Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

8.Tại Sao Tu Theo Tịnh Ðộ Gọi Là Tu Tắt

24/04/201311:52(Xem: 1283)
8.Tại Sao Tu Theo Tịnh Ðộ Gọi Là Tu Tắt


Con Ðường TU TẮT

Pháp Môn Tịnh Ðộ

Trích trong Tây-Qui Trực-Chỉ và Lão-Nhơn Ðắc-Ngộ

Ðôi Liễn Ấn-Quang Pháp-Sư

Soạn Giả: Cư Sĩ Thiện-Tâm

---o0o---

Tại Sao Tu Theo Tịnh Ðộ Gọi Là Tu Tắt

Ðức Phật Thích Ca đặt ra 84.000 pháp môn tu mà độ chúng sanh tùy theo căn cơ. Nếu chỉ do sức mình tu hành không nhờ nguyện lực của Phật như những người tham thiền hay luyện đơn hoặc tụng kinh niệm Phật mà không cầu vãng sanh về Cực lạc, chỉ mong đàn áp vọng tưởng quí vị khởi sự tu ít nhứt vài kiếp mới đắc được quả Tu Ðà Hoàn. Ủắc được quả này cũng còn phải luân hồi, nhưng có thể thôi chớ không chắc nhớ lại kiếp tu trước của mình. Tiếp tục tu nữa, ít nhứt vài kiếp mới đắc quả A La Hán mới hoàn toàn giải thoát khỏi phải luân hồi rơi vào cuộc đời sanh, lão, bệnh, tử này. Nếu muốn luân hồi độ chúng sanh, thì tùy ý mình. đức Phật Thích Ca khi xuống thế quên kiếp trước mình còn phải có người nhắc.

Nếu do tự lực (chỉ do sức mình) kiếp này tu, kiếp sau có chắc mình nhớ lại để mà tu nữa hay bị say đắm cảnh trần này: tửu sắc, tài khí bủa giăng mà quên rồi bị đọa khó được thân người. được làm người, ai nói pháp cho nghe, có nghe cũng khó tin.

Sự tích sau đây chứng minh: Hoàng Ðế Khương Hy bên Tàu, sanh ra có mười chữ nơi vai ‘’ Việt Nam Quang Minh Tự, Sa Môn Tỳ Kheo Tăng’’. Ðến khi có một vị lễ bộ thượng thơ người Việt Nam là Nguyễn Cương đi sứ hai lần sang Tàu, vua hỏi ra mới biết rằng có một vị Tỳ Kheo là Nguyễn Hoàng trụ trì tại chùa Quang Minh, ở tại làng Hậu Bổn huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương nước Việt Nam. Trước khi chết bảo đệ tử ghi mười chữ son trên vai rồi làm lễ trà tỳ. Vị Hoàng Ðế này có tiếp tục tu nữa không?

Nếu tu tịnh độ nhờ sức nguyện Phật Di Ðà giúp, mình mới bắt đầu tu chỉ trong ít tháng, nhiều năm càng tốt. Lâm chung Phật rước về Tây phương làm dân Phật tu thêm nữa. biết mình không chết nữa tu lần lên cho có quả vị gọi là ngôi bất thối. Không sớm thì muộn cũng đến quả Phật. Nhờ hoàn cảnh mình làm bạn với người lành, khỏi lo ăn lo mặc. Chim rừng thuyết pháp nên dễ tu tiến. Nếu tự lực có khi hằng trăm kiếp chưa giải thoát nổi. Ngài Ấn Quang Pháp Sư nói ‘’Hai đời không bị đọa rất hiếm có’’. Nếu bị đọa không biết chừng nào thoát khỏi nẻo luân hồi.

Phép Tu Tịnh Ðộ

Sớm mai hoặc đầu hôm mỗi ngày, thắp đèn hương trên bàn Phật, rót 5 chén nước lạnh tụng trước bàn Phật nhựt khóa sau đây, đứng ngồi quì tùy theo mình mạnh yếu, gấp thời bái xá. Còn như đi lỡ đường hoặc ở nhà không thờ Phật Di Ðà, day mặt về hướng Tây niệm thầm mà xá cũng đặng. Lòng thành dù không phải ngày chay cũng lạy tụng.

NH_T KHÓA

Ðệ tử (thiện nam, tín nữ) Họ tên

Pháp danh (không có thì thôi) tu tịnh độ cầu vãng sanh Cực lạc (xá cặm hương bái)

Nam Mô Ta Bà Thế Giới Ðiều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (đọc 3 lần 3 lạy)

Nam Mô Thập Phương Tận Hư Không Giới Nhất Thiết Chư Phật (1 lạy)

Nam Mô Thập Phương Tận Hư Không Giới Nhất Thiết Tôn Pháp (1 lạy)

Nam Mô Thập Phương Tận Hư Không Giới Nhất Thiết Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tam Thập Lục Vạn ức, Nhứt Thập Nhứt Vạn, Cửu Thiên Ngũ Bá, Ðồng Danh Ðồng Hiệu, Ðại Từ Ðại Bi, Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật (lạy 10 lạy, gấp niệm 3 lần 3 lạy)

Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát (3 lần 3 lạy)

Nam Mô Ðại Thế Chí Bồ Tát (3 lần 3 lạy)

Nam Mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát (3 lần 3 lạy)

Chúng Sanh Vô Biên Thệ Nguyện Ðộ (Xá nguyện độ hết chúng sanh)

Phiền Não Vô Tận Thệ Nguyện Ðoạn (Xá nguyện trừ hết phiền não)

Pháp Môn Vô Lượng Thệ Nguyện Học (Xá nguyện học vô lượng pháp môn)

Phật Ðạo Vô Lượng Thệ Nguyện Thành (Xá thề nguyện tu tới thành Phật)

Nam Mô A Di Ða Bà Dạ, Ða Tha Dà Ða Dạ, Ða Ðiệc Dạ Tha, A Di Rị Ðô Bà Tì, A Di Rị Ða, Tất Ðam Bà Tì, A Di Rị Ða, Tì Ca Lan Ðế, A Di Rị Ða Tì Ca Lan Ða, Dà Di Nị, Dà Dà Na, Chỉ Ða Ca Lệ Ta Bà Ha.

(Tối niệm 108 lần càng quí, niệm nội 59 chữ vãng sanh từ Nam Mô A Di Ðà ..tới Ta Bà Ha). Thần chú vãng sanh, hưỡn niệm nhiều, gấp niệm ít, để tối niệm nhiều mà đếm.

Di Ðà Tán

(Lời xưng tụng Phật Di Ðà, 8 câu)

A Di Ðà Phật Thân Kim Sắc (nước da như vàng y)

Tướng hảo Quang Minh Vô Ðẳng Luân (tướng tốt thông minh đệ nhứt)

Bạch Hào Uyển Chuyển Ngũ Tu Di (hào quang chiếu bằng 5 hòn núi)

Kiềm Mục Trừng Thanh Tứ Ðại Hải (mắt trông xa thấu 4 biển)

Quang Trung Hóa Phật Vô Số Ức (trong hào quang hóa Phật vô số)

Hóa Bồ Tát Chúng Diệc Vô Biên (hóa Phật, Bồ Tát cũng vô số)

Tứ Thập Bát Nguyện Ðộ chúng sanh (48 nguyện cả độ chúng sanh)

Cửu Phẩm Hàng Linh Ðăng bỉ ngạn (độ lên ngồi chín phẩm tòa sen)

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Tam Thập Lục Vạn Ức, Nhứt Thập Nhứt Vạn Cửu Thiên Ngũ Bá, Ðồng Danh Ðồng Hiệu, Ðại Từ Ðại Bi, Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật (mỗi câu một lạy, nhiều ít tùy tiện) Rồi kế niệm lục tự Nam Mô A Di Ðà Phật (nhiều ít tùy tiện)

Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát (1lạy)

Nam Mô Ðại Thế Chí Bồ Tát (1 lạy)

Nam Mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát (1 lạy)

Nam Mô Ðại Thánh Ðịa Tạng Vương Bồ Tát (1 lạy)

Hồi Hướng Tây Phương

(Bài cầu về Tây Phương)

Ngã kim xưng niệm Di Ðà (nay tôi khen niệm Di Ðà)

Chơn thiệt công đức Phật danh hiệu (thiệt công đức, xứng danh hiệu)

Duy niệm từ bi ai nhiếp thọ(xin Phật từ bi thương độ)

Chứng tri sám hối cặp sở nguyện (chứng minh tôi nguyện ăn năn)

Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp (thuở nay tôi làm các tội)

Giai do vô thỉ tham sân si (từ kiếp trước tham giận si mê)

Tùng thân ngữ ý chi sở sanh (vì mình tưởng, nói ma ra tội)

Nhứt thiết ngã kim giai sám hối (nay tôi sám hối chừa lỗi)

Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời (cầu tới lúc tôi gần tới số)

Tận trừ nhứt thiết chư chướng ngại (đừng bịnh nặng, mê muội ngăn trở)

Diện kiến ngã Phật A Di Ðà (mắt thấy Phật A Di Ðà)

Tức đắc vãng sanh an lạc sác (rước về vãng sanh Cực Lạc)

Ngã ký vãng sanh bỉ quốc dĩ (tôi đặng liên hoa hóa thân)

Hiện tiền thành tựu đủ đại nguyện (mới là phỉ nguyện nhãn tiền)

Phổ nguyện trầm nịch như chúng sanh (cầu cho các kẻ trầm luân)

Tốc vãng vô lượng quang Phật sác (đều tu Tịnh Ðộ theo Phật)

Ai muốn tụng hồi hướng dài thời tiếp theo cuốn ỀLão Nhơn Ðắc NgộỂ bằng không tới đây lạy mà ra.

Quan Âm Bạch Y Chú

(Lúc đang sang 5 chén nước cúng mà uống niệm ráng, có mấy câu mà thế trọn một biến kinh cứu khổ)

Nam Mô Ðại Từ Ðại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Ðại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát (niệm 3 lần)

Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng, Nam Mô Cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.

Ðác Chỉ Ða, Ám Dà Liệp Phạt Ða, Dà Liệp Phạt Ða, Dà Ha Phạt, Da, Liệp Ðà Phạt Ða, Liệp Dà Phạt Ða, Ta Ha, Thiên La Thần, Ðịa La Thần, Nhơn Ly nạn, Nạn Ly Thân, Nhất Thiét Tai Ương Hóa Vi Trần.

(nếu mỗi lần tụng Nhựt khóa đều niệm thầm chú Bạch Y này, sau có việc chi niệm cầu linh lắm)

NH_T KHÓA TH_P NI_M

(Ai gấp việc ban mai niệm bấy nhiêu đây)

Ðệ tử (thiện-nam, tín-nữ) họ tên pháp danh_____ tu Tịnh-Ðộ thập-niệm pháp môn cầu vãng-sanh Cực-lạc.

Nam mô Ta bà Thế Giới Ðiều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

Nam Mô Tây-Phương Cực-Lạc Thế-Giới, Tam Thập Lục Vạn ức, Nhứt Thập Nhứt Vạn Cửu Thiên Ngũ Bá Ðồng Danh Ðồng Hiệu, Ðại-Từ Ðại-Bi Tiếp Dẫn Ðạo-Sư A Di-Ðà Phật (1 lần 1 lạy---10 lần 10 lạy)

Nam Mô Quan-Thế-Âm Bồ-Tát (1 lạy)

Nam Mô Ðại-Thế-Chí Bồ-Tát (1 lạy)

Nam Mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ-Tát (1 lạy)

Nam Mô Ðại Thánh Ðịa Tạng Vương Bồ-Tát (1 lạy)

Niệm ‘Nam Mô A-Di-Ðà Phật’ 10 hơi, mỗi hơi đặng mấy câu cũng được. Có thuộc lòng 16 câu hồi hướng càng tốt.

Kẻ gấp việc hay kẻ dốt dùng phép Thập niệm nầy; hoặc mỗi sớm mai, thắp hương niệm 5 hiệu Phật mà lạy; rồi niệm mười hơi Di-Ðà, lạy rồi ra cũng đủ. Tối nên lạy vậy. Ráng học vãng-sanh niệm đủ 30 vạn biến thời có Di-Ðà ứng điềm bảo-hộ.

Giới Luật Tu Tịnh Ðộ

3 tội do thân mình làm ra

Sát Sanh: Hại ngườI, giết vật, mình giêt hoặc xúi ngườI giết. Thấy giết mà vui (trong bụng muốn cho người chết hoặc vật chi chết) hoặc ếm trù, hoặc dùng ngòi viết mà hại thầm (Bày cuộc sát sanh, rượu thịt)

Du Ðạo: Chẳng những ăn trộm ăn cắp, lấy ngang hoặc lường gạt, vay mượn chẳng trả cũng phạm khoản này.

Tà Dâm: ỀDâm tha nhơn thê nữ, tự dâm, giáo nhơn dâmỂ, lấy vợ con người ta, hoặc xúi người tà dâm, phàm thuộc về loạn luân núp lén, huê nguyệt trái lẽ (không phải vợ chồng mình) thời gọi là tà dâm.

4 tộI vì lờI nói

Vọng ngữ: Phỉ báng Tam Giáo, khen chê trái cách, chuyện quấy nói phải, chuyện phải nói quấy, nói bậy, nói láo, nói không thiệt, mạo tên Thánh Thần Tiên Phật, để gạt đời cho mê hoặc.

Ý Ngữ: Ðặt lời dâm từ, truyện tình, tục tĩu, tray nhớp, lời ca huê tình, huê nguyệt, giục đời sanh thói tà dâm (gọi là dâm thơ) hò hát bất chánh.

Lưỡng thiệt: Xúi giục hai bên, gièm siểm cho cha con, vợ chồng, anh em, bà con bằng hữu bất hòa, làm cho hai bên giận nhau, đâm thọc, nói hành, thất tín, trước mặt nói phải sau lưng nói quấy.

Ác Khẩu: Chửi rủa, mắng nhiếc, sỉ nhục, chê biếm (kiêu ngạo) nói độc, chửi thề, nói tổn đức, nói ác, lời hăm giết hại.

3 điều Ý Ác Thuộc Về Tâm

Tham: Lòng gian tham muốn lấy của người (lợi kỷ)

Sân: Giận hờn nóng nảy, ganh ghét, âm mưu, tính độc.

Si: Ngu mê bát thông; cử sự phải chẳng dám làm. Nhè sự quấy lầm mà làm mãi. Ðiên đảo thị phi không biện minh phải quấy. Nghe huyễn hoặc cũng tin. Như gọi lạy Phật phải dập đầu cho sưng mới có lòng (dập đầu cầu Phật). Gọi ngao ốc tôm cua không máu là đồ chay mà ăn. Gọi thuốc bắc có vỏ con ve lột (thiền thối) là đồ mặn mà không uống. Thậm chí ép kẻ thiếu niên bỏ cha mẹ đi tu cho mang tội bất hiếu, khiến bỏ chồng con vô chùa làm công thí không kể cang thường.

Theo luật tu Tịnh Ðộ, thứ nhứt trường trai, cữ rượu. không nên ăn năm món cay nóng: hành, hẹ, tỏi, kiệu, ngò (ngò ta giống rau cần tàu), tuy đồ chay nhưng làm hại tinh khí thần. Hành làm cho ra mồ hôi cho mệt, hẹ và kiệu là vật hưng dương vọng hỏa. Ăn tỏi và ngò làm hơi lên họng, làm hao ngươn tinh mệt tâm thần.

Phật muốn độ tận chúng sanh nên dạy tu Tịnh độ dễ quá. Tuổi còn nhỏ hoặc kẻ ăn chay trường chưa nổi thời ăn hai ngày, lần sáu đến mười ngày, trong một tháng mà tập lần lên trường trai. Ngày nào ăn chay niệm Phật hoặc niệm vãng sanh được đếm. Ngày ăn mặn cũng niệm mà xả. Tuy ngày ăn mặn nhưng ăn tam tịnh nhục: khô mắm thịt chợ. Dầu tôm cá sống cũng không cho sát sanh trong nhà. Gà vịt cũng vậy, vật chi khỏi giết trong nhà thời khỏi sát sanh. Còn thịt chó, trâu hay bò cày cũng phải cữ tuyệt vì hai thú đó có công lớn với đời. Nếu ăn, Phật không rước. Nếu mua đồ chợ làm sẵn mắc hơn, vì ham rẻ mà chịu tội thời coi tiền bạc trọng hơn phần hồn, lâm chung Phật không rước, uổng công tu. Dù của nhiều thác khó đem theo. Luật cữ sát sanh nghiêm cấm như vậy, vì loài tứ sanh và con chi biết bò, bay, máy, cựa cũng có chủng tử Phật. Phật cũng độ lên tu cho thành Phật, không cho giết nó, ăn nó mà bổ mình; mạnh hiếp kẻ yếu. Vì lòng từ bi thương xót như vậy nên Ngài buộc trường trai.

Nếu biết thấu hai chữ tánh mạng, thời trường trai dễ như chơi. Chỉ đẹp miệng xác phàm vài năm, lúc lâm chung Phật không rước uổng biết dường nào.

Ở thành thị dễ cữ sát sanh. Muốn ăn thịt cá ra chợ mua khỏi phải giết con chi trong nhà. Trái lại ở thôn quê khó cữ sát sanh vì phần đông nuôi gà vịt hay bắt cá tôm tép cho đỡ tốn tiền nhưng dễ phóng sanh (bằng cách lấy đất sét bao trứng cá đừng cho dính múi, bỏ xuống ao hồ; hay cứu kiến khi nạn lụt ngập). Nếu sát sanh, những oan hồn tụ tập trong nhà chờ báo oán.

Nhứt là cơn có bịnh phải ăn chay trường. Nếu ăn chay không nổi nên nhịn đói chớ đừng ăn mặn. Cần niệm Di Ðà cho lắm. Nếu số phần tới, thời lúc ngặt mình đừng nhớ việc chi hết; bảo người nhà đỡ ngồi dậy, day mặt về phía mặt trời lặn, niệm vài chục câu ‘Nam Mô A Di Ðà Phật’ cho lớn rồi niệm thầm. Nếu tới số thấy Phật Di Ðà qua rước chẳng sai. Nếu chưa tới số, thiệt mạnh chắc chắn, ăn trường trai không đặng, cứ trở lại lục hoặc thập trai như xưa. Tới bệnh lại cũng ăn trường như vậy. Nội nhà lập nguyện giữ phép mà tu. Nếu ai có bịnh, cũng biết dự phòng ăn trường cho đến mãn phần, thời Di Ðà rước hẳn.

Nhứt là dặn người nhà, lúc ngặt mình, người bịnh niệm Phật, nội nhà niệm tiếp, cấm khộng cho kêu khóc. Nếu kêu khóc, thời Phật Di Ðà trở về không rước, rất uổng công tu. Có việc chi cần thì trối trước, đừng để lúc đó làm rộn cho người bịnh, loạn tâm xao lãng sự niệm Phật, khó vãng sanh. Cách này là độ tận chúng sanh, không bỏ sót ai hết. Tu Tịnh độ như vậy, muôn người lâm chung vãng sanh đủ muôn người, không phải khó như tham thiền hay luyện đơn (tu tiên).

Chớ người tu tịnh độ trường trai 24 tháng, niệm Di Ðà đủ 30 vạn câu, người giỏi nữa niệm thêm 30 biến vãng sanh, thời có Phật ở trên đầu phò hộ. Quả vị cao, tòa sen lớn, giữ theo công-quá-cách chừa dữ làm lành. Mỗi tháng nhớ ngày giờ sám hối cầu nguyện. Mỗi ban mai tụng nhựt khóa hoặc thập niệm lúc không rảnh. Thời lâm chung biết ngày giờ Phật sẽ rước mình. Nếu ai làm phước bố thí nhiều, thời không bịnh hoạn, ngồi chắp tay day mặt về hướng Tây mà xuất hồn. Ai có công khuyên độ nhiều người về Cực lạc trước, khi Phật rước hồn, nghe tiếng nhạc hoặc có mùi thơm lạ. Nếu phước lớn, thấy hào quang chiếu sáng. Như vậy làm cho đời thấy nhãn tiền tin chắc tu theo.

Chừng vãng sanh về Tây phương, học đủ lục thông (6 phép thần thông) làm Phật La Hán, xin phép Phật đi độ ông bà và cha mẹ về Cực lạc để báo ân như Phật La Hán Mục Kiền Liên đi cứu bà mẹ là Thanh Ðề vậy.

Nếu ai may còn ông bà cha mẹ, thời lạy mà giảng tu tịnh độ. Mình ráng nuôi cơm chay cho cha mẹ tu thành trước quí hơn. Mình nguyện niệm phụ, tu phụ cho chắc thành. Nếu ông bà cha mẹ yếu sức vì già cả, đến lâm chung Phật rước ông bà cha mẹ nhãn tiền có điềm linh hiển. ông bà cha mẹ ngồi tòa sen trước mà đợi mình, thời khỏi lo tuần tự tụng kinh siêu độ mà tốn nhiều tiền. Nên để số tiền ấy ấn tống kinh hay bố thí cho kẻ nghèo và hồi hướng công đức ấy vãng sanh Cực lạc.

Nếu rủi cha mẹ đã mãn phần trước, mình muốn báo hiếu cho mau thời chọn ngày sám hối lập nguyện niệm Phật thế cho cha 30 vạn câu, cho mẹ 30 vạn câu và nguyện phóng sanh bao nhiêu mạng, thí kinh bao nhiêu, bố thí mấy chục đồng, phải làm tất số mà cầu vong hồn cha mẹ tên họ chi, siêu thăng về Cực lạc. Niệm đến khi nào Phật ứng mộng mới thôi. Nếu giàu có muốn tụng kinh niệm Phật cầu cho cha mẹ mình cũng phải niệm thế, ít nhiều mới cảm động; chớ ỷ có tiền mướn tụng niệm thôi thì vong hồn chỉ đầu thai hưởng phước chớ không siêu thăng đặng. Còn sự nguyện thí kinh, phóng sanh, bố thí tùy theo giàu nghèo mà nguyện. Trong kinh Hồi dương lời vua Nhứt Ðiện Tần Quảng Vương phán rằng: ‘Nhà nghèo bố thí một đồng sánh bằng nhà giàu bố thí ngàn đồng.’ Tùy theo sức mà làm, đừng sợ bố thí ít không siêu, phải vay cho mắc nợ tới chết trả không nổi phạm khoảng du đạo Phật không rước. Nếu có nhiều tiền nên bố thí nhiều.

Nếu ông bà cha mẹ tuổi đã quá cao hay bệnh già quá yếu, năng lực của thân và tâm đều kém yếu, mình lạy mà giảng tu tịnh độ và dung phương pháp trợ lực sau đây:

Tất cả con cháu trong nhà nhất là chính mình nên thay phiên nhau ở bên ông bà cao tiếng niệm Phật, mỗi phiên độ nửa giờ. Mỗi ngày cứ luân phiên nhau như thế, đừng để cho tiếng niệm hở dứt. Ông hay bà có thể niệm theo càng tốt, bằng không chỉ khuyên người nhiếp tâm nghe kỹ, cũng như niệm thì cũng được thường không rời Phật. Những người trợ niệm chẳng mấy gì phí sức mà lại gieo được nhân lành giải thoát về sau. Nếu có tiền, mua một máy ghi âm thu bài giảng về thế giới Cực lạc trước đây, 48 điều nguyện của Phật Di Ðà hoặc bài giảng nghĩa kinh Di Ðà trong cuốn Lão Nhơn Ðắc Ðộ và tiếng niệm Phật cho rõ ràng để phát hằng ngày liên tục cho ông bà nghe thì cũng có thể vãng sanh về Cực lạc. Nên nhớ lúc ông hay bà ngặt, mình cứ niệm NAM MÔ A DI Ðà PH_T mà thôi. Phương pháp trên đây cũng có thể áp dụng cho ngườI bệnh yếu gần chết.

NÊN NI_M THÁNH HI_U QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT

Bồ Tát Quan Thế Âm có nhân duyên rất lớn với chúng sanh cõi Ta Bà này. Tuy thường hầu cận Ðức Phật A Di Ðà nhưng vì thệ nguyện rộng sâu và lòng từ bi, Ngài hiện thân khắp nơi tìm tiếng cứu khổ. Chúng sanh nào gặp những tai nạn lâm nguy như: đao binh, nước lửa, đói kém, cào cào, ôn dịch, khô hạn, cướp bóc, oan gia, thú giữ rắn độc, ác quỉ, yêu mị, kẻ tiểu nhơn ám hại, bệnh khổ, v.v...nếu chí thành khẩn thiết niệm danh hiệu ngài thì nhứt định sẽ được sức từ bi ủng hộ của Ngài tránh tai qua nạn khỏi.

Trong Phẩm Phổ Môn nói: ‘Chúng sanh nào nhiều dâm dục, giận hờn, ngu si, nếu thường niệm cung kính Ngài sẽ được xa lìa các nghiệp ấy.’ Phải dùng hết tâm lực đừng nghi ngờ thì cầu việc gì cũng được.

Người tu tịnh độ ngoài việc hôm sớm lễ Phật A Di Ðà nên niệm thêm Bạch Y Thần Chú và lễ niệm Ðại Sĩ sẽ được gia bị trong âm thầm, có thể đổi họa làm phước, gặp rủi ro hóa may mà chính mình không biết.

Người đàn bà khi sắp sanh thường bị đau khổ, có khi vài ngày sanh không được hoặc chết vì sản nạn. Có người tuy sanh được nhưng lại bị huyết băng và nhiều bịnh nguy hiểm, đứa con sinh ra thì bị các chứng kinh phong v.v.. cho nên người đàn bà lúc sanh nên chí thành khẩn niệm ‘NAM MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT’. Khi niệm cần phải to tiếng, không nên niệm thầm vì niệm thầm do tâm lực kém nên sức cảm ứng cũng kém. Ðang dùng sức sanh đứa bé ra, nếu niệm thầm thì nín ép hơi phải mang bịnh. Nếu chí thành khẩn thiết mà niệm quyết không có sự đau đớn, khó sanh, huyết băng, đứa con sẽ khỏi bị kinh phong hoặc bị các chứng bịnh nguy hiểm khác. Dù gặp trường hợp khó sanh có nguy hiểm đến tánh mạng, sản phụ cùng những kẻ hộ sanh cũng phải đồng to tiếng niệm Quan Âm. Người quyến thuộc tuy ở nơi khác đều phải vì sản phụ niệm giúp. Như thế trong giây phút sản phụ liền được yên ổn mà sanh. Có nhiều bà lão niệm Phật, xem sanh sản là việc đáng sợ, cho đến dâu con mình sanh không dám qua săn sóc huống chi là bảo niệm Quan Âm; Bồ Tát không sự khổ nào chẳng cứu vớt, không tai nạn nào chẳng giúp đỡ xót thương, đâu có lý đối với hạng sản phụ mà bỏ sót. Lúc sanh sản tuy lõa lồ không sạch nhưng đó là việc dĩ nhiên. Trong cảnh ngộ không thể tỏ bày sự cung kính, chỉ chí thành nơi tâm. Nếu ở trường hợp làm được mà không làm thì thật là có tội. Lúc sanh sản khó, nên niệm Ngài, chẳng những không tội lỗi mà khiến cho mẹ con sản phụ gieo trồng căn lành. Người đàn bà khó sanh, khi có thai nên chí thành niệm danh hiệu ngài, cầu nguyện hằng ngày cũng được như ý muốn.

Vào khoảng năm 1929, có một viên trung úy hải quân ngườI Pháp tên Robert Taie. Ông này có vợ người Việt Nam. Một hôm ông đi tàu biển gặp một trận bão tố không hy vọng thoát chết, ông sực nhớ lại bà mẹ vợ và vợ ông đạo Phật thường khuyên ông niệm danh hiệu Ðức Quan Thế Âm lúc nguy biến. Trong lúc thập tử nhứt sanh, ông ngồi xếp bằng nhắm mắt lại, niệm danh hiệu ngài. Sau đó nửa giờ, ông mở mắt ra, thấy chiếc tàu trôi giạt, khuất sau một hòn đảo nhỏ. Thuyền trưởng và mọi người trên tàu hết sức vui mừng, cho là phép mầu nhiệm và thấy cử chỉ ông trung úy lấy làm ngạc nhiên. Ông bèn thuật lại cho mọi người nghe và đề nghị với viên thuyền trưởng lập một chùa để nhớ ơn Ngài cứu độ. Chùa này dựng trước thành Ô Ma pháo thủ gọI là chùa Quan Thế Âm hiện nay vẫn còn.

---o0o---

Vi tính : Đông Phương
Trình bày : Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn