X chớ gì?” Chẳng phải đâu. Những thứ đó chưa cao siêu bằng loại yêu quái mà tôi nói. Hai loại yêu quái mà tôi nói đây tức là computer và Tivi.

Computer, tiếng Trung Hoa gọi là điện não, bởi là tia “não” cho nên nó đoạt mất trí huệ của con người. Tivi tiếng Trung Hoa gọi là điện thị, chữ “thị” nghĩa là thấy, do đó nó cướp mất khả năng thấy của mình. Có người hỏi rằng: “Hằng ngày tôi coi Tivi tại sao mắt tôi chưa bị đui?” Đui tức là mình không còn nhận thức được chân lý nữa. Mình đã mê, lại chồng chất thêm mê, đã mù lại bị kẻ mù dẫn đường. Do vậy hiện tại những kẻ giết người, cướp của, phá hoại, làm đủ chuyện xấu xa đều do học nơi Tivi mà ra cả. Song người ta không biết điều đó lại còn cho rằng tivi… là những sản phẩm tối tân của thời đại tiến bộ. Kỳ thật các vị không biết tai hại giết người của nó.

Hiện tại còn có một loại yêu quái thứ ba xuất hiện nữa. Đó là gì? Đó là người máy (robot). Robot sẽ đoạt mất công việc của con người khiến con người trong tương lai không biết làm được gì nữa? Nếu con người mà vô ích thì sẽ thành phế nhân.

Bởi vậy ở Vạn Phật Thành nếu mình biết được một chút thì làm một chút chứ không buôn bán chữ nghĩa. Chúng ta cần phải chơn chính giáo dục trẻ em, dạy chúng hiểu làm sao hiếu thảo với cha mẹ, trung thành vớ quốc gia; biết hạ mình để tiếp người, có tư tưởng nhân nghĩa đạo đức. Phải chăng tư tưởng này thật là ngây thơ? Song các vị thử nghĩ có phương pháp nào tốt hơn để cảI biến tai ương trên thế giới này?

Muốn cải biến tai ương trên thế giới thì chỉ có trung hiếu, nhân nghĩa, đạo đức mới cứu được lòng người đã chìm đắm, mới hàng phục được yêu ma. Cho nên ở đây các trường trung học tiểu học hay đại học đều miễn phí cả. Do đó nơi điểm này thôi các vị phải đặc thấu hiểu rằng đây không phải chỉ là việc làm lấy lệ hay làm vì lợi lộc như các chỗ khác.

Lại còn một nguyên nhân nữa: lúc tôi còn trẻ thì tôi học không nhiều. Đối với nền học vấn phổ thông thời đại tôi không giỏi cho lắm. Nên tôi chỉ muốn tạo cơ hội và điều kiện tốt cho những thanh niên trẻ để họ hun đúc nền đạo đức nhân nghĩa; khiến tương lai họ trở thành bậc lương tài hữu dụng cho quốc gia, trụ cột cho xã hội.

37. Nhân Ác Lớn Nhất Là Sát Sinh, Ăn Thịt(^)

(Vạn Phật Thành ngày 2 tháng 8 năm 1982)

Mỗi người đều có nhân quả báo ứng của riêng mình. Hễ tạo nghiệp gì thì chịu quả báo đó. Không những chỉ có loài người là phải chịu quả báo mà tất cả chúng sanh cũng vậy; tạo nghiệp ngày xưa, ngày nay gặt quả. Điều đó không dễ hiểu đâu. Ví như bị đọa làm súc sinh hoặc ở nơi ác đạo thì rất khó khôi phục lại thân người; nên nói rằng:

Nhất nhất nhân thân,

Vạn kiếp nan phục.

Dịch là:

Thân người mất rồi,

Vạn kiếp khó tìm.

Trên thế gian có hai loại nhân: một là nhân thiện, hai là nhân ác. Khi mình trồng nhân thiện thì gặt quả thiện, khi mình trồng nhân ác thì gặt quả ác.

Người trồng nhân thiện đi đâu cũng biết “khắc kỷ phục lễ” (tự khép mình theo lễ nghĩa), “khuất kỷ đãi nhân” (hạ mình mà đối đãi với ngườI khác); lúc nào cũng không chiếm đoạt tiện nghi của kẻ khác, luôn luôn sẵn sàng chịu thua thiệt. Hễ ai gặp điều gì khó khăn thì mình lập tức giúp đỡ. Lúc nào cũng có chí làm điều thiện, lập công tu đức chớ không phải như kẻ chỉ biết lợi cho mình mà không nghĩ tới lợi ích của kẻ khác. Khi công đức thiện của mình đầy đủ thì tự nhiên mình sẽ thăng tiến, cho nên nói “chủng thiện nhân, kết thiện quả”. Từ nơi loài người mình có thể thăng lên cõi trời, rồi từ cõi trời có thể thăng lên cõi A la Hán, cõi Bích chi Phật, cõi Bồ Tát, từng bước từng bước thăng tiến. Đó là khí thế hết sức hưng thịnh. Hễ tạo công đức gì thì nhất định có được quả báo ấy, công đức không bao giờ mất đặng.

Thế nào là trồng nhân ác thì tương lai sẽ gặt quả xấu? Tức là nếu mình tạo ra oan nghiệt, phạm đủ thứ lỗi lầm, thì tương lai sẽ thọ quả báo của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Ai bảo mình làm nhân ác như vậy? Chẳng có ai bảo cả mà tự mình tạo lấy. Có câu rằng: Tự tác nghiệt, bất khả hoạt. (Tự mình tạo ra sự oan nghiệt không ai có thể tha thứ cho mình được.) Trồng nhân ác thì sẽ đọa vào ba ác đạo. Tóm lại làm điều thiện thì được tăng lên, làm điều ác sẽ bị đọa xuống. Do đó mọi thế giới đều do mình tạo ra, tự mình làm chủ đừng ỷ lại vào kẻ khác.

Song, cái nhân ác lớn nhất là gì? Tức là sát sinh. Con người nếu phạm ngũ giới (sát, đạo, dâm, vọng, tửu) thì sẽ rất dễ đọa vào ba ác đạo và cũng rất dễ thành kẻ đầy dẫy tri kiến sai lầm, tà vọng không tin Phật Pháp, không kính Tam Bảo. Đọa vào ba đường ác rồI thì khổ không cách gì nói được.

Tội lỗi lớn nhất mà mình đã phạm là gì? Tức là sát sinh, ăn thịt. Nếu bạn ăn thịt của người thì sau đó người sẽ ăn thịt của bạn lại. Hỗ tương ăn thịt lẫn nhau, hỗ tương chém giết, rồi hỗ tương đọa lạc. Một khi đã đọa lạc thì khó mà tiến lên được, đó là điều hết sức nguy hiểm, là đi vào “hiểm lộ” vậy. Có câu rằng:

“Tam giới vô an,

Do như hỏa trạch.”

Nghĩa là:

Ba cõi không an,

Giống như nhà lửa.

Đáng tiếc là tuy nhà cháy mà người ở trong đó vẫn thản nhiên coi thường.

Ngày hôm nay cử hành pháp hội Vu Lan, các vị thử nghĩ xem: Chúng ta và tôn giả Mục Kiền Liên, ai là người có đạo đức tu hành cao hơn? Tuy công đức của ngài cao như vậy mà còn phải thỉnh Phật siêu độ mẹ ngài; sau đó Phật đặt ra pháp hội Vu Lan để siêu độ cho cha mẹ, tổ tiên trong bảy đời. Đem mình so sánh với ngài Mục Kiền Liên thì mình không thể nào bì được. Song phụ mẫu, tổ tiên của mình thì thật là đang cần mình siêu độ cho họ đó. Bởi vậy chúng ta đừng lãng phí thời gian và đừng quên bổn phận làm người. Một khi mất thân này thì có hối hận cũng đã quá trễ.

38. Đôn Phẩm Lập Đức (^)

(Vạn Phật Thành ngày 10 tháng 10 năm 1982)

Người học Phật phải làm cho Phật giáo ngày một phát triển sáng lạng, đừng để Phật giáo ngày một suy thoái. Làm thế nào để càng ngày càng phát triển sáng lạng? Đầu tiên là phải bồi dưỡng phẩm cách cho ngày càng ưu tú, lấy đó làm nền tảng tốt. Khi có nền móng vững vàng thì tòa lâu đài xây lên không thể sụp đổ. Không thể xây một tòa cao ốc từ nền móng không kiên cố được. Trên phương diện tu hành thì cần phải có căn bản vững vàng, trước tiên cần phải “đôn phẩm lập đức”

Thế nào gọi là “đôn phẩm”? Tức làm làm cho phẩm hạnh được đôn hậu. Thế nào là đôn hậu? Tức là tính tình đừng có khắc nghiệt, đừng có nhỏ nhen, đừng có hiểm trá quanh co. Nói một cách khác thì tâm lượng phải rộng lớn như hư không, bao trùm cả pháp giới, không có gì là không bao phủ hay không dung nạp đặng.

Các vị thử nghĩ coi, hư không nào phảI chỉ dung nạp những thứ tốt đẹp thôi, nó sẵn sàng bao nạp cả khí ô nhiễm, bẩn nhơ. Chúng ta cũng vậy: Mình phải có tâm lượng rộng lớn, dung nạp mọi thứ trong hằng hà sa số thế giới, nào là Tam Giáo, nào là Cửu Lưu, tất cả mọi hình sắc vạn vật tốt xấu thiện ác đều phải dung nạp hết. Đó chính là làm cho phẩm hạnh đôn hậu, là bồi đắp cho đức hạnh của chính mình.

Mình cần phải nhún nhường mà tiếp đãi người khác, luôn luôn nhận rằng mình có lỗi lầm và tiếp thọ sự khuyến khích, chỉ bày của kẻ khác. Lúc nào cũng tìm cách sửa đổi cho tốt hơn, đừng nên chấp ngã, đừng nên có ngã tướng không nên coi cái “tôi” này là to lớn quan trọng. Đó chính là “đôn phẩm lập đức”, làm cho cái nền tảng của bản thân được vững vàng. Nếu làm được như vậy thì nhất định Phật giáo sẽ phát triển sáng lạng.

39. Đạo (^)

(Vạn Phật Thành ngày 10 tháng 10 năm 1982)

Cá ở trong nước mà không biết đang ở trong nước. Con người sống trong không khí nhưng không thấy được không khí. Tuy nhìn mà chẳng thấy, nhưng không thể nói không có không khí. Không khí tuy không có hình tướng nhưng chẳng phải là không có không khí.

Cá sinh ra trong nước, nó nhìn mà chẳng thấy nước; song một khi cá ra khỏi nước thì nó không thể sống được. Con người nhờ vào không khí mà sinh tồn; tuy ăn không khí không làm mình no, song mình cần không khí để sinh tồn. Vạn vật sẽ chết nếu thiếu không khí.

Nhân gian thì có không khí; ở trên trờI cũng có một loại Thần khí, Thần tánh; ở nơi Phật thì có Phật tánh. Phật tánh và Thần tánh tuy không thể thấy được, song cảnh giới của Thánh nhân thì không thể không có. Nếu không có thần khí thì chư thần sẽ đọa lạc. Nếu không có Phật tánh thì cũng không có Phật. Đó thật là cảnh giới vô cùng kỳ diệu.

“Tu hành” tức là tu Đại Đạo vô hình, tu đại đạo vô hình, tu đại đạo vô tình, tu đại đạo vô danh. Cho nên Thái Thượng Lão Quân có nói trong Thanh Tịnh kinh rằng:

Đại Đạo vô hình, sinh dục thiên địa,

ĐạI Đạo vô tình, vận hành nhật nguyệt.

Đại Đạo vô danh, trưởng dưỡng vạn vật.

Ngô bất tri kỳ danh, cưỡng danh vi Đạo.

Nghĩa là:

Đại Đạo chẳng có hình dáng nhưng sinh ra trời đất.

Đại Đạo chẳng có tình cảm song xoay vần nhật nguyệt.

Đại Đạo chẳng có tên tuổi song nuôi dưỡng vạn vật.

Ta chẳng biết tên là gì đành gọi là Đạo vậy.

Chữ Đạo này theo chữ Hán thì trên đầu có hai chấm, tức là điểm âm và điểm dương; lại cũng từ chữ nhân, nghĩa là người mà biến hóa ra. Hai điểm này chữ nhân viết lộn ngược. Tu Đạo có nghĩa là phải lộn ngược trở lại, là đi ngược dòng nước chứ không phải đi thuận theo dòng nước. Đi thuận theo dòng nước tức là sinh tử, mà đi ngược dòng nước tức là Niết Bàn. Chữ nghịch nghĩa là ngược, phía trên cũng có hai chấm, đó cũng là do chữ nhân mà ra. Cho nên muốn thuận thì thuận, muốn ngược thì ngược. Ở phía dưới hai chấm trong chữ “đạo” thì có một lằn ngang tức là chữ nhất. Chữ nhân này phân chia ra thành một âm một dương; “thiên âm, thiên dương” thì gọI là “cực” (thiên nghĩa là thiên lệch, khi âm thiên lệch hay khi dương thiên lệch thì đến chỗ cùng cực).

Còn đạo người thì ở chỗ nào? Từ nơi chữ nhất này, tức là số một (1) mà tìm. Một (1) là bản thể của các số. Một này từ đâu mà có? Một này từ nơi số không (0) mà ra. Đã “không” thì chẳng có trong cũng chẳng có ngoài, không bắt đầu cũng không kết thúc, quét sạch tất cả các pháp, lìa bỏ tất cả các tướng; phóng ra thì bao quát mọi thứ, cuộn lại thì ẩn tang chẳng thấy. Tất cả vạn vật bắt đầu từ số không này mà ra. Cho tới sông núi, đất đai, phòng ốc, nhà cửa, sâm la vạn tượng đều từ nơi “số không” này mà bắt đầu.

Nói một cách rõ ràng hơn thì “số không” này chính là bản hữu Phật tánh, là Đại Quang Minh Tạng rực rỡ sáng ngời. Nếu thâu nhỏ lại thì nhỏ hơn hạt bụi, nếu biến lớn ra thì trùm cả Pháp giới. Cho nên lớn vô cùng mà nhỏ cũng vô cùng; chẳng có hạn lượng nào cả là chính số không vậy. Song con người không biết giữ gìn quy củ, đem số khôngnày mà phá vỡ đi cho nên biến thành số một. Do đó nếu chỉ có số khôngmà thôi thì không có số một, cũng chẳng có các số khác và cũng chẳng cần thiết có các số khác.

Bởi vậy cho nên bản lai là hào quang sáng ngời rực rỡ, sau đó thì biến thành Một. Một này: mộtbên tức là âm, một bên tức là dương, có nghĩa là từ một âm một dương mà sinh ra muôn vật. Con người tu đạo thì phải từ nơi số mộtnày mà bắt đầu.

Trong chữ “Đạo”, ở dưới nét chữ “nhất” thì có chữ “tự”, bây giờ mình phải đi kiếm chữ tự. Chữ “tự” nghĩa là chính mình, gồm có dấu phết và chữ “mục” nghĩa là con mắt; tức là phải dùng con mắt mà hồi quang phản chiếu, mà hướng vào bên trong, không phải chạy ra ngoài mà nhìn. Đóng con mắt lại là chữ “tự”, tức là chính mình.

Bây giờ nếu thêm chữ “sước” ở một bên nữa thì thành ra chữ “đạo”, ý nói đạo là cần phải tu, bởi vì chữ “sước” có nghĩa là đi, là bước, là thực hành.

Ông Hàn Dũ ở trong Tập Nguyên Đạo có nói rằng:

Do thị nhi chí yên vi đạo

(từ nơi này mà đi tớI chỗ kia thì gọi là đạo)

Đạo có nghĩa là đường đi, cho nên tu Đạo thì cần phải cung hành thực tiễn, thật sự tu hành, phải nỗ lực và hết sức thành tâm. Nếu mình muốn phản bổn hoàn nguyên thì cần phải từ nơi số mộtnày mà tu về số không.

“Đắc nhất vạn tất” (Được một, mọi sự đều xong). Nếu mình khôi phục lại được “số không” này tức là mình có thể trở về với bản lai diện mục và có thể chuyển diệu Pháp Luân.

40. Chân, Thành, Hằng(^)

(Vạn Phật Thành ngày 22 tháng 10 năm 1982)

Kẻ tu hành không được đi rao bán, quảng cáo hay tuyên truyền sự nghiệp tu hành của bản thân. Khi rao bán quảng cáo chuyện tu của mình thì có thể bị ma quỷ phá rối.

Có người tu thì được Phật tới hộ trì; có kẻ được Bồ Tát tới hộ trì; có kẻ được các vị A La Hán đến bảo vệ; có người được Trời ủng hộ; có người được quỷ thần hộ trì; có người thì được người đến hộ trì; nhưng có kẻ thì được yêu ma quỷ quái tới hộ trì. Bởi những kẻ đó có tâm tà, cho nên ma quỷ mới lại làm bạn với họ. Hễ có sự hiểu sai thấy lầm, tà tri tà kiến thì mình sẽ phát sinh ra rất nhiều thứ ma quỷ; tức là cống cao, ngã mạn, cuồng ngạo. Nếu mình không biết khiêm nhường, nhẫn nại, không biết tự nhận lỗi lầm thì mình có thể gặp rất nhiều chướng ngại.

Vì vậy hôm nay tôi muốn nói với các vị một phương pháp tu hành chân thật. Bí quyết của sự tu hành gồm có ba chữ:

1.Chân: nghĩa là không hư ngụy, không giả trá; làm chuyện gì cũng hết sức chân thật.

2.Thành: nghĩa là thành tâm, hết sức cung kính, hết sức thành khẩn, không lười biếng giãi đãi, không làm qua loa lấy lệ.

3.Hằng: nghĩa là luôn luôn kiên định, hằng thường bất biến, không thay đổi.

Phàm mỗi hành động, mỗi lời nói đều phải có tâm chân thành, hằng. Làm việc gì mình cũng có ba cái tâm đó thì tương lai nhất định sẽ thành tựu.


--- o0o ---

| Thư Mục Tác Giả |

--- o0o ---
Đánh máy vi tính : Thiền Lâm Đông Phương

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn