Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Phụng (1944-2012) Viện Chủ Chùa Niết Bàn, Vũng Tàu

27/04/202508:52(Xem: 1988)
Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Phụng (1944-2012) Viện Chủ Chùa Niết Bàn, Vũng Tàu

ht-thien-phung
Tiểu sử
Hòa Thượng Thích Thiện Phụng

(1944-2012)

Viện Chủ Chùa Niết Bàn, Vũng Tàu


– Phó Ban Trị Sự – Kiêm trưởng ban từ thiện xã hội Phật Giáo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
– HĐND huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

– Uỷ Viên HĐQL bảo trợ chất độc dam cam tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Uỷ Viên BCH Hội Chữ Thập Đỏ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Uỷ Viên BCH Hội bảo trợ người tàn tật trẻ mồ côi tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Uỷ Viên BCH Hội khuyến học tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Trưởng ban điều hành bếp ăn tình thương tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.


I/ THÂN THẾ:
 
Hoà thượng Thích Thiện Phụng, thế danh Nguyễn Minh Chiếu, huý Nhuận Chiếu, tự Không Đạt, thuộc Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 46.
 
Hoà thượng xuất thế ngày 25 tháng 1 năm 1944, nhằm ngày 1 tháng 1 năm Giáp Thân tại Nam Vang, Campuchia.
Năm lên 2 tuổi, song thân không còn nữa, Hoà thượng lúc đó được một người mẹ nuôi đem về cưu mang.
Năm lên 6 tuổi, Người mẹ nuôi mang Hoà thượng gửi cho Hoà thượng Thích Giác Chơn trụ trì Chùa Kim Cang, Nam Vang, Campuchia.
 
II/ QUÁ TRÌNH TU HỌC
 
Năm 1955, đại hội Phật Giáo thế giới tại Campuchia, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dẫn đầu đoàn đại biểu Phật Giáo Việt Nam đi dự đại lễ, cùng đi trong đoàn có Hoà thượng Thích Thiện Huê trụ trì Chùa Đại Giác sau này. Trong thời gian dự đại lễ ở Campuchia, đoàn đại biểu Phật Giáo Việt Nam cư trú tại Chùa Kim Cang, Nam Vang, Campuchia. Lúc bấy giờ, Hoà thượng viện chủ Chùa Kim Cang vừa viên tịch, Chùa tạm thời do các Phật tử trông coi. Hoà thượng Thích Thiện Phụng lúc bấy giờ còn là một chú tiểu nhỏ cho nên Phật tử Chùa Kim Cang nhã ý xin Hoà thượng Thích Trí Tịnh dẫn chú tiểu về Việt Nam để nuôi dạy.
 
Năm đó, Hoà thượng Thích Thiện Phụng theo đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam về nước. Lúc đầu Hoà thượng theo tu học với Hoà thượng Thích Trí Tịnh. Sau đó Hoà thượng Thích Trí Tịnh cho chú tiểu theo làm đệ tử Hoà thượng Thích Thiện Huê.
 
Năm 1957, Hoà thượng về ở tu học tại Chùa Niệm Phật bến cát Bình Dương. Bạn đồng tu với Hoà thượng lúc bấy giờ tại đây có Hoà thượng Thích Nhật Quang hiện trụ trì Thiền Viện Thường Chiếu tại huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai.
 
Năm 1960, Hoà thượng Thích Thiện Phụng theo Hoà thượng Bổn Sư về tu học tại Chùa Đại Giác ở Sài Gòn.
 
Sau 5 năm tu học, vốn chủng tử Phật Pháp đã sẵn có, thông minh đỉnh đạc và tinh tấn tu trì nên Hoà thượng Bổn Sư cho đi thọ giới sadi tại giới đàn Chùa Phật Quang ngày 21 tháng 10 năm 1961. Sau đó Hoà thượng theo Thầy Bổn Sư về Chùa Liên Trì, Núi Thị Vải, Vạn Hạnh, Bà Rịa Vũng Tàu tu học một thời gian. Thời bấy giờ Hoà thượng Thích Trí Quảng làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự, Trưởng Ban Phật Giáo Quốc Tế Trung Ương là bạn đồng tu học với Hoà thượng tại núi Thị Vải này.
 
Năm 1969 Hoà thượng Thích Thiện Phụng theo học với cố Hoà thượng thượng Phước hạ Cần, Chùa Phật Quang Quận 10 Thành Phố Hồ Chí Minh.
 
Sau 7 năm tinh tấn tu trì chuyên tâm Kinh Luật, Hoà thượng Bổn Sư xét thấy tâm Bồ-đề đã đủ, tướng trượng phu đã tròn nên cho phép Hoà thượng đăng đàn thọ cụ túc giới tại giới đàn Chùa Linh Sơn ngày 15 tháng 4 năm 1968 do Hoà thượng thượng Nhựt hạ Minh làm đàn đầu.
 
Từ năm 1970 đến năm 1974, Hoà thượng Thích Thiện Phụng được Hoà thượng Bổn Sư giao phó trực tiếp xây dựng và trụ trì Tịnh Xá Niết Bàn bãi Dứa thành phố Vũng Tàu.
 
Năm 1982 Hoà thượng theo học với cố Hoà thượng thượng Nhựt hạ Minh Chùa Linh Sơn, Cô Giang Quận 1 Thành Phố Hồ Chí Minh. Nơi đây, Hoà thượng đảm nhiệm chức vụ phó thiền chủ trong hạ trường.
Năm 1983, Hoà thượng đã phát nguyện nhập thất tu trì tại Phật Tích Tòng Lâm tỉnh Đồng Nai.
III/ ĐẠO NGHIỆP HOẰNG PHÁP VÀ ĐỘ SANH
 
Năm 1984, được sư bà trụ trì Chùa Linh Bửu hiến cúng cho Hoà thượng một mảnh đất tại chân núi Thị Vải để lập thất tu trì. Do hai bên đường vào tịnh thất đều trồng mai vàng nên Hoà thượng lấy tên Huỳnh Mai tịnh thất.
 
Thiết nghĩ ban đầu, Hoà thượng về đây chỉ làm một tịnh thất nhỏ để tu niện hằng ngày. Với chí nguyện hoằng dương Phật Pháp tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức, Hoà thượng phát nguyện kiến lập đại Già Lam để làm nơi tiếp tăng độ chúng đào tạo tăng tài. Hoà thượng quyết định mua thêm đất để mở rộng diện tích khuôn viên tịnh thất và xây dựng tăng đường để tạo điều kiện cho tăng chúng có trú xứ tu học.
 
Năm 1988 nhân duyên đầy đủ, được sự ủng hộ của chính quyền địa phương và sự phát tâm của chư Phật tử gần xa, Hoà thượng làm lễ đặt viên đá đầu tiên để kiến tạo ngôi Già Lam và lấy tên là Chùa Niết Bàn theo tên Chùa cũ của Hoà thượng là Tịnh Xá Niết Bàn ở Thành Phố Vũng Tàu. Trong thời gian này, Hoà thượng vừa xây Chùa nhưng không quên bổn nguyện đào tạo tăng tài nên Hoà thượng phát tâm mở lớp sơ cấp Phật Học và các lớp bổ túc văn hoá tại đây.
 
Vì nhu cầu tu học của chư ni, năm 1990 Hoà thượng tiếp tục khai sơn Chùa Hương Sơn làm trú xứ cho ni chúng.
Với hạnh nguyện tiếp tăng độ chúng, từ đó đến nay, số lượng tăng ni mà Hoà thượng đã thế độ xuất gia hơn cả trăm đệ tử, trong đó có một số vị được Hoà thượng cho đi du phương tham học và trụ trì các ngôi tự viện khắp trong cả nước.
 
Vào những năm đầu thập niên 1990, đến mùa an cư, chư Tăng ở khắp nơi trở về Chùa Niết Bàn an cư kiết hạ rất đông. Số lượng Tăng chúng có năm lên đến gần cả trăm vị.
 
Trong suốt 25 năm trụ trì Chùa Niết Bàn, với tâm niệm mỗi vị Tăng Ni là một vị Phật tương lai cho nên cứ mỗi năm vào mùa Vu lan Báo hiếu, Hoà thượng đều tổ chức đại lễ trai tăng cúng dường với số lượng Tăng Ni trên 1000 vị.
Hoà thượng đã được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tấn phong giáo phẩm Thượng toạ vào ngày 05 tháng 12 năm 2002 và giáo phẩm Hoà thượng ngày 14 tháng 12 năm 2007.
 
Do công hạnh tu tập nghiêm trì giới luật của Hoà thượng nên được các Ban Tổ Chức đại giới đàn cung thỉnh Hoà thượng làm tôn chứng Tăng già của các Giới Đàn như Đại Giới Đàn Chùa Linh Sơn Thành Phố Hồ Chí Minh năm 1983 và năm 1984. Đại Giới Đàn tại Đại Tòng Lâm do Ban Trị Sự tỉnh hội Phật Giáo Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức năm 1993 và năm 1997 và Đại Giới Đàn Cam Lộ do Ban Trị Sự tỉnh hội Phật Giáo Gia Lai tổ chức năm 2010 tại Chùa Minh Thành, thành phố Pleiku.
 
IV/ HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN XÃ HỘI
 
Suốt cả cuộc đời, ngoài việc tinh tấn tu hành, nghiêm trì giới luật, Hoà thượng còn lập hạnh bố thí cúng dường với phương châm: “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”. Từ tâm nguyện đó, Hoà thượng phát tâm làm các công tác từ thiện xã hội như: giúp đỡ trẻ em mồ côi, người già neo đơn tàn tật, mở bếp ăn tình thương cho bệnh nhân nghèo khó khăn, uỷ lạo cho những người bị mắc bệnh nan y ở các trại bệnh phong cùi và giúp đỡ cho đồng bào nghèo dân tộc thiểu số ở các vùng cao nguyên.
 
Khi các vùng miền trong nước gặp phải thiên tai bão lụt, Hoà thượng đều đi đến nơi uỷ lạo cứu trợ đồng bào bị thiên tai ở địa phương đó. Và đặc biệt hàng năm tại Chùa Niết Bàn đều có chương trình phát quà từ thiện cho những người nghèo neo đơn vào ngày rằm tháng 7 nhân dịp lễ Vu-lan Báo hiếu.
 
Với những công hạnh trên, Hoà thượng được chính quyền từ Trung Ương đến địa phương trao tặng các phần thưởng cao quý như huân chương, kỷ niệm chương, bằng khen như:
 
Thủ Tướng Chính Phủ Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trao tặng bằng khen “Đã có nhiều thành tích trong công tác từ thiện xã hội từ năm 2001 đến 2005” và “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” năm 2009.
 
Bộ trưởng chủ nhiệm Uỷ Ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam trao tặng huy chương “Vì sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam” năm 1998 và 2004.
 
Ban Chấp Hành Trung Ương hội khuyến học Việt Nam tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp khuyến học” năm 2008.
Ban Chấp Hành Trung Ương Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam trao tặng bằng khen vào những năm 1998 đến năm 2010.
 
Bằng khen của hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam năm 2006.
 
Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã trao tặng bằng khen đã có thành tích xuất sắc trong công tác cứu trợ đồng bào các tỉnh bị thiệt hại bão lụt trong năm 2010, 2011.
 
Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã trao tặng bằng khen đã có thành tích xuất sắc trong cuộc vận động xây dựng quỹ “Tình nghĩa, tình thương” và “ Ngày vì người nghèo” năm 2010, 2011.
 
Bằng khen đã có thành tích xuất sắc trong 10 năm xây dựng và phát triển huyện Tân Thành, giai đoạn năm 1994 đến năm2004 do Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trao tặng.
 
Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trao tặng bằng khen “Tổ chức và duy trì tốt bếp ăn tình thương cho người nghèo tại bệnh viện Lê Lợi, TP. Vũng Tàu năm 2000, 2002, 2003.
 
Uỷ Ban Nhân Dân huyện Tân Thành tặng giấy khen “Đã có thành tích tốt trong công tác vận động xây dựng quỹ Tình Nghĩa – Tình Thương” năm 2002 và nhiều bằng khen và giấy khen khác.
 
V/ THỜI KỲ VIÊN TỊCH
 
Những năm gần đây, dù bệnh duyên nhưng Hoà thượng vẫn kiên trì thực hành hạnh lợi tha theo hạnh nguyện từ bi phổ tế của đức Quán Thế Âm Bồ-tát cho nên không ngại Phật sự đa đoan, tuổi già sức yếu, thân mang trọng bệnh, Hoà thượng vẫn đi khắp mọi miền đất nước, đem lòng từ của người con Phật trang trải mọi người.
 
Những giờ phút trước khi viên tịch, mặc dù thân lâm trọng bệnh nhưng tâm Hoà thượng vẫn an nhiên tự tại trước sanh tử. Hoà thượng đã ân cần dạy bảo sách tấn tứ chúng đệ tử ý thức được rằng cần phải chuyên tâm tu học là hành trang thiết yếu trên lộ trình giải thoát.
 
Mặc dù được sự nhứt tâm cầu nguyện của chư Tôn thiền đức Tăng Ni gần xa và môn đồ Pháp quyến, sự chữa trị tận tình của bác sĩ nhưng sanh, trụ, dị, diệt là quy luật tất yếu của các pháp hữu vi, Hoà thượng đã thuận thế vô thường, xả báo an tường, tịnh nhiên thị tịch trong sự hộ niệm của tứ chúng đệ tử và Tăng Ni vào lúc 9giờ 30 phút, ngày 19 tháng 1, năm 2012 (Nhằm ngày 26 tháng 12, Năm Tân Mão) tại Chùa Niết Bàn, Thôn Tân Hạnh, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trụ thế 68 năm, 45 Hạ Lạp.
 
Hoà thượng Thích Thiện Phụng, thế danh Nguyễn Minh Chiếu, huý Nhuận Chiếu, tự Không Đạt, thuộc Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 46.
 
Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Lục Thế, khai sơn Niết Bàn, Hương Sơn Nhị Tự đường thượng. Huý thượng Nhuận hạ Chiếu, tự Không Đạt, hiệu Thiện Phụng Nguyễn Công hoà thượng Giác Linh.
 
Chùa Niết Bàn ngày 19 tháng 1 năm 2012 – Môn đồ pháp quyến đồng kính soạn.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 7931)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 7975)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 7558)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 12197)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 19914)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 24760)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 8767)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 9437)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.
20/10/2010(Xem: 7658)
Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
19/10/2010(Xem: 13990)
Sáng ngày 22.01 Quý Tỵ (03.03.2013) tại Tổ đình Tường Vân, tổ 16, khu vực 5, phường Thủy Xuân, thành phố Huế, Chư Tôn đức Tăng Ni trong sơn môn pháp phái Tường Vân đã đã trang nghiêm trọng thể tổ chức Lễ Tưởng niệm 40 năm ngày Đức Trưởng lão Đệ Nhất Tăng thống Thích Tịnh Khiết viên tịch.