Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Nữ hoàng Shima và Dấu vết của Phật giáo từ Quá khứ ở Jepara, Indonesia

02/11/202009:16(Xem: 436)
Nữ hoàng Shima và Dấu vết của Phật giáo từ Quá khứ ở Jepara, Indonesia

Nữ hoàng Shima và Dấu vết của Phật giáo từ Quá khứ ở Jepara, Indonesia

(Ratu Sima dan Jejak Agama Buddha Masa Lalu di Jepara)

 Nữ hoàng Shima và Dấu vết của Phật giáo từ Quá khứ ở Jepara 1

Hình 1: Candi Sima, một ngôi đền do người Jepara xây dựng.

 

Trong các đề tài trước, chúng ta đã thảo luận về bản đồ của các Phật tử ở Jepara, tỉnh Java, Indonesia. Tuy nhiên, những Phật tử “tồn tại” (ada) ở jepar, tỉnh Java ngày nay, theo các vị bô lão, chỉ sinh sôi và phát triển vào năm 1965. Vậy thì Phật giáo ở Jepara trước năm 1965 có còn dấu tích gì không?

 

Từ quá khứ rất xa xưa trước khi Indonesia “tồn tại” các Vương quốc lớn đã chiến thắng ở quần đảo Nusantara. Jepara là một trong những trung tâm của Vương quốc đã từng chiến thắng. Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia với Nữ hoàng Shima ở ngôi vua cai trị đất nước.

 

Tuy nhiên, đôi khi lịch sử trở nên mờ nhạt, cho đến nay tung tích của Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia với Nữ hoàng Shima ở ngôi Quốc vương cai trị đất nước vẫn là một bí ẩn. Không có tìm được nhiều lăng mộ. Theo lời kể của một người dân ở Jepara, cách đây hàng chục năm người ta đã tìm thấy một vương miện bằng vàng, đến nay vẫn chưa rõ chiếc vương miện này. Tương tự như vậy, câu chuyện về Nữ hoàng Sima vẫn chưa cụ thể rõ ràng. Sau đó, câu chuyện giữa Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia với Nữ hoàng Shima ra sao?

 

Tiểu sử Nữ hoàng Shima

(648 - 674)

 Nữ hoàng Shima 1

Nữ hoàng Shima cai trị Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia vào thế kỷ thứ 7, dọc theo bờ biển phía bắc của Trung Java vào khoảng năm 674 sau Tây lịch.

 

“Để ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp, áp bức và bất công xã hội gây ra”, Nữ hoàng Shima đã ban hành luật chống nạn trộm cướp để khuyến khích người dân trung thực, và duy trì sự thật. Theo truyền thống, một vị vua nước ngoài đã đặt một chiếc túi chứa đầy vàng trên giao lộ ở Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia để thử lòng trung thực nổi tiếng của người dân Kalingga. Không ai dám động vào chiếc túi không thuộc sở hữu của mình, cho  đến 3 năm sau, con trai của Nữ hoàng Shima, Thái tử đã vô tình chân lỡ chạm vào chiếc túi vàng. Nữ hoàng Shima đã ban hành bản án tử hình đứa con trai yêu quý của mình, nhưng đã bị phủ nhận bởi vị Hình bộ Thượng thư, họ đã viết sớ tấu trình lên Thánh ý Nữ hoàng Shima tha mạng cho Thái tử: “Lỗi là tại bàn chân của Thái tử, bởi Thái tử không đã vô tình dẫm đạp lên túi vàng, vì thế chỉ cần hình phạt nhẹ là xẻo một phần bàn chân là đủ”. Để nêu gương cho dân, theo lời can gián của các vị quan chức trong Hình bộ, Nữ hoàng Shima đã ban Thánh chỉ xử phạt chặt ngón chân cái của Thái tử.

 

Nữ hoàng Shima được biết đến như một nhà lãnh đạo uy quyền và quyết đoán. Thậm chí Nữ hoàng Shima không ngần ngại thẳng tay trừng trị Thái tử con trai yêu quý của mình, vì đã vi phạm các quy tắc đã được thiết lập của Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia.

 

Nữ hoàng Shima sinh năm 611 sau Tây lịch, là Hoàng hậu của đức Vua  Kartikeyasinga, người đã trở thành Nữ hoàng Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia (648-674) khi  đức Vua  Kartikeyasinga băng hà, Nữ hoàng đăng quang lên ngôi Vua của Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia với tước hiệu “Sri Maharani Mahissasuramardini Satyaputikeswara. Nữ hoàng Shima là một tín đồ đạo Hindu tín ngưỡng Thần Shiva.

 

Maharani, hay Shima, là Hoàng hậu của của đức Vua Kartikeyasinga (632-648), người đã trở thành Nữ hoàng Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia (648-674). Họ có hai người con, đó là Parwati và Narayana (Iswara).

 

Thái hậu mẹ của đức Vua Kartikeyasinga đến từ Vương quốc Sribuja, Mã Lai (Malaysia) và Kinh đô ở Palembang.

 

Thành phố Palembang (thuộc Indonesia ngày nay), kinh đô của Vương quốc Srivijaya, một vương triều Mã Lai hùng mạnh và có ảnh hưởng tới cả khu vực Đông Nam Á. Các dấu tích sớm nhất về sự tồn tại của thành phố là từ thế kỷ thứ 7; Tam tạng Pháp sưu Nghĩa Tịnh (三藏法師義淨, 635-713), Thánh tăng Phật giáo Trung Hoa đã ghi chép về chuyến thăm Srivijaya trong vòng 6 tháng của Ngài vào năm 671.

 

Các ghi chép về các chuyến đi của Ngài đã góp phần vào sự hiểu biết thế giới của vương quốc cổ xưa Srivijaya, cũng như cung cấp thông tin về các vương quốc khác nằm trên tuyến đường giữa Trung Quốc và học viện Phật giáo Nālandā ở Ấn Độ. Ông cũng là người thực hiện một số bản dịch của một số lượng lớn các kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc.

 

Con gái yêu quý của Nữ hoàng Shima, nàng Công chúa Parwati kết hôn với Thái tử Sang Jalantara hay Rahyang Mandiminyak, Vương quốc Galuh, và vị Thái tử này đã trở thành vị vua thứ hai của Vương quốc Galuh với tước hiệu Prabu Suraghana (702-209).

 

Dưới thời trị vì của Nữ hoàng Shima, Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia đã đạt đến đỉnh cao vinh quang. Nữ hoàng Shima được ghi nhận là một nhà lãnh đạo trung thực và cương nghị. Sự kiên định của Nữ hoàng Shima không chỉ được truyền tụng ở Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia mà còn ở nhiều quốc gia khác nữa.

 

Trong quan hệ tôn giáo, Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia còn được biết đến là một nhân vật bao dung độ lượng. Mặc dù Nữ hoàng Shima theo đạo Hindu tín ngưỡng Shiva, nhưng thời bấy giờ Phật giáo vẫn phát triển và cùng tồn tại với các tôn giáo khác.

 Nữ hoàng Shima và Dấu vết của Phật giáo từ Quá khứ ở Jepara 2

Triều đại của Nữ hoàng Shima

(Pemerintahan Ratu Shima)

 

Khi Nữ hoàng Shima lên nắm quyền nhiếp chính, Vương quốc Kalingga đã đạt đến đỉnh cao hoàng kim. Vào lúc bấy giờ, Vương quốc Kalingga đã có một thương cảng được sử dụng như một trung tâm kimh tế thương mại, vào thời điểm đó, thương cảng này còn nhộn nhịp nhất ở Java. Trên thực tế, thương cảng thường được sử dụng làm nơi giao lưu của các quốc gia khác nhau.

 

Vương quốc Kalingga đã thành công trong việc tiếp quản nơi buôn bán sầm uất nhất, mà sau đó Vương quốc Tarumanegara kiểm soát. Thương cảng nằm dọc theo ven biển phía bắc của Tây Java. Thậm chí Vương quốc Kalingga còn thành công trong việc thiết lập quan hệ hợp tác với Đế chế Trung Hoa từ thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch.

 

Ngoài thành công trong lĩnh vực kinh tế thương mại, Vương quốc Kalingga còn thành công trong việc cải thiện nền kinh tế và đời sống của người dân. Nó còn được hỗ trợ bởi nhiều khía cạnh khác cũng không kém phần tiên tiến. Vào thời điểm đó, ngành nông nghiệp cũng chịu ảnh hưởng sự tiến bộ của Vương quốc Kalingga.

 

Được biết, vào thời điểm đó Nữ hoàng Shima đã sử dụng một hệ thống thông minh. Cụ thể là hệ thống tưới tiêu Subak, cũng được áp dụng bởi những người nông dân theo đạo Hindu ở khu vực Bali. Theo Tạp chí của Viện Nghệ thuật Indonesia, vào thời điểm đó cư dân của Nữ hoàng Shima là những người có kỹ năng thủ công mỹ nghệ cao. Ví dụ như đóng thuyền tàu, mộc, xây nhà, và những thứ khác.

 

Thời trị vì của Nữ hoàng Shima tại Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia, nông nghiệp và thương mại phát triển mạnh mẽ, hàng hóa được giao dịch bao gồm vàng bạc, đồi mồi, ngà voi và các sản vật khác. Một số cư dân cũng thành thạo trong việc sản xuất rượu.

 

Ngoài nông nghiệp và thương mại phát triển mạnh, Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia còn được coi là trung tâm của nền văn hóa Hindu. Điều này được chứng minh qua di sản bởi 3 ngôi Đền Candi Angin, Candi Bubrah và Candi Sanga Likur. Ngoài các ngôi Đền, hai bản khắc cũng đã được tìm thấy, đó là bản khắc Sojometo.

 

Tương tự như mô tả trong lịch sử của triều đại nhà Đường, Trung Hoa, Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia được cho là nằm trên một hòn đảo ở phía nam đại dương. Vị trí  của nó là ở phía đông Sumatra và ở phía tây của Pali. Nếu nó đi về phía bắc của Vương quốc Campuchia và nếu nó đi về phía nam đại dương.

 

Các cư dân đã làm công trình phòng thủ bằng gỗ. Ngay cả những tòa nhà lớn nhất cũng đã phủ lợp bằng lá cọ. Họ có những sảnh ngà voi. Ngay cả chiếu bên ngoài cũng được làm từ tre. Trong tòa nhà này, đức Vua đang ngự trên ngai vàng.

 

Khi ăn người dân không dùng thìa, đũa. Họ đưa thức ăn vào miệng bằng các ngón tay. Nhân gian truyền tụng rằng, cộng đồng Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia quen thuộc với thiên nhiên. Họ cũng biết một chút về thiên văn học.

 

Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia này được cho là một quốc gia giàu có. Có một hang động chứa nước và tự tuôn chảy. Đức vua sống ở Japara (thành phố Java ngày nay). Đức vua được phò tá bởi 32 Bộ trưởng cao cấp.

 

Xung quanh Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia có 28 quốc gia nhỏ, công nhận hùng mạnh phú cường của Java.

 

Các đường dây kiểm soát kinh tế thương mại do Vương quốc Kalingga bắt đầu bị lung lay. Tham vọng của Đế chế Srivijaya nhằm kiểm soát hoạt động kinh tế thương mại trên khắp bờ biển phía bắc Java đã làm nảy sinh sự cạnh tranh gay gắt. Điều này nói lên rằng, Vương quốc Kalingga là một trong những Vương quốc mà Đế chế Srivijaya muốn chinh phục. Tham vọng đã thành công. Vào khoảng năm 725 sau Tây lịch, Vương quốc Kalingga sụp đổ, do thua trận trong cuộc chiến kinh tế thương mại.

 

Vương quốc Kalingga thuộc Indonesia dưới thời Nữ hoàng Shima được ghi nhớ như một Vương quốc nổi tiếng và văn minh. Vị Nữ hoàng lãnh đạo bén nhạy và tận tâm vì dân quên mình. Trong thời gian lãnh đạo của Nữ hoàng Shima, hệ thống nông nghiệp và hệ thống thủy lợi phát triển tốt. Nền kinh tế quốc dân tự động được đảm bảo.

 

 Nữ hoàng Shima đã cai trị Vương quốc Kalingga được 21 năm. Trong thời gian trị vì của bà, Vương quốc Kalingga đã thành công trong việc trở thành Vương quốc lớn duy nhất ở Trung Java lúc bấy giờ. Vương quốc Kalingga còn được biết đến là người cai trị Bờ biển phía Bắc. Nữ hoàng Shima là người bao dung độ lượng và công bằng với những khác biệt tôn giáo tại Vương quốc do bà cai trị. Những người theo tôn giáo khác, ví dụ như Phật giáo, và những người theo đạo Hồi, hài hòa chúng sống trong tình đời ý đạo, tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng sự khác biệt.

 

Đôi nét về Vương quốc Kalingga

 

Thông tin về về Vương quốc Kalingga vĩ đại về hoạt động Phật giáo She-po (Java), điều này cũng có thể xảy ra dưới thời trị vì của Nữ hoàng Shima.

 

Theo lịch sử Tam tạng kinh điển được biên soạn vào khoảng năm 720, có một vị cao tăng Phật giáo pháp danh là Gunawarman. Vị cao tăng này từ Kashmir đến Vương quốc Java vào đầu thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch, theo lời thỉnh cầu bởi mẹ của Nữ hoàng Shima. Cao tăng Gunawarman dừng chân hoằng dương chính pháp tại Vương quốc Java chưa đầy 25 năm (396-424).

 

Theo ghi chép cho biết, giữa thế kỷ thứ 7, có vị tăng sĩ Phật giáo pháp danh Hui-ning đã tu học ở Vương quốc Kalingga thời gian 3 năm, từ 664-667, Ngài đã thụ giáo tu học Phật pháp với một vị cao tăng người Java pháp danh là Jnanabhadra.

 

Một nền văn minh của lòng khoan dung

 

Tín ngưỡng Thần Shiva và Đức Phật trong các Vương quốc vạn đảo, trong quá khứ đã cùng nhau hài hòa. Ấn độ giáo tín ngưỡng Thần Shiva và Phật giáo luôn luôn cùng nhau phát triển. Trong phần giải thích ở trên, Nữ hoàng Shima theo đạo Hindu tín ngưỡng Thần Shiva, nhưng cũng có những nguồn thông tin khác nói rằng, Nữ hoàng Shima là một Phật tử Hộ pháp.

 

Trong sách lịch sử, “Kawitane Wong Jowo Lan Wong Kanung” có nhắc đến Dewwi Simaha và Tỳ khưu Janabadra với Cung điện Keling, hiện là một trong những tên gọi của các tiểu khu ở Jepara Regency. Hiện quận Keling là một trong những cơ sở tự viện Phật giáo ở Jepara Regency.

 

Điểm thứ hai đến từ Pak Mintono, một giáo viên cấp tiểu học Phật giáo, con nuôi của Mbah Kasboe, một trong những nhân vật trong việc truyền bá chính pháp Phật đà và phát triển Phật giáo Jepara vào khoảng năm 1967.

 

Manh mối thứ ba mà chúng tôi tìm thấy khi đến thăm Bảo tàng Kartini, thành phố Jepara. Tại Bảo tàng Kartini, chúng tôi tìm thấy một số hồ sơ và di vật, cho thấy một di tích của nền văn minh Phật giáo ở Jepara.

 

Một số di vật chúng tôi tìm thấy là tượng Phật với tư thế đứng, tàn tích thu nhỏ của các cơ sở tự viện Phật giáo trên sườn núi. Chúng tôi cũng có ghi chép một câu chuyện về những tàn tích của một tu viện Phật giáo, từ một trong những cư dân ở Jepara. Ngoài ra, chúng tôi còn nhận được một số viên đá khắc tại Tu viện Phật giáo được cất giữ trong Viện bảo tàng.

 

Bất kể cuộc tranh luận về việc Nữ hoàng Shima theo tôn giáo nào, ít nhất hai ghi chép lịch sử nêu trên, cho thấy rằng Phật giáo đã phát triển trong quá khứ ở Jepara.

 

Tác giả: Cư sĩ Surahman Ana

Thích Vân Phong biên dịch

(Nguồn: Situs Berita Buddhis Indonesia)

 

 




***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/12/202018:59(Xem: 397)
Trong một thời khắc lịch sử, cả nước đã chứng kiến sự hội tụ của quá khứ, hiện tại và tương lai khi ba thế hệ của triều đại Wangchuck, Vương quốc Phật giáo Buhtan đến viếng thăm khu đất của Pungthang Dewachhenpoi Phodrang vào ngày hôm 16 vừa qua. Lễ Kỷ niệm 113 năm Quốc khánh Vương quốc Bhutan, được tổ chức bên trong Punakha Dzong “Cung điện Hạnh Phúc”, từng là nơi ngự của Lama Zhabdrung Ngawang Namgyel đáng tôn kính hơn 400 năm trước, người đã có công thống nhất Bhutan và làm nền tảng để đất nước này phát triển an bình, thịnh vượng cho đến ngày nay.
20/12/202018:53(Xem: 325)
Matxcơva, ngày 15 tháng 12: Hội nghị Bàn tròn trực tuyến với chủ đề “Đối thoại các Tôn giáo trong Thế giới hiện đại, Dialogue of Religions in Modern World“ do Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Liên bang Nga, Viện Nghiên cứu Học thuật về Cơ đốc giáo phương Đông (INaSEC) đồng tổ chức tại Khoa Tôn giáo và Thần học (FRT) thuộc Đại học Vrije Amsterdam và Đại học Chính thống Cơ đốc giáo, Nga nhân danh Thánh John Divine.
19/12/202008:03(Xem: 459)
Cơ quan Chính quyền Trung ương Tây Tạng lưu vong (CTA) cho biết, Tôn giả Geshe Tenpa Gyaltsen, vị học giả Phật giáo Tây Tạng đã viên tịch, xả báo thân tại tu viện Gaden Jangtse, miền nam Ấn Độ, theo truyền thông cho hay, Ngài đã “Chết lâm sàng” đến nay gần 1 tháng (26 ngày), nhưng thi thể vẫn không phân hủy. Theo báo cáo của Ban Tôn giáo và Văn hóa thuộc (CTA) cho thấy rằng, Tôn giả Geshe Tenpa Gyaltsen đã đi vào trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là thukdam (Tib: ཐུགས་ དམ་).
19/12/202008:01(Xem: 314)
Tòa nhà Quốc hội Vương quốc Phật giáo Bhutan, thủ đô Thimphu, Bhutan. Hôm thứ Năm, ngày 10 tháng 12 vừa qua, cả hai Nghị viện Quốc hội Vương quốc Phật giáo Bhutan đã thông qua dự luật hợp pháp hóa các mối quan hệ đồng tính, biến Vương quốc Himalaya nhỏ bé trở thành quốc gia châu Á mới nhất thực hiện các bước, nhằm nới lỏng các hạn chế đối với các mối quan hệ đồng giới. Trước đó, mục 213 và 214 của bộ Luật Hình sự Vương quốc Phật giáo này quy định xu hướng “Tình dục trái với tự nhiên”, được hiểu rộng rãi là đồng tính luyến ái – không được phép.
19/12/202007:52(Xem: 312)
Ngày 10 tháng 12 vừa qua, theo Bình Nhưỡng đưa tin (KCNA) – Trong số những Di sản Văn hóa quý giá đất nước Triều Tiên có “Cao ly Bát Vạn Đại Tạng kinh” (고려 팔만 대장경, 高麗八萬大藏經, 80.000 Wooden Blocks of Complete Collection of Buddhist Scriptures” được khắc mộc bản vào nửa đầu thế kỷ 11, triều đại Vương quốc Koryo (918-1392).
19/12/202007:36(Xem: 326)
Lối xưa người đến dạo chơi, Hoá thành chú Tiểu, học lời Thầy Trao. Thênh thang mây trắng hôm nào, Ra vào chốn tịnh, trăng sao gối tình.
13/12/202013:23(Xem: 456)
Một học giả nổi tiếng người Anh, làm việc cho trường đại học ở Luân Đôn, nổi tiếng vì ông đã dịch một số sách vở Phật giáo từ tiếng Hoa. Trong số những ấn bản đã in của ông có tác phẩm “Cuộc Đời của Thánh Tăng Huyền Trang, The Life of Hsuan-Tsang”. Cư sĩ Samuel Beal sinh vào ngày 27 tháng 11 năm 1825, nguyên quán tại Greens Norton, một ngôi làng ở Nam Northamptonshire, Vương quốc Anh, vị học giả nổi tiếng Phương Đông học, vị Phật tử người Anh đầu tiên trực tiếp dịch những tác phẩm văn học Phật giáo từ tiếng Hoa sang Anh ngữ, ban đầy những ghi chép kinh điển Phật giáo, do đó góp phần làm sáng tỏ lịch sử Ấn Độ.
11/12/202021:39(Xem: 418)
Phật giáo Hàn Quốc phải chịu đựng nỗi đau chưa từng có của “Pháp nạn 27.10” (10·27 법난, 十二七法難), nhưng chư tôn tịnh đức tăng già đã biến đau thương thành sức mạnh. Chẳng bao lâu, nỗi đau ấy đã thăng hoa thành động lực để sớm hồi sinh trong phúc lợi xã hội, và những thành tựu đáng kể bắt đầu đạt được trong các lĩnh vực xã hội dân sự, thông qua tổ chức phi chính phủ (NGO), nhân quyền, giao lưu liên Triều (Nam Bắc Hàn) và phúc lợi xã hội.
11/12/202021:35(Xem: 491)
Mối quan hệ giữa Tây Tạng, Ấn Độ và Trung Quốc được minh họa rõ nhất qua lời của tác giả, nhà báo, nhà sử học và nhà tây tạng học, Cư sĩ Claude Arpi, người Pháp, người đã viết một loạt các tác phẩm quan trọng về Tây Tạng, Ấn Độ và Trung Quốc, bao gồm “Số phận Tây Tạng: Khi Những Côn trùng lớn ăn thịt Côn trùng bé; The Fate of Tibet: When the Big Insects Eats Small Insects”.
10/12/202019:19(Xem: 424)
Trong số nhiều ấn phẩm sách báo, thư từ cũ xưa mà mẫu thân truyền giao cho tôi gìn giữ, bảo quản để làm tư liệu để viết lách sáng tác, tôi tìm thấy được quyến sách “Thi phẩm Từng giọt Ma Ni” (xuất bản năm 1993, bìa sách là tranh của Họa sĩ Phượng Hồng), cùng 02 phong bì thư của “Tạp chí An Lạc” được gửi qua bưu điện từ Sài Gòn ra Nha Trang vào năm 1966, trên các kỷ vật quý hiếm này đều có lưu thủ bút của một bậc danh tăng Phật giáo nước nhà: Hòa thượng Thích Thông Bửu.